1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận văn học hiện đại 3 sự chuyển biến trong thơ xuân diệu sau 1945

21 78 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 162 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như chúng ta đã biết, Xuân Diệu là một trong số 9 tác gia lớn của nền văn học Việt Nam. Không chỉ là đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới 1932 – 1945 mà còn là một nhà nghiên cứu, phê bình văn học, dịch thuật uyên thâm.Có thể nói Xuân Diệu là một hiện tượng phong phú và đa dạng, không những về thể loại sáng tác, về đề tài phản ánh mà còn về cả bút pháp nghệ thuật. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu đã trở thành đề tài cho biết bao công trình nghiên cứu.Nhiều tác phẩm của Xuân Diệu đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông. Bởi hơn bao giờ hết, những tác phẩm ấy có giá trị nhận thức rất cao. Sự nghiệp văn học của Xuân Diệu chia làm 2 giai đoạn: Trước Cách mạng và sau Cách mạng. Có thể nói rằng, Cách mạng tháng Tám 1945 thành công là một mốc son quan trọng đánh dấu sự chuyển biến về cảm hứng sáng tác cũng như về giọng điệu, ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ Xuân Diệu. Để thấy rõ hơn sự chuyển biến ấy, người viết chọn đề tài “Sự chuyển biến trong thơ Xuân Diệu sau 1945” trên cơ sở đối chiếu hai giai đoạn sáng tác.

Trang 1

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DẪN NHẬP 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 8

3 Phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

NỘI DUNG 9

I Sự chuyển biến về quan niệm sáng tác 9

II Sự chuyển biến về cảm hứng sáng tác 13

1 Từ cảm hứng về cái tôi cá nhân đến cảm hứng công dân 13

2 Từ tình yêu cá nhân đến tình yêu cộng đồng 17

III Sự chuyển biến về giọng điệu, hình ảnh và ngôn ngữ thơ 19

1 Giọng điệu 19

2 Hình ảnh 21

3 Ngôn ngữ 22

KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

DẪN NHẬP

1 Lí do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, Xuân Diệu là một trong số 9 tác gia lớn của nền văn họcViệt Nam Không chỉ là đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới 1932 – 1945 mà còn

là một nhà nghiên cứu, phê bình văn học, dịch thuật uyên thâm

Có thể nói Xuân Diệu là một hiện tượng phong phú và đa dạng, không những vềthể loại sáng tác, về đề tài phản ánh mà còn về cả bút pháp nghệ thuật Cuộc đời và sựnghiệp sáng tác của Xuân Diệu đã trở thành đề tài cho biết bao công trình nghiên cứu.Nhiều tác phẩm của Xuân Diệu đã được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông.Bởi hơn bao giờ hết, những tác phẩm ấy có giá trị nhận thức rất cao

Sự nghiệp văn học của Xuân Diệu chia làm 2 giai đoạn: Trước Cách mạng và sauCách mạng Có thể nói rằng, Cách mạng tháng Tám 1945 thành công là một mốc sonquan trọng đánh dấu sự chuyển biến về cảm hứng sáng tác cũng như về giọng điệu,ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ Xuân Diệu Để thấy rõ hơn sự chuyển biến ấy, ngườiviết chọn đề tài “Sự chuyển biến trong thơ Xuân Diệu sau 1945” trên cơ sở đối chiếuhai giai đoạn sáng tác

Dù rằng nhìn lại sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu, các nhà nghiên cứu vẫn chorằng giai đoạn trước Cách mạng vẫn là giai đoạn quan trọng nhất trong sự nghiệp sángtác của Xuân Diệu, đánh dấu bước thành công của nhà thơ, đưa ông lên vị trí hàng đầutrong nền thơ ca nước nhà, nhưng tìm hiểu về “Sự chuyển biến trong thơ Xuân Diệusau 1945” vẫn là vấn đề cần được quan tâm Bởi qua đó, chúng ta sẽ có cái nhìn đúngđắn hơn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của một nhà thơ lớn – tinh thần tiếp thu cáimới cũng như sự ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử xã hội, vai trò của Đảng cũng như ýthức công dân, ý thức của nhà thơ qua các chặng đường lịch sử của dân tộc

