TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ ỨNG DỤNG Đề tài: HÃY PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID-19 ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH Đến nay, đại dịch Covid-19 đã tấn công 209 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mỹ và Anh là hai nước có số ca mắc bệnh và tử vong mới cao nhất thế giới trong thời gian gần đây. Trước đó, Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh châu Âu (ECDC) đã cảnh báo dịch bệnh Covid-19 đang lây nhiễm và cướp đi mạng sống của rất nhiều người. Theo báo cáo của ECDC, tỷ lệ tử vong cao hơn mức dự đoán đã diễn ra tại các nước Bỉ, Pháp, Italy, Malta, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, và chủ yếu rơi vào những người già trên 65 tuổi. Số ca tử vong do virus SARS-CoV-2 (Covid-19) tại châu Âu đã vượt ngưỡng 75.000 người. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) của châu Phi cho biết, châu lục này đến nay đã ghi nhận tổng cộng 13.686 ca mắc Covid-19, trong đó có 744 trường hợp tử vong. Đến nay, Dịch Covid-19 đã lan rộng đến 52/55 quốc gia trên toàn lãnh thổ châu Phi. Còn tại Châu Á, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp. Trong đó, Indonesia có số ca nhiễm SARS-CoV-2 nhiều nhất Đông Nam Á; các trường hợp tái phát bệnh gia tăng ở Hàn Quốc và Singapore. Có thể thấy, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang ở trong thời điểm căng thẳng nhất của dịch bệnh Covid-19, điều này đã và đang gây tác động rất lớn đến sức khỏe con người cũng như toàn bộ ngành kinh tế, đặc biệt là ngành Du lịch
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I.Giới thiệu tổng quan về ngành du lịch Việt Nam 2
1.1.Khái quát về ngành du lịch 2
1.2.Tình hình du lịch Việt Nam 5
II.Tác động của dịch bệnh Covid-19 đến các doanh nghiệp du lịch Việt Nam .8
2.1.Tình hình du lịch Việt Nam trong đại dịch Covid-19 8
2.2.Tác động của dịch bệnh Covid-19 đến ngành du lịch Việt Nam 11
2.3 Khó khăn chồng chất với doanh nghiệp du lịch do ảnh hưởng dịch Covid-19 14
2.4.Doanh nghiệp du lịch đối diện khủng hoảng lao động 16
III.Giải pháp phát triển du lịch trong thời gian tới 19
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3MỞ ĐẦU
Đến nay, đại dịch Covid-19 đã tấn công 209 quốc gia và vùng lãnh thổ Mỹ
và Anh là hai nước có số ca mắc bệnh và tử vong mới cao nhất thế giới trongthời gian gần đây
Trước đó, Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh châu Âu (ECDC)
đã cảnh báo dịch bệnh Covid-19 đang lây nhiễm và cướp đi mạng sống của rấtnhiều người Theo báo cáo của ECDC, tỷ lệ tử vong cao hơn mức dự đoán đãdiễn ra tại các nước Bỉ, Pháp, Italy, Malta, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, và chủyếu rơi vào những người già trên 65 tuổi Số ca tử vong do virus SARS-CoV-2(Covid-19) tại châu Âu đã vượt ngưỡng 75.000 người
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) của châu Phi chobiết, châu lục này đến nay đã ghi nhận tổng cộng 13.686 ca mắc Covid-19, trong
đó có 744 trường hợp tử vong Đến nay, Dịch Covid-19 đã lan rộng đến 52/55quốc gia trên toàn lãnh thổ châu Phi
Còn tại Châu Á, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp Trong
đó, Indonesia có số ca nhiễm SARS-CoV-2 nhiều nhất Đông Nam Á; các trườnghợp tái phát bệnh gia tăng ở Hàn Quốc và Singapore Có thể thấy, thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng đang ở trong thời điểm căng thẳng nhất của dịchbệnh Covid-19, điều này đã và đang gây tác động rất lớn đến sức khỏe conngười cũng như toàn bộ ngành kinh tế, đặc biệt là ngành Du lịch
Trang 4I.Giới thiệu tổng quan về ngành du lịch Việt Nam
1.1.Khái quát về ngành du lịch
