1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KINH TẾ VĨ MÔ NÂNG CAO

29 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 729,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HÃY PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20162020. ĐẠI DỊCH COVID 19 TÁC ĐỘNG THẾ NÀO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2020, MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2021. CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM ĐẠT MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NĂM 2021

Trang 1

BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

-*** -

TIỂU LUẬN

HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ NÂNG CAO

Đề tài: HÃY PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2020 ĐẠI DỊCH COVID 19 TÁC ĐỘNG THẾ NÀO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2020, MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM

2021 CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM ĐẠT MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG

KINH TẾ NĂM 2021

Họ và tên học viên : Trần Văn Lâm

Mã số học viên : QK02005 Lớp : K2QK Giảng viên giảng dạy : TS Nguyễn Phương Lan

Hà Nội-2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

I.Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020 2

1.1.Thành tựu kinh tế 2

1.2.Những hạn chế, bất cập trong giai đoạn 2016-2020 7

II.Tác động của đại dịch Covid 19 đến tăng trưởng kinh tế năm 2020 9

2.1 Tình hình đại dịch Covid-19 trên thế gới và Việt Nam 9

2.2 Tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ Covid-19 11

III.Mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2021 17

3.1.Mục tiêu 17

3.2 Thách thức 19

IV.Các chính sách vĩ mô nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2021 21

KẾT LUẬN 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 3

MỞ ĐẦU

Đại dịch Covid-19 diễn ra từ cuối năm 2019 đến nay, gây ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới, hiện vẫn đang diễn biến phức tạp Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng, kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động không nhỏ từ đại dịch Covid-19 Bằng việc tổng hợp các tư liệu và số liệu thống kê, bài viết phân tích tác động của đại dịch Covid-19 đến sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở Việt Nam Từ đó, gợi mở một số đề xuất cho sự phát triển bền vững trong thời gian tới

Đại dịch Covid-19 gây ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả quốc gia, hiện vẫn diễn biến phức tạp Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng Việt Nam là một quốc gia có độ mở nền kinh tế lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng, cũng chịu nhiều tác động của dịch bệnh Covid-19 Mặc dù nước ta đã có sự kiểm soát dịch bệnh thành công bước đầu, nhưng Covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến tất

cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, gây gián đoạn chuỗi cung ứng sản xuất và lưu thông hàng hóa, một số ngành như: xuất, nhập khẩu, hàng không, du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, y tế, giáo dục, lao động, việc làm bị tác động trực tiếp; nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô, v.v Bài viết tổng hợp thông tin và tập trung phân tích tác động của đại dịch Covid-19 đến tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số ý kiến

Trang 4

I.Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020

Việt Nam đang được xem là câu chuyện thành công của thế giới khi tăng trưởng kinh tế luôn nằm trong tốp đầu suốt thập niên vừa qua

Kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật trong giai đoạn 2016-2020, tô đậm thành tựu của 35 năm Đổi mới với những bước tiến vượt bậc

Nâng cao vị thế và xây dựng cơ đồ vững mạnh

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, nhiều dấu ấn nổi bật, đột phá

Quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019 diễn ra mạnh mẽ, có nhiều chuyển biến tích cực

và thực chất hơn

Tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng tăng cường sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tăng trưởng dựa trên chất lượng là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước

Việt Nam đã có 4 năm liên tiếp 2016-2019 cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, năm sau tốt hơn năm trước, tạo đà để Việt Nam đứng vững trong sóng gió

Việt Nam thuộc nhóm các nước tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới, kinh

tế vĩ mô duy trì ổn định, cải cách thể chế được đẩy mạnh, tổng số doanh nghiệp tăng gấp 1,5 lần Đây là thành tựu chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng

Trang 5

Theo Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội năm 2020 và 5 năm 2016-2020, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm

Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, nhưng tăng trưởng vẫn đạt 2,91%; là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trong khu vực

và trên thế giới

Năng suất lao động giai đoạn 2016-2020 tăng 5,8% vượt mục tiêu đề ra; chỉ

số giá tiêu dùng giảm từ 18,6% năm 2011 xuống dưới 4% giai đoạn 2016-2020; xuất nhập khẩu tăng 1,7 lần, xuất siêu 5 năm liên tục; thương mại điện tử tăng 25%, trở thành một kênh phân phối quan trọng của nền kinh tế; du lịch tăng trưởng bình quân gần 30%/năm, đạt 18 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2019, tăng hơn

10 triệu lượt so với năm 2015

Phân tích kết quả phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, Phó giáo Tiến sỹ Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, cho rằng dù vẫn còn có những mặt tồn tại, nhưng công tâm đánh giá, 5 năm qua là 5 năm thành công về phát triển kinh tế của Việt Nam

sư-Trong 5 năm qua (2016-2020) cơ cấu nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi mạnh

mẽ Trong đó, kinh tế tư nhân dần trở thành một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp đến 40% tổng GDP Đây là sự phát triển đúng hướng, tạo đà cho nền kinh tế đi vào quỹ đạo tăng trưởng phát triển

Trong 5 năm qua, nhất là năm 2020, việc thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số vào nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ Đây được xem là động lực trong thời cơ mới, để giúp nền kinh tế tăng trưởng, năng suất lao động cao

Không chỉ đạt thành tựu về các chỉ số kinh tế, các chỉ số xã hội khác cũng có những dấu ấn đáng khen ngợi Nhiệm kỳ qua, phát triển văn hoá xã hội đạt kết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.750 USD

Quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015 Xây dựng nông thôn mới hoàn thành trước thời hạn gần 2 năm; đến cuối năm 2020 có khoảng 63% xã

Trang 6

đạt chuẩn, vượt xa mục tiêu đề ra (50%) Nhiều địa phương đã nỗ lực vươn lên mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước

Dấu ấn không thể không nhắc đến trong nhiệm kỳ qua đó là thành tựu của quá trình hội nhập quốc tế

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng tại lễ kỷ niệm 75 năm thành lập Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 31/12/2020, đến năm 2020, Việt Nam đã ký 15 Hiệp định FTA (năm 2020 Việt Nam đã phê chuẩn và triển khai có hiệu quả EVFTA; tham gia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và ký FTA Việt Nam-Anh), đang đàm phán 2 FTA; có 16 đối tác chiến lược, 11 đối tác chiến lược toàn diện; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực;

có 71 nước đã công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường

Theo Tiến sỹ Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ với tinh thần Việt Nam là bạn và đối tác với mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã tích cực đàm phán và ký nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) song phương và đa phương

Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh, gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu Từ một nước nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng xuất nhập khẩu, thậm chí là xuất siêu

Việc có quan hệ FTA với các nền kinh tế lớn và phát triển tại các khu vực địa lý khác nhau đã giúp Việt Nam đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại và có được cơ cấu thị trường hợp lý hơn, không quá phụ thuộc vào một khu vực thị trường nào Đây là minh chứng cho các nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy sự ổn định cũng như tiềm năng phát triển của nền kinh tế Việt Nam

Uy tín, vai trò, vị thế của Việt Nam, vì thế cũng tăng lên rõ rệt trên trường quốc tế Các hiệp định thương mại đi vào thực thi đã giống như các “tuyến cao tốc” rộng mở, nối gần hơn doanh nghiệp Việt với thế giới

Đó là những con số biết nói, là nỗ lực của cả hệ thống chính trị, không phải trong một sớm một chiều Những thành tích đạt được đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao

Trang 7

Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam đã tạo ra một “câu chuyện huyền thoại” trong công cuộc giảm nghèo với chỉ số HDI (chỉ

số phát triển con người) năm 2019 là 0,63, xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước, tức nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số Phát triển nguồn nhân lực (HDI) cao nhất trên thế giới

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá năm 2020 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN

Việt Nam được xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 2018; năng lực cạnh tranh của Việt Nam được Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp thứ 67/141 quốc gia, vùng lãnh thổ, tăng 10 bậc so với năm 2018

Theo Báo cáo phát triển bền vững 2020 của Liên hợp quốc, Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á duy nhất đạt được năm mục tiêu hành động của Liên hợp quốc, trong đó có các biện pháp giảm khí thải CO2, thúc đẩy năng lượng tái tạo và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), từ năm 2010-2020, Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tăng từ 0,66 lên 0,69

Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tiếp tục cao hơn mức trung bình của các nước có cùng mức thu nhập mặc dù mức chi tiêu công cho y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội thấp hơn

Trong “bầu trời u ám” kinh tế thế giới năm 2020 do đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng đáng ghi nhận và tự hào

Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chưa bao giờ Việt Nam có được vị thế và cơ đồ vững chắc như hiện nay”

Những thành công đó không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả tổng hợp và thước đo hiệu quả khả năng tự chủ, tự cường, phản ứng chính sách và phản ứng thị trường đồng bộ cùng một quá trình phấn đấu lâu dài, không ngừng nghỉ của Đảng, Chính phủ và Nhà nước, cũng như toàn thể cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân Việt Nam

Trang 8

Dấu ấn lãnh đạo của Đảng

Những kết quả, thành tựu đạt được trong 5 năm qua có nhiều nguyên nhân,

cả khách quan và chủ quan, nhưng quan trọng nhất là có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp uỷ, tổ chức đảng trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, xử lý kịp thời, có hiệu quả nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn

Dấu ấn lãnh đạo kinh tế của Đảng trong nhiệm kỳ này được thể hiện rõ nét thông qua các cương lĩnh, chiến lược và văn kiện chính thức Đại hội Đảng toàn quốc khóa XII, cũng như một loạt quyết sách quan trọng khác được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành

Qua đó nhằm tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, trên nền tảng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ và chủ động hội nhập quốc tế

Trong nhiệm kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã nhiều lần tham dự Hội nghị Chính phủ với các địa phương

Tại những Hội nghị này, người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Quốc hội đều đưa ra những định hướng, và đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước

Trong các ưu tiên của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII, hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được đặt lên là hàng đầu

Với chủ trương xây dựng Chính phủ kiến tạo, phát triển, phục vụ người dân

và doanh nghiệp, tập trung tháo gỡ vướng mắc về thể chế, thúc đẩy hoạt động đầu

tư, kinh doanh cho khởi nghiệp sáng tạo, Chính phủ, và người đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm để thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, hoàn thiện các loại thị trường

Qua đó, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; hình thành

hệ thống thể chế có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và thế giới và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, lành mạnh

Trang 9

Chính vì vậy, nhiều "điểm nghẽn" về thể chế đã được Chính phủ phát hiện,

xử lý Nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, kinh doanh được tháo

gỡ Cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh

Trong nhiệm kỳ, cùng với việc Đảng đã ban hành Nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Chính phủ đã phát động thành công “đợt sóng” cải cách hành chính lớn

Nhờ vậy, Việt Nam đã tăng 20 bậc về môi trường kinh doanh, tăng 10 bậc

về năng lực cạnh tranh theo các bảng xếp hạng toàn cầu

Khoảng cách điểm số về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với nhóm các nước dẫn dầu ASEAN đang thu hẹp lại

Với phương châm hành động xây dựng “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân,” đã mang lại thành quả là kinh tế

vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện

Những kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam chuẩn bị bước vào Kế hoạch 2021-2026 và Chiến lược mới 2021-2030, hướng tới sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững

1.2.Những hạn chế, bất cập trong giai đoạn 2016-2020

Báo cáo tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XIV về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhìn nhận, bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế Việt Nam vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập

Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 không đạt kế hoạch đề ra do tác động, ảnh hưởng lớn, ngoài dự báo của đại dịch Covid-19 Điều này đã dẫn đến tăng trưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 không đạt mục tiêu đề ra

Dự kiến kinh tế 2020 tăng trưởng 2-3%, thấp hơn mục tiêu 6,8% Kết quả này khiến GDP giai đoạn 5 năm 2016-2020 chỉ tăng bình quân khoảng 5,9% trong khi mục tiêu là 6,8% Nhiều ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề, số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng mạnh

Trang 10

Bên cạnh đó, thu nhập bình quân đầu người cũng thấp hơn mục tiêu đề ra Đến cuối năm 2020, ước chỉ tiêu này đạt khoảng 2.750 USD, thấp hơn mục tiêu 3.200-3.500 USD

Trong số 9 chỉ tiêu kinh tế cho giai đoạn 5 năm 2016-2020, có 6 chỉ tiêu đạt

kế hoạch, 2 chỉ tiêu không đạt kế hoạch và 1 chỉ tiêu đang tính toán

Mặc dù vậy, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, kết quả năm 2020 cũng được Chính phủ đánh giá là thành công Việt Nam đã có 4 năm liên tiếp 2016 -

2019 cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, năm sau tốt hơn năm trước

Năm 2020 chịu tác động lớn của đại dịch Covid-19, nhưng Chính phủ đã thành công trong phòng chống, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh

tế xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao

Kinh tế vĩ mô ổn định, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường, quốc phòng,

an ninh, đối ngoại tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực

Thời gian còn lại của năm 2020, theo Thủ tướng, các cấp, các ngành cần tiếp tục quyết liệt hành động, tập trung thực hiện “mục tiêu kép”, vừa phòng chống dịch bệnh hiệu quả, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vừa tận dụng tốt các cơ hội, nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế trong trạng thái bình thường mới

Chính phủ tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, kích cầu tiêu dùng phù hợp, phát triển mạnh thị trường trong nước, thúc đẩy xuất khẩu trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo

Đồng thời, các cấp các ngành tuyệt đối không chủ quan, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các giải pháp phòng, chống dịch và kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, người dân gặp khó khăn, nhất là tập trung hỗ trợ người dân miền Trung khắc phục nhanh hậu quả do bão lũ gây ra; nỗ lực phấn đấu đạt mức cao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2020 và 5 năm 2016 -

Trang 11

2020, thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Về mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới, Thủ tướng trình Quốc hội 12 chỉ tiêu chủ yếu về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2021 Trong đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6%; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng khoảng 45 - 47%; năng suất lao động xã hội tăng khoảng 4,8%; tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 66%; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế khoảng 91%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm 1 - 1,5 điểm phần trăm; tỷ lệ che phủ rừng khoảng 42%

Trong giai đoạn 2021 - 2025, dự kiến có 15 chỉ tiêu chủ yếu; trong đó tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,5 - 7%; đến năm 2025, GDP bình quân đầu người đạt 4.700 - 5.000 USD; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 20% GDP; tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng khoảng 45%; năng suất lao động tăng bình quân trên 6,5%/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2025 là 70%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm 1 - 1,5 điểm phần trăm/năm; tỷ lệ che phủ rừng ổn định 42%

Đánh giá về định hướng cho giai đoạn 2021-2025, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh

tế Quốc hội Vũ Hồng Thanh đề nghị Chính phủ chỉ đạo xây dựng mục tiêu tăng trưởng thận trọng; hoàn thiện thể chế, chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số

Đồng thời, tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững

II.Tác động của đại dịch Covid 19 đến tăng trưởng kinh tế năm 2020

2.1 Tình hình đại dịch Covid-19 trên thế gới và Việt Nam

Theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đến ngày 22/10/2020, số người mắc COID-19 trên thế giới là 41.518.941 người mắc, trong

đó 1.136.848 người tử vong Đứng đầu thế giới là Mỹ với 8.584.850 ca nhiễm và 227.409 người tử vong; tiếp theo sau là Ấn Độ, Braxin, v.v Ở khu vực ASEAN,

Trang 12

Indonexia đã vượt Philippines trở thành nước dẫn đầu với 373.109 người nhiễm, 12.857 người tử vong Việt Nam có 1.145 ca nhiễm, trong đó có 35 người tử vong

Từ đầu năm 2020 đến nay, đại dịch COVID-19 đã trở thành chủ đề “nóng”, được bàn luận nhiều nhất ở tất cả mọi quốc gia trên thế giới Khởi phát từ Vũ Hán (Trung Quốc), nhưng Trung Quốc khá thành công trong khống chế và kiểm soát dịch bệnh, đến ngày 17/10/2020, số ca nhiễm của Trung Quốc đứng thứ 53/215 quốc gia Sau 9 tháng lây lan, đến nay, theo WHO, tâm dịch Covid-19 đã chuyển

từ châu Á sang châu Âu, sự bùng phát mạnh ở châu Âu có thể lý giải như sau:

Thứ nhất, châu Âu và Mỹ là những vùng khí hậu lạnh, rất thích hợp với sự

phát triển của Covid-19 So với các quốc ở châu Á, châu Âu có tỷ lệ người già cao, khả năng chống đỡ với bệnh viêm đường hô hấp kém hơn, nên tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong cao hơn

Thứ hai, hệ thống y tế công cộng ở một số quốc gia châu Âu như: Pháp, Italