Điểm đặc biệt so với những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo là nghiên cứu này còn sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt DID kết hợp với hgồi quy OL
Trang 1––––––––––––
NGÔ THỊ MẬN
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG VI MÔ ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2––––––––––––
NGÔ THỊ MẬN
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG VI MÔ ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN HOÀNG BẢO
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu
có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố ở trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 7 năm 2017
Ngô Thị Mận
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1 1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và thời gian nghiên cứu 5
1.4.1 Không gian nghiên cứu 5
1.4.2 Thời gian nghiên cứu 6
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu 6
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Tổng quan đề tài nghiên cứu 6
1.6.1 Những nghiên cứu về yếu tố tác động đến quyết định tiếp cận tín dụng 8
1.6.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của sự tiếp cận vốn đối với hộ nghèo 10
1.6.3 Những biến giải thích có liên quan đã được nghiên cứu 11
1.7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 14
1.8 Tổng quan đề tài nghiên cứu 14
Trang 5CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 15
2.1 Vấn đề nghèo và tín dụng cho hộ nghèo 15
2.1.1 Một số khái niệm về nghèo 15
2.1.2 Các thước đo về nghèo 16
2.1.3 Các phương pháp xác định nghèo 17
2.1.3.1 Phương pháp chi tiêu 17
2.1.3.2 Phương pháp thu nhập 17
2.1.3.3 Phương pháp xếp loại của địa phương 18
2.1.3.4 Phương pháp vẽ bản đồ nghèo đói 18
2.1.4 Chuẩn nghèo 19
2.2 Các quan điểm tín dụng cho người nghèo 21
2.2.1 Vai trò của tín dụng trong việc giảm nghèo ở nông thôn 21
2.2.2 Các trường phái lý thuyết về tín dụng cho người nghèo 25
2.2.2.1 Trường phái cổ điển 25
2.2.2.2 Trường phái kiềm chế tài chính 26
2.2.2.3 Trường phái “OHIO” 27
2.2.2.4 Trường phái thể chế kiểu mới 28
2.2.2.5 Tiếp cận đa hệ thống – xu hướng mở rộng tín dụng cho người nghèo 29
2.3 Tác động của tín dụng vi mô tới giảm nghèo 30
2.3.1 Khái niệm tín dụng vi mô 30
2.3.2 Tác động của tín dụng vi mô tới công tác giảm nghèo hiện nay 31
2.4 Một số mô hình tín dụng vi mô thành công trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 35
2.4.1 Một số mô hình tín dụng vi mô thành công trên thế giới 35
2.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 38
Trang 62.5 Khảo lượt các nghiên cứu thực nghiệm 39
2.5.1 Tín dụng vi mô tại Việt Nam 39
2.5.2 Tín dụng vi mô trên thế giới 41
2.6 Các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo 42
2.6.1 Các yếu tố thuận lợi thị trường 42
2.6.2 Các yếu tố đặc trưng hộ gia đình 44
2.6.3 Các yếu tố liên quan năng lực sản xuất 45
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.1 Thực trạng 47
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 47
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 49
3.2 Tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng vi mô trên địa bàn huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang 52
3.2.1 Tổ chức tài chính chính thức trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 52
3.2.1.1 Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 52
3.2.1.2 Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam 54
3.2.1.3 Quỹ tín dụng nhân dân 55
3.2.1.4 Ngân hàng thương mại khác và các chương trình đặc biệt của Chính phủ 55
3.2.2 Các tổ chức tài chính chính thức trên địa bàn huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang 57
3.3 Thực trạng hộ nghèo tại huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang 58
3.4 Phương pháp nghiên cứu 60
3.4.1 Các phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu trước 60
3.4.2 Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) 61
3.4.3 Kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt với hồi quy OLS 63
Trang 73.4.4 Mô hình kinh tế lượng 64
3.4.3 Các giả thuyết 65
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 68
4.1 Đặc điểm của mẫu điều tra 68
4.1.1 Nguồn lực sản xuất 68
4.1.1.1 Thông tin về số mẫu điều tra 68
4.1.1.2 Thông tin về giới tính, nghề nghiệp và độ tuổi của hộ được khảo sát 68
4.1.1.3 Thông tin về diện tích đất sản xuất 71
4.1.2 Thông tin về tình hình vay vốn của mẫu điều tra 72
4.1.2.1 Thống kê về các nguồn vốn vay 72
4.1.2.2 Thống kê mức lãi suất cho vay 73
4.1.2.3 Thống kê thời hạn và lượng tiền cho vay của mẫu điều tra 73
4.1.2.4 Mục đích xin vay và tình hình sử dụng vốn vay của mẫu 74
4.1.3 Thu nhập của mẫu điều tra 75
4.1.4 Chi tiêu và tiết kiệm của mẫu điều tra 76
4.1.5 Tài sản của mẫu điều tra 77
4.2 Phân tích tác động của tín dụng vi mô đến thoát nghèo trên địa bàn huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang 78
4.2.1 Phân tích các kiểm định 79
4.2.1.1 Kiểm định hệ số hồi quy 79
4.2.1.2 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 79
4.2.1.3 Kiểm định về sự khác biệt trong thu nhập trung bình giữa hộ không và trước khi vay 82
4.2.1.4 Kiểm đi ̣nh về sự khác biê ̣t giữa trung bình thu nhập giữa hộ không vay và sau vay của hộ có vay từ các nguồn tài chính chính thức 82
Trang 84.2.1.5 Kiểm đi ̣nh về sự khác biê ̣t trong thu nhập trung bình của nông hộ trước khi
vay vốn và sau khi vay vốn 83
4.2.2 Mô hình dự báo thay đổi thu nhập 84
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 88
5.1 Kết luận 88
5.2 Gợi ý chính sách 90
5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý nghiên cứu tiếp theo 96
5.3.1 Hạn chế của đề tài 96
5.3.2 Gợi ý nghiên cứu tiếp theo 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PTNNNT : Phát triển nông nghiệp nông thôn
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tóm tắt những nghiên cứu về quyết định tiếp cận tín dụng 8 Bảng 1.2 Tóm tắt nghiên cứu về tác động của nguồn vốn vay đến hộ nghèo 10 Bảng 2.1 Tiêu chuẩn nghèo đói theo sự phân loại của World Bank 18 Bảng 3.1 Giá trị phát triển kinh tế tại huyện Giang Thành, 2010 - 2015 48 Bảng 3.2 Giá trị tăng trưởng kinh tế tại huyện Giang Thành, 2010 – 2015 49 Bảng 3.3 Thống kê nguồn cung cấp tín dụng cho hộ gia đình nông thôn 55 Bảng 3.4 Tình hình tín dụng tại NH NNo&PTNT và NH CSXH 56 Bảng 3.5 Tình hình giảm nghèo trên địa bàn huyện Giang Thành 57 Bảng 3.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến xác suất thoát nghèo của hộ nghèo 64
Bảng 4.4 Thông tin về diện tích đất của mẫu điều tra 69
Bảng 4.6 Thống kê lãi suất vay vốn của mẫu điều tra 71
Bảng 4.8 Thống kê lượng tiền vay của mẫu điều tra 72 Bảng 4.9 Mục đích và tình hình sử dụng vốn vay của mẫu điều tra 73
Bảng 4.11 Thống kê chi tiêu và tiết kiệm của mẫu điều tra 74
Bảng 4.15 Mức độ phù hợp (kết quả kiểm định Omnibus) 80 Bảng 4.16 Kết quả hồi quy sau khi loại bỏ biến không có ý nghĩa 83
Trang 12TÓM TẮT
Nghiên cứu này đánh giá tác động của tín dụng vi mô đến thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2015 Điểm đặc biệt so với những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo là nghiên cứu này còn sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) kết hợp với hgồi quy OLS, nhờ vậy phản ánh chính xác tác động của tín dụng đối với mức sống của người nghèo
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tín dụng có tác động tích cực đến mức sống của người nghèo thông qua làm tăng chi tiêu đời sống của họ Tuy nhiên, tín dụng không có tác động cải thiện thu nhập cho người nghèo vì vậy có thể sẽ không giúp người nghèo thoát nghèo một cách bền vững Hơn nữa, khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo ở huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang rất thấp Tín dụng chính thức mặc dù có giá rẻ những rất khó đến được với người nghèo do những thủ tục rườm rà và khoảng cách xa so với người nghèo Ngoài