-Du lịch Việt Nam được Nhà nước Việt Nam xem là một ngành kinh tế mũinhọn vì cho rằng đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch đa dạng và phongphú Năm 2019, ngành Du lịch Việt Nam lập kỳ tích lần đầu tiên đón 18 triệulượt khách quốc tế, tăng 16,2% so với năm 2018 Giai đoạn từ 2015-2019, lượngkhách quốc tế đến Việt Nam đã tăng 2,3 lần từ 7,9 triệu lượt lên 18 triệu lượt,tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 22,7% mỗi năm Việt Nam liên tục nằm trongnhóm những quốc gia có tốc độ tăng trưởng khách du lịch nhanh nhất thế giới.Năm 2019, du lịch Việt Nam nhận giải thưởng Điểm đến di sản hàng đầu thếgiới do World Travel Awards trao tặng, Điểm đến Golf tốt nhất thế giới doWorld Golf Awards trao tặng Cùng với đó, World Travel Awards cũng vinhdanh Việt Nam là Điểm đến hàng đầu châu Á 2 năm liên tiếp 2018-2019, Điểmđến văn hóa hàng đầu châu Á 2019, Điểm đến ẩm thực hàng đầu châu Á 2019 Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam có những hạn chế như tỷ lệ khách quaytrở lại thấp (10-40%) Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam khôngcao, trung bình hơn 1.000 USD cho một chuyến 9 ngày do sản phẩm du lịch củaViệt Nam chưa hấp dẫn, thiếu gắn kết, các hoạt động giải trí, mua sắm, chămsóc khách chưa đa dạng, công tác xúc tiến quảng bá chưa thực sự hiệu quả dohạn chế về nguồn lực, cơ chế vận hành, chưa thành lập Văn phòng xúc tiến dulịch ở nước ngoài, Quỹ hỗ trợ và phát triển du lịch chưa được vận hành và đi vàohoạt động; hạ tầng sân bay có xu hướng quá tải, chưa đáp ứng được tốc độ tăngtrưởng cao về số lượng khách du lịch; chính sách thị thực nhập cảnh còn hạn chế
so với các điểm đến cạnh tranh trực tiếp của du lịch Việt Nam như Thái Lan.-Du lịch trong nền kinh tế
Du lịch ngày càng có vai trò rất quan trọng tại Việt Nam Đối với khách dulịch, họ đi khám phá văn hóa và thiên nhiên, bãi biển và các cựu chiến binh Mỹ
và Pháp, Việt Nam đang trở thành một địa điểm du lịch mới ở Đông Nam Á Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh
tế dịch vụ Hơn một phần ba của tổng sản phẩm trong nước được tạo ra bởi các
Trang 5dịch vụ, trong đó bao gồm khách sạn và phục vụ công nghiệp và giao thông vậntải Nhà sản xuất và xây dựng (28%) nông nghiệp, và thuỷ sản (20%) và khaithác mỏ (10%).
Trong khi đó, du lịch đóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội (thờiđiểm 2007) Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành
du lịch Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoàihầu hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quyhoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Mặc dù "Chiến lượcphát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010" có vài chỉ tiêu không đạt được, từ năm
2011, "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm2030" đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011 đểtiếp nối Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, trong thực tiễn còn cần làmrất nhiều để ngành du lịch thật sự trở thành "mũi nhọn" và từ có "tiềm năng" trởthành có "khả năng"
Năm 2015, Cục Di sản văn hóa đã công bố về số lượng khách tham quancác điểm du lịch Việt Nam, theo đó dẫn đầu là Quần thể danh thắng Tràng
An đón hơn 5 triệu lượt khách, tiếp theo là vịnh Hạ Long đón trên 2,5 triệu lượtkhách, cố đô Huế đứng thứ ba với hơn 2 triệu lượt khách, phố cổ Hội An đónkhoảng 1,1 triệu lượt khách
-Di sản Việt Nam
Cả nước có hơn 40.000 di tích và thắng cảnh, trong đó hơn 3.000 di tíchđược xếp hạng di tích quốc gia, 5.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Đồng bằngsông Hồng là khu vực có mật độ và số lượng di tích chiếm nhiều nhất với tỷ lệlên đến 70% Ngoài ra, tính trên địa bàn toàn quốc thì Việt Nam còn có 117 bảotàng – nơi lưu giữ quá trình lịch sử hào hùng của dân tộc
Việt Nam là một trong những số ít quốc gia trên thế giới được UNESCOcông nhận nhiều di sản đến vậy Tính đến nay, nước ta đã có 8 di sản đượcUNESCO công nhận: Di tích Hoàng thành Thăng Long, phố cổ Hội An, quầnthể danh thắng Tràng An, cố đô Huế, thành nhà Hồ, thánh địa Mỹ Sơn, vườn
Trang 6quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long Đây là một trong những tiềmnăng du lịch Việt Nam thu hút khách quốc tế.