Trong quá trình tìm hiểu, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Người viết mongnhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn

Trang 4

2 Lịch sử vấn đề

Là nhà thơ có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam Trong cuộc đời cầmbút của mình Xuân Diệu đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ và đặc sắc,phong phú và đa dạng: thơ, văn xuôi, phê bình, dịch thuật

Như trên đã nói, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu đã trở thành đề tàithu hút sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu Nhưng việc tìm hiểu về “Sự chuyểnbiến trong thơ Xuân Diệu sau 1945” thì chưa được các tác giả đề cập một cách có hệthống, chưa thực sự trở thành một nội dung có tính chất riêng Đề tài sẽ làm rõ sựchuyển biến ấy trong một số tập thơ của Xuân Diệu sau 1945

3 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung vào một số tập thơ tiêu biểu của Xuân Diệu sau 1945 như “Ngọn quốckỳ”, “Riêng-chung”, “Mũi Cà Mau”, “Hồn tôi đôi cánh”…

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu về “Sự chuyển biến trong thơ Xuân Diệu sau 1945”, người viết sửdụng phương pháp đọc tài liệu, phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp

N I DUNGỘI DUNG

Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp vào những năm 30của thế kỉ XX đã làm cho xã hội Việt Nam biến chuyển sâu sắc: “Một cơn gió mạnhbỗng từ xa thổi đến Cả nền tảng xưa bị một phen điên đảo, lung lay Sự gặp gỡPhương Tây là một biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”

Và Văn học-nghệ thuật cũng không nằm ngoài sự biến chuyển đó

Văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa,bắt đầu mở rộng và tiếp xúc với văn hóa Pháp Luồng văn hóa mới thông qua tầng lớptrí thức Tây học mà phần lớn là tiểu tư sản thành thị đã ngày càng thấm sâu vào ý thức

và tâm hồn người cầm bút Trong những điều kiện khách quan ấy, tầng lớp trí thức,văn nghệ sĩ càng ngày càng thấy rằng cần phải có một sự đổi mới về văn chương đểphù hợp với một đời sống mới

Trang 5

Chủ nghĩa lãng mạn Pháp (mà đại biểu là Lamartine) đã trở thành món ăn “hợpkhẩu vị” cho các tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ lúc bấy giờ Bởi hơn bao giờ hết, nhucầu giải phóng cá nhân, giải phóng thơ ca đang trở thành nhu cầu bức thiết Đó là “sựgặp nhau của những tâm hồn trí thức bất mãn với xã hội, đau buồn chán nản u uất khiphong trào cách mạng của quần chúng bị thất bại hoặc bị đàn áp dữ dội”.

Phong trào Thơ mới 1932 – 1945 với những gương mặt tiêu biểu như Hàn Mặc

Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Huy Cận…Mỗi nhà thơ có một phongcách riêng, độc đáo, mới mẻ nhưng có một điểm chung đó là “nhu cầu giải phóng cáitôi cá nhân” Có thể nói rằng, đến giai đoạn này “cái tôi cá nhân” có điều kiện pháttriển và phát triển một cách nhanh chóng, mạnh mẽ hơn bao giờ hết Hoài Thanh gọiđây là “một thời đại mới trong thơ ca” Thanh niên thời này đã tự ý thức được rằng họ

“không còn có thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu ghét giận hờnnhất nhất như ngày trước” Họ đi tìm cái bản ngã của mình, cái “thành thực” của mình

Họ có khát vọng được bày tỏ, được nói lên những điều sâu kín nhất trong tâm tư, tìnhcảm của mình Và “một cuộc cách mạng trong thơ ca” đã bắt đầu Đó là cuộc cáchmạng với mục đích cuối cùng là sự giải thoát cho “cái tôi” Giúp “cái tôi” ấy tự đứnglên, tự khẳng định mình trong cuộc sống một cách táo bạo, chân thành, sôi nổi và thathiết

Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đã nhận định: “Tôi quyết rằngtrong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa có một thời đại nào phong phú như thời đại này.Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ,

mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như NguyễnNhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế LanViên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”