ra, nghiên cứu cũng tìm thấy tác động tích cực của giáo dục và đa dạng hoá việc làm đến mức sống của hộ nghèo Dựa trên những kết luận đó, đề tàu đã đề xuất một số gợi ý chính sách để cải thiện mức sống cho người nghèo tại huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang, bao gồm: Đơn giản hoá thủ tục vay vốn và mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng; điều chỉnh chính sách lãi suất
ở nông thôn; kết hợp cho vay vốn và hướng dẫn đầu tư sản xuất và một số chính sách khác
Trang 13CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1 1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, thương mại nông nghiệp đã đóng góp lớn trong việc tạo nguồn thu nhập ngoại tệ, tăng thu nhập trong khu vực nông thôn và cho toàn bộ nền kinh tế nói chung Nhận thức rõ vai trò quan trọng của thương mại nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã khẳng định rằng phát triển nông thôn ở Việt Nam cần đi theo hướng
“phát triển đa dạng hoá kinh tế nông thôn theo hướng thị trường dựa trên cơ sở
tận dụng lợi thế tương đối của mỗi vùng, phù hợp với mỗi bước đi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Cùng với chiến lược phát triển nông nghiệp, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã có các chính sách nông nghiệp phù hợp với điều kiện của thời kì hội nhập khi Việt Nam gia nhập APEC, AFTA, WTO như chính sách về giá để giá nông sản tăng theo sát mức giá trên thị trường thế giới và có sự điều chỉnh, quản lý của Nhà nước thông qua hạn ngạch và quy định đầu mối xuất khẩu; chính sách về thuế nhập khẩu, xuất khẩu hàng nông sản; chính sách tự do hóa thương mại để nông dân Việt Nam có thể trao đổi hàng hóa và chia sẻ kinh nghiệm và kỹ thuật cùng thế giới; chính sách đất đai tạo động lực tăng gia sản xuất cho nông dân Một trong số chính sách quan trọng của Chính phủ để phát triển khu vực nông nghiệp là sự xuất hiện của dịch vụ tài chính và tín dụng nông thôn
Hiện nay, hệ thống tài chính nông thôn chính thức hỗ trợ cho các vùng nông thôn bao gồm NH Nông nghiê ̣p và phát triển nông thôn (NHNNo&PTNT), Ngân hàng Chính sách xã hô ̣i (NHCSXH) quỹ tín dụng nhân dân và các NH thương ma ̣i cổ phần khác,… Tuy nhiên ở những vùng sâu, vùng xa và nông thôn, nông dân khó có cơ hội tiếp cận với hệ thống tín dụng chính thức Hơn nữa, nguồn vốn của cả NHNNo&PTNT và Quỹ tín dụng nhân dân đều có xu hướng chảy vào những hộ giàu Vấn đề nổi cộm hiện nay của tín dụng nông thôn
Trang 14ở Việt Nam là sự tiếp cận tín dụng của các nông hộ vùng sâu, vùng xa đang thiếu vốn để tái sản xuất và trang trải các chi phí để có thể ổn định cuộc sống, góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững, ổn định kinh tế Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về tín dụng vi mô được tổ chức vào tháng 2/1997 tại Washington
(Mỹ) đã rút ra kết luận rằng “Tín dụng vi mô là công cụ sắc bén, có hiệu quả
trong cuộc chiến chống đói nghèo và bảo đảm khả năng tài chính độc lập về kinh tế cũng như nhân phẩm con người” Các chương trình tín dụng vi mô của
Chính phủ, các định chế tài chính, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế và các
tổ chức phi chính phủ đã triển khai ở Việt Nam và đã đạt được một số thành công nhất định, làm thay đổi cuộc sống của một bộ phận người nghèo và góp phần giảm tỷ lệ nghèo đói Tuy vậy nhu cầu của người nghèo về các dịch vụ tài chính quy mô nhỏ còn rất lớn so với khả năng có thể cung cấp của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực này Hơn thế nữa người nghèo gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận đến các tổ chức này Yêu cầu đặt ra cho các nhà quản lí là phải trả lời các câu hỏi sau: Tình hình tiếp cận của các nông hộ đến các tổ chức tài chính chính thức và mức vay có thể nhâ ̣n được của các nông hô ̣ hiện nay như thế nào? Tác động của tín dụng vi mô đến thu nhập của hộ nghèo ra sao? Đâu là nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên? Hướng khắc phục ra sao?
Huyện Giang Thành, thuộc tỉnh Kiên Giang là một huyện mới của tỉnh, với diện tích 407,443 km2; dân số đạt 130.611 người Huyện Giang Thành hoạt động nông nghiệp chủ yếu với lúa là cây chủ lực Dân số trong huyện chủ yếu sống bằng nông nghiệp do kỹ thuật lạc hậu, giá cả hay biến động, thiếu vốn sản xuất… nên đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, để nâng cao thu nhập cho người dân và giảm tỷ lệ nghèo, chương trình giảm nghèo được các cấp lãnh đạo xác định là vấn đề có tính chiến lược lâu dài và luôn đặt công tác này như là một nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế xã hội Trong rất nhiều giải pháp để thực hiện công tác giảm nghèo thì tín dụng cho
Trang 15người nghèo được các cấp lãnh đạo quan tâm và thực hiện rất sớm, điều này giúp cho nông dân, phụ nữ nghèo, đối tượng chính sách được vay vốn phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
Trên cơ sở những nhu cầu trên, đề tài “Phân tích tác động của tín dụng vi
mô đến thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang” cần phải được đưa vào nghiên cứu để chính quyền địa phương đánh giá
được tình hình kinh tế - xã hội của các hộ dân nói chung và thu nhập của hộ nghèo nói riêng Từ đó đưa ra chính sách hỗ trợ tài chính, đẩy mạnh tín dụng vi
mô đến hộ nghèo trên địa bàn huyện
Đề tài sẽ phân tích đánh giá một cách chi tiết tác dụng của tín dụng vi mô đến thu nhập của hộ nghèo trên địa bàn huyện Giang Thành và đề xuất một số giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của tín dụng vi mô trong việc nâng cao thu nhập cảu những hộ nghèo trên địa bàn huyện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Mu ̣c tiêu bao quát chung của đề tài là xác đi ̣nh tác động của tín dụng vi
mô đối với thu nhập của hộ nghèo huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang năm 2010-2015 Nghiên cứu thực trạng thị trường tín dụng nông thôn ở địa phương
Từ đó làm cơ sở để đưa ra một số giải pháp khả thi giúp cho các tổ chức cho vay đáp ứung được nhu cầu vay vốn của hộ nghèo, góp phần tăng thu nhập của hộ nghèo cũng như phát triển kinh tế của địa phương
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứ u các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận tín dụng của hộ nghèo và lượng vốn vay của hộ nghèo có vay vốn từ các nguồn tài chính chính thức trên đi ̣a bàn huyê ̣n Giang Thành trong giai đoạn 2010 - 2015
- Đánh giá thực trạng sử dụng vốn vay từ nguồn tài chính chính thức của
hộ nghèo ở huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang
Trang 16- Đánh giá thu nhập của hộ nghèo sau khi được tiếp cận nguồn tín dụng vi
mô giai đoạn 2010 – 2015
- Đề ra giải pháp để tăng khả năng tiếp câ ̣n tín du ̣ng đến những nguồn tài chính chính thức, tăng lượng vốn vay và sử du ̣ng vốn hiê ̣u quả gắn với phát triển kinh tế địa phương
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đói nghèo và tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay hộ nghèo tại huyện Giang Thành từ năm 2014-2016
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ nghèo huyện Giang Thành
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Đâu là những yếu tố tác động đến việc tiếp cận tín dụng của nông hộ?
- Tiếp cận tín dụng vi mô có giúp các hộ nghèo thoát nghèo hay không?
- Thực trạng sử dụng vốn vay của nông hộ ra sao?
- Nguyên nhân dẫn tới việc sử dụng vốn vay có hiệu quả hoặc không có hiệu quả?
- Những giải pháp nào để tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho nông hộ, tăng lượng vốn vay đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, sử dụng đúng mục đích nguồn vốn đi vay và mang lại hiệu quả kinh tế cho nông hộ góp phần phát triển địa phương?