-Danh lam thắng cảnh
Việt Nam đã được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới,bao gồm: Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai, Cù Lao Chàm,Cần Giờ, Cà Mau và biển Kiên Giang Có thể ví von nước ta có cả “rừng vàng –biển bạc” Không chỉ lớn mạnh ở tiềm năng phát triển du lịch biển Việt Nam mà
ở đồng bằng, miền núi và trung du nước ta cũng sở hữu vô vàn các thắng cảnh
“gây nhớ thương” cho khách du lịch
Tiềm năng phát triển du lịch biển Việt Nam được minh chứng rõ nhất vào
hè – thời điểm nhu cầu tắm mát tăng cao Trong khi đó, mùa thu – đông và xuân
ở các miền núi như Tây Bắc, Tây Nguyên lại hấp dẫn thực khách bởi những mùahoa và không gian lãng mạn thơ tình Một số địa điểm tham quan đẹp ở các tỉnhmiền núi tại Việt Nam: Mộc Châu mùa hoa cải hoa mận, Đà Lạt đồi cỏ hồngchớm đông, Tây Bắc mùa lúa chín, Gia Lai mùa hoa muồng rực vàng…
-Văn hóa và Ẩm thực
Văn hóa và Ẩm thực chính là hai trong các tiềm năng du lịch cần được gìngiữ và phát triển Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi vùng miền, mỗi dân tộcđều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, lối sống riêng khác nhau tạo thànhnét cuốn hút riêng Không chỉ vậy, Việt Nam còn có di sản văn hóa phi vật thểnổi tiếng: Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng TâyNguyên, ca trù, quan họ, hát xoan, hội Gióng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương(10/03 Âm lịch)… để thu hút khách du lịch
Chính nhờ sự đa dạng trong văn hóa dân tộc nên Ẩm thực ở nước ta cũngphong phú chẳng kém Việt Nam đã vinh dự lọt vào Top 15 quốc gia có nền ẩmthực đường phố hấp dẫn nhất thế giới Một số món ăn Việt được bạn bè quốc tếyêu thích như: Phở, bánh mì, bún bò Huế…
Trang 71.2.Tình hình du lịch Việt Nam
*Tăng trưởng tốc độ cao
Các chỉ tiêu về số lượng khách quốc tế, nội địa, tổng thu từ du lịch, đónggóp của du lịch vào GDP tăng nhanh Triển vọng du lịch Việt Nam trong năm
2018 và những năm tiếp theo là rất khả quan
– Về khách quốc tế: Mục tiêu năm 2017, đón 13-14 triệu khách, 6 thángđầu năm 2017, Việt Nam đón 6,2 triệu lượt khách Tính đến cuối tháng 12, ViệtNam đã đón được khoảng 13 triệu lượt khách, hoàn thành mục tiêu chính phủgiao cho ngành du lịch, là con số kỷ lục chưa từng có mà ngành du lịch đã đạtđược
– Về khách du lịch nội địa: mục tiêu 2017 phục vụ 66 triệu lượt Ước tính
số liệu 6 tháng đầu năm 2017, đã phục vụ 40,7 triệu lượt khách nội địa Tính đếnhết năm 2017, đã phục vụ khoảng 74 triệu lượt khách nội địa, vượt xa mục tiêuđặt ra
Ngành du lịch Việt Nam trong 5 năm qua đã không ngừng phát triển, đạttốc độ tăng trưởng trung bình gấp khoảng 1,5 lần tốc độ tăng trưởng GDP chung
cả nước; đóng góp trực tiếp 6,6% và đóng góp chung 13% trong cấu thành GDPcủa Việt Nam Riêng trong năm 2017, du lịch là một trong những động lựcchính của tăng trưởng kinh tế đất nước, ước tính du lịch đóng góp 1% vào mứctăng trưởng của GDP của Việt Nam
Năm 2016 tổng thu từ du lịch đạt 417,2 nghìn tỷ đồng, so với 337,82 nghìn
tỷ đồng của năm 2015, mục tiêu năm 2017 đạt tổng thu từ du lịch là 460.000 tỷđồng đóng góp 6,6% GDP cả nước, tạo việc làm trực tiếp và gián tiếp đến 2,25triệu người, giá trị xuất khẩu đến 8,5 tỷ USD Tuy nhiên, tính đến hết tháng 12năm 2017, ước tính tổng thu du lịch thu về 515.000 tỷ đồng, đã vượt rất xa mụctiêu đề ra
*Thu hút mạnh đầu tư, phát triển nhanh cở sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ
thuật du lịch được cải thiện
Những năm qua, hàng chục tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài và hơn300.000 tỷ đồng đầu tư trong nước (với hơn 6.100 tỷ đồng đầu tư Ngân sách nhà
Trang 8nước từ năm 2006 đến nay) đã được đầu tư cho hạ tầng du lịch quốc gia, hìnhthành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện đại tại nhiều địa phương vàhình thành rõ hơn các vùng động lực phát triển du lịch Việt Nam.
