1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh ngữ nghĩa đại từ nhân xưng trong thơ trước cách mạng của xuân diệu và tố hữu

83 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh ngữ nghĩa đại từ nhân xưng trong thơ trước cách mạng của Xuân Diệu và Tố Hữu
Tác giả Lê Thị Mỹ Sen
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Trần Văn Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 328 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để lý giải vấn đề này, ít nhiều chúng ta cóthể dựa vào ngữ nghĩa và cách dùng đại từ nhân xng của các tác giả.Bằng hệ thống đại từ nhân xng Xuân Diệu và Tố Hữu đã xác lập nênnhững kiểu c

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

Vinh, 2006

Trang 2

Lời cảm ơn!

Trong quá trình luận văn đợc thực hiện và hoàn thành, tôi đã nhận đợc sự hớngdẫn tận tình, chu đáo của Tiến sĩ Trần Văn Minh, và sự góp ý chân thành củacác thầy cô giáo trongkhoa Ngữ văn và sự giúp đỡ động viên của bạn bè và

những ngời thân trong gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối với Tiến sĩ Trần Văn Minh,

các thầy cô giáo cùng ngời thân và bè bạn

Trang 3

2 Mục đích, đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 02

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 03

4 Phơng pháp nghiên cứu 07

5 Đóng góp của đề tài 07

6 Bố cục của luận văn 08

Chơng 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài

1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ 09 1.1.1 Khái niệm về thơ 09

1.2 Từ xng hô trong ngôn ngữ và trong thơ 18 1.2.1 Từ xng hô trong ngôn ngữ (trong giao tiếp) 18 1.2.2 Từ xng hô trong thơ 21 1.3 Về các thi phẩm khảo sát 24 1.3.1 Thi phẩm thơ Xuân Diệu (1932- 1945 ) 25 1.3.2 Tập thơ Từ ấy (1937-1946) của Tố Hữu 26

29 2.2 Đại từ nhân xng trong tập thơ Từ ấy của Tố Hữu 44 2.2.1 Kết quả thống kê và phân loại 45 2.2.1.1 Kết quả thống kê 45 2.2.1.2 Kết quả phân loại 46 2.2.2 Giá trị ngữ nghĩa của các đại từ nhân xng trong tập

2.3 So sánh ngữ nghĩa của các đại từ nhân xng trong

Trang 4

thơ Xuân Diệu và trong tập thơ Từ ấy của Tố Hữu trớc

2.3.1 So sánh định lợng các đại từ nhân xng đợc dùng

trong thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu 59

2.3.1.1 So sánh lợt dùng nhóm đại từ xng hô " tôi, ta, mình" trong

thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu 59 2.3.1.2 so sánh từ xng hô ngôi thứ nhất trong thơ xuân diệu

2.3.1.3 so sánh việc dùng từ xng hô ngôi thứ nhất số ít trong thơ xuân diệu và thơ tố hữu 62 2.3.2 So sánh định tính (giá trị ngữ nghĩa) các đại từ nhân

xng đợc dùng trong thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu 64 2.3.2.1 Những điểm giống nhau của thơ Xuân Diệu và thơ

Tố Hữu trớc cách mạng trong việc dùng đại từ tự xng 65 2.3.2.2 Những điểm khác nhau về giá trị biểu đạt mang tính

thi pháp trong việc dùng đại từ tự xng 66

Chơng 3: ý nghĩa thi pháp của các đại từ tự xng trong

thơ Xuân Diệu và trong tập thơ Từ ấy của Tố Hữu 72 3.1 Vấn đề thi pháp trong thơ Xuân Diệu và trong tập thơ

3.1.1 Mấy vấn đề về thi pháp 72 3.1.2 Thi pháp trong thơ Xuân Diệu và trong tập Từ ấy

3.1.2.1 Thi pháp trong thơ Xuân Diệu 74 3.1.2.2 Thi pháp trong thơ Tố Hữu 80 3.2 ý nghĩa thi pháp của các đại từ nhân xng 83 3.2.1.Các đại từ nhân xng - một trong những yếu tố thể hiện

quan điểm sáng tác của các nhà thơ 84 3.2.1.1 Đại từ nhân xng thể hiện quan điểm sáng tác của

Trang 5

3.2.1.2 Đại từ nhân xng thể hiện quan điểm sáng tác của

1.1 Hệ thống đại từ nhân xng tiếng Việt có vị trí rất quan trọng, nó vừa có ý

nghĩa từ vựng dùng để trỏ sự vật, để xng hô, để thay thế cho các từ loại

và cụm từ trong câu; vừa có ý nghĩa ngữ pháp khi đại từ đợc dùng đểthay thế cho thực từ Trong tiếng Việt đại từ bao gồm nhiều tiểu loại(đại từ thay thế danh từ, đại từ thay thế động từ, tính từ, số từ…) Với) Vớiphạm vi luận văn này chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu ngữ nghĩa của hệthống đaị từ nhân xng Nhng không phải đơn thuần là đại từ nhân xngdợc dùng trong giao tiếp hàng ngày với chức năng xng hô hoặc thay thế

và chỉ ngời Điều chúng tôi quan tâm nghiên cứu cụ thể trong luận văn

là ngữ nghĩa và cách sử dụng đại từ nhân xng trong văn học

Bớc vào lãnh địa văn học, nhất là thế giới thơ ca, đại từ nhân xng đãchiếm một vị trí và vai trò rất lớn- tạo nên dấu hiệu lời nói, yếu tố điệu

Trang 6

nói cho nhân vật trữ tình Đồng thời hệ thống đại từ nhân xng còn giúp

độc giả xác lập vị thế xã hội, nội dung t tởng, khuynh hứơng sáng tác…) Vớicủa các tác giả

Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn

1935-1940, đã có nhiều khuynh hớng văn học xuất hiện, trong đó phải kể đếnhai trào lu văn học lớn: phong trào thơ Mới và văn học cách mạng vớihai đại diện tiêu biểu là Xuân Diệu và Tố Hữu Mặc dù hai trào lu xuấthiện không trùng khít về thời điểm lịch sử nhng cũng đã gây ra nhữngtranh luận sôi nổi về sự ảnh hởng lẫn nhau trong phong cách sáng tác,trong khuynh hớng t tởng Để lý giải vấn đề này, ít nhiều chúng ta cóthể dựa vào ngữ nghĩa và cách dùng đại từ nhân xng của các tác giả.Bằng hệ thống đại từ nhân xng Xuân Diệu và Tố Hữu đã xác lập nênnhững kiểu chủ thể trữ tình khác nhau trong thơ; Thể hiện suy nghĩ, t t-ởng, tình cảm, quan niệm sống và quan niệm sáng tác của Xuân Diệu-tác giả đại diện cho dòng thơ lãng mạn và Tố Hữu- nhà thơ trữ tìnhchính trị

1.2 Thành công đặc sắc về nội dung t tởng và hình thức nghệ thuật của

thơ Xuân Diệu (1932-1945) và thơ Tố Hữu trớc Cách mạng tháng8/1945 đã đợc nhiều nhà nghiên cứu dày công tìm hiểu khám phá, song

ở mức độ nào đó vấn đề ngữ nghĩa của các đại từ nhân xng lại ít đợc đềcập tới Dới cách nhìn của ngữ nghĩa học văn bản, trong luận văn nàychúng tôi sẽ cố gắng phân tích đối sánh ngữ nghĩa và cách sử dụng các

đại từ nhân xng của chủ thể trữ tình ( tác giả) để góp phần nêu ra những

điểm tơng đồng và khác biệt về nội dung t tởng, khuynh hớng sáng tác

và thi pháp giữa thơ Xuân Diệu (1932 - 1945) và thơ Tố Hữu trớc Cáchmạng tháng 8/1945

1.3 Thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu trớc Cách mạng tháng 8/1945 đã đợc đa

vào chơng trình giảng dạy ở bậc phổ thông trung học, Cao đẳng và Đại học.Việc nghiên cứu đề tài này còn mang ý nghĩa thực tiễn, góp phần cho việcgiảng dạy thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu trớc Cách mạng một cách tốt hơn, sâusắc hơn

2 Mục đích, đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Ngôn ngữ đảm nhận nhiều chức năng xã hội,trong đó có chức năngthẩm mỹ Ngôn ngữ là chất liệu thứ nhất để nhà văn sáng tạo nên tác phẩmvăn học Từ góc độ ngôn ngữ học, chúng ta có thể khảo sát tác phẩm văn học

Trang 7

trên nhiều bình diện, trong đó có bình diện ngôn từ Chúng tôi mong rằngvới mục đích chính là nghiên cứu ngữ nghĩa và cách sử dụng đại từ nhân xngcủa hai tác giả tiêu biểu cho hai trào lu văn học : Xuân Diệu- ông hoàng củaphong trào thơ Mới và Tố Hữu- nhà thơ cách mạng, sẽ giúp chúng ta hiểu

đầy đủ hơn t tởng, tình cảm, lý tởng, quan niệm sống và quan điểm sáng tác,cũng nh thi pháp của các tác giả ở hai khuynh hớng văn học khác nhau trongcùng một giai đoạn lịch sử

Đồng thời giúp ngời đọc nhận thấy sự giống nhau của Xuân Diệu và

Tố Hữu trong việc sử dụng linh hoạt đại từ nhân xng nhằm thể hiện cái “tôi”cá nhân của chủ thể trữ tình Cũng qua đại từ nhân xng, chúng ta sẽ nhận ra

sự khác nhau trong cá tính sáng tạo, định hớng nội dung và kiểu chủ thể trữtình trong thơ Xuân Diệu và Tố Hữu

2.2 Đối tợng nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn này chúng tôi tập trung đi vào khảo sát, thống

kê và phân loại hệ thống các đại từ nhân xng đợc tác giả Xuân Diệu và TốHữu sử dụng trong một số thi phẩm tiêu biểu trớc Cách mạng

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích đã nêu trong luận văn này, chúng tôi hớng tới các vấn đềsau:

- Khảo sát, thống kê và phân loại hệ thống các đại từ nhân xng trong thơXuân Diệu(1932 - 1945) và trong thơ Tố Hữu trớc Cách mạng

- Phân tích đối sánh cấu trúc ngữ nghĩa và vai trò của nhóm đại từ nhânxng trong thơ Xuân Diệu (1932 - 1945) và trong thơ Tố Hữu trớc Cách mạng

- Rút ra những điểm tơng đồng và khác biệt giữa thơ Xuân Diệu và thơ

Tố Hữu qua việc dùng đại từ nhân xng

- Chỉ ra ý nghĩa thi pháp của các đại từ nhân xng trong thơ Xuân Diệu

và thơ Tố Hữu

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ khi ra đời đến nay, thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu trớc Cách mạng đãtác động mạnh mẽ đến t tởng và quan điểm thẩm mỹ của một lớp độc giả,

đồng thời thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu trớc Cách mạng đã trở thành đề tàithu hút đợc sự quan tâm tìm hiểu, khám phá của đông đảo các nhà nghiên cứu,phê bình trên nhiều bình diện: về nội dung xã hội mang tính chất điển hình, về

sự thay đổi một khuynh hớng t tởng, về thi pháp Sở dĩ việc nghiên cứu thơXuân Diệu và Tố Hữu phong phú nh vậy là vì Xuân Diệu và Tố Hữu là hai nhà

Trang 8

thơ lớn của dân tộc, sáng tác của hai ông không chỉ có giá trị nghệ thuật cao

mà còn có những đóng góp lớn cho sự hình thành và phát triển của nền thi caViệt Nam hiện đại Các nhà thơ và các nhà phê bình văn học đều có nhữngnghiên cứu sâu sắc về thơ Xuân Diệu và Tố Hữu

Với thơ Xuân Diệu, nhà phê bình Lu Khánh Thơ đã có những phát hiện

tinh tế khi viết chuyên luận Cái "tôi" trữ tình và phơng thức biểu hiện cái

"tôi" tình yêu trong thơ Xuân Diệu trớc cách mạng(13), Lê Tiến Dũng có bài viết Thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932-1945: cái nhìn nghệ thuật mới về thế giới

và con ngời [12,78] đã đánh giá khá sâu sắc đến cái nhìn của Xuân Diệu về

con ngời cá nhân và cái "tôi" trữ tình, mà theo tác giả cái "tôi" là một phơngthức biểu hiện hớng tiếp cận của Xuân Diệu với thế giới nghệ thuật; ngoài ra

còn có bài viết của Hoài Thanh trong chuyên luận Thi nhân Việt Nam nhận

xét về sự xuất hiện "đột ngột" nhng đầy ý nghĩa trên thi đàn thơ Mới, sự xuấthiện của Xuân Diệu đã đem cho thơ Mới một sắc diện mới: " Xuân Diệu mớinhất trong các nhà thơ Mới- nên những ngời lòng còn trẻ mới thích đọc XuânDiệu, mà đã thích thì phải mê…) Với"(8); Đỗ Lai Thúy trong Mắt thơ ở bài viết