1.4 Đối tượng và thời gian nghiên cứu
1.4.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài chọn 2 xã là Phú Mỹ và Xã Tân Khánh Hoà, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang làm địa bàn nghiên cứu
- Huyện Giang Thành có tỉ lệ hộ nghèo sản xuất nông nghiệp trong năm
2015 có nhu cầu vốn là 32,08%, cao hơn so với mặt bằng chung của Tỉnh Kiên
Trang 17Giang Do đó, việc thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp về nhu cầu tín dụng đối với những nông hộ không vay vốn và thông qua chi tiêu và thu nhập cũng như tài sản sẽ đánh giá được nhu cầu vốn tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo
- NHNNo&PTNT và NHCSXH huyện Giang Thành là hai NH chủ yếu trong việc cung cấp tín dụng đối với nông dân và người nghèo ở địa bàn Doanh
số cho vay hằng năm đều tăng
1.4.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện trong thời gian 3 tháng, từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 6 năm 2016
Số liệu thứ cấp: Được sử dụng trong khoảng thời gian từ năm 2010 – 2015
bao gồm các chỉ tiêu về kinh tế chính trị, xã hội Thông tin về việc cung cấp tín dụng của hai NH đó là NHNN&PTNT và NHCSXH cũng được thu thập trong khoảng thời gian này
Số liệu sơ cấp: Được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng
câu hỏi đến các hộ nghèo được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 04 năm 2016 đến ngày 15 tháng 04 năm 2016 với những thông tin phỏng vấn được lấy trong cả năm 2015 như thông tin về việc vay vốn của hộ nghèo từ nguồn vay chính thức, thu nhập và chi tiêu Riêng phần đánh giá tài sản của nông hộ được áp dụng theo giá hiện hành tại thời điểm tháng 06 năm 2016
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là hộ nghèo ở 2 xã là Phú Mỹ và Xã Tân Khánh Hoà, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang có vay vốn hoặc không vay vốn từ các nguồn tài chính chính thức
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Đề tài chọn 2 xã là Phú Mỹ và Xã Tân Khánh Hoà huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang làm địa bàn nghiên cứu
Trang 18- Huyện Giang Thành có tỉ lệ hộ nghèo sản xuất nông nghiệp trong năm
2015 có nhu cầu vốn là 32,08%, cao hơn so với mặt bằng chung của Tỉnh Kiên Giang Do đó, việc thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp về nhu cầu tín dụng đối với những nông hộ không vay vốn và thông qua chi tiêu và thu nhập cũng như tài sản sẽ đánh giá được nhu cầu vốn tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nghèo
- NHNNo&PTNT và NHCSXH huyện Giang Thành là hai NH chủ yếu trong việc cung cấp tín dụng đối với nông dân và người nghèo ở địa bàn Doanh
số cho vay hằng năm đều tăng
1.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
a Số liệu nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp bao gồm: số liệu về tình hình kinh tế xã hội huyện Giang Thành; các số liệu về phương hướng, quy mô hoạt động và tình hình hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn huyện Giang Thành
Số liệu sơ cấp bao gồm: lượng vốn vay, mục đích vay, thời hạn vay vốn, tình hình thu nhập và chi tiêu, tài sản của nông hộ, tình hình trả nợ vay hoặc lãi vay
b Phương pháp thu thập số liệu
+ Nguồn gốc thông tin thứ cấp:
Số liệu thứ cấp được thu thập tại các phòng ban có liên quan như: Ngân hàng chính sách xã hội huyện, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, quỹ tín dụng nhân dân huyện, hội nông dân, hội phụ nữ, ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của tỉnh, huyện, qua bài báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu…
+ Nguồn gốc thông tin sơ cấp: Đề tài sử dụng số liệu khảo sát 100 hộ nghèo có tiếp cận và không tiếp cận tín dụng vi mô, đại diện cho 2 xã (xã Phú
Mỹ và Xã Tân Khánh Hoà) trên địa bàn huyện trong năm 2015 Tác giả thu thâp số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đối với
Trang 19các hộ nghèo có tiếp cận và không tiếp cận tín dụng vi mô, đối tượng hộ nghèo tiếp cận tín dụng vi mô tác giả căn cứ vào hồ sơ vay vốn tại xã, căn cứ vào mục tiêu và tình hình thực tế, tác giả phát thảo bộ câu hỏi nghiên cứu, có tham khảo ý kiến của chuyên gia, đưa ra điều tra sơ bộ Thu hồi phiếu điều tra bổ sung hiệu chỉnh phù hợp với yêu cầu nghiên cứu làm cơ sở cho việc hình thành các thang đo thích hợp trước khi tiến hành điều tra chính thức
Bảng câu hỏi bao gồm 04 phần với bố cục như sau:
+ Phần 1: Thông tin về các thành viên trong hộ như: họ tên các thành viên, tuổi các thành viên, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp
+ Phần 2: Thông tin về diện tích đất: đất ruộng, đất vườn, đất thổ cư, … + Phần 3: Thông tin về việc vay vốn của nông hộ từ nguồn tài chính chính thức trong thời gian gần nhất gồm thông tin của món vay, giá trị tài sản khi đem thế chấp vay, nhu cầu tư vấn hỗ trợ, và việc thanh toán lãi cũng như nợ gốc khi hết thời hạn vay, khó khăn khi vay ,…
+ Phần 4: Thông tin về thu nhập chi tiêu trong năm 2007 và tài sản theo giá trị thị trường của hộ gia đình
Chi tiết bảng câu hỏi phỏng vấn sẽ được trình bày trong phần phụ lục 1
1.6 Tổng quan đề tài nghiên cứu
1.6.1 Những nghiên cứu về yếu tố tác động đến quyết định tiếp cận tín dụng
Cuộc nghiên cứu của Vũ Quốc Duy (2013) về những nhân tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng đối với hộ nghèo vùng đồng bằng sông Cửu Long đến nguồn tài chính chính thức và phi chính thức Bằng việc sử dụng mô hình Logit
và mô hình Probit, tác giả cho rằng tiếp cận thị trường tín dụng chính thức chịu tác động tích cực và mạnh mẽ bởi tuổi tác, giới tính, qui mô của hộ (số người trong hộ), trình độ học vấn, chi tiêu trên đầu người Việc nghèo khó có tác động tiêu cực và mạnh mẽ đến việc tiếp cận nguồn tín dụng chính thức Đối với thị
Trang 20trường tín dụng phi chính thức, việc tiếp cận nguồn tín dụng này chịu tác động tích cực và mạnh mẽ bởi qui mô của hộ, chi tiêu trên đầu người
Mô ̣t nghiên cứu khác của Nguyễn Văn Ngân được thực hiê ̣n vào năm
2014 cho rằng giá trị của đất và giá trị vật nuôi trong tổng giá trị tài sản của hộ càng cao thì nó càng có ảnh hưởng đến tiếp cận nguồn tín dụng chính thức Tuy nhiên, quy mô đất cũng có tác động mạnh mẽ đến việc quyết định tiếp cận nguồn tín dụng phi chính thức Ngoài ra giới tính cũng góp phần quan tro ̣ng trong viê ̣c tiếp câ ̣n tín du ̣ng đến nguồn tài chính chính thức
Vào năm 2014 Vũ Thi ̣ Thanh Hà đã thực hiê ̣n mô ̣t cuô ̣c nghiên cứu về các yếu tố tác đô ̣ng lên viê ̣c vay mượn của nông hô ̣ lĩnh vực tài chính chính thức ở Đồng Bằng sông Hồng cũng đã khẳng đi ̣nh vai trò của diê ̣n tích đất lên viê ̣c tiếp
câ ̣n tín du ̣ng của hộ nông dân Thêm vào đó năm 2013, nghiên cứu của Trần Thơ
Đa ̣t về thi ̣ trường tín du ̣ng nông thôn Viê ̣t Nam cũng đã cho biết mức đóng góp của nguồn tín dụng chính thức cho các hộ nghèo ở Viê ̣t Nam
Cũng là nghiên cứu về tiếp cận tín dụng của hộ nghèo được thực hiện ở Việt Nam vào năm 2013 của tác giả Trần Thọ Đa ̣t Bằng việc áp dụng mô hình Logit và phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất, tác giả đã khẳng định rằng các biến độc lập: quy mô đất, diện tích đất, tổng số thành viên trong hộ, tỷ
lệ phụ thuộc, quan hệ họ hàng và địa vị xã hội Kết quả cho thấy các biến độc lập