Năm 2015, toàn ngành đang có 18.800 cơ sở lưu trú với hơn 355.000buồng và 1.573 doanh nghiệp lữ hành quốc tế và hàng ngàn doanh nghiệp lữhành nội địa, các cơ sở dịch vụ ăn uống, nhà hàng, cơ sở giải trí văn hóa, thểthao, hội nghị, triển lãm và nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời, cải tạo, nâng cấptại hầu hết các địa bàn phát triển du lịch trọng điểm Đặc biệt, hàng trăm kháchsạn, khu du lịch cao cấp được xây mới, hình thành hàng loạt cơ sở lưu trú (kháchsạn và tổ hợp resort) cao cấp như: Intercontinental, JW Marriott, hệ thống kháchsạn Mường Thanh, FLC, VinGroup, SunGroup…làm diện mạo ngành du lịch cónhững thay đổi căn bản
Hệ thống vận tải du lịch, nhất là hàng không và đường bộ, đang được xãhội hóa mạnh và ngày càng kết nối rộng rãi với các điểm đến trong và ngoàinước, cả tầm ngắn, tầm trung và tầm dài Việt Nam hiện có 52 hãng hàng khôngquốc tế đến từ 25 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 54 đường bay quốc tế, 48đường bay nội địa kết nối Việt Nam đã tham gia hàng loạt văn kiện pháp lý và
dự án hợp tác quốc tế về du lịch Du khách 22 quốc gia đã được miễn visa đếnViệt Nam
*Hình thành các điểm đến, sản phẩm du lịch
Quá trình phát triển, các sản phẩm du lịch Việt Nam đã được thị trườngnhìn nhận và đánh giá cao như: du lịch tham quan cảnh quan, di sản di tích, nghỉdưỡng biển, núi, du lịch tâm linh, lễ hội, ẩm thực, du lịch thể thao mạo hiểm,nghỉ dưỡng sinh thái, du lịch MICE, Các sản phẩm tham quan cảnh quan như:Vịnh Hạ Long, cố đô Huế, Hội An, Mỹ Sơn, Du lịch thể thao mạo hiểm nhưkhám phá Sơn Đoòng, Phong Nha – Kẻ Bàng,…nghỉ dưỡng biến Phú Quốc,Nha Trang, Mũi Né,…được du khách trong nước và du khách quốc tế yêuthích…
*Phát triển nguồn nhân lực du lịch còn nhiều bất cập
Trang 9Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam, tính đến hếtnăm 2015, ngành du lịch mới có khoảng hơn 2,2 triệu lao động với hơn 600.000lao động trực tiếp Điều này một mặt khẳng định còn khá nhiều tiềm năng đểphát triển ngành này, nhưng mặt khác cũng bộc lộ lỗ hổng lớn về nhân lực củangành.