"Xuân Diệu, nỗi ám ảnh thời gian" đã khẳng định Xuân diêu - một con ngời

yêu đời, yêu ngời khát thèm sự sống, luôn vồ vập hối hả đón nhân cuộc sống;

Trong bài viết T tởng và phong cách một nhà thơ lớn giáo s Nguyễn Đăng

Mạnh đã xác định nội dung t tởng và phong cách nghệ thuật của nhà thơ với tcách là một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo Các nhà nghiên cứu đều có nhữngghi nhận về đóng góp của Xuân Diệu trong chặng đờng thơ trớc cách mạng.Nhiều ý kiến đã lý giải đợc quá trình vận động cảm hứng sáng tạo của Xuân

Diệu qua các tập thơ nh Thơ thơ và Gửi hơng cho gió, phác thảo đợc những

đặc điểm phong cách thơ Xuân Diệu nh tình yêu sự sống, nỗi khắc khoải thờigian…) VớiCác bài viết của các tác giả và các nhà phê bình này phần lớn đợc Lu

Khánh Thơ tuyển chọn trong cuốn Xuân Diệu- về tác gia và tác phẩm

Đối với sự nghiệp thơ ca cách mạng của tác gia Tố Hữu, phải kể đến tập

thơ đầu tay Từ ấy, một tập thơ đã gây đợc sự chú ý và cũng đã có rất nhiều bài viết sâu sắc về tập thơ này Đầu tiên phải kể đến chuyên luận "Từ ấy" tiếng hát yêu thơng của một ngời thanh niên, một ngời cộng sản của Hoài Thanh,

ông đã đánh giá xác đáng ý nghĩa t tởng của tập thơ đối với cả tầng lớp thanh

niên lúc bấy giờ, Hoài Thanh đã gọi Từ ấy là tập thơ của "tiếng hát yêu

th-ơng", "tiếng hát phấn đấu và tin tởng", "tiếng hát chiến thắng"[27,463]; Tác

giả Nh Phong trong bài viết Cái mới của "Từ ấy" những bài thơ đầu tiên của

Tố Hữu đã tinh tế nhận ra cái nhìn rất mới của Tố Hữu về thế giới quan, nhân

sinh quan đó là cái nhìn "xuất phát từ lập trờng vững chắc của một chiến sĩ

Trang 9

cách mạng đấu tranh cho tiến bộ xã hội, cho giải phóng dân tộc và nhânloại"[27,374] Trong số các công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu có thể khẳng

định rằng giáo s Trần Đình Sử là ngời đã có nhiều công trình nghiên cứu hơncả:

Với cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu (30), giáo s đã đi sâu vào nghiên cứu

quan niệm nghệ thuật về con ngời, về không gian và thời gian nghệ thuật

trong thơ Tố Hữu và trong cuốn Dẫn luận thi pháp học (31), ông đã đa ra cái

nhìn tổng quát về diện mạo Thi pháp học và một số nhận định khái quát vềcách sử dụng đại từ nhân xng của Tố Hữu trong việc thể hiện vai trò của chủ

thể trữ tình trong thơ Trong cuốn tiểu luận Những thế giới nghệ thuật thơ

(32),giáo s Trần Đình Sử đã đánh giá thơ Tố Hữu về mặt “Thể tài và ngônngữ” ông nhận xét: “Thơ Tố Hữu là thơ khám phá trực tiếp ý nghĩa chính trịcủa các hiện tợng cuộc đời” và là thơ “trữ tình đời t”, nó “thể hiện các cảmxúc tâm trạng cá nhân của cái “tôi” của con ngời bình thờng” Tuy nhiênnhững công trình nhiên cứu trên cũng mới chỉ dừng lại bình giá chung về nội

dung và một số nét nghệ thuật trong Từ ấy, chứ cha có một cái nhìn đầy

đủ,toàn diện cho cả tập thơ

Nh vậy, vấn đề ngôn ngữ thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu trớc Cách mạngvẫn là vấn đề còn nhiều điểm để chúng ta tìm hiểu, vẫn còn là đề tài lớn đểchúng ta tiếp tục nghiên cứu

Ngoài ra cũng có một số luận văn thạc sĩ ngữ văn đã đi sâu nghiên cứu

đề tài về ngôn ngữ thơ Xuân Diệu và thơ Tố Hữu, các công trình nghiên cứu

về đề tài từ xng hô trong Thơ Mới và thơ Tố Hữu:

đó là đề tài Từ xng hô trong thơ Tản Đà và thơ Tố Hữu (18), đề tài Từ

láy trong thơ Xuân Diệu và thơ Chế Lan Viên (2), Khảo sát nhóm từ biểu thị màu sắc trong Thơ Mới 1932 - 1945 (17), Nhóm từ biểu thị âm thanh trong Thơ Mới 1932 -1945 (29) Những đề tài nghiên cứu này đã đề cập đến một số

phơng diện thuộc về nội dung và nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu và Tố Hữu.Chẳng hạn nh đã bàn đến ý nghĩa của từ láy trong việc tạo hiệu quả cho câuthơ- giúp bộc lộ luồng cảm xúc mới của thi nhân, vai trò của từ xng hô trongviệc bộc lộ cá tính của chủ thể trữ tình cũng nh định hớng nội dung trong thơViệt Nam hiện đại

Qua một số công trình nghiên cứu và chuyên luận về thơ Xuân Diệu và

Tố Hữu trớc cách mạng mà chúng tôi điểm ở trên, chúng ta có thể nhận ra cáccông trình nghiên cứu ấy mới chỉ dừng lại ở phạm vi một trào lu, một tác giả,

Trang 10

hoặc một tác phẩm riêng lẻ…) Vớimà cha thực sự trở thành đối tợng nghiên cứutrong sự đối sánh dới góc độ ngữ nghĩa học văn bản.

Những công trình nghiên cứu về thơ Xuân Diệu và Tố Hữu trớc cáchmạng đều rất đáng trân trọng và rất bổ ích cho những ai quan tâm tới thi phẩmcủa hai tác giả này Tuy nhiên nếu xét đến vai trò to lớn của hai nhà thơ với sựphát triển của nền thơ ca nớc nhà thì từng ấy công trình nghiên cứu vẫn cha

đủ Bởi phần lớn mới chỉ dừng lại dới góc độ Văn học là chủ yếu chứ khôngphải dới góc nhìn của ngôn ngữ học Và nh vậy thì cha làm rõ hết nội dung t t-ởng và khuynh hớng sáng tác của hai tác giả Do đó có thể nói ngữ nghĩa vàcách dùng các đại từ nhân xng trong thơ Xuân Diệu và trong thơ Tố Hữu trớcCách mạng còn là vấn đề còn nhiều điểm bỏ trống cần đợc chúng ta tiếp tụctìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn Với phạm vi đề tài này, chúng tôi cố gắng đisâu vào phân tích, so sánh đối chiếu ngữ nghĩa và cách dùng đại từ nhân xngtrong các thi phẩm của tác giả Xuân Diệu và Tố Hữu trớc Cách mạng để làmsáng tỏ sự sáng tạo độc đáo của các nhà thơ trong việc dùng đại từ nhân xng

để bộc lộ nội dung t tởng, khuynh hớng sáng tác, đồng thời xác định thi phápcủa các tác giả

Phơng pháp so sánh đối chiếu đợc sử dụng chủ yếu ở chơng II

Phơng pháp phân tích miêu tả đợc dùng trong quá trình đánh giá, xác

định vai trò ngữ nghĩa của đại từ nhân xng trong các thi phẩm đối tợng

Phơng pháp tổng hợp (phơng pháp quy nạp) dùng chủ yếu cho các tiểukết cuối chơng, cũng nh phần kết luận của luận văn

Trang 11

Đa ra một cái nhìn đúng đắn, nhất quán hơn về khuynh hớng t tởngtrong thơ Xuân Diệu và tập thơ Từ ấy của Tố Hữu.

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đợc triểnkhai trong 3 chơng:

- Chơng 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài

- Chơng 2: So sánh ngữ nghĩa các đại từ nhân xng trong thơ Xuân Diệu(1932- 1945) và thơ Tố Hữu trớc Cách mạng

- Chơng 3: ý nghĩa thi pháp của các đại từ nhân xng trong thơ Xuân

Diệu và trong thơ Tố Hữu trớc Cách mạng.

chơng 1 Những giới thuyết xung quanh đề tài 1.1.Thơ và ngôn ngữ thơ

đến một phơng diện tinh hoa của con ngời và tạo vật Trong khi đó các nhàthơ, các nhà lý luận về thơ lại đứng ở những góc độ khac nhau, về quan điểmgiai cấp, bản sắc dân tộc, thị hiếu thẩm mỹ, nội dung thời đại để bàn luận vềthơ

Theo tập thể các tác giả của cuốn Từ điển Tiếng Việt ( NXB Văn hóa

Thông tin, 2001): Thơ là thi, là thể văn có âm vận rõ ràng Định nghĩa này chỉ

mới đề cập đến mặt hình thức của thơ - tất nhiên đây là thứ hình thức bêntrong, thứ không thể thiếu đối với một sản phẩm tinh thần Song điều ngời đọcchờ đợi ở một tác phẩm văn chơng còn là t tởng của tác phẩm đó, tình cảm đ-

Trang 12

ợc dung chứa trong tác phẩm đó nó biểu hiện nh thế nào? nó tác động đến

ng-ời đọc ra sao?

Còn nhóm tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học ( NXB Giáo dục,

2004) lại đa ra khái niệm về thơ nh sau: Thơ (tiếng Pháp:poesie): Là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp

điệu Có thể cho rằng đây là một định nghĩa khá trọn vẹn vì nó đã đề cập đến

cả hai mặt nội dung và hình thức trong thơ, nó đã nói lên đợc đặc trng nỗi trộicủa thơ - là thể văn bộc lộ tiếng nói của tâm hồn, là tấm gơng phản ánh hiệnthực cuộc sống nhng là sự phản ánh có chọn lọc đợc biêủ hiện qua thứ ngônngữ hàm súc giàu hình ảnh và nhịp điệu

Nh trên đã nói, thơ là sản phẩm của tâm hồn thi sĩ, và thơ bắt rễ từ cuộc

đời, ca ngợi cuộc đời Nhng màu sắc của thơ lại do chính nhà thơ tạo ra Tiếngnói đến với cuộc đời, ca ngợi của thơ đợc thể hiện bằng chính tâm hồn nhàthơ Thơ hàm chứa sự hài hòa giữa cái ta chung và cái tôi trữ tình của nhà thơ

Đó là hai mặt đối lập mà thống nhất của thơ:

Có lúc nh trái núi cao không thể tới

Có lúc nh cánh chim sà đậu xuống bàn tay

(Thơ ca - Raxun Gamzatốp)

Tác giả R Gamzatốp đã đề cập tới phợng diện biểu đạt cái vĩ đại màgiản dị, cao đẹp mà bình dị tựa tâm hồn con ngời của thơ

Đứng trên lập trờng giai cấp, thời đại nhà thơ Sóng Hồng đã nói về thơ:

“Thơ là một thứ vũ khí đấu tranh giai cấp kỳ diệu”, “thơ tức là sự thể hiện conngời và thời đại một cách cao đẹp”- Thơ chính là cuộc đời Nhng theo chúngtôi, quan điểm toàn vẹn nhất của tác giả về thơ là nhận định: “Thơ là một hìnhthái nghệ thuật cao quý, tinh vi Ngời làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thểhiện sự nồng cháy trong lòng Nhng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cáchnhuần nhuyễn và có nghệ thuật.Tình cảm và lí trí ấy đợc diễn đạt bằng nhữnghình tợng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thờng"

[4] Quan điểm này cho thấy thơ đòi hỏi nhà thơ phải nói bằng chính tâm hồnngời Thơ là bạn đồng hành cùng ta trên suốt quãng đờng đời Do đó mà ngờiyêu thơ cũng đòi hỏi thơ phải chân thật trớc hết là với chính tâm hồn mình.Bởi thơ là một sản phẩm hết sức đặc biệt của văn chơng, bởi thơ đợc sản xuấttrong tâm hồn của thi sĩ Thơ trở nên rất đặc biệt vì thơ là tiếng gọi của tâmhồn này đối với tâm hồn khác, đó là chiếc cầu nối giao cảm vạn năng:

Thơ dài, lời dài vẫn bất lực,Sao làm cầu nối tôi với đời

Trang 13

Có ai nghe thấy một tiếng vọngThì thả con thuyền sang với tôi.