có tác động mạnh mẽ đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ nghèo
Bảng 1.1 Tóm tắt những nghiên cứu về quyết định tiếp cận tín dụng
Tác giả Mô hình Quyết định tiềp cận nguồn tín dụng chính thức
Nhân tố tích cực Nhân tố tiêu cực
Vũ Quốc Duy
(2013) Logit và probit
Tuổi, nam giới (người nắm quyền lực trong gia đình), số người trong
hộ, trình độ học vấn, chi tiêu trên đầu người và chủng tộc
Mức nghèo khó của
hộ
Nguyễn Văn Mô hình Số người trong hộ, chi tiêu của hộ, Giới tính chủ hô ̣,
Trang 21Ngân (2014) Logit/probit độ tuổi, tổng tài sản của hô ̣ trình đô ̣ ho ̣c vấn Vũ Thi ̣ Thanh
(Nguồn : Tổng hợp các đề tài nghiên cứu)
1.6.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của sự tiếp cận vốn đối với hộ nghèo
Nghiên cứu về những tác động nguồn vốn vay đối với những người đi vay
so với những người không đi vay cho nhiều bằng chứng về tác động của nguồn vốn đối với người nghèo là khác nhau Một nghiên cứu của Putzeys vào năm
2012 đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả sự khảo sát về vấn đề những thay đổi trong kinh tế giữa những hô ̣ gia đình có vay vốn và không vay vốn Kết quả cho thấy sự thay đổi trong kinh tế gia đình không phải do yếu tố giá tri ̣ món vay quy đi ̣nh Đồng thời mô hình hồi quy nhiều chiều đã không phải được dùng để tìm ra tác động của nguồn vốn nhỏ đến sự nghèo nàn và các vấn đề liên quan đến nghèo nàn về sự vay mượn của hộ gia đình
McCarty nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn vốn nhỏ với sự nghèo nàn ở Bangladesh vào năm 2011 Nghiên cứu này, sử dụng một khảo sát thí nghiệm, nêu lên rằng tài chính nhỏ có thể đóng góp nhiều cho những người rất nghèo đi vay và cho kinh tế địa phương Lợi ích của nguồn tài chính nhỏ thể hiện rõ đối với mọi hộ gia đình bao gồm cả những người không tham gia Thực tế này chỉ ra rằng những chương trình tài chính nhỏ đang giúp đỡ người nghèo, phân phối lại thu nhập nhiều hơn Góp phần nâng cao mức thu nhập của địa phương Như vậy, những chương trình này đã gây ảnh hưởng đến kinh tế địa phương, do đó cải thiện phúc lợi địa phương
Trong nghiên cứu của Vũ Thi ̣ Thanh Hà vào năm 2011 tài chính nông thôn của Việt Nam Bằng cách sử dụng phép phân tích từng nhóm dữ liệu về các
Trang 22tầng lớp khác nhau đã tìm kiếm, phân tích tác động tích cực và quan trọng trong dài hạn về phúc lợi hộ gia đình dưới dạng chi phí lương thực theo đầu người và chi phí không phải lương thực theo đầu người Những kết quả cũng xác nhận rằng mặc dù những nguồn vốn chính thức lẫn không chính thức góp phần làm giảm sự nghèo nàn của hộ gia đình, nguồn vốn chính thức có tác động tích cực hơn so với nguồn vốn không chính thức
Bảng 1.2 Tóm tắt nghiên cứu về tác động của nguồn vốn vay đến hộ nghèo
Tác giả Mô hình Tác dụng của sự tiếp cận nguồn
chênh lệch
Việc tăng lên trong tiêu thụ của những người sử dụng vốn McCarty (2011) Kết quả phương pháp
Dựa vào phép phân tích Đóng góp cho phúc lợi hộ gia đình
dưới dạng chi phí từng người, chi phí lương thực theo đầu và chi phí không không phải lương thực theo đầu người
(Nguồn: Tổng hợp các đề tài nghiên cứu)
1.6.3 Những biến giải thích có liên quan đã được nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên, cách tiếp cận nguồn vốn vay có thể ảnh hưởng bởi những biến giải thích nào đó như giá trị của những hộ gia đình, tài sản, đất, tuổi của những người trong hộ gia đình, trình độ văn hoá của những người trong hộ gia đình, giới tính của từng người trong hộ gia đình, và thu nhập của hộ Mỗi biến có thể có tác động đến việc vay vốn ở các mức độ khác nhau Mức nghèo
Trang 23nàn của những hộ gia đình cùng với những nguồn vốn vay có thể khác với người không đi vay Những nghiên cứu ở trên giải thích cho những biến ở dưới đây:
- Tài sản của hộ gia đình là một biến độc lập được xem như giá trị tiền tệ hiện thời của tài sản sau khi trả dần Những hộ gia đình có những tài sản lớn có khả năng cao để vay được nhiều tiền bởi họ có năng lực hơn trong việc bảo đảm tránh rủi ro cho ngân hàng bằng việc dùng những tài sản của họ để thế chấp Quan điểm này dựa trên nghiên cứu của Vũ Thi ̣ Thanh Hà được thực hiê ̣n vào năm 2011
- Diện tích đất là diện tích của đất được sở hữu bởi những hộ gia đình nông trại, được đo theo nghìn m2.Theo nghiên cứu của Võ Thi ̣ Thanh Lô ̣c được thực hiê ̣n vào năm 2008 đã đề câ ̣p đến yếu tố diê ̣n tích đất có ảnh hưởng đến viê ̣c tiếp câ ̣n tín du ̣ng từ nguồn chính thức của nông hô ̣ Biến này bao gồm đất ruộng, đất vườn, đất nhà, và những loại đất khác Đất có thể được sử dụng để thế chấp để vay nguồn vốn chính thức Những hộ gia đình có một diện tích đất lớn
có khả năng cao để vay tiền
- Tuổi là tuổi của chủ hộ Yếu tố này thể hiê ̣n rằng người già hơn trong hộ gia đình thì có nhiều sức mạnh hơn để kiểm soát nguồn tài nguyên, giàu kinh nghiệm, uy tín và trách nhiệm tốt Bởi vậy, thật là dễ dàng rằng họ được đồng ý
để vay vốn ở những khu vực chính thức Những hộ gia đình Trẻ, không giống người già, thích tiêu dùng hơn và ít tiết kiệm cho sau này, họ có thể cần nhiều tiền vay hơn Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Ngân được thực hiê ̣n vào năm
2014 thì chủ hô ̣ trẻ sẽ gă ̣p khó khăn trong viê ̣c tiếp câ ̣n tín du ̣ng hơn vì họ ít kinh nghiệm và uy tín
- Trình độ văn hoá theo nghiên cứ u của Nguyễn Thi ̣ Hồng Trang năm
2013 thì biến này được định nghĩa như là số những người đi học trong gia đình nông hộ Nó được giải thích rằng những người có trình độ văn hoá cao thì có khả năng đầu tư hiệu quả hơn và xác suất cao trong việc trả lại tiền vay Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Ngân đươ ̣c thực hiê ̣n vào năm 2014 nói rằng những
Trang 24người trong nông hộ với trình độ cao thì sẽ dễ dàng hơn đối với việc vay vốn từ nguồn tài chính chính thức
- Giới tính là giới tính của chủ hô ̣ trong gia đình nông hộ Đây là một biến giả trong mô hình Biến này nhâ ̣n giá tri ̣ là 1 nếu người trong nông hộ là nam và
0 nếu ngược lại Theo nghiên cứu của Trần Thơ Đa ̣t được thực hiê ̣n vào năm
2008, Phụ nữ ít có khả năng vay tiền trong khu vực tài chính chính thức hơn nam giới Thay vào đó, họ thích hợp hơn để đưa vốn vay từ chương trình vay vốn dành cho những phụ nữ
- Thu nhập và chi phí là thu nhập bình quân và chi phí mỗi năm của nông
hộ Nó được giả thích rằng những nông hộ có thu nhập cao ít vay tín dụng hơn vì
họ có đủ chi phí Tuy nhiên, chi phí cao có thể thúc đẩy họ vay vốn hơn (Phạm Bảo Dương, 2012) Những biến này được đo theo nghìn đồng Việt Nam (đơn vị tính: VNĐ)
- Đất có bằng đỏ (giấy chứng nhâ ̣n quyền sở hữu đất) Đây là một biến trong mô hình Nó mang giá trị là 1 nếu đất của nông hộ có bằng đỏ và mang giá tri ̣ là 0 nếu ngược lại Những hộ gia đình có bằng đỏ thì có thể sử dụng đất của
họ để thế chấp khi vay tiền từ ngân hàng Như vậy, những hộ gia đình đó có nhiều khả năng vay tín dụng chính thức hơn Điều này đã được kết luâ ̣n qua nhiều nghiên cứu như Trần Thơ Đa ̣t năm 2009 và gần đây nhất là của Vũ Quốc Duy năm 2013