*Thiếu trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo thống kê của Tổng cục Du lịch mỗi năm, toàn ngành cần thêm gần40.000 lao động; nhưng chỉ có khoảng 20.000 lao động tốt nghiệp từ các cơ sởđào tạo, trong số đó chỉ có khoảng 1.800 sinh viên đại học, cao đẳng chuyênnghiệp, 2.100 sinh viên cao đẳng nghề du lịch, còn lại là học sinh trung cấp, sơcấp và đào tạo ngắn hạn dưới ba tháng Các con số này cho thấy, nguồn nhân lựckhông những thiếu về số lượng mà còn thiếu trầm trọng đội ngũ được đào tạobài bản
Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực do các cơ sở đào tạo cung cấp cho thịtrường chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, nhất là nguồn nhân lựcquản lý Ngay cả khi tuyển đúng người học ngành du lịch, các doanh nghiệp vẫnmất thời gian, công sức đào tạo lại Trong quá trình này, doanh nghiệp cũngvướng phải không ít khó khăn, khi mà người quản lý kiêm vai trò đào tạo giỏikhông nhiều, thường hướng dẫn theo kinh nghiệm là chủ yếu, thiếu kỹ năng,kiến thức cụ thể Ngoại ngữ, tin học được coi là chìa khóa để hội nhập, song đâylại là điểm yếu lớn của nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
*Năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam (dựa vào bảng xếp TTCI của
WEF 2015)
TTCI đánh giá năng lực cạnh tranh Du lịch và Lữ hành của 141 nền kinh
tế, hệ thống tính điểm bao gồm 4 chỉ tiêu chính, 14 mục và 90 chỉ tiêu riêng biệt.Báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Du lịch và Lữ hành củacác quốc gia dựa trên 4 chỉ tiêu chính: Môi trường du lịch, Chính sách hỗ trợphát triển du lịch, Cơ sở hạ tầng, Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
Năm 2015, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 75/141 quốc gia trong bảng xếphạng, tăng 5 bậc so với năm 2013
Trang 10Có thể thấy rằng, năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trongkhu vực thuộc dạng yếu kém Mặc dù, trong một số lĩnh vực, Việt Nam đang cólợi thế cạnh tranh ngang bằng thậm chí là vượt hơn hẳn như sự an toàn, an ninh;giá cả cạnh tranh; tài nguyên du lịch thiên nhiên; nguồn nhân lực lao động,nhưng những yếu tố này cũng chưa thể nâng cao năng lực cạnh tranh của Dulịch Việt Nam, cần phải có những đổi mới cả về chính sách, cơ sở hạ tầng vàmôi trường du lịch trước khi những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam không còn
là duy nhất
II.Tác động của dịch bệnh Covid-19 đến các doanh nghiệp du lịch Việt Nam
2.1.Tình hình du lịch Việt Nam trong đại dịch Covid-19
Dịch Covid-19 diễn ra năm 2020 đã tác động mạnh đến nền kinh tế ViệtNam, trong đó, ngành Du lịch bị ảnh hưởng rất nặng nề Các lệnh cấm bay, hạnchế đi lại và sự e ngại của du khách do lo sợ ảnh hưởng của dịch Covid-19 đãkhiến nhiều khách sạn, nhà hàng và chuỗi bán lẻ tại các điểm du lịch trở nênvắng khách, doanh thu ngành du lịch sụt giảm mạnh Theo các chuyên gia dựbáo, năm 2020, du lịch Việt Nam không đạt mục tiêu đón 20,5 triệu lượt kháchquốc tế Sự phục hồi của du lịch Việt Nam sẽ phải phụ thuộc vào thời điểm dịchCovid-19 được kiểm soát trên thế giới
Nhìn lại tác động của dịch Covid-19 đối với du lịch Việt Nam có thể thấykhi dịch xảy ra, lệnh cấm và hạn chế đi lại đã được áp dụng cho tất cả các điểm
du lịch Các hoạt động trong lĩnh vực khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng và giaothông hầu hết bị hoãn lại do lệnh đóng cửa trên toàn quốc Ngoài ra, ngành Hàngkhông cũng bị ảnh hưởng nặng nề khi hàng loạt các chuyến bay nội địa và quốc