(Tiếng vọng - Trần Lê Văn)

Nhà thơ Tố Hữu laị quan niệm:“Thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống”,

“thơ là cái nhụy của cuộc sống” “thơ là một điệu hồn đi tìm những hồn đồng

điệu”, “là tiếng nói tri âm” Đây chính là phơng diện t tởng, tình cảm đợc baochứa trong thơ - có biết bao điều ta chỉ có thể nói đợc bằng thơ Những ngờiyêu nhau hay lấy thơ làm cầu nối tình cảm, những câu ca dao xa với những

đào - những mận, những bến - những thuyền sao mà chan chứa ân tình

Đúng nh lời nhà thơ Nga- Eptusenkô: “Mỗi ngời chứa một nội tâm tiềm ẩn.Những vũ trụ riêng t không lặp lại bao giờ”

Giáo s Hà Minh Đức cho rằng: “Thơ không chỉ nói đến cái đẹp trongcuộc sống, mà còn nói về cuộc sống với một lí tởng đẹp", quan điểm này chothấy Hà Minh Đức đã nói đến nhiệm vụ của thơ ca trong quá trình nhận thức

và phản ánh cuộc sống qua lý tởng sáng tạo của nhà thơ

Nhà văn, nhà thơ Pháp Victo Huygo viết: “Những câu có vần nhịp tự nó chaphải là thơ Thơ là từ trong những ý tởng và những ý tởng lại đến từ trong tâmhồn Những câu thơ chỉ là những bộ quần áo đẹp trên cơ thể đẹp Thơ có thểbiểu hiện bằng văn xuôi nhng nó chỉ thật sự hoàn mỹ qua vẻ đẹp duyên dáng

và lộng lẫy của những câu thơ” [4,25] ở đây tác giải muốn đề cập đến mốiquan hệ biện chứng của hình thức và nội dung trong thơ Mỗi tác phẩm thơ

đến với cuộc đời bằng những cách thể hiện riêng Đòi hỏi sự độc đáo trongcách thể hiện và cách đánh giá cuộc sống Sự độc đáo trớc hết phải đợc thểhiện trong tứ thơ Đó là những ý tởng đợc sắp xếp theo một trật tự hợp lí thểhiện thành công nhất chủ đề của tác phẩm Và rồi tứ thơ đợc thông qua những

từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu Thơ có đọng lại một cách lâu bền trong tâm hồnngời đọc hay không? nó phụ thuộc vào tứ thơ có độc đáo hay không? nó cótạo ra cho ngời đọc một sự bất ngờ hay không? Trả lời cho tất cả các câu hỏitrên có khi đợc tạo ra chỉ do một từ, có khi một hình ảnh thơ, có khi là mộtcâu thơ với cấu trúc độc đáo khác lạ

1.1.2.Ngôn ngữ thơ

Con ngời dùng ngôn ngữ làm phơng tiện giao tiếp, qua nói, viết đểtrao đổi, nhng cuộc sống vốn không ngng nghỉ mà luôn luôn vận động và pháttriển không ngừng Không dừng lại ở góc độ giao tiếp, ngôn ngữ đợc sử dụng

đa dạng hơn mang tính thẩm mỹ cao hơn

đó là ngôn ngữ văn chơng, ngôn ngữ thơ ca Ngôn ngữ thuở mới khaisinh chỉ là một thứ tiếng nói thô sơ, hạn hẹp, làm sao có thể diễn đạt hết t tởng

Trang 14

tình cảm của con ngời? Thơ là một loại hình nghệ thuật ra đời giúp con ngờitìm đến với nhau muốn tiếp cận hay khám phá một tác phẩm văn học chúng

ta không thể không chú ý đến yếu tố ngôn ngữ của tác phẩm Bởi văn học lànghệ thuật ngôn từ Ngôn từ là chất liệu để xây dựng hình tợng và thông quahình tợng để phản ánh hiện thực đời sống khách quan Mỗi ngôn ngữ tự nó làmột nghệ thuật diễn đạt của cộng đồng Nó bao gồm một tập hợp những yếu

tố thẩm mỹ riêng biệt: ngữ âm, nhịp điệu, ký hiệu, hình thái học - mà nó hoàntoàn không chia sẻ với bất kỳ một hình thức ngôn ngữ nào khác

Bởi vậy với thế giới ngôn từ, văn học có điều kiện trong việc tái hiện quá trình

t duy của con ngời.Văn học có thể khắc họa đợc các chân dung t tởng của conngời Cũng từ đó nhằm nêu lên những quan điểm của mình về nhân sinh vànghệ thuật

Với lãnh địa thơ ca, ngôn từ có vị trí, vai trò nh thế nào?

Trong thế giới thơ ca, ngôn ngữ chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng:

“Ngôn ngữ là một hình thức cội rễ nhất, là cội nguồn vật liệu thứ nhất của thơca”(Schlegel) Bởi đó là thứ ngôn ngữ trong sáng, chân thực, giàu màu vẻ của

đời sống hiện thực, đồng thời là tiếng nói phiêu diêu của trí tởng tợng diệu kỳ,

đó còn là tiếng nói đầy xúc cảm của những con tim đang thổn thức Là chiềusâu của trí tuệ, tính chất mẫn cảm và vi tế của sức sáng tạo, là những cung bậctâm trạng Tất cả chỉ có thể đến đợc với công chúng thông qua vai trò củangôn ngữ thơ Do đó ngôn ngữ thơ phải là sự tổ chức ngôn ngữ trên cơ sở của

hệ thống nhịp điệu, sự đa nghĩa trên một đơn vị diện tích ngôn ngữ hẹp nhất

để nhà thơ có thể mặc sức bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình về nhân sinhquan và thế giới quan Cũng vì thế mà cá tính sáng tạo và phong cách của tácgiả trong mức độ nào đó tạo cho ngôn ngữ thơ ca những phẩm chất đặc biệt -khiến thi phẩm mang màu vẻ riêng không thể trộn lẫn với thi phẩm khác củatác giả khác

Ngôn ngữ thơ còn là thứ ngôn ngữ đợc tổ chức một cách đặc biệt, đểhòng chiếm lĩnh tâm hồn và nâng cao t tởng thẩm mỹ cho con ngời, là nhữngdạng thức biểu hiện có hình ảnh gợi cảm và hấp dẫn để phát sinh ra nghĩa mới.Chúng ta hiểu đó là cách sử dụng các biện pháp tu từ để là ngôn ngữ có "màuvẻ” với lớp nghĩa phong phú hơn, hàm súc hơn và mỹ lệ hơn Từ ngữ của thơvẫn là thứ ngôn ngữ giao tiếp, nhng không còn thô mộc, nguyên sơ nh vốn có

mà đã có một sự chuyển hóa về mặt nghĩa - đóng một vai trò khác Rõ ràngnhững điều trên cho thấy văn bản thơ là một tổ chức của các kí hiệu ngôn ngữ,mang những đặc trng riêng so với các loại chất liệu khác nh: màu sắc, đờngnét trong hội họa, hình khối trong điêu khắc, các kí âm trong âm nhạc nghĩa

Trang 15

là bằng ngôn ngữ, thơ thể hiện giọng điệu của chủ thể sáng tạo theo cách riêngcủa mình Một loại kí hiệu vừa mang nghĩa bên trong, vừa từ đó mà gợi ra mộtcái gì ngoài nó Chúng ta thờng gọi là hình thức và nội dung của kí hiệu.

Theo cách nói của F.d.Saussure thì ngôn ngữ luôn có hai mặt, đợc gọi làcái biểu đạt và cái đợc biểu đạt Hiểu một cách giản dị nhất cái biểu đạt làhình thức của ngôn ngữ, là vỏ vật chất của các đơn vị ngôn ngữ (từ, câu,

đoạn); Còn cái đợc biểu đạt chính là nội dung, là ý nghĩa của ngôn ngữ Ngônngữ thơ ca không dừng lại ở cái biểu đạt mà nó còn là cả cái đợc biểu đạt Cụthể hơn, trong ngôn ngữ thơ ca cái biểu đạt và cái đợc biểu đạt xâm nhập,chuyển hóa vào nhau, tạo nên hiệu quả về ngữ nghĩa, đó chính là mối quan hệgắn bó giữa nội dung và hình thức một cách tinh tế nhất

Đúng nh lời Humboldb từng nói: “Thơ là một nghệ thuật tự biểu hiệnbằng ngôn ngữ” Nh vậy ngôn ngữ giao tiếp thông thờng đã trở thành hìnhthức đối với nhà thơ để tạo nên những ấn tợng thơ ca Nhà thơ đã tiếp cậnngôn từ “từ bên trong” khi dùng nó để thực hiện những chủ ý của mình, tức là

đã xác định nó trong ý đồ nghệ thuật, trong tính chất đặc thù của những nhiệm

vụ riêng của nghệ thuật

Tất nhiên để làm nên ngôn ngữ thơ ca không chỉ có sự góp mặt của duynhất ngôn ngữ mà nó còn có sự hòa phối của vần, nhịp (ngữ âm), cấu trúc (củacâu thơ, khổ thơ, bài thơ), cách thức tổ chức văn bản thơ Bởi vậy, đã có ýkiến khẳng định: Ngôn ngữ thơ là một chùm đặc trng về ngữ âm, từ vựng, ngữpháp, nhằm khái quát hóa, biểu trng hóa thế giới khách quan theo cách tổchức của thơ ca

ý kiến trên cho thấy rằng, ngôn ngữ thơ từ xa cho đến nay đã làm nênhồn, vẻ riêng của thơ ca Đầu tiên phải nhắc đến sự sáng tạo về mặt từ vựng,

“vốn từ vựng là vốn lông ngỗng Mỵ Châu trong hành trình thơ”, cho nên ngờilàm thơ cần tìm đợc sự chuyển nghĩa của từ, tìm đợc những yếu tố khiếm diện

Trang 16

nằm sau yếu tố từ gốc nhằm thay thế để nghĩa của từ trở nên phong phú hơn,giàu sắc thái biểu cảm hơn Chẳng hạn ở bài ca dao:

Em tởng nớc giếng sâu

Em nối sợi gầu dài

Ai ngờ nớc giếng cạnTiếc hoài sợi dây

“nớc giếng” và “sợi dây” vốn là hai yếu tố ngôn ngữ dùng để nhân thức sự vật,bây giờ đợc dùng để nhận thức một yếu tố khác ngoài nó - nhận thức thế giới

“tình cảm” của con ngời, mà cụ thể trong bài ca dao này là tình cảm của ngờicon trai Tình cảm nh “giếng nớc” nhng không phải là “nớc giếng sâu”(chỉ độsâu sắc, thắm thiết trong tình yêu) mà chỉ là “nớc giếng cạn” (nhằm chỉ tìnhyêu hời hợt, nông cạn) nên cô gái mới “tiếc hoài sợi dây”- chính là tình yêutha thiết, chân thành cô dành cho anh ta Nh vậy là bằng phép liên tởng tơng

đồng tác giả dân gian đã đẩy ý nghĩa trực tiếp của "nớc giếng” và “sợi dây” vềhàng sau - chúng không còn là “nớc giếng” và “sợi dây” vốn có nữa mà ýnghĩa gián tiếp: chỉ thái độ tình cảm của con ngời đã hoàn toàn chiếm lĩnh vịthế Chức năng định danh vốn có của các từ đã bị làm mờ đi bằng sự phái sinhmột khả năng biểu hiện mới của chúng

Đến với phạm trù thơ mới, thơ hiện đại - thơ trữ tình điệu nói chúng ta

có thể bắt gặp những bài thơ chứa những “chùm” từ ngữ đã hoán đổi nghĩa vớitần suất cao đến bất ngờ:

Cây bên đờng, trụi lá, đứng tần ngần,

Khắp xơng nhánh chuyển một luồng tê tái;

Và giữa vờn im, hoa run sợ hãiBao nỗi phôi pha, khô héo rụng rời

(Tiếng gió- Xuân Diệu )

ở đây chúng ta bắt gặp một trờng nghĩa mới mà bản thân chúng vốn lànhững từ ngữ chỉ trạng thái cảm xúc của con ngời Bằng phép ẩn dụ, XuânDiệu đã trở thành một phù thủy tài hoa - ông đã dụng công dùng phép “biếnhình” hoán đổi nghĩa của chúng để cải hóa không gian, thời gian mùa đông,khiến cho bức tranh thiên nhiên vốn tơi đẹp nay chứa đầy tâm trạng, mang nétriêng của thiên nhiên buổi đông sang

Cây trụi lá- tần ngần

Trang 17

Xơng nhánh- tê táiVờn – im

Hoa- run, sợ hãi, phôi pha, khô héo, rụng rời

Ngoài sự sáng tạo về mặt từ vựng nh đã đề cập ở trên thì cấu trúc ngữ phápcủa thơ cũng là một vấn đề đáng chú ý, bởi nó đóng vai trò rất quan trọngtrọng việc hình thành diện mạo và cảm xúc t tởng cho cả bài thơ Chỉ cần có

sự co giãn bất thờng giữa các câu thơ trong một bài thơ cũng đã tạo nên nhữnghiệu quả nghệ thuật bất ngờ:

Trong ngôn ngữ thơ ca, yếu tố vần nhịp không chỉ là hình thức mà còn

là nội dung, chúng có sự liên kết với nhau đảm bảo cho sự hành chức của vănbản thơ Sự hô ứng của nhịp và vần làm nên tính đa dạng của các giọng điệu,các phong cách nghệ thuật Thơ khiến ngời đọc nhớ đợc chính là nhờ vần vànhịp Nhịp là tiền đề cho vần ra đời, nó chính là xơng sống của thơ Thơ có thể

bỏ vần, bỏ hạn định về số chữ, bỏ mọi luật bằng - trắc, nhng không thể vứt bỏnhịp điệu, không có bất kì thể thơ nào có thể vứt bỏ nhịp điệu, hoặc tự xâydựng mình trên một tình trạng tùy hứng về nhịp điệu Vậy vần có vai trò thếnào trong thơ? Vần chính là chiếc cầu nối đính bắc qua các dòng thơ, liên kếtcác dòng thơ tạo thành văn bản hoàn chỉnh, và còn nhấn mạnh sự ngừng nhịptrong văn bản thơ, vần là những nốt tiếng vọng tiêu biểu cho âm thanh

Chính mối quan hệ hữu cơ, khăng khít nh vậy cho nên vần và nhịp cóvai trò hết sức quan trọng để tạo nên tính nhạc quyến rũ trong thơ, khiến ngônngữ thơ dễ đi vào lòng ngời Do đó chúng ta hoàn toàn không ngạc nhiên khitrong thơ có vần, có nhịp, có ngắt mạch, có số câu, có sự vận dụng về trọng

Trang 18

âm, cờng độ theo những mô hình cực kì gắt gao Cũng chính vậy mà ngôn ngữthơ trở nên đa dạng, phức tạp nh cuộc sống hàng ngày - nhng qua bàn tay tôiluyện và trí tuệ mẫn tiệp của nhà thơ, ngôn ngữ ấy đã làm nên sự phong phúcủa thơ.