- Độ lớn hộ gia đình được định nghĩa là tổng số người của gia đình đang sống trong hộ Ảnh hưởng của độ lớn hộ gia đình tiếp cận nguồn vốn vay ở lại Một câu hỏi vì có sự khác biê ̣t giữa kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước Đối với các nước phát triển thì quy mô hô ̣ gia đình sẽ là nhân tố tích cực góp phần làm tăng khả năng tiếp câ ̣n tín du ̣ng còn ở Viê ̣t Nam thì kết quả nghiên cứu ngược la ̣i Một đặc tính phân biệt ở Việt Nam là hộ gia đình có số lượng người nhiều thì thường nghèo Điều này đã được thể hiê ̣n trong nghiên cứu của Nguyễn Thi ̣ Hồng Trang đươ ̣c thực hiê ̣n vào năm 2013
Trang 25Trên đây là các biến giải thích đã được sử du ̣ng trong các đề tài nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài này Tuy nhiên viê ̣c xem xét để cho ̣n lựa biến nào đưa vào mô hình phải thực hiê ̣n mô ̣t cách cân nhắc và thực sự phản ánh đươ ̣c tình hình thực tế ở đi ̣a bàn nghiên cứu, tránh tình tra ̣ng “khai thác nguồn dữ liê ̣u” để kết quả thu được của mô hình là thực sự có ý nghĩa và được ứng
du ̣ng trong thi ̣ trường tín du ̣ng nông thôn ta ̣i đi ̣a bàn nghiên cứu
1.7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đóng góp vào tranh luận hiện tại về tác động của tín dụng vi mô đối với thoát nghèo, Kết quả nghiên cứu cung cấp một bằng chứng tích cực về mối quan
hệ của tín dụng vi mô đối với thoát nghèo trên địa bàn huyện, đặc biệt là tác động mạnh mẽ của tín dụng vi mô đối với thoát nghèo của hộ nghèo được ghi nhận trong nghiên cứu này
1.8 Tổng quan đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được chia làm 5 chương:
Chương 1 Giới thiệu chung về nghiên cứu: Vấn đề nghiên cứu; Mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; và kết cấu chung đề tài
Chương 2 Tổng quan lý thuyết: Trình bày các khái niệm; Các lý thuyết
liên quan; Tổng quan về các nghiên cứu trước có liên quan
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu
tác động của tín dụng vi mô đối với thoát nghèo; Xác định các biến trong mô hình
Chương 4 Kết quả nghiên cứu: Mô tả dữ liệu và phân tích tác động của
tín dụng vi mô đối với thoát nghèo của hộ nghèo trên địa bàn huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang
Chương 5 Kết luận và gợi ý chính sách
Trang 26CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Vấn đề nghèo và tín dụng cho hộ nghèo
2.1.1 Một số khái niệm về nghèo
Theo các nhà khoa học, nghèo là một vấn đề khó có khái niệm chung để
đo lường và hiểu cho thấu đáo Do đó, tùy vào quan niệm và cách tiếp cận mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về nghèo đói
Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào 9/2003 Các quốc gia đã thống nhất cao và cho rằng:
“nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: “Con người bị coi là nghèo
khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi họ không có những gì mà
đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết để sống một cách đúng mức”
Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nghèo là khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, dễ bị tổn thưởng, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực
Một định nghĩa khác thuyết phục hơn rằng, nghèo đói là kết quả của tình trạng bất bình đẳng xã hội và kinh tế trong quá trình phát triển nhân loại, có thể xóa bỏ được bằng cách các Chính phủ và tổ chức quốc tế thực hiện những chính sách và cơ chế phù hợp nhằm xóa bỏ chính sự bất bình đẳng về xã hội và kinh tế
đó
Hiểu một cách chung nhất thì nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư vì những lý do nào đó không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, những nhu cầu mà xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh
Trang 27tế xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội đó Biểu hiện của việc không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản đó, chẳng hạn: là tình trạng thiếu ăn, suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, ô nhiễm môi trường, tỷ lệ tử vong trẻ em, trẻ sơ sinh, tuổi thọ thấp…
Tóm lại các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh: Thứ
nhất, không được thụ hưởng những nhu cầu tối thiểu cho con người Thứ hai: có
mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng dân cư Thứ ba, thiếu cơ hội lựa
chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng
Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh
tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia
Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu
- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo
không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn mặc, đi lại
- Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có
mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét
- Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có
những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu
2.1.2 Các thước đo về nghèo
Xác định chỉ số phúc lợi: Những khía cạnh cơ bản của đói nghèo được nêu
trên có thể chia ra làm khía cạnh tiền tệ và phi tiền tệ Khía cạnh tiền tệ của đói nghèo được phản ánh chủ yếu qua mức chỉ tiêu bình quân đầu người Còn khía cạnh phi tiền tệ được dùng để đo tình trạng thiếu thốn về y tế, giáo dục, các mối quan hệ xã hội, sự bất an, kém tự tin hay thiếu quyền lực…
Lựa chọn và ước tính ngưỡng nghèo:
Trang 28Ngưỡng nghèo là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo Có hai cách tính để xác định ngưỡng nghèo:
Ngưỡng nghèo tuyệt đối: Là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối
thiểu để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh
Ngưỡng nghèo tương đối: Phản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư
sống dưới mức trung bình của cộng đồng
- Thước đo về nghèo:
Tỷ lệ nghèo (chỉ số đếm đầu người): Quy mô (diện) đói nghèo của một
quốc gia Nó cho biết tình trạng nghèo của một quốc gia nhưng có một số hạn
chế: Thứ nhất, ngưỡng nghèo của các quốc gia khác nhau nên một người nghèo
ở nước này có thể là giàu có ở nước khác Thứ hai, không chú ý đến mức đói
nghèo mà chỉ quan tâm đến tỷ lệ dân số nằm dưới giới hạn
Khoảng nghèo: Mức độ sâu của nghèo đói Nó cho biết chi phi tối thiểu để
đưa tất cả người nghèo lên mức sống ở ngưỡng nghèo Tuy nhiên việc chuyển giao thu nhập này mất nhiều chi phi hành chính không cần thiết
Bình phương khoảng nghèo: Mức độ nghiêm trọng của nghèo, nó có tính
đến những người rất nghèo trong những người nằm dưới ngưỡng nghèo
2.1.3 Các phương pháp xác định nghèo
2.1.3.1 Phương pháp chi tiêu
Phương pháp này xác định các hộ nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đảm bảo 2100 calo mỗi người/ngày Các hộ được cho là nghèo nếu như mức tiêu dùng không đạt được mức này Đây là phương pháp được Tổng cục thống kê sử dụng để xác định hộ nghèo trong các cuộc điều tra mức sống dân cư
và điều tra mức sống hộ gia đình
2.1.3.2 Phương pháp thu nhập
Đây là phương pháp xác định hộ nghèo dựa trên tiêu chuẩn về một mức thu nhập tối thiểu đảm bảo cho họ có một cuộc sống tối thiểu Theo chuẩn nghèo
Trang 29thế giới, một người có mức thu nhập thấp hơn 1 USD/ngày được xem là nghèo (chuẩn nghèo 1 đô la) Chuẩn nghèo theo thu nhập ở mỗi quốc gia lại khác nhau, tùy theo mức thu nhập trung bình của quốc gia đó Ở Việt Nam, chuẩn nghèo theo thu nhập mới nhất do Bộ lao động và thương binh xã hội (LĐTBXH) ban hành áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 là 350 nghìn đồng/người/tháng ở nông thôn và 450 nghìn đồng/người/tháng ở thành thị