tế đến và đi từ Việt Nam đều bị hủy Lượng khách quốc tế chỉ có vào thời điểmtháng 1 và 2, từ tháng 3 hầu như không có khách Khách du lịch nội địa cũnggiảm mạnh do diễn biến phức tạp của dịch bệnh và Việt Nam thực hiện giãncách xã hội Doanh nghiệp du lịch gặp khó khăn khiến không ít nhân viên ngành
Du lịch mất việc làm giảm, thậm chí không có thu nhập… Theo Tổng cụcThống kê, khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3/2020 giảm mạnh chỉ đạt
Trang 11gần 450.000 lượt khách, giảm 68,1% so với cùng kỳ năm 2019 và giảm 63,8%
so với tháng 2 Tổng lượt khách của cả quý I/2020 đạt 3,7 triệu lượt khách, giảmhơn 18% so cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống trong kỳ ước đạt126.200 tỷ đồng, tương đương 10% tổng doanh thu hoạt động thương mại, dịch
vụ của cả nước, giảm 9,6% so với quý I/2019; Doanh thu du lịch lữ hành quýI/2020 ước đạt 7.800 tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng mức và giảm 27,8%
Sau làn sóng Covid-19 thứ nhất, Chính phủ đã chỉ đạo đẩy mạnh du lịchnội địa và mở cửa du lịch quốc tế khi đảm bảo điều kiện cho phép Theo đó, BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch đã thực hiện chương trình kích cầu du lịch nội địa
“Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” và đã có một số kết quả tích cực Cácdoanh nghiệp du lịch Việt Nam cũng đã nhanh nhạy đưa ra các sản phẩm hấpdẫn với mức giá được coi là “thấp chưa từng có”, cam kết chất lượng đảm bảo
để thu hút khách nội địa Hình thành các mối liên kết giữa hàng không, đơn vị lữhành, nhà hàng khách sạn, điểm đến đã tạo chương trình kích cầu nội có mứcgiảm giá sâu hơn, nhiều điểm hấp dẫn thu hút được khách du lịch nội địa Vềphía Hiệp hội Du lịch Việt Nam, ngay từ tháng 2/2020 đã triển khai chươngtrình kích cầu và đưa ra quy chế du lịch an toàn được các đơn vị, doanh nghiệp
du lịch hưởng ứng Tiếp đó, Hiệp hội Du lịch Việt Nam phát động chương trìnhkích cầu du lịch nội địa trên toàn quốc với chủ đề “Du lịch Việt Nam - Điểm đếnsáng tươi” gồm 2 giai đoạn (từ ngày 15/5 - 15/7 và từ ngày 15/7 đến hết năm2020) Chương trình này có nguyên tắc kích cầu là phải bảo đảm an toàn cho dukhách, giảm giá nhưng không được giảm chất lượng dịch vụ hoặc giữ giá nhưngtăng thêm dịch vụ Các sản phẩm kích cầu chú trọng tính mới, độc đáo, giáthành thấp và có thêm khuyến mãi đa dạng Nhờ những nỗ lực của cả hệ thống,
dù vẫn còn tâm lý e ngại của người dân, nhưng du lịch nội địa đã ghi nhậnnhững tín hiệu đáng mừng Trong kỳ nghỉ lễ 30/4, 1/5, nhiều khu, điểm đến dulịch đã mở cửa, tiếp đón hàng nghìn du khách
Tuy nhiên sau đó, vào tháng 7, ngành du lịch Việt Nam lại tiếp tục đối mặtkhó khăn khi dịch Covid-19 bùng phát trở lại trong cộng đồng tại một số địaphương trên cả nước Sự bùng phát trở lại của dịch Covid-19 đã nhanh chóng
Trang 12khiến tình hình du lịch trong nước có những diễn biến tiêu cực Một số địaphương vốn không có ca bệnh hoặc không liên quan đến ca bệnh cũng bị ảnhhưởng tiêu cực ngay sau khi dịch tái bùng phát Các doanh nghiệp du lịch chưakịp phục hồi sau đợt dịch lần 1 thì lại phải hứng chịu đợt dịch Covid-19 thứ 2khiến doanh nghiệp đã khó khăn càng thêm khó khăn hơn Các góỉ kích cầu dulịch gần như bị đóng băng do số lượng khách huỷ tour tăng đột ngột, trong khi
đó ngành du lịch đang trong bối cảnh đã đi qua mùa du lịch cao điểm nội địa
Để sớm phục hồi sau đợt dịch Covid-19 thứ hai, ngành du lịch tiếp tục phátđộng chương trình kích cầu du lịch nội địa lần 2 theo hướng đề cao yếu tố antoàn và hấp dẫn Tổng cục Du lịch đã ban hành Bộ tiêu chí an toàn du lịch vàcho ra mắt ứng dụng “Du lịch Việt Nam an toàn” Các doanh nghiệp du lịchcũng đã tranh thủ thời gian hoạt động du lịch bị đình trệ để điều chỉnh chiếnlược kinh doanh, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và đào tạonguồn nhân lực trên toàn hệ thống chuẩn bị cho đón đầu xu hướng du lịch mới;đồng thời tích cực liên kết với các địa phương, doanh nghiệp để tạo nên sứcmạnh Các địa phương cùng với doanh nghiệp rà soát lại tình hình du lịch thờigian qua để có hướng đi đáp ứng nhu cầu thị trường Sự chuyển hướng này đãbước đầu đem đến những tín hiệu lạc quan cho thị trường du lịch Theo Tổngcục Thống kê, khách quốc tế đến nước ta trong tháng 11/2020 ước tính đạt 17,7nghìn lượt người, tăng 19,6% so với tháng trước nhưng giảm 99% so với cùng
kỳ năm trước Tính chung 11 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta ướctính đạt 3,8 triệu lượt người, giảm 76,6% so với cùng kỳ năm trước
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ướctính đạt 464,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 8,5% so vớicùng kỳ năm trước Trong đó: Du lịch dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 3,3% so vớitháng trước; Doanh thu du lịch lữ hành tăng 3,5%
Vận tải hành khách tháng Mười một ước tính đạt 294,8 triệu lượt khách vậnchuyển, tăng 2,3% so với tháng trước và luân chuyển 13,4 tỷ lượt khách.km,tăng 4,5%
Trang 13Theo các chuyên gia, du lịch là ngành chịu ảnh hưởng của đại dịch rõ ràngnhất nhưng cũng là một trong những ngành có khả năng phục hồi nhanh nhất.Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 chưa được kiểm soát trên thế giới, hoạt động
du lịch quốc tế chưa được mở cửa trở lại, du lịch nội địa đang phục hồi dần vàgiữ vai trò duy trì sự ổn định của toàn ngành Nếu nắm bắt được xu hướng dulịch mới, Việt Nam sẽ có cơ hội bứt phá, do vậy các doanh nghiệp cần chuẩn bịsẵn sàng để ngay sau khi dịch qua đi, thị trường du lịch khởi sắc, sẽ có nhữngsản phẩm phù hợp phục vụ du khách
2.2.Tác động của dịch bệnh Covid-19 đến ngành du lịch Việt Nam
- Lượng khách quốc tế sụt giảm
Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 3/2020 ước tính đạt 449,9 nghìnlượt người - giảm 63,8% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đườnghàng không giảm 62,3%; bằng đường bộ giảm 65,9%; bằng đường biển giảm83,6% So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta trong tháng 3 giảm68,1%, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 65,7%; bằng đường bộgiảm 77,9% và bằng đường biển giảm 55,2%; khách đến từ châu Á giảm 77,2%;
từ châu Âu giảm 27,5%; từ châu Úc giảm 49,9%; từ châu Mỹ giảm 67,9% và từchâu Phi giảm 37,8%
Tính chung quý I/2020, khách quốc tế đến Việt Nam ước tínhđạt 3.686,8 nghìn lượt người, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm trước, trong
đó khách đến bằng đường hàng không đạt 2.991,6 nghìn lượt người - chiếm81,1% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 14,9%; bằng đường bộ đạt551,1 nghìn lượt người - chiếm 15% và giảm 39,4%; bằng đường biểnđạt 144,1 nghìn lượt người - chiếm 3,9% và tăng 92,1%
Trong 3 tháng đầu năm, khách đến từ châu Á đạt 2.674,4 nghìn lượt người
- chiếm 72,5% tổng số khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 21,1% so với cùng kỳnăm trước Trong đó, khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều giảm mạnh:Trung Quốc đạt 871,8 nghìn lượt người - giảm 31,9% so với cùng kỳ nămtrước; Hàn Quốc: 819,1 nghìn lượt người - giảm 26,1%; Nhật Bản: 200,3 nghìnlượt người - giảm 14,1%; Đài Loan: 192,2 nghìn lượt người - giảm 7,2%;