Cái làm cho ngời đọc dễ nhớ, dễ thuộc khi tiếp nhận thơ chính là do đặctrng của hình thức thơ ca đa lại Ngữ nghĩa của thơ ca là những hàm ngôn đatầng, đa lớp kết hợp với chỉnh thể trong thơ xuất hiện nhiều cấu trúc ngoại lệmới lạ, “thơ ca là một tầng kiến trúc vô cùng quái đản” (Phan Ngọc) Bởi nó

đòi hỏi sự điển hình hóa cao độ: sự điển hình của tâm trạng, của hình ảnh,nhịp điệu một sự điển hình công phu, tinh tế, vừa đòi hỏi sự nhập thân gắn

bó, lại biết tách ra để tỉnh táo chọn lọc, vừa biết dung nạp tinh thần phóngtúng tài hoa, lại đòi hỏi hết sức mức độ chặt chẽ

Tóm lại, ngôn ngữ thơ không đơn giản là thứ ngôn ngữ thuần nhất mà

nó đầy biến hóa, là tiếng nói của tâm hồn tìm đến với tâm hồn Đó là thứ ngônngữ giàu sắc thái biểu cảm, bởi đó là tiếng nói thẳm sâu và sinh động của cuộcsống Là thứ ngôn ngữ giản dị mộc mạc nhng lại vô cùng trong sáng Do đóngôn ngữ thơ chẳng bao giờ mất đi Nó ra đời và tồn tại cùng sự ra đời và tồntại của con ngời Thơ là phơng tiện tối u dùng để lu giữ, truyền đạt thông tin

và bảo vệ môi trờng giao tiếp, không có nền văn hóa nào mà không biết đếnthơ Đến đây chúng ta phần nào thấy rõ hơn vai trò của ngôn ngữ đối với thơ,

đó không còn là thứ ngôn ngữ bình dị hàng ngày, là thứ quặng còn lẫn tạp chất

mà qua tinh luyện ngôn ngữ ấy đã trở thành thứ kim loại hoàn hảo, ngôn ngữ

ấy trở thành một một hữu thể sống, là tiếng nói của con tim chứ không phảichỉ là những từ ngữ đơn thuần, cục mịch, thô ráp Với vai trò là ngời lọc quặngngôn từ, nhà thơ đã đa đến sức sống mới cho ngôn ngữ, khiến ngôn ngữ cuộc

đời vào thơ trở thành ngôn ngữ giàu tình cảm, giàu sức biểu hiện Do đó muốn

đánh giá đúng bản chất của ngôn ngữ thơ phải đặt “mắt thơ” vào trong trờngnghĩa để thấy đúng ý nghĩa của từ đó Đúng nh nhà phê bình Đỗ Lai Thúy đãkhẳng định: “nếu thẩm bình mà không dựa vào ngôn ngữ học thì chẳng khácgì đạp lên bàn đạp không có lò xo”

Qua trên, có thể thêm một lần nữa thấy rõ giá trị của ngôn ngữ và ngônngữ thơ đối với đời sống con ngời Nhờ có ngôn ngữ mà con ngời giao tiếp đ-

ợc với nhau, làm cho ngnời gần ngời hơn, giúp đem đến cho con ngời baonhiêu tri thức Và nhờ ngôn ngữ thơ- thứ ngôn ngữ của trí t duy trừu tợng, đầysức chứa và sức gợi khiến chúng ta yêu ngời và yêu đời hơn, giúp khám phá đ-

ợc cõi sâu của tâm hồn con ngời

1.2 Từ xng hô trong ngôn ngữ và trong thơ

Trang 19

Ngôn ngữ loài ngời là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phơng tiện giao tiếpquan trọng nhất nhằm diễn đạt ý nghĩ của con ngời, là công cụ của t duy Nóitới giao tiếp ngôn ngữ là chúng ta phải nói đến vấn đề xng hô (gắn liền vớichào hỏi) Đó chính là sự xác lập một vai giao tiếp thích hợp Đây là điều bất

di bất dịch đối với mọi dân tộc trên thế giới Tuy nhiên, so với các ngôn ngữkhác, hệ thống từ xng hô của tiếng Việt phong phú hơn, giàu có hơn và cũngphức tạp nhất về cách sử dụng

1.2.1.Từ xng hô trong ngôn ngữ (trong giao tiếp)

Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống từ xng- hô của mình, ngoài mục đích làchức năng xng gọi, cộng đồng ngời sử dụng từ xng- hô của mình còn nhằmbiểu hiện sắc thái văn hóa trong giao tiếp, cách ứng xử giữa các thành viêntrong cộng đồng ngôn ngữ đó

Tiếng Việt có một hệ thống các từ xng- hô nhiều về số lợng, phong phú,

đa dạng về xuất xứ Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, hệ thống từ ng- hô ấy đã thể hiện rõ

x-Theo từ điển tiếng Việt: Xng- hô là tự xng mình và gọi ngời khác là gì

đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau

Mở rộng ra, xng là tự nói về mình (thuộc ngối số ít hay số nhiều) Vớitiếng Anh, đó là I, we ( tôi, chúng tôi)

Hô là nói về ngời đối thoại ( cũng thuộc ngôi số ít hay số nhiều) Với tiếngAnh, là You (anh/chị, các anh/các chị )

Với ngời Pháp là: je, moi, nous ( tôi, chúng tôi)

Tu, toi, vous (anh/chị, các anh/các chị )

Trong văn hóa giao tiếp của ngời Việt cũng có những đại từ xng gọitrung hòa nh: Tôi/chúng tôi, anh/chị, các anh/các chị, các ông/các bà song hệthống từ xng hô vấn chủ yếu dựa vào quan hệ đẳng cấp và tuổi tác Cũng do

đó mà chúng ta thấy trong hệ thống từ xng hô của ngời Việt khá phức tạp vàlắt léo, biểu hiện qua 2 vấn đề sau:

Thứ nhất: Ngời Việt sử dụng hệ thống từ vựng thân tộc để làm đại từ

nhân xng Bởi vậy ngời Việt "biến" gia đình thành hệ quy chiếu của quan hệxã hội Xã hội đợc xem nh một gia đình mở rộng, mà nền tảng của gia đình ấy

là quan hệ huyết thống

Chẳng hạn: Ngời nào ngang tuổi ông, bà mình thì qua giao tiếp vô hìnhdung trở thành ông bà

Trang 20

Ngời nào ngang tuổi chú, bác, cô, dì thì cũng qua giao tiếp vô hình trởthành chú, bác, cô, dì.

Với cách xng hô bằng từ thân tộc đã tạo nên những cuộc giao tiếp thânmật mang quan hệ gia đình, khiến mục đích giao tiếp dễ đi đến thành công;song đồng thời cũng đã góp phần ngăn chặn quá trình dân chủ hóa của ViệtNam, nên xã hội chậm phát triển

Thứ hai: Cách xng hô trong tiếng Việt cho thấy tính chất cụ thể trong

ngôn ngữ và trong cách t duy của ngời Việt về trỏ ngôi, xác định vị thế của

đối tợng giao tiếp Ngôn ngữ Việt không có tính khái quát cao nh các đại từtrong phần lớn các ngôn ngữ phơng Tây Trong đối thoại, mỗi ngời với t cáchcá nhân đều thuộc một trong ba phạm trù:

Ngời phát ngôn (ngôi I)

Ngời trực tiếp đón nhận phát ngôn (ngôi II)

Ngời đợc đề cập đến trong phát ngôn (ngôi III)

Chẳng hạn: Trong tiếng Anh chỉ có đại từ I , you, đợc dùng xng cho tấtcả mọi ngời trong mọi cuộc đối thoại

Còn trong văn hóa giao tiếp của ngời Việt khi xng (tự chỉ mình) ngờiViệt có rất nhiều từ: Tôi, tao, tớ, mình

Do đó, dờng nh trong văn hóa xng hồ truyền thống của ngời Việt không

có khái niệm cá nhân nh một cái gì độc lập, chỉ đợc xác định bằng một tiêuchí duy nhất là hành ngôn.Vì vậy, trong xng hô của tiếng Việt một ngời có thể

đóng nhiều vai

Có thể, ngời đó là Cháu khi xng với ông, bà

Con khi xng với cha, mẹ

Em khi xng với chồng hoặc anh/chị Anh khi xng với vợ hoặc em

Mẹ khi xng với con

Bố khi xng với con

Nh vậy trong văn hóa xng hô, ngời Việt phải đổi vai liên tục ngay trong

một cuộc giao tiếp ngời đó thực sự không là ai cả Trong văn hóa giao tiếp,

ng-ời Việt còn đóng giả vai (thay vai, gọi thế) mà ta gọi là nói khiêm Đây là mộtbiểu hiện cho một nét đẹp văn hóa truyền thống “ xng khiêm, hô tôn” (nói vềmình thì nhún xuống, khiêm nhờng; còn nói về ngời khác thì tôn trọng, nângcao lên) Nếu chúng ta vi phạm nguyên tắc này sẽ bị coi là kém cỏi, là bất lịch

Trang 21

sự trong văn hóa ứng xử, không dễ dàng tạo lập đợc mối quan hệ giao tiếp tốt

và rất dễ bị ngời khác chê cời Nhng cũng có thể trong bối cảnh không cầnthiết thì ngời nói sẽ xử sự ngợc lại với nguyên tắc “ xng khiêm, hô tôn", ngờinói không nhất thiết phải giữ ý và tôn trọng nữa Chẳng hạn nh khi bị một ai

đó xúc phạm mình

Cho nên, trong văn hóa giao tiếp, các đại từ xng hô của ngời Việt trởnên phong phú và phức tạp dờng nh nhằm đáp ứng nhu cầu đổi vai liên tụctrong một cuộc giao tiếp Có thể vì lý do tôn trong đối tác, nhng cũng có khi

sự đổi vai này diễn ra theo hớng tâm lý tiêu cực Tuy nhiên phá vỡ cách xnghô thông thờng là không còn tôn trong thể diện của đối tác nữa Song cũng tùytình huống mà chúng ta điều chỉnh cách xng hô cho phù hợp với đối tợng giaotiếp

Tiếng Việt với một hệ thống từ ngữ xng hô phong phú, tinh tế, giàu sứcbiểu cảm đã góp phần làm giàu cho văn hóa ứng xử của ngời Việt, làm giàucho truyền thống văn học của ngời Việt Nh vậy qua hệ thống từ xng hô đợcvận dụng vào trong văn học ngời tiếp nhận cũng có thể phần nào hiểu đợc tâm

t, tình cảm, cũng nh t tởng của tác giả

1.2.2 Từ xng hô trong thơ

Truyền thống giao tiếp bằng dùng đại từ thân tộc làm đại từ nhân xngtrong giao tiếp của ngời Việt và việc đổi vai liên tục trong một cuộc đối thoại

ít nhiều đã ảnh hởng tới việc sử dụng từ xng hô trong văn chơng Chẳng hạn,

sự biến nghĩa của các đại từ nhân xng tôi, ta, mình"

Cụ thể: trong tiếng Việt chữ mình“ ” vốn gốc là danh từ - Dùng để chỉ cơ

thể ngời ( mình “ ” có thể dùng để trỏ cả hai ngôi nhân xng thứ nhất và thứ haivới sắc thái thân mật, suồng sã, đặc biệt sử dụng trong cách xng gọi của cáccặp vợ chồng trẻ hay giữa bạn bè gần gũi, thân quen )

Nh vậy chữ mình“ ” gồm ba nghĩa:

- Là tiếng mình tự xng, chỉ thân thể ngời ta

- Là tiếng xng hô thân mật giữa vợ chồng, ngời tình

- Là tiếng xng hô trong quan hệ bạn bè: Ta, chúng ta

ở đây chữ mình“ ” không đơn thuần là một yếu tố từ vựng nữa mà chứa

đựng trong nó cả một triết lý về tình yêu của ngời Việt

Chữ mình “ ” từ nghĩa thứ nhất: Chỉ bộ phận chính của cơ thể (mình chiếm từ

cổ xuống mông ) đợc đồng nhất với cơ thể

Trang 22

Chẳng hạn nói: “ mình đầy mồ hôi” đồng nghĩa với “cơ thể đầy mồhôi”.