Tuy nhiên, phương pháp này ít được áp dụng đồng nhất ở các địa phương
Bởi vì rất khó để lấy được thông tin chính xác về thu nhập của các hộ gia đình Thông thường người dân có tâm lý khai thấp thu nhập của mình khi được hỏi Hơn nữa, việc tính toán đầy đủ các nguồn thu nhập của người dân là rất khó khăn
2.1.3.3 Phương pháp xếp loại của địa phương
Đây là phương pháp được Bộ LĐTBXH sử dụng để lập danh sách các hộ nghèo đói theo địa phương dựa trên thông tin được cung cấp từ chính quyền địa phương, nhất là chính quyền cấp thôn, bản Dựa trên một số tiêu chí để xác định
hộ nghèo do Bộ LĐTBXH cung cấp, chính quyền các thôn sẽ tổ chức bình bầu xem những hộ nào trong thôn là nghèo, sau đó lên danh sách và gửi cho cấp xã, cấp xã sẽ xem xét và trình lên Phòng LĐTBXH cấp huyện để cấp sổ hộ nghèo cho hộ đó Thông tin này được sử dụng để xác định những hộ nghèo nhất được hưởng các chương trình trợ cấp đặc biệt như: tín dụng ưu đãi, thẻ khám chữa bệnh miễn phí, nước sạch, trợ cấp nhà ở… Vì số tiền trợ cấp thường ít nên mỗi lần như vậy các thôn phải bình bầu xem ai sẽ là người đáng được hưởng trợ cấp,
do vậy danh sách các hộ nghèo có thể được thay đổi mỗi khi có các chương trình trợ cấp mới
2.1.3.4 Phương pháp vẽ bản đồ nghèo đói
Phương pháp này do Nicholas Minot, Bob Baulch, Micheal Epprecht (IFPRI) phối hợp với Nhóm tác chiến lập bản đồ nghèo đói liên bộ (2003) sử dụng để ước lượng các chỉ số nghèo đói ở cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh Phương
Trang 30pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng để tính mức chi tiêu dự báo của hộ Mức chi tiêu dự báo được dùng để phản ánh mức sống của hộ và so sánh mức độ nghèo đói giữa các vùng khác nhau
2.1.4 Chuẩn nghèo
Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn nghèo đói theo sự phân loại của World Bank
Khu vực Mức thu nhập tối thiểu USD/ngày
(Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng thế giới)
Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế của từng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên
Theo báo cáo về tình hình nghèo đói của Ngân hàng thế giới, với chuẩn nghèo trên, số người sống dưới mức nghèo khổ trên thế giới đã giảm rõ rệt trong vòng 15 năm qua (1981-2005), song tốc độ giảm nghèo vẫn chậm và số người nghèo vẫn còn rất lớn
Đến năm 2008, Ngân hàng thế giới đã nâng từ 1 USD/người/ngày lên 1,25USD/người/ngày (theo chỉ số giá cả năm 2005) Theo tiêu chuẩn này, số người nghèo trên thế giới đã giảm từ 1,9 tỷ người xuống còn 1,4 tỷ người trong vòng ¼ thế kỷ
Trong bối cảnh cộng đồng quốc tế vừa thông qua một Chương trình phát triển bền vững với mục tiêu loại bỏ nghèo đói cùng cực vào năm 2030, dự báo mới nhất vừa được Ngân hàng Thế giới công bố cho thấy số lượng người trên thế giới phải sống trong nghèo đói cùng cực sẽ lần đầu tiên giảm xuống dưới
Trang 31ngưỡng 10% vào năm 2015 Mức chuẩn nghèo quốc tế mới được thiết lập ở mức 1,90 USD mỗi ngày, trong đó bao gồm các dữ liệu mới về những chênh lệch trong chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia Ngưỡng mới này duy trì sức mua thực
tế của ngưỡng trước (1,25 USD mỗi ngày theo giá cả của năm 2005) trong những nước nghèo nhất trên thế giới Dựa trên ngưỡng mới này (và dữ liệu gần đây của mỗi quốc gia về mức sống), WB kỳ vọng số lượng người nghèo trên toàn thế giới dự kiến sẽ giảm từ 902 triệu vào năm 2012 xuống còn 702 triệu người vào năm 2015 (tương ứng với mức giảm từ 12,8% xuống còn 9,6% dân số thế giới)
Ở Việt Nam, tiêu chí xác định hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho người nghèo phải căn cứ vào chuẩn nghèo mà
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành trong từng giai đoạn
(1) Giai đoạn 2001-2005
Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số 143/2000/QĐ-BLĐTBXH ngày 1/11/2000 như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/tháng, tương đương 960.000 đồng/năm; Vùng nông thôn cho đồng bằng: 100.000 đồng/tháng hay 1.200.000 đồng/năm; Vùng thành thị: 150.000 đồng/tháng hay 1.800.000 đồng/năm
Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới mức quy định trên được xác định là hộ nghèo
(2) Giai đoạn 2006-2010
Giai đoạn này chuẩn nghèo được xác định theo Quyết định 170/2005/QĐ–TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ như sau: Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/tháng (3.120.000đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Trang 32Giai đoạn từ năm 2011-2015 chuẩn nghèo được áp dụng theo quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 1/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ: Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng- 520.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo; Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/tháng (6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng – 650.000 đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng; Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
2.2 Các quan điểm tín dụng cho người nghèo
2.2.1 Vai trò của tín dụng trong việc giảm nghèo ở nông thôn
Tín dụng được các nhà kinh tế công nhận là có vai trò trong phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tranh cãi về tầm quan trọng của nó trong phát triển nông nghiệp và giảm nghèo đói ở các nước đang phát triển Có hai trường phái:
Trường phái “học thuyết phát triển”(hay trường phái trọng cung): cho rằng tín dụng là đầu vào quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói, và được coi là công cụ để đạt được mục đích cuối cùng là phát triển kinh tế
Trường phái “Sòng bạc” (hay trường phái trọng cầu): cho rằng tín dụng là kết quả của phát triển kinh tế, “không có bằng chứng hay căn cứ nào chứng minh
Trang 33ảnh hưởng tích cực của phát triển tín dụng lên quá trình tăng trưởng kinh tế về mức độ, thời điểm và khu vực”
Tín dụng có vai trò trong phát triển kinh tế nhưng nó chỉ được coi là một trong những điều kiện cần và là trung gian cho phát triển Vì vậy, tín dụng có vai trò trong phát triển nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn như sau:
Thứ nhất: Là giúp giảm chi phí trao đổi và giao dịch, mở rộng thị trường
hàng hóa dịch vụ và phạm vi phân công lao động
Thứ hai: Là cung cấp nguồn để mua các vật tư cần thiết đầu tư cho sản
xuất nông nghiệp
Thứ ba: Là giúp đẩy mạnh quá trình thương mại hóa sản xuất nông nghiệp
cũng như thay đổi cơ cấu nông nghiệp
Thứ tư: Là cung cấp tín dụng được coi là công cụ chủ chốt nhằm phá vỡ
vòng luẩn quẩn của đói nghèo
Thứ năm: Là giữa tín dụng, phát triển nông thôn và giảm nghèo đói có
một mối quan hệ rất chặt chẽ Tín dụng thúc đẩy phát triển nông thôn, giảm nghèo đói, thu nhập người nghèo tăng sẽ làm cho hệ thống tín dụng nông thôn phát triển hơn
Mặc dù có nhiều tranh cãi về vai trò của tín dụng trong phát triển và giảm nghèo đói ở nông thôn nhưng có một thực tế chứng minh là tín dụng luôn chiếm một vị trí rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp-nông thôn và giảm nghèo