Vâng! Nổi bật trên thi đàn lúc bấy giờ người ta không thể không nhắc đến XuânDiệu “nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới” với quan niệm về “cái tôi cá nhân”độc đáo mới mẻ của mình

Xuân Diệu quan niệm: “Người thi sĩ cũng khờ như chú lái không hề giấu khovàng ngọc với đời Để mất trời xanh nên người phải tìm uống trong mắt biếc Ngườiđời cười là ngu dại: kẻ mất của có khôn bao giờ! Thi sĩ ghé vào nhân gian, trọ một vài

Trang 6

đêm, tìm đôi an ủi Lòng để ngoài ngực, tay thờ ơ hay là tay ham hố, tay nào đến cũnglấy được ít ngọc châu Và họ lấy chưa vừa ư? Thì người thi sĩ sẽ tự tay lấy vào cái lõisống còn của mình, để mà phân phát” (Trường ca chú lái khờ)

Xuân Diệu khẳng định bản chất cảm hứng người thi sĩ là phải tận tụy ban phátnguồn cảm xúc cho nhân gian

Cũng chính vì phải ban phát nguồn cảm xúc cho nhân gian nên Xuân Diệu lúcnào cũng khao khát giao cảm với đời, khao khát sống và hưởng thụ cuộc đời – cuộcđời hiểu theo nghĩa trần thế nhất:

“Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn Làm dây da quấn quýt cả mình xuân Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần Chân hóa rễ để hút mùn dưới đất”

Xuân Diệu muốn ở mãi với cuộc đời này, không muốn đi đâu bởi cuộc đời nàyđẹp quá, xanh tươi quá Cái tôi ấy bắt nguồn từ tình yêu cuộc sống da diết, cuồng nhiệtđến cháy bỏng, từ “niềm khát khao giao cảm với đời”: Và ước muốn ấy chỉ có ở XuânDiệu mà thôi

Cái tôi ấy còn là cái tôi muốn tự khẳng định mình, chứng tỏ bản thân mình:

“Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta”

Xuân Diệu muốn cái tôi của mình phải được khẳng định chói lọi:

“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”

Cái tôi ấy còn là một cái tôi luôn bị giới hạn:

“Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ…”

Ấy còn là cái tôi cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời:

“Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da”

Người giai nhân bến đợi dưới cây già Tình du khách thuyền qua không buộc chặt”

Ấy còn là cái tôi không tìm thấy hướng đi cho cuộc đời mình:

Trang 7

“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối”

Dẫu rằng trước Cách mạng, những vần thơ của Xuân Diệu thể hiện một tấmlòng, một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống, khát khao giao cảm với đời một cách mãnhliệt, sôi nổi, ồn ào nhưng ẩn sau những lời thơ ấy, ta vẫn bắt gặp một Xuân Diệu bơ

vơ, cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời Bởi không tìm thấy hướng đi cho cuộc đời mình.Một cái gì đó như sự bất lực, sự giới hạn, sự bó buộc không lối thoát trong “cái ao tùphẳng lặng của tầng lớp tiểu tư sản” Nói như Hoài Thanh “Đời chúng tôi nằm trongvòng chữ tôi chật hẹp Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu nhưng càng đi sâu càng thấylạnh…” Nguyên nhân tại sao? Huy Cận có sự lí giải: “ Cái tôi trong thơ mới một mặt

bị xã hội kim tiền hắt hủi, một mặt không gắn với phong trào cách mạng của quầnchúng nhân dân nên rất cô đơn, lạc lõng”

Tóm lại: trước cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu cũng như các nhà Thơ mới

đều quan niệm sáng tác thơ ca phải gắn liền với việc giãi bày chữ “tôi”, với cái nghĩatuyệt đối của nó Phải khẳng định cái “tôi”, phải được tự do yêu đương, tự do thể hiệnmình, được giao cảm với đời một cách thành thực nhất

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công rực rỡ đã mở ra cho dân tộc Việt Nammột kỉ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Văn họcViệt Nam trong bối cảnh đó đã có những chuyển biến sâu sắc

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đã tạo nên một nền văn họcthống nhất về khuynh hướng tư tưởng, thống nhất về tổ chức và quan niệm nhà vănkiểu mới: nhà văn-chiến sĩ