Nó đã chuyển thành nghĩa thứ hai: Mình” biến thành tôi“ ” (ngôi một

số ít)

Ví dụ: “Mình đang đọc sách” đồng nghĩa với “ Tôi đang đọc sách”

Và khi trai gái yêu nhau – khi hai hòa làm một, ngời ta trao cái mình “ ” ấy

cho ngời mình yêu thì mình“ ” lại chính là “Em” hay “Anh” (ngôi hai số ít).Nhng đến khi sự phân biệt giữa ngôi một và ngôi hai mất đi, khi “mình với ta

tuy hai mà một” thì mình “ ” tự động biến thành “chúng ta” (ngôi một sốnhiều)

Trong thơ ca Việt Nam chúng ta bắt gặp rất nhiều cách xng hô và kêu,gọi rất đặc biệt nhờ sự chuyển nghĩa này

Ví dụ: - Mình ơi ! có nhớ ta chăng ?

Ta nh sao Vợt chờ trăng giữa trời.

(Ca dao)

Hay: - Một duyên, hai nợ, ba tình,

Chiêm bao lần khuất bên mình năm canh.

Nằm một mình, lại nghĩ một mình,

Ngọn đèn khêu tỏ bóng huỳnh thấp cao

Nh vậy, nó là một chữ ba ngôi Và trong thơ ca Việt Nam sự biến nghĩa

của chữ mình “ ” bộc lộ quan niệm của ngời Việt về tình yêu và hôn nhân Theoquan niệm đó, tình yêu không phải là sự hòa nhập là một: Hai ngời yêu nhaukhông những chỉ thuộc về nhau - điều này quá bình thờng và quen thuộc khắp

nơi Với ngời Việt chúng ta, sâu sắc hơn, yêu nhau là đem cái chữ mình“ ”(vốn chỉ cơ thể của mình) để tặng cho ngời mình yêu thơng, ngời ta tự nguyệnhiến dâng chủ quyền thân thể mình cho ngời mình yêu, là dâng hiến cái củamình cho nhau Hơn nữa, là biến ngời mình yêu thành “chốn đi về”, thànhkhông gian c ngụ của lòng mình, chỉ ở đó ngời ta mới tồn tại cùng nhau và ởtrong nhau

Với chữ “ta” trong tiếng Việt, chúng ta cũng nhận thấy sự đa nghĩa của

Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin - 2001) định nghĩa

“Ta” nghĩa là: Tiếng mình tự xng có ý kiêu căng

Ngời trên tự xng với ngời dới

Để chỉ mình đối với ngời, có nghĩa là chúng ta, chúng

Trang 23

Tiếng mình để tự nói với mình

Tiếng đứng sau một tiếng chỉ ngời: ông ta, bà ta, anh

ta…) Với Tiếng chỉ sự thuộc về nớc mình: Chữ ta, nớc ta

Theo cuốn “Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông

Nam á” của Nguyễn Văn Chiến thì: Đại từ nhân xng ta“ ” ngôi thứ nhất - làmột đại từ đặc biệt “ Nó là một hình thái hỗn đồng ý nghĩa ngữ pháp số: vừabiểu thị số ít, vừa biểu thị số nhiều” [23, 186] Nếu ở ngôi nhân xng thứ nhất-

số ít: Chữ ta“ ” có sắc thái ý nghĩa không lịch sự (dùng trong lối nói trịch ợng, kẻ cả mà ngời nói tự xng mình là bề trên của ngời đối thoại )

th-Ví dụ: Ta nói cho nhà ngời biết.

Nhng nếu, chữ ta “ ” đợc dùng với ý nghĩa số nhiều (chúng ta) thì sắc

thái biểu cảm của nó là trung hòa

Ví dụ: “Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy

chung”

(Tình già- Phan Khôi) Ta

“ ” đợc Phan Khôi dùng ở đây là nhằm chỉ “đôi ta” , “chúng ta”

Trong thơ ca Việt Nam đại từ nhận xng ta“ ” ngôi một vẫn thờng đợc dùng đểxng hô với ngời đối thoại, và thờng mang ý nghĩa riêng t, ý nghĩa tình cảmnam, nữ rất lớn

Ví nh: Mình nói dối ta, mình hãy còn son,

Ta đi qua ngõ, thấy con mình bò.

Con mình những đất cùng tro,

Ta đi gánh nớc, tắm cho con mình.

(Ca dao) Hay: Mình về ta chẳng cho về,

Ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ.

(Ca dao) Mình , "ta

“ ” ” đi về trong ca dao và thơ ca trữ tình với một tần số cao đãthể hiện rõ nét tình cảm mặn nồng trong tình yêu trai gái, hai tiếng đó đợc

dùng để xng hô thật tha thiết, chân thành, nồng ấm Chữ ta “ ” không chỉ đợc

dùng với tính chất cái ta“ ” chung nữa mà nó in đậm màu sắc cá nhân riêng lẻ

Trang 24

Chữ mình “ ” hàm chứa cảm xúc bao luyến, ngọt ngào khiến lời giao đáptrong câu ca vợt ngỡng tình yêu trai gái thông thờng, nó nh lời của vợ nói vớichồng hay ngợc lại

1.3 Về các thi phẩm khảo sát

Thực tế cho thấy thành công của một tác phẩm văn học u tú có sự đónggóp không nhỏ của ngôn ngữ và ngữ nghĩa của chúng Cụ thể là sự biến hóalinh hoạt trong cách dùng đại từ nhân xng để thể hiện vị thế cá nhân và cộng

đồng trong từng giai đoạn lịch sử Trong phạm vi luận văn này chúng tôi đãchọn lựa ba tập thơ tiêu biểu của Xuân Diệu và Tố Hữu giai đoạn 1932 –

1945, để khảo sát ngữ liệu đại từ nhân xng

1.3.1 Thi phẩm thơ Xuân Diệu (1932-1945)

Phong trào thơ Mới ( 1932 – 1945) đã góp một phần lớn vào tiến trìnhphát triển của nền văn học nớc nhà bằng việc cất lên tiếng nói riêng của mình,tiếng nói in đậm dấu ấn, màu sắc cá nhân, tiếng nói của những cái tôi đòi giảiphóng “bản ngã” Nói không quá thì cái “tôi” chính là linh hồn của văn họclãng mạn, linh hồn của thơ Mới Và nh vậy chúng ta không thể không nhắc tớiXuân Diệu, ngời đã chung vai, góp sức làm nên diện mạo thơ Mới bằng hai

tập thơ nổi tiếng Thơ thơ (năm1938, gồm 46 bài) và Gửi hơng cho gió (năm

1945, gồm 51 bài) Có thể khẳng định rằng: Xuân Diệu đã hoàn thành xuất

sắc sự nghiệp sáng tác thơ tác của mình từ lúc 24 tuổi - hai tập Thơ thơ và Gửi hơng cho gió là thành tựu rực rỡ nhất trong đời thơ Xuân Diệu Đồng thời hai

tập thơ cũng là bản lề khép mở cho cánh cữa không gian, thời gian và trụckhông gian, thời gian trong thơ Xuân Diệu, góp phần tạo nên phong cách thơXuân Diệu Hai tập thơ còn biểu hiện cho độ chín của hồn thơ Xuân Diệu

Nếu Thơ thơ với giọng điệu trong trẻo, rạo rực, thiết tha thì Gửi hơng cho gió

lại đằm thắm, già dặn, mang nhiều tâm t, tình cảm của tác giả, là những thăngtrầm đợc ông cảm nhận sâu sắc, là cảnh ngộ bế tắc của mình và cả một lớp ng-

ời cùng thế hệ Hai tập thơ đã bổ sung cho nhau làm nên hồn thơ Xuân Diệu,biểu đạt đúng tâm t, tình cảm của tác giả, đúng nh “Lời đa duyên” mở đầu tập

Thơ thơ, ông đã viết: “Đây là lòng tôi đang thời sôi nổi, Đây là hồn tôi vừa lúc

vang ngân, Và đây là tuổi xuân, Và đây là sự sống của đời tôi nữa: Tôi đemtặng cho ngời trong mấy bài thơ đây” Bởi thế nên chúng tôi đã chọn chính haitập thơ này nhằm khảo sát cách sử dụng các đại từ nhân xng của Xuân Diệu,

để từ đó có thể hiểu thêm t tởng, tình cảm, quan niệm về con ngời và thế giớicủa tác giả

Trang 25

1.3.2 Tập thơ Từ ấy(1937-1946) của Tố Hữu

Với tác giả Tố Hữu - ngời đại diện cho phong trào thơ ca Cách mạng,ngời đã thổi “luồng gió” lý tởng cách mạng tràn đầy say mê, nhiệt huyết chotầng lớp thanh niên yêu nớc cả một thời đại, ông đã để lại bảy tập thơ lớn, mỗitập thơ đánh dấu cho một chặng đờng đấu tranh Cách mạng, đánh dấu chomột giai đoạn lịch sử gian khổ nhng hào hùng của cả dân tộc Càng về sau mỗitập thơ càng thể hiện rõ độ chín về lý tởng của ngời thanh niên cộng sản Tố

Hữu Song với phạm vi đề tài này, chúng tôi chọn khảo sát tập thơ Từ ấy (1937-1946), gồm 67 bài Bởi Từ ấy gần song trùng với giai đoạn phát triển của phong trào Thơ Mới nói chung và hai tập Thơ thơ, Gửi hơng cho gió của Xuân Diệu nói riêng Và còn bởi Từ ấy là tập thơ biểu hiện rõ cái tôi sôi nổi,

say mê đầy lãng mạn của ngời thanh niên cộng sản buổi đầu giác ngộ cáchmạng Tập thơ đã ghi nhận những cái mới của Tố Hữu, đã góp cho thơ catiếng Việt hiện đại một kiểu nhà thơ mới, khác với thơ Mới, một cái tôi hấpdẫn, mạnh mẽ, thuộc về quần chúng lao khổ và cách mạng Mang cảm thứcriêng t với những mất mát chung của cả dân tộc, đó là mặc cảm bị bỏ rơi, bơ

vơ, lạc lõng Từ ấy, tập thơ mời năm của một nhà thơ, và cũng là tập thơ ghi

dấu cho mời năm cách mạng Việt Nam phát triển, cũng là tập thơ mở đờngcho nền thơ ca cách mạng Việt Nam, tập thơ đã mang đợc một nội dung giáo

dục t tởng sâu sắc Từ ấy thực sự là tập thơ với những chặng đờng đấu tranh

cách mạng gian lao: “Máu lửa”, “Xiềng xích”, “Giải phóng”; nổi lên trong đóvẫn là cái tôi lãng mạn cách mạng đầy say mê lý tởng, một cái tôi tranh đấukhông mệt mỏi của chàng trai Tố Hữu thời 19 tuổi

Chơng 2

Trang 26

So sánh ngữ nghĩa các đại từ nhân xng trong thơ Xuân Diệu (1932-1945) và thơ Tố Hữu trớc Cách mạng 2.1 Đại từ nhân xng trong thơ Xuân Diệu (1932-1945)

Dùng đại từ nhân xng đã trở thành một thói quen trong sáng tác thơMới, nó nhằm nói lên đợc một “nhu cầu lớn về tự do và phát huy bản ngã” (TốHữu) Bởi vậy cũng cha bao giờ ngời ta thấy trong lịch sử thơ văn Việt Nam,các đại từ nhân xng xuất hiện nhiều đến vậy, với các đại từ nhân xng ngôi thứnhất, nó có thể cho phép nhà thơ biểu hiện rõ ràng, dứt khoát lập trờng, t tởng,tình cảm của cá nhân trữ tình Thơ Xuân Diệu cũng không nằm ngoài cái quyluật đó - Để bày tỏ một cái tôi tự biểu hiện, mở ra một cấp độ mới trong việcnhận thức con ngời, chính vậy chúng ta gặp trong thơ ông những cuộc chuyện

trò trực tiếp mà chủ thể trữ tình không ai khác là tác giả luôn tự xng là: Tôi,

Bảng 1: số liệu thống kê số lợt dùng đại từ nhân xng trong hai tập

Thơ thơ và Gửi hơng cho gió

- Tập Thơ thơ gồm có 45 bài, đã cho số liệu sau:

+ Đại từ nhân xng Tôi“ ” xuất hiện 101 lợt/45 bài

+ Đại từ nhân xng Ta“ ” xuất hiện 46 lợt/45 bài

+ Đại từ nhân xng Mình“ ” xuất hiện 12 lợt/45 bài

- Tập Gửi hơng cho gió gồm có 51 bài, chúng tôi đã khảo sát đợc số

liệu gồm:

+ Đại từ nhân xng Tôi“ ” xuất hiện 98 lợt/51 bài

+ Đại từ nhân xng Ta“ ” xuất hiện 92 lợt/51 bài

Trang 27

+ Đại từ nhân xng Mình“ ” xuất hiện 17 lợt/51 bài.