Cơ sở kinh tế học của tín dụng vi mô: giá trị hoàn trả biên của những khoản vay nhỏ có hình dạng đường cong hữu dụng biên Người nghèo có khả năng kinh doanh sinh lợi đạt được lợi nhuận trên mỗi đơn vị vốn lớn hơn người khá giả và sẵn sàng trả lãi vay cao hơn cho những khoản tín dụng từ ngân hàng (Võ Khắc Thường và Trần Văn Hoàng, 2013)
Lý thuyết thông tin bất cân xứng giữa người VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE VOLUME 4 NUMBER 3 39 cho vay và người đi vay: Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch một bên có thông tin
Trang 34đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại Hai hành vi thường được đề cập đến trong hoạt động tài chính là lựa chọn bất lợi (lựa chọn ngược) của người cho vay
và tâm lý ỷ lại (rủi ro đạo đức) của người đi vay do thông tin bất cân xứng Lựa chọn ngược là hậu quả của thông tin bất cân xứng trước khi giao dịch xảy ra Tâm lý ỷ lại là hậu quả của thông tin bất cân xứng sau khi giao dịch đã xảy ra (Begg và cộng sự, 2007) Lý thuyết kinh tế phát triển: nguồn vốn cho người nghèo rất quan trọng Thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo thu nhập hộ gia đình thấp Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp Tiết kiệm thấp lại
là nguyên nhân của sự thiếu hụt vốn đầu tư, và lại dẫn đến thu nhập thấp, đó chính là vòng lẩn quẩn của nghèo (Nguyễn Trọng Hoài, 2007)
Lý thuyết sinh kế bền vững: một trong những tính năng mạnh mẽ của TDVM là một phương tiện giải quyết đói nghèo, nó đặt nguồn lực tài chính trực tiếp vào tay của người nghèo, cung cấp vốn tài chính cần thiết theo mức cho phép để người nghèo sử dụng hiệu quả hơn vốn con người và vốn xã hội mà họ đang sở hữu (Lê Kiên Cường, 2013) Hulme và Mosley (1996, trích trong Nichols 2004), đã nghiên cứu ảnh hưởng của TDVM đến từng đối tượng hộ nghèo, nghiên cứu được thực hiện ở 13 tổ chức TDVM tại 7 quốc gia
Bằng chứng cho thấy tác động của một khoản vay vào thu nhập của những đối tượng người nghèo theo mức độ khác nhau, đối tượng nghèo nằm ở “giữa”
và “trên” nghèo có nhiều khả năng được hưởng lợi nhiều hơn “lõi” nghèo Khách hàng ở “trên” ngưỡng nghèo sẵn sàng chấp nhận rủi ro và đầu tư công nghệ để tăng khả năng tạo ra thu nhập Trong khi đó những người ở “lõi” của nghèo thường vay để lại trang trải chi phí sinh hoạt, có xu hướng đầu tư nhỏ, manh mún, hiếm khi đầu tư vào công nghệ mới
Thu nhập từ khoản vay của người nghèo (1988 - 1992) tăng bình quân trên các nhóm khác nhau, từ 10 - 12% ở Indonesia, khoảng 30% ở Bangladesh và Ấn
Độ đối với những hộ nghèo có tham gia chương trình TDVM Nichols (2004) đã nghiên cứu về các tác động của TDVM đến cuộc sống của người nghèo ở nông
Trang 35thôn Trung Quốc Nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra thực tế tại huyện nghèo, có chương trình tín dụng vi mô đã hoạt động trong 7 năm Nghiên cứu cho thấy rằng, tham gia chương trình có tác động tích cực đến cuộc sống của khách hàng vay, đặc biệt về an ninh kinh tế, người dân cảm thấy tự tin vào bản thân và nâng cao khả năng quản lý tài chính của chính họ Nghiên cứu cho thấy thu nhập của người vay vốn tăng hơn ba lần so với những người không vay vốn
từ chương trình TDVM và những người đi vay là người nghèo nhất thì tốc độ tăng của thu nhập nhanh hơn những người vay có điều kiện tương đối
Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2005) đã thu thập số liệu
từ 640 hộ nông dân ở Ninh Thuận và 619 hộ nông dân ở Bình Phước làm nguồn
số liệu chính cho đề tài Các số liệu được phân tích dựa trên mô hình kinh tế lượng, với hàm hồi quy Logistic Biến phụ thuộc là chi tiêu bình quân/người, các biến giải thích là: việc làm, dân tộc thiểu số, diện tích đất canh tác, được vay vốn
là những biến số có ý nghĩa thống kê để giải thích nguyên nhân ảnh hưởng tới nghèo đói của hộ nông dân Khi các yếu tố khác không thay đổi, với xác suất nghèo của một hộ gia đình là 30% ở Ninh Thuận cho thấy nếu hộ này được vay vốn tín dụng chính thức thì xác suất nghèo của hộ sẽ giảm xuống 20,7%; ở Bình Phước, cho thấy nếu hộ này được vay vốn tín dụng chính thức thì xác suất nghèo của hộ sẽ giảm xuống 29% Lê Việt Phương (2012) nghiên cứu về tác động của TDVM đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình nghèo tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả khảo sát 250 mẫu ngẫu nhiên đại diện cho những hộ nghèo tham gia TDVM trên phạm vi toàn huyện Bình Chánh
Các biến trình độ học vấn, có việc làm, số tiền vay vốn, tập huấn, tương quan ý nghĩa với biến tình trạnh nghèo với mức ý nghĩa 1%, và mục đích sử dụng vốn vay với mức ý nghĩa 5%; biến giới tính của chủ hộ và quy mô hộ không có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu đã cho thấy 2 nhóm nhân tố có tác động tích cực đến khả năng thoát nghèo của hộ đó là nhóm nhân tố thuộc bản thân hộ gia đình nghèo (trình độ học vấn và số người có việc làm trong hộ) và
Trang 36nhóm nhân tố thứ 2, nhóm nhân tố TDVM, cũng góp phần không nhỏ cho việc thoát nghèo của hộ (tổng số tiền vay, số lần tham gia tập huấn từ chương trình TDVM, mục đích sử dụng vốn của hộ)
2.2.2 Các trường phái lý thuyết về tín dụng cho người nghèo
Tín dụng có mối quan hệ mật thiết với phát triển, đặc biệt là phát triển nông nghiệp và giảm tỷ lệ nghèo ở nông thôn Tuy nhiên mức độ tác động của
hệ thống tín dụng lại chủ yếu phụ thuộc vào các chính sách mà chính phủ của nước sở tại áp dụng Các chính sách khác nhau xuất pháp từ các trường phái khác nhau Chúng ta chỉ tập trung vào 5 trường phái đang ảnh hưởng nhiều nhất đến việc hoạch định chiến lược cho việc cung cấp tín dụng cho phát triển và giảm nghèo ở nông thôn sau:
2.2.2.1 Trường phái cổ điển
Trường phái cổ điển rất phổ biến trong thời kỳ những năm 60 và nửa đầu thế kỉ 70 Trường phái này bị ảnh hưởng bởi quan điểm của Nurske về vòng luẩn quẩn đối với quá trình phát triển ở hầu hết các nước kém phát triển và quan điểm cũ tồn tại trước thập kỷ 60 cho rằng nông nghiệp có vai trò bị động trong phát triển kinh tế
Phương pháp tiếp cận cổ điển này ngẫu nhiên trùng hợp với chiến lược” Cách mạng xanh”, chiến lược ISI và “ngành công nghiệp non trẻ” cho rằng cần cung cấp tín dụng rẻ cho những khu vực ưu tiên
Xuất pháp từ những quan điểm của những học thuyết kinh tế trên, ý tưởng chính của trường phái này là:
Thứ nhất: Tập trung vào cung cấp tín dụng, vì vậy còn được gọi là trường
phái“ trọng cung” Tăng tín dụng sẽ cho phép sản xuất và đặc biệt trong khu vực nông nghiệp, áp dụng kỹ thuật mới, sản lượng sẽ tăng Tín dụng trong khu vực không chính thức cung cấp thường có lãi suất rất cao và thời hạn ngắn mà hầu hết nông dân không chịu nổi, như vậy thiếu vốn vay đã trở thành trở ngại chính trong áp dụng kỹ thuật tiên tiến và mua các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông
Trang 37nghiệp Sản lượng thấp gây trở ngại cho sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh
tế
Thứ hai: Để tăng khối lượng tín dụng phục vụ phát triển và đẩy những
người có chuyên cho vay nặng lãi ra khỏi thị trường tín dụng, một chính sách cho vay lãi suất thấp và chương trình tín dụng trợ giá đã được đề xuất
Thứ ba: Là nông dân nghèo và sản xuất nhỏ chỉ được lợi từ các chính sách
và chương trình tín dụng bao cấp
Thứ tư: Coi những người cho vay chuyên nghiệp ở khu vực không chính