Cách mạng tháng Tám thành công là một mốc son chói lọi, đánh dấu sự chuyểnbiến trong sáng tác của các nhà văn, nhà thơ

Có thể nói rằng, những vần thơ trước 1945 của các nhà Thơ mới tuy buồn đaunhưng lại ấp ủ một tình yêu nước thầm kín Cũng chính vì tình yêu nước không baogiờ tắt trong mỗi tâm hồn văn nghệ sĩ ấy nên khi cách mạng tháng Tám thành công, họ

đã hăng hái lên đường tham gia cách mạng, đi theo tiếng gọi của Tổ quốc thiêng liêng.Trong số các nhà thơ mới hăng hái đi theo cách mạng ở buổi đầu, Xuân Diệu là người

đi tiên phong và sớm có những chuyển biến nhất Ông sớm tham gia cách mạng, đi

Trang 8

nhiều nơi, làm nhiều công việc khác nhau, gắn bó với kháng chiến, hòa mình vào quầnchúng nhân dân Chính những điều ấy tạo góp phần tạo nên cảm hứng mới, tăng sứcnặng và độ mặn cho câu thơ.

Xuân Diệu ý thức rất rõ về vai trò của người thi sĩ trong chế độ xã hội mới:

“Tôi biết tôi người lính trong hàng trận Không phải gậy tòe đầu, mà mũi tên vót nhọn Không phải sỏi lăn lóc, mà viên gạch xây nhà”

Xuân Diệu đã đem hết sức mình làm thơ ca ngợi Đảng và chế độ, nói lên niềmvui sướng hân hoan trước những thành quả của cách mạng, phục vụ kịp thời nhữngnhiệm vụ đấu tranh trong kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranhgiải phóng miền Nam

Xuân Diệu nói rằng cần phải viết về những người lao động mới bởi chính họ lànhững người đã đổ máu và mồ hôi cho cách mạng Ông đã tổng quát quan niệm sángtác của mình bằng một nhận định: “Đời sống , thực tế và quần chúng là kho vô tận, lànguồn bồi dưỡng vô hạn cho nhà thơ”

Trong những ngày cách mạng tháng Tám, ông nhận thức được rằng: “Conngười nghệ sĩ của mình đã được giải phóng về tâm hồn và sức sáng tạo Đã lâu lắmtình cảm công dân của người nghệ sĩ thiếu vắng và phải nén chờ và bây giờ là lúc đượcbộc lộ” Từ nhận thức được giải phóng về tâm hồn và sức sáng tạo, ông đã đi đến quanniệm phải dùng thơ ca để bộc lộ cảm hứng công dân, cảm hứng tình yêu tổ quốc Ông

nói: “Tôi làm thơ ca ngợi Ngọn quốc kỳ theo gợi ý của bạn tôi là Nguyễn Huy Tưởng,

ca ngợi quốc hội đầu tiên của đất nước Hội nghị non sông, ca ngợi quần chúng cách mạng Đi giữa dòng người Và từ đấy hòa nhập một lòng một dạ với cách mạng trong

hai cuộc kháng chiến” Hồn thơ của Xuân Diệu đã đổi thay và lớn cùng đất nước.Không chỉ quan niệm thơ phải hướng đến những sự kiện có ý nghĩa toàn dân, có ýnghĩa cách mạng, Xuân Diệu còn làm những bài thơ châm biếm, đả kích cái xấu đingược lại lịch sử Đó là những bài thơ phê phán bọn phản động Quốc Dân đảng Nhưvậy từ ý thức công dân, từ nhận thức về nhiệt tình cách mạng, ông đã xác lập được mộtquan niệm thơ ca rất mới mẻ, đó là thơ ca phải nhận thức, phản ánh và biểu hiện vềcách mạng, về sự nghệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo

Trang 9

Có thể nói rằng, để có một sự chuyển biến về quan niệm sáng tác là điều khôngphải dễ, và đôi lúc Xuân Diệu thấy rằng những vần thơ của mình lắm lúc còn yếu, còn