2.1.1.2 Kết quả phân loại

Bảng 2: Số liệu phân loại đại từ nhân xng "Tôi, ta, mình" trong hai tập

Thơ thơ và Gửi hơng cho gió

+ Trong tổng số 101 lợt xuất hiện đại từ nhân xng Tôi thì có tới 95 lợt

mang nghĩa tự xng ở ngôi thứ nhất số ít;6 lợt đợc sử dụng ở vị trí ngôi thứ nhất

số nhiều

+ Đại từ nhân xng Ta trong tổng số 46 lần xuất hiện có tới 42 lần hàm

nghĩa đại từ tự xng ở ngôi thứ nhất số ít; 4 lần xuất hiện còn lại là đại từ tự

x-ng ở x-ngôi thứ nhất số nhiều

+ Đại từ nhân xng Mình chiếm vị trí rất khiêm tốn với số lần xuất hiện

ít nhất: 12 lợt và chỉ ở ngôi thứ hai số ít

- Với tập Gửi hơng cho gió tần số xuất hiện của các đại từ nhân xng và

sự biến nghĩa của chúng là điều đáng để chúng ta quan tâm:

+ Trong tổng số 98 lợt xuất hiện, đại từ nhân xng Tôi vẫn giữ nguyên

nghĩa vốn có của nó là đại từ nhân xng ở ngôi thứ nhất số ít

+ Qua 92 lần xuất hiện, đại từ nhân xng Ta có 76 lợt giữ vị trí ngôi

thứ nhất số ít; có 16 lợt còn lại giữ vị trí ngôi thứ nhất số nhiều

+ Đại từ nhân xng Mình xuất hiện 17 lợt, cả 17 lợt đều ở vị trí đại từ

tự xng ngôi thứ nhất số ít chỉ “thân thể ngời ta”

2.1.2 Giá trị ngữ nghĩa của các đại từ nhân xng trong thơ Xuân Diệu

Sự xuất hiện của thơ ca Việt Nam (1932-1945), nhất là thơ ca lãngmạn, đã làm nên một cuộc cách mạng trong văn học Việt Nam hiện đại, hìnhthành nên một trào lu thơ tự nhận mình là thơ Mới, để đối lập với thơ cũ - thơTrung đại Việt Nam, thơ Trung đại là thơ tỏ lòng, trong đó các nhà nho là lựclợng sáng tác chính ở đó chủ thể trữ tình chỉ dám bộc lộ một cách gián tiếp,

Trang 28

kín đáo và không thật rõ nét Cảm xúc con ngời không đợc biểu hiện tự do nênphạm vi cảm quan trong thơ chỉ là những nét chí hớng, hoài bão, nó hớng conngời vào một miền lý tởng, khao khát trong tâm t Cách biểu hiện của chủ thểtrữ tình- tác giả trong thơ Trung đại không có sự xuất hiện trực tiếp dới các

dạng thức tôi , ta , chúng ta “ ” “ ” “ ” Trong thơ Mới luôn luôn bộc lộ chủ thể vớinhững cảm xúc cá nhân một cách tự do, táo bạo, mãnh liệt Các đại từ nhân x -

ng là một trong những phơng tiện để thơ Mới bộc lộ cảm xúc đó một cách đầy

đủ, trọn vẹn ở mọi cung bậc Đợc cởi trói khỏi những ràng buộc cũ về nộidung lẫn hình thức, các thi sĩ thơ Mới mặc sức bày tỏ những cảm nhận củamình về ngoại giới ở mọi cung bậc, thể hiện khả năng thấu hiểu những điều vi

tế, huyền diệu trong thế giới vạn vật, trong tâm t, tình cảm của con ngời, lúcnày chất liệu của các nhà thơ là chính tâm hồn họ Họ luôn có ý thức nói tolên những cảm xúc, những sợi tơ lòng của bản thân Vì thế nhóm đại từ nhânxng có vai trò rất lớn trong việc giúp các nhà thơ bày tỏ tâm tình, cảm xúc, lậptrờng, t tởng của cá nhân trữ tình

Xuân Diệu, với vai trò là một trong những chủ tớng của phong trào

thơ Mới, cũng đã đem đến cho thơ Mới những hơng sắc mới Với hai tập Thơ thơ và Gửi hơng cho gió, tác giả Xuân Diệu đã bộc lộ cái tôi chủ thể, cái tôi

trữ tình của mình không phải chỉ bằng các phơng thức biểu hiện nh: nhập thânvào đối tợng phản ánh, hay biến hóa bản thân và tâm cảm của mình qua nhiềuhình ảnh (chim, hoa, thuyền, bến, sơng, mây ), hay có khi đồng nhất mìnhvới thiên nhiên mà trên tất cả, các sự biến hóa, nhập thân, đồng nhất đó đều

biểu hiện rõ nét qua cách dùng các đại từ nhân xng tôi, ta, mình“ ” là chính

Nh đã trình bày ở mục (2.2 Từ xng hô trong thơ), các đại từ tôi, ta, mình” vốn ở ngôi thứ nhất số ít nhng khi đi vào ngôn ngữ thơ, với mục đích

giao tiếp riêng của nhà thơ, chúng đã có sự chuyển nghĩa - có thể trở thành từ

xng hô ở ngôi một số nhiều Kết quả khảo sát 96 bài thơ trong hai tập Thơ thơ

và Gửi hơng cho gió cho phép chúng ta thấy rõ hơn điều này.

Để hiểu hơn nghĩa chữ tôi“ ” mà Xuân Diệu dùng, thiết nghĩ chúng ta

cũng cần tìm hiểu một chút về nghĩa vốn có của nó Trong tập Thơ thơ đại từ

nhân xng “tôi” xuất hiện tới 101 lợt trên tổng số 32 bài đợc khảo sát

Đại từ nhân xng tôi“ ” ngoài nghĩa chính là: "Tiếng mình tự xng vớingời khác", còn đợc hiểu với một số nghĩa nh: Tôi là ngời thuộc hạ củavua(trong nghĩa vua tôi, tôi tớ) đây là cách dùng để xng hô biểu thị thái độkhiêm nhờng (tự hạ thấp mình) của ngời nói trớc ngời đối thoại

Trang 29

Trong hệ thống từ xng hô của tiếng Việt, từ tôi“ ” đợc xem là đại từ nhân xngduy nhất biểu thị sắc thái trung hòa trong lối xng hô ngoài xã hội Nó thờngtạo thành cặp với những danh từ thân tộc ở ngôi nhân xng thứ hai- ở các trờnghợp xng hô tơng ứng không chính xác (tôi/ông, tôi/bà, tôi/anh ) Cũng ở cáctrờng hợp xng hô tơng ứng không chính xác này dù với ngời lớn tuổi hay nhỏtuổi hơn mình cũng dễ dàng gây thơng tổn cho ngời đối thoại Chỉ làm mộtphép so sánh nhỏ chúng ta sẽ thấy rõ

Chẳng hạn, có lúc nào đó ta nghe chữ Tôi“ ” từ miệng một ngời vốn ờng xng “ em” với mình, ngời nghe dễ có cảm tởng bị xem thờng hay bị phảnbội Và cũng chỉ khi vợ chồng giận hờn nhau chúng ta mới thấy từ này đợcdùng một cách “đắc địa” để xác lập một quan hệ tình cảm mới theo chiều h-ớng tiêu cực

th-Vậy với thi sĩ Xuân Diệu, ông đã dùng đại từ nhân xng ngôi một này

nh thế nào ?

Cái "tôi" trong thơ Xuân Diệu đợc biến hóa qua nhiều hình ảnh, rõ

nhất đợc biểu hiện qua những đại từ nhân xng Chữ Tôi“ ”đợc nhắc tới, đíchthực mang sắc thái cá nhân chuyên chở cái riêng, khi đó đối tợng biểu hiện vàchủ thể sáng tạo mới thực sự xuất hiện Đó là cái "tôi" tự nhận thức, tự thứctỉnh khi con ngời biết phân thân, biết biến mình thành đối tợng miêu tả củachính mình (Điều nay đã diễn ra trong suốt hành trình của thơ Mới) Nhng có

lẽ Xuân Diệu, hơn ai hết, đã tự thể hiện cái tôi cá nhân - cái tôi riêng của mình

một cách phong phú nhất Bởi vậy chữ tôi“ ” luôn xuất hiện một cách trực tiếp,

ở vị trí chủ đạo để thể hiện và khẳng định mình

Tôi là con chim đến từ núi lạ

Ngứa cổ hót chơi

(Lời thơ vào tập Gửi hơng)

Trong thơ Xuân Diệu có lúc chúng ta gặp chữ tôi“ ” từ đại từ chỉ ngôi phát sinh

ra từ (cái) tôi để chỉ bản ngã:

Cái bay không đợi cái trôi

Từ tôi phút trớc sang tôi phút nay.

(Đi thuyền)

Tôi

“ ” ở đây chính là cái "tôi" danh từ để chỉ bản ngã, chỉ bớc chuyểnlinh hoạt, mạnh mẽ, táo bạo của cả một tầng lớp thanh niên: họ tự bứt mình rakhỏi những ràng buộc của t tởng phong kiến, của t tơng nho giáo với tam c-

Trang 30

ơng, ngũ thờng luôn kìm tỏa sự bày tỏ, bộc lộ con ngời cá nhân, cảm xúc cánhân:

Từ tôi phút trớc sang tôi phút này

Đó chính là bớc chuyển vợt bậc của các thi nhân trong phong trào thơMới, trong đó có Xuân Diệu Xuân Diệu đã tự khẳng đinh mình bằng cái tôimãnh liệt, tuyệt đối:

Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

Mà vạn vật là muôn đá nam châm

(Cảm xúc)

Có thể nói, đây là tuyên ngôn thơ Mới của Xuân Diệu Nhà thơ đã đặtcái "tôi" ở trung tâm cảm nhận, là nguyên tắc thế giới quan Hoài Thanh đã rấtchính xác khi gọi thời đại thơ Mới là “thời đại chữ tôi” “Chữ tôi hiện ra trên

bề mặt và luôn chiếm lĩnh ở vị trí trung tâm với “tôi là”, “tôi chỉ”: Tôi là “Khách bộ hành phiêu lãng”, tôi là một “khách tình si”, tôi là “con chim đến từnúi lạ” , tôi là “ Con nai bị chiều đánh lới" [31, 58] Ta thấy, ở đây nhà thơlãng mạn Xuân Diệu đã để ngỏ lòng mình mà đón nhận tất cả, lắng nghe tất cả

để tự làm giàu mình Cái “tôi” đợc đặt ra dới nhiều dạng thức: Có thể là cái

"tôi" bế tắc trong sự đối lập với thực tại và cả trên hớng giải thoát:

Tôi là con nai bị chiều đánh lới

Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối

(Khi chiều giăng lới)

Tác giả Xuân Diệu tự ví mình là con nai, nhng không phải là hình ảnh

“Con nai vàng ngơ ngác”, đẹp tráng lệ trong thơ Lu Trọng L - mà là con naihiền lành đến tội nghiệp, là con nai nạn nhân của hoàng hôn, bóng chiều và

đêm tối Cái lới không gian, thời gian nh bủa vây khiến nai không thể cất bớc

vì hoàn toàn bị vây giữa rừng chiều tội nghiệp Chữ tôi“ ” Xuân Diệu dùngtrong tác phẩm của mình, ngoài tự xng mình để giao tiếp, đối thoại với mọingời thì còn nhằm để bộc lộ con ngời riêng, con ngời cá nhân với một nỗiniềm u uẩn - nỗi buồn Đây cũng là tâm thế chung của cả một thời đại bởi nógắn chặt với sự khẳng định cái “tôi” cá nhân:

Tôi nh chiếc thuyền h không bến đỗ;

Tôi là con chim không tổ,

Lòng cô đơn hơn một đứa mồ côi

(Dối trá)

Trang 31

Tràn ngập bài thơ là 33 chữ tôi“ ” luân chuyển không ngừng nghỉ nhgiăng mắc nỗi buồn và cái sầu của thi nhân Buồn gắn với cô đơn, hoặc cô đơn

mà buồn dờng nh là nỗi niềm tồn tại trong thơ ông:

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.

Năm đẩy, tháng dồi, tôi đã đến,

Trớc bờ lạnh lẽo của h không

(H vô)

Còn ngời này luôn sợ cô đơn và bởi vậy luôn mong muốn sự hòa nhập,

hóa thân, mong muốn đi tới sự đồng cảm, hòa trộn cùng ngoại giới, tôi“ ” phơitrải lòng mình, đem hết tâm tình mà tặng cho ngời yêu dấu:

Lòng tôi bốn phía mở cho trăng

Khách lại mời phơng cũng đãi đằng Nớc ngọt sẵn tuôn, vờn đợi hái,

Đờng không ngăn cấm, cỏ chờ băng

(Phơi trải)

Nhiều khi cái "tôi" xuất hiện đạt đến sự liên kết huyền diệu với thế giớivạn vật:

Tôi để da tay ý dịu tràn

Gửi vào cây cỏ chút mơn manChân trần sung sớng nghe da đất

Tôi nhận xa xôi của dặm ngàn.