thức là những kẻ độc quyền cho vay nặng lãi, bóc lột người nghèo bằng lãi suất cắt cổ Chính phủ các nước phát triển đang sử dụng phương pháp này để giải quyết vấn đề tín dụng thị trường tín dụng nông thôn và sử dụng tín dụng bao cấp như là công cụ hữu hiệu phục vụ phát triển nông thôn và giảm nghèo đói ở vùng nông thôn
Tuy nhiên, Vẫn còn nhiều hoài nghi về tính đúng đắn và tính hiệu quả của
trường phái này và còn nhiều tranh cãi xuất phát từ những quan điểm khác nhau
2.2.2.2 Trường phái kiềm chế tài chính
Chính phủ của hầu hết các nước đang phát triển đều coi tín dụng là một mối quan tâm lớn cho vay trực tiếp thay thế cho vay đầu tư làm cục diện rủi ro
từ phía ngân hàng và người vay chuyển sang phía chính phủ.Bằng các quyết định đầu tư tài chính, các cơ quan quản lý của chính phủ đã trở thành các ngân hàng và nhà kinh doanh không chuyên, quản lý theo hướng kế hoạch hóa tập trung, đẩy khu vực tư nhân nơi có rủi ro cao và lợi nhuận cũng rất cao, xuống vị trí thứ yếu trong nền kinh tế
Các chính sách phát triển thực hiện trong vài thập kỷ qua đã chỉ ra một bài học lớn: Việc nhà nước chi phối nền kình tế và hệ thống tài chính đã dẫn đến tình trạng kinh tế kém phát triển công cụ chính làm kìm hãm sự phát triển hệ thống tài chính là khống chế lãi suất, tín dụng theo mục tiêu chỉ định, lãi suất ưu đãi và sự hạn chế về mặt pháp lý đối với tính thể chế của các tổ chức tài chính
Trang 38Tác động của việc kiểm soát, chi phối và kìm hãm tài chính đối với sự phát triển của hệ thống tài chính là rất lớn
Tiền lãi thu được rất thấp và đôi khi tiền gửi còn bị giảm đi do lạm phát đã không khuyến khích được dân chúng gửi tiết kiệm, trần lãi suất cản trở ngân hàng đạt được doanh thu đủ bù đắp chi phí Để bù đắp những khoản bị lỗ ngân hàng lại mở rộng quy mô tiền cho vay, chính vì vậy lại hạn chế khả năng tiếp cận của họ tới người nghèo, những người thường vay món nhỏ
Ở một số nước lãi suất hoàn toàn trái ngược- lãi suất tiền gửi lớn hơn lãi suất tiền vay- theo phản ứng di truyền làm suy yếu khả năng tự vững về tài chính của tổ chức tài chính và ngân hàng hoàn toàn lệ thuộc vào trợ cấp của chính phủ Cho vay bao cấp của chính phủ đã dẫn đến tình trạng lựa chọn người vay bị sai lệch, những người khá giả có nhiều mối quan hệ hơn, được tin tưởng hơn thường
cố gắng tìm mọi cách để tiếp cận đến nguồn vốn rẻ và vì vậy mà người nghèo thường khó chen vào các chương trình nay
Cung cấp tín dụng chỉ định chính là nguyên nhân làm cho người vay chuyển vốn vay cho mục tiêu khác Cả hai hoạt động cho vay bao cấp và theo đối tượng mục tiêu đồng thời đã dẫn đến một kết quả là vốn được cung ứng cho các hoạt động kinh tế thứ yếu và nhiều khi không cần thiết
2.2.2.3 Trường phái “OHIO”
Trường phái kiểm soát tài chính do các nhóm nghiên cứu ở trường Đại học Tổng hợp bang Ohio, Hoa Kỳ khởi xướng vì vậy còn được gọi là trường phái “Ohio” Trường phái ohio bị ảnh hưởng sâu sắc của lý thuyết phát triển trong thời gian đó Đánh giá về nông gia nhỏ và nông dân, Shultz đã đưa ra bằng chứng chứng minh nông dân thuần túy ở các nước nghèo không chỉ nhạy bén với giá cả và các nhân tố khác của thị trường mà còn biết phân bổ nguồn lực có hiệu quả Trường phái này ủng hộ sự tự do hóa hoạt động tài chính và hướng trọng tâm vào cả cung tiết kiệm cũng như cầu về tín dụng, tín dụng không chỉ
Trang 39được coi vào đầu vào trong khâu sản xuất mà còn là đầu vào trong quá trình hoạt động của các trung gian tài chính
2.2.2.4 Trường phái thể chế kiểu mới
Trường phái này ra đời và phát triển dựa trên những lập luận của trường phái kiềm chế tài chính và thực tiễn giải quyết vấn đề phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển
Các học giả của trường phái này nghi nghờ giả thuyết cổ điển về thị trường hoàn hảo Quan điểm chung của họ được phân loại như sau:
Thị trường tín dụng nông thôn ở hầu hết các nước đang phát triển đều có nét nổi bật là thông tin không hoàn hảo, thông tin không cân xứng và để mất một
số thị trường Trường phái này coi thông tin là hàng hóa giống như các hàng hóa khác đạt được thông qua một số khoản chi phí biên tương đương với giá trị biên”
Quan điểm về cung cấp tín dụng và nợ khó đòi được đưa ra Trường phái này coi cung cấp tín dụng cũng như thị trường tín dụng nông thôn không hoàn hảo và bị chia cắt không phải là kết quả của sự can thiệp của chính phủ mà là kết quả của chi phí giao dịch không có số không
Đề cập đến vấn đề tài sản thế chấp và giải pháp kiến nghị Nông dân luôn vấp phải những khó khăn trong vấn đề thế chấp khi đi vay, đặc biệt là người nghèo Quan điểm này cho rằng vấn đề trên được giải quyết bằng vấn đề “tín chấp” thông qua sự đảm bảo của hợp tác xã và các nhóm nông dân được thành lập chính thức nhằm giúp đỡ người nghèo vượt qua tình trạng thiếu vốn
Quan điểm về thị trường tín dụng không chính thức thực tế cả trường phái
cổ điển và trường phái kiềm chế tài chính chỉ lý giải được một phần hoạt động của thị trường không chính thức Những học giả xây dựng trường phái này cho rằng tình trạng thông tin không hoàn hảo có thể lý giải tốt hơn những đặc điểm chung: (i) tỷ lệ lãi suất tiền gửi và tiền vay không chính thức nói chung đều cao hơn tỷ lệ lãi suất ở khu vực chính thức; (ii) tín dụng không chính thức chủ yếu
Trang 40được dùng vào hoạt động sản xuất; (iii) lãi suất cho vay không chính thức cao không thể lý giải là lợi nhuận độc quyền; (iv) lý giải về thị trường tín dụng không chính thức là thị trường cạnh tranh thì xác đáng hơn thị trường độc quyền Tình trạng chia cắt thị trường là kết quả của những mắc mớ về thông tin; (v) trong một số trường hợp thị trường không chính thức được phân bổ rất hiệu quả, nhưng trong các trường hợp khác thì không
Quan điểm về tác động chương trình đào tạo cho vay trợ giá đối với phát triển nông nghiệp Các học giả xây dựng trường phái kinh tế thể chế hóa kiểu mới khuyến nghị rằng chương trình tín dụng rẻ sẽ thành công nếu có được thiết
kế trong trường hợp khi và chỉ khi cơ cấu thể chế hóa nông thôn hoàn thiện có hiệu quả
2.2.2.5 Tiếp cận đa hệ thống-xu hướng mở rộng tín dụng cho người nghèo
Phương pháp tiếp cận đa hệ thống sẽ đề cập đến các giải pháp nhằm đạt được các dịch vụ tài chính có hiệu quả khi cung cấp tín dụng cho người nghèo và khả năng thực thi của các tổ chức tài chính và độ bền vững của hệ thống Phương pháp này cũng đề cập đến sự can thiệp mang tính chiến lược trong tín dụng vi mô và các yết tố quyết định sự lựa chọn tối ưu của những chiến lược can thiệp này
Kinh nghiệm của các nước đang phát triển đã chỉ ra rằng: người nghèo thường không thu được lợi ích từ sự kiềm chế tài chính Trên thực tế, họ gánh chịu phần lớn cái giá của sự kiềm chế này Người ta đang nhận ra rằng một tập hợp đầy đủ các dịch vụ tài chính cho hộ gia đình và người nghèo cũng như tất cả các thành phần khác phụ thuôc trước hết vào chất lượng cũng như tính hiệu quả của các trung gian tài chính và khả năng tồn tại của các dịch vụ tài chính này, đến lượt chúng, lại phụ thuộc vào sự phát triển và sự lành mạnh của toàn bộ hệ thống tài chính Do vậy sự tiếp cận đa hệ thống có vai trò quan trọng trong việc cung cấp tín dụng cho người nghèo nói chung và các hộ gia đình nói riêng