“gượng gạo” và “hình thức có hơi non một tí” nhưng theo tiếng gọi của Đảng, củacách mạng, Xuân Diệu đã cố gắng, đã vượt qua những dằn vặt ở buổi ban đầu, quyếttâm và kiên trì con đường đi của mình Đó là con đường gắn thơ ca với cách mạng.Việc những bài thơ của Xuân Diệu lần lượt ra đời tràn đầy tinh thần lạc quan, tintưởng, tràn đầy lòng nhiệt tình cách mạng, nồng nàn và sâu sắc, đó là một sự chuyểnbiến đáng ghi nhận

1 Từ cảm hứng về cái tôi cá nhân đến cảm hứng công dân

Thời đại Thơ mới là thời đại của chữ “tôi” Các nhà Thơ mới luôn muốn giãibày, phơi trải “cái tôi” của mình Từ việc khẳng định chính mình, thương cảm nỗisầu, nỗi cô đơn của mình, dấn thân vào tình yêu đến cả việc tìm về với cái đẹp củalịch sử cha ông Họ sống trong một không gian chật hẹp, tù túng Nói như HoàiThanh “ Đời chúng tôi nằm trong vòng chữ tôi chật hẹp” Nhưng sau cách mạngtháng Tám, các nhà Thơ mới đều chuyển mình, hòa mình vào cách mạng Họ khôngcòn cảm giác cô đơn, lạc lõng Họ viết về Tổ quốc, về lí tưởng dân tộc, về côngcuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội Đó chính là cảm hứng chủ đạo của các nhà Thơmới sau 1945:

“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi con sông”

Nếu trước cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu ví mình như “con nai bị chiềuđánh lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối” và sáng tác theo một quan niệm

“Tôi không biết, không biết gì nữa cả Chỉ yêu nhiều là tôi biết mà thôi”, thì saucách mạng tháng Tám, Xuân Diệu đã hòa mình vào quần chúng nhân dân, đi khắpmọi miền đất nước, viết những vần thơ dạt dào cảm hứng ngợi ca Ông ca ngợiĐảng, ca ngợi Bác Hồ, ca ngợi chế độ mới, ca ngợi nhân dân, ca ngợi công cuộc

Trang 10

xây dựng Chủ nghĩa xã hội Cái “tôi” đã hòa thành cái “ta”, ý thức “cá nhân” đã hòathành ý thức “cộng đồng”:

“Có một suối thơ chảy từ gần gũi

Ra xa xôi và lại đến gần quanh Một suối thơ lá ngọt với hoa lành Nói trong xóm và giỡn cười dưới phố”

Suối thơ ấy được sinh sôi nảy nở từ lí tưởng cách mạng, từ một đời sống mới,

từ một lòng nhiệt thành với cách mạng

Ngay sau cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu viết “Ngọn quốc kỳ” và “Hội nghịnon sông” và nhà thơ cho rằng “Ngọn quốc kỳ” và “Hội nghị non sông” là nhữngbản trường ca viết bằng hồn Nhà thơ lấy bối cảnh lịch sử là Hội nghị Diên Hồng ởđời Trần để tuyên truyền, cổ động cho tổng tuyển cử đầu tiên của chính quyền nhândân Nhà thơ hướng đến:

“ Những chiến sĩ, những anh hùng Những kẻ hồn xanh như ngọc bích

Đi theo tiếng gọi nước non thiêng”

Đó là những con người suốt đời đi theo lý tưởng cách mạng để “canh giữ lấyhồn thiêng của Tổ quốc”

Sau hai tác phẩm giàu cảm hứng ngợi ca, Xuân Diệu lại hướng ngòi bút củamình vào việc vạch trần âm mưu tổ chức biểu tình của bọn tay sai Tưởng GiớiThạch nhằm lật đổ chính quyền cách mạng: kẻ thù cố tình vận động “Tổng đìnhcông” nhưng rồi chuốc lấy thất bại vì nhân dân:

“ Họ chẳng đình cho lại họp đông”

Đó còn là tình yêu thương đối với nhân dân lao động cần lao, nguyện gắn bómáu thịt với nhân dân:

“Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu người yêu dấu gian lao”

Ngày đăng: 01/09/2021, 08:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w