( Đi dạo) Xuân Diệu xng tôi -“ ” để khẳng định chủ thể trữ tình là mình, đích thực,không ai khác, đang muốn giãi bày, chia sẻ tất cả tâm sự riêng tây- những ớcmuốn riêng t, những khát khao hởng thụ, tha thiết nhất, mãnh liệt nhất chonhững khát vọng ấy không gì hơn tình yêu:

Tôi đã yêu khi đã hết tuổi rồi

Không xơng vóc, chỉ huyền hồ bóng dáng

Trang 32

(Đa tình)

Xuân Diệu bộc lộ rõ con ngời cá nhân của mình, một cá nhân mãnh liệttrong tình yêu: “yêu từ khi cha có tuổi” và yêu cả “khi đã hết tuổi rồi”; Vậynhng dờng nh con ngời này cha lúc nào đợc thỏa mãn và kịp thỏa mãn với thứtình ấy? Ta thấy trong thơ ông lời khao khát cầu xin tình yêu cùng điệp khúcmời yêu vang lên tha thiết:

Mở miệng vàng và hãy nói yêu tôi

Dẫu chỉ là trong một phút mà thôi

(Mời yêu)

Và với những lời hết sức nhún nhờng, van vỉ đến tội nghiệp:

Và hãy yêu tôi, một giờ cũng đủ,

Một giây cũng cam, một phút cũng đành:

Khổ tôi hát, loài ngời xin chớ phụ!

Cô hãy dịu dàng; chầm chậm, tha anh

(Lời thơ vào tập Gửi hơng cho gió )

Bằng đại từ nhân xng tôi ,“ ” Xuân Diệu đã bày tỏ cái "tôi" rất mực chânthành của mình:

Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá

Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì

(Vì sao)

Cái “tôi” này tràn ngập mộng tởng trong tình yêu, luôn tởng rằng mình đangyêu, đợc yêu và cận kề bên ngời yêu:

Có lúc tởng chỉ để rơi tàn lửa,Tay vô tình gieo một đám cháy to;

Ngời tởng buông chỉ đôi tiếng hẹn hò

Tôi hởng ứng bằng vạn lời say đắm.

(Dối trá)

Trái tim đa tình, khao khát yêu đơng đến tột bậc của tác giả vẫn biết rõ

có lúc mình bị dối lừa nhng vẫn có một thái độ khá lạ lùng với tình yêu và vớingời mình yêu:

Tôi lắng đợi! Nhịp lòng tôi dừng lại!

Tôi cần tin! Tôi khao khát đợc nhầm Cho tôi mơ một ảo tởng thâm trầm,

Trang 33

Và mặc kệ, nếu nó là dối trá!

(Mời yêu)

Với Xuân Diệu, thực hay giả trong tình yêu dờng nh không còn là vấn

đề quan trọng nữa Mà quan trọng với ông là đợc mơ, đợc tởng tợng, đợc tin

và đợc nhầm Dù bị dối lừa thì trong tâm hồn Xuân Diệu vẫn tồn tại thứ tìnhyêu với đầy đam mê, đầy khao khát Bởi vậy ông luôn nuối tiếc thời gian, luôn

có ý thức níu giữ thời gian, luôn lo lắng về sự mong manh và ngắn ngủi củathời gian và hạnh phúc hiện tại:

Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần

Tôi sung sớng Nhng vội vàng một nửa, Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua

Xuân còn non, nghĩa là tôi sẽ già

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.

(Vội vàng) Chữ Tôi“ ” đợc Xuân Diệu dùng thật hữu ý, nó đã tải đợc tất cả cảm xúc,tâm t, ớc nguyện của một cá nhân yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt

Tuy nhiên Xuân Diệu không chỉ dừng lại phơi trải hồn mình, cảm xúc yêu

đ-ơng của mình qua đại từ nhân xng tôi ,“ ” mà ông còn biểu hiện thế giới tình

cảm của bản thân bằng đại từ nhân xng ta “ ” Nếu chữ tôi “ ” luôn muốn thểhiện sự hiển diện, luôn xng danh bộc lộ rõ sự tự ý thức của cá nhân, là “bảnngã đòi đợc khẳng định” có nhu cầu giao cảm với cuộc đời để bớc vào xã hội

hiện đại của thi nhân thì chữ ta“ ” Xuân Diệu dùng là một bớc đột phá của thơ

Mới không còn là cái ta “ ” chung chung nhiều ngời, cái ta“ ” làm chốn ẩn nấp

của chủ thể trữ tình nh trong thơ cổ, thơ Trung đại không phải cái ta“ ” mànhiều nhà thơ bộc lộ cảm xúc của mình cứ nh của ai đó trong trời đất: ta màkhông phải là ta Cái “ta” của Xuân Diệu là sự tự khẳng định chất ngời củamỗi cá nhân, sự tự do tâm hồn của mình cái “ta” của một tâm hồn đã đợc giảiphóng khỏi mọi quy phạm giáo huấn cái “ta” của một con ngời tự do với tâmhồn vừa mạnh mẽ, vừa kiêu hãnh có lúc tự ví mình với đỉnh HyMã Lạp Sơncao ngất, biểu hiện cho một con ngời cá nhân đầy ý thức về sự tồn tại củamình:

Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất

Không có chi bè bạn nổi cùng ta.

Trang 34

Song cũng có lúc con ngời này trở nên yếu đuối, bơ vơ, càng lên đỉnhtháp cái “tôi”, Xuân Diệu càng thấy rợn ngợp vì buồn rầu, cô đơn hơn bao giờhết:

Ta cao quá thì núi non thấp lắm

Chẳng chi so, chẳng chi đến giao hòa

( Thanh niên)

ông bộc lộ lòng ham sống, bộc lộ sự hốt hoảng trớc sự trôi chảy củathời gian ông khẩn thiết kêu gọi mọi ngời hãy tận tâm, siêng năng mà sống,

mà yêu và hãy yêu bằng thứ tình trong sáng nhất:

Trời cao trêu nhử chén xanh êmBiển đắng không nguôi nỗi khát thèm

Nên lúc môi ta kề miệng thắm, Trời ơi, ta muốn uống hồn em!

(Vô biên)

Nỗi ham yêu, khát sống của Xuân Diệu thể hiện đậm nét trong lời nói cá thể,

bởi vậy giữ vị trí chủ ngữ trong câu thơ của ông là tôi , ta“ ” “ ” nhằm biểu thị lờinói của chủ thể trữ tình đợc xác định để hớng tới mọi ngời, hớng tới cuộc đời

và với chính những cảm xúc của mình nh lời tự bạch, lời tâm sự với bạn bè:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đa và gió lợn

Ta muốn say cánh bớm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngơi!

(Vội vàng)

Bằng cặp mắt “xanh non, biếc rờn” Xuân Diệu đã đa thơ mình thoátkhỏi hệ thống ớc lệ phi ngã của thơ ca cổ, cặp mắt “ non tơ” của ông nhìn đâu

Trang 35

cũng thấy thế giới này đẹp nhất, tràn ngập sắc xuân bởi có sự kết đôi của conngời và tình yêu

Do đó cái ta “ ” của Xuân Diệu cháy lên một cách ham hố, mãnh

liệt-ông “muốn” chiếm lĩnh, “muốn” thâu đoạt ngoại giới với cuộc sống tràn đầysức xuân ngoài kia Điệp từ “ta muốn” đợc kết hợp với một loạt động từ mạnh:

“Ôm, riết, say, thâu, cắn” khiến ngời đọc thấy rõ nhiệt tình hởng thụ cuộcsống nồng cháy của thi sĩ Cái "tôi" tiểu t sản rụt rè không còn tồn tại trongthơ Xuân Diệu nữa, thay vào đó là cái "tôi" cá nhân luôn khao khát tự khẳng

định bằng thứ tình yêu trần tục, với đầy những cung bậc của sự khát thèm, của

“kẻ uống tình yêu dập cả môi” Cũng có nghĩa là Xuân Diệu không chấp nhậnlối cảm thụ chung chung, tan biến vào cái ớc lệ vĩnh hằng Xuân Diệu đã thểhiện cái "tôi" cá thể hóa khiến cho ngoại giới nhiễm linh hồn của thi nhân Ta

không lạ, khi viết lời đề tựa tập Thơ thơ, Thế Lữ đã nhận xét: “ Là ngời sinh ra

để mà sống, Xuân Diệu rất sợ chết, sợ im lặng và bóng tối rất sợ cô độc”, “Xuân Diệu tham lam tình yêu”, nên không ngạc nhiên khi thơ ông thờng chứachất tâm trạng buồn rầu, lạnh lẽo, cô đơn:

Chữ "ta” trong thơ Xuân Diệu không chỉ dừng lại bày tỏ cái "tôi" cá nhân mà

có lúc chữ ta “ ” luân chuyển nghĩa, mở rộng phạm trù giao tiếp, chữ ta“ ” từ vịtrí là đại từ nhân xng ngôi một số ít chuyển sang vị trí là đại từ nhân xng ngôimột số nhiều: nhằm chỉ mình đối với ngời, có nghĩa là “chúng ta, chúngmình”:

Tiếc nhau chi, mai mốt đã xa rồi;

Xa là chết, hãy tặng tình lúc sống

Chớ chia rẽ dễ gì ta gặp mộng!

Những dòng đời muôn hớng đã chia trôi

(Tặng thơ) Chữ ta“ ” này bao chứa cả Tôi và Em, hai thực thể cần đủ cho một tình yêu,

nhng cái nửa kia, cái nửa của Tôi ,” của Ta ,“ ” có lúc lại quá xa vời đối vớiXuân Diệu Bởi vậy không chỉ mình cái tôi cá nhân tự khẳng định mới trànngập cô đơn, lẻ loi, mới mời yêu cả khi hòa nhập với mọi ngời thì ngời thơ

Trang 36

Xuân Diệu vẫn cầu xin tình yêu, cầu xin sự giao hòa ân ái, và rồi không đạt đ

-ợc ớc nguyện bởi thế, ông rất sợ khoảng cách, cả khoảng cách tâm hồn lẫnkhoảng cách thể xác, và cả khoảng cách thời gian vì thế ông luôn hối thúc,giục giã mọi ngời nắm bắt, tận hởng cuộc sống, tình yêu:

Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai

Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn.

(Giục giã)

Xuân Diệu vốn chọn tình yêu làm cứu cánh cho tâm hồn khi thất bại trongtình yêu thì còn gì buồn hơn, đó là nỗi buồn lớn nhất, nỗi khổ đau lớn laonhất:

Ngời ta khổ vì thờng không phải cách

Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm ngời

Bởi thế chúng ta thấy trong thơ, Xuân Diệu luôn nhắc tới “ta”, “lòng ta”,

“đôi ta”, “chúng ta”, “thế hệ ta” với trạng tái buồn, âm hởng buồn, từ nỗi buồncá thể, nỗi cô đơn từ chính những giấc mộng tình yêu tan vỡ chuyển thành nỗisầu nhân thế:

Chúng ta nay trong cuộc thế ao tù

Đốt điếu thuốc chiêu hồn sơng quá khứ

(Mơ xa)

Cảm giác cô đơn, lạc loài, bị tách mình ra khỏi thế giới dờng nh khôngthể mất đi, nó tồn tại cố hữu trong cõi lòng tác giả, dù Xuân Diệu luôn khaokhát vơn tới một sự cảm thông giữa ngời với ngời, luôn khao khát hòa nhậpvới nhân thế Cho nên trong sự bế tắc, cùng quẫn trớc “ao tù” thời cụôc Xuân

Trang 37

Diệu đã mở ra một thế giới nhân vật với những con ngời khao khát, thèmmuốn hạnh phúc và yêu đơng.

Trở lên trên, phần nào chúng ta đã cảm nhận đợc giá trị của các đại từ

nhân xng tôi , ta“ ” “ ” mà Xuân Diệu đã dùng trong thơ của mình đó là hai đại

từ góp phần bộc lộ rõ bản chất, tâm hồn của nhà thơ một con ngời yêu sống

và say yêu, say đời đến cuồng nhiệt, đam mê Một con ngời xem tình yêu là lẽsống lớn nhất, là “ kẻ uống tình yêu dập cả môi”, “trời ơi ta muồn uống hồnem” , con ngời say đắm, mê mải trong thế giới của tuổi trẻ, thanh sắc tình yêu:

Chỉ là tình nhng tôi rất mê man

Gồm vũ trụ, gởi nơi hình cẩm thạch

(Chỉ ở lòng ta)

Song Xuân Diệu không chỉ dừng lại tuyệt đối hóa bản thân, tuyệt đối hóa

tình yêu qua việc dùng hai đại từ nhân xng tôi , ta“ ” “ ” để biểu thị lời nói củachủ thể xác định- đích thực (không ai khác ngoài Xuân Diệu), mà ông còn cụthể hóa các chuỗi cảm xúc, những đam mê, những hy vọng, những mộng tởng

bằng việc xác lập chúng ở đại từ nhân xng mình ” Chữ mình“ ” của XuânDiệu dùng không còn là lời xng hô, giao đáp nh trong ca dao với tình cảm yêuthơng, quyến luyến kiểu nh:

Đờng xa thì thật là xa,

Mợn mình làm mối cho ta một ngời.

Một ngời mời tám, đôi mơi,

Một ngời vừa đẹp, vừa tơi nh mình.

Đại từ nhân xng mình“ ” trong bài ca dao không phải là chủ thể trữ tình,

mà đó có thể là “em”, là cô gái ta “ ” yêu, ta“ ” thơng, đợc nhân vật trữ tình

ta

“ ” gọi một cách tha thiết nh gọi ngời “tay áp, má kề” Và cũng không phải

là mình“ ” trong lời thơ Xuân Diệu từng viết vào buổi xế chiều:

Uống xong lại khát là tình,

Gặp rồi lại nhớ là mình với ta.

Chữ mình“ ” của Xuân Diệu không chỉ dùng để phân định mối quan hệ

nam, nữ đắm say nó có ý nghĩa cá nhân hơn Chữ mình “ ” xuất hiện 29 lợt

trong tổng số 97 bài của cả hai tập (Thơ thơ và Gửi hơng cho gió) là một con

số rất ít ỏi nếu so sánh với hai đại từ nhân xng trớc đó là: tôi , ta “ ” “ ” nhng

d-ờng nh chữ mình“ ” đã phần nào biểu hiện đợc sự đồng nhất của cái "tôi" trữtình, chủ thể trữ tình với thiên nhiên, với cuộc sống; nó tiếp tục là sự giãi bàycõi lòng của Xuân Diệu:

Trang 38

Ngực thở trời, mình hút nắng tơi xanh,

Ta góp kết những vòng hoa mới lạ.

( Thanh niên)

Nhng dù có muốn đồng nhất với thiên nhiên, cuộc sống tới bao nhiêu thìtác giả vẫn bị bủa vây giữa điệp trùng cô đơn, sầu tủi, vẫn luôn luôn chỉ cònlại một mình:

Chiều góa không em lạnh lẽo sao!

Một mình anh lạc dới thu cao.

(Hết ngày hết tháng)

Nếu thiên nhiên trớc kia là đối tợng để Xuân Diệu gửi gắm lòng say mêcuộc sống và khát vọng tình yêu thì giờ đây thiên nhiên trở thành đối tợng để

ông ký thác những tâm sự buồn, cô đơn của lòng mình:

Chiều muốn hết, buồn nh đời muốn hết,

Chiều bị thơng ráng sức kéo mình đi.

(Sắt)

Tâm trạng cô đơn in vào cả dáng vẻ của ráng chiều, đó chính là một biểu

hiện của “ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, ta“ ” đang cô lẻ thì cảnh kialàm sao vui đợc Và rồi ngời thơ Xuân Diệu lại tiếp tục sống trong thế giới củamộng tởng- thế giới của lứa đôi:

Để lòng ớp với tình phai ấy

Anh tởng từ đây bớt một mình.

Trang 39

(Muộn màng)

Song dù bị dối lừa, hay cô độc thì khi Xuân Diệu bớc vào thế giới tình yêu ôngvẫn không quên mang theo một trái tim nhân hậu, rất mực chân thành và vịtha:

Kho sầu không muốn chia đôi nửa

Tôi giữ mình tôi,- em cứ quên.

(Giã từ thân thể)

Dù tình yêu đã cớp đi của ông rất nhiều niềm vui sôi nổi, để trả lại cho ông sự

đau khổ triền miên:

Anh một mình nghe tất cả buổi chiều

Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh

(Tơng t chiều)

Dù sống trong nghịch cảnh: yêu mà không đợc đáp lại, bị dối lừa; "sống toàntâm, toàn trí, sống toàn hồn” mà vẫn cô độc, lẻ loi nhng Xuân Diệu không đểmình rơi vào bế tắc, hoảng loạn, ông không bi quan, chán nản Bởi Xuân Diệu

đã tạo dựng đợc trong thơ mình thế giới của cái "tôi" đầy bản lĩnh, chỉ có tôi“ ”

và ngời yêu hay chính tôi“ ” tự phân thân ra trò chuyện:

Giã từ thân thể muôn yêu dấu!

Ngời sẽ về tay ai biết đâu!

(Giã từ thân thể)

Với Xuân Diệu, tất cả mọi cảnh vật, không gian, thời gian và hơn cả là conngời đều đợc bao chứa bởi cái “tôi” của một tâm hồn rộng mở Để sức mạnhnội cảm của cái tôi tỏa chiếu thế giới bên ngoài

Bằng hai tập Thơ thơ và Gửi hơng cho gió, Xuân Diệu đã xây nên một vờn yêu

đầy hơng và mộng, đâỳ hoa và thanh sắc Trong vờn yêu đó hồn thơ XuânDiệu giăng mắc khắp không gian, ông gửi lòng, gửi hồn, “gửi hơng cho gió”.Cũng qua hai tập thơ tác giả đã bộc lộ lòng ham sống đến cuồng nhiệt XuânDiệu lấy cái tôi làm trung tâm cuộc sống, quan tâm đến sự hởng thụ, quan tâm

đến cuộc sống vội vàng nó đợc xác định một cách mạnh mẽ, đích thực bằng

nhóm đại từ nhân xng tôi, ta, mình , “ ” khiến niềm khao khát sống, khao khátgiao cảm với con ngời và cuộc đời hiện lên chân thực trong thơ ông, nh chínhXuân Diệu từng thú nhận:

Thơ tôi đó, gió lùa đem tỏa khắp

Và lòng tôi mời mọc bạn chia nhau

Trang 40

Thế nên trong thơ Xuân Diệu, cái tôi cá nhân nh vật hớng tâm, nh lực từ thu hút cả thế giới vào mình, để nhằm khẳng định một nhân cách sống- sống không chút mỏi mệt trớc cuộc đời.

2.2 Đại từ nhân xng trong tập thơ Từ ấy của Tố Hữu

Từ ấy

“ ” của Tố Hữu ra đời khi phong trào thơ Mới lãng mạn (1937) đã

đạt tới độ sung mãn, cực thịnh, đã “thành hiện tợng văn học của dân tộc” Bởivậy, ít nhiều cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca của thơ Mới cũng đã có tác

động tới sự hình thành thơ Tố Hữu, mà rõ nhất là sự hình thành của cái tôi cánhân nhng cái "tôi" cá nhân trong thơ Tố Hữu khác hẳn cái "tôi" cá nhântrong thơ Mới trong thơ Mới, cái tôi cá nhân biểu hiện ở những đòi hỏi riêng

t, những khẳng định ngạo nghễ về bản ngã, cái tôi của cá nhân khép kín, cô

đơn, cái tôi chấp nhận quyền tởng tợng tự do và quyền đa ra những nhận xét

cá nhân Từ ấy“ ” của Tố Hữu là sự phản ánh một cái "tôi" mới sôi nổi, say mêcủa ngời thanh niên cộng sản con ngời này sống bằng lý tởng cách mạng, vìcái chung, vì cả cộng đồng chủ thể trữ tình là một phạm trù đa thức- đó cóthể là một cá nhân, một nhóm ngời cùng chung cảm thức, ý chí, cũng có thể là

toàn bộ xã hội nói chung Từ ấy cũng sử dụng nhóm đại từ nhân xng tôi, ta,

mình” (nh trong thơ Mới nói chung và hai tập Thơ thơ, Gửi hơng cho gió của Xuân Diệu nói riêng) nhng nhóm đại từ nhân xng tôi, ta, mình” trong Từ ấy

là lời tự xng của ngời chiến sĩ cộng sản- Tố Hữu vừa trực tiếp bày tỏ cảm xúc,suy nghĩ, lý tởng của mình đồng thời tác giả còn thay lời của hàng trămnghìn chiến sỹ cộng sản, của những ngời dân lao khổ khác cất lên lời kêu gọi

đấu tranh Từ ấy là tập thơ của những tiếng reo vui, của nhiệt tình cách mạng,

là bầu máu nóng đầy vẻ thanh xuân, là tiếng thơ vui lạc quan và tin cậy

2.2.1 Kết quả thống kê và phân loại

Sau khi khảo sát 67 bài thơ trong tập thơ Từ ấy, chúng tôi đã thống kê

và phân loại đợc số lợt dùng các đại từ nhân xng tôi, ta, mình“ ” và ngữ nghĩacác đại từ đó nh sau:

2.2.1.1 Kết quả thống kê

Bảng 3: Số liệu thống kê lợt dùng đại từ nhân xng

"Tôi, ta, mình" trong tập Từ ấy

Đại từ nhân xng Số lợt dùng Số bài khảo sát

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Lai Thúy (2000, tái bản), Mắt thơ (I). NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mắt thơ (I)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
2. Đặng Thị Lan (1998), Từ láy trong thơ Xuân Diệu và thơ Chế Lan Viên, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, LA.000162, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong thơ Xuân Diệu và thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Đặng Thị Lan
Năm: 1998
3. Đinh trọng Lạc (chủ biên), (1993), Phong cách học Tiếng Việt. NXB Giáo dụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Tác giả: Đinh trọng Lạc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dụ
Năm: 1993
4. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại. NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
5. Hà Minh Đức (1998), Văn học Việt Nam hiện đại. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1998
6. Hà Công Tài (1996), “ Đặc tr ng hình thể của ngôn từ thơ ca , ” Văn học,(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trng hình thể của ngôn từ thơ ca , ” "Văn học
Tác giả: Hà Công Tài
Năm: 1996
7. Hoàng Hữu Bội (1960), “ “ Từ ấy với tuổi trẻ ” ” , Văn học, (74) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Từ ấy với tuổi trẻ” ”, "Văn học
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Năm: 1960
8. Hoài Thanh (1999), Thi nhân Việt Nam. NXB Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh
Nhà XB: NXB Văn Học
Năm: 1999
9. Lê Đình Kỵ (1993), Thơ Mới những bớc thăng trầm. NXB T.P Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Mới những bớc thăng trầm
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: NXB T.P Hồ Chí Minh
Năm: 1993
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), (2004, tái bản), Từ điển thuật ngữ văn học. NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
11. Lê Bá Hán, Lê Quang Hng, Chu Văn Sơn (2001), Tinh hoa Thơ Mới - Thẩm bình và suy ngẫm. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ Mới - Thẩm bình và suy ngẫm
Tác giả: Lê Bá Hán, Lê Quang Hng, Chu Văn Sơn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
12. Lê Tiến Dũng (1997), “ Thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932-1945: cái nhìn nghệ thuật mới về thế giới và con ngời” , Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932-1945: cái nhìnnghệ thuật mới về thế giới và con ngời”", Văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 1997
13. Lu Khánh Thơ (2003), Xuân Diệu- về tác gia và tác phẩm. NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu- về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lu Khánh Thơ
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2003
14. Nhiều tác giả (2004, tái bản), Thơ Mới (1932 - 1945) - tác giả và tác phẩm. NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Mới (1932 - 1945) - tác giả và tác phẩm
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
15. Nhiều tác giả (2000) Đến với thơ Xuân Diệu. NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Thanh Niên
16. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình. NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
17. Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2001), Khảo sát nhóm từ biểu thị màu sắc trong Thơ mới(1932-1945), Luận văn Thạc sĩ ngữ văn, LA.000121, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhóm từ biểu thị màu sắc trong Thơ mới(1932-1945)
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh
Năm: 2001
18. Nguyễn Hạ Thơng (1998), Từ xng hô trong thơ Tản Đà và thơ Tố Hữu (miêu tả và so sánh), Luận văn Thạc sĩ ngữ văn, LA.000161, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xng hô trong thơ Tản Đà và thơ Tố Hữu (miêu tả và so sánh)
Tác giả: Nguyễn Hạ Thơng
Năm: 1998
19. Nguyễn Văn Hạnh (1989), Thơ Tố Hữu tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí. NXB Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tố Hữu tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
Năm: 1989
20. Nguyễn Ngọc Thiện (chủ biên), (1997), Tuyển tập phê bình, nghiên cứu Văn học Việt Nam (1900-1945), tập IV. NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập phê bình, nghiên cứu Văn học Việt Nam (1900-1945)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: số liệu thống kê số lợt dùng đại từ nhân xng trong hai tập - So sánh ngữ nghĩa đại từ nhân xưng trong thơ trước cách mạng của xuân diệu và tố hữu
Bảng 1 số liệu thống kê số lợt dùng đại từ nhân xng trong hai tập (Trang 31)
Bảng 5: Số liệu so sánh đại từ nhân xng của hai tập - So sánh ngữ nghĩa đại từ nhân xưng trong thơ trước cách mạng của xuân diệu và tố hữu
Bảng 5 Số liệu so sánh đại từ nhân xng của hai tập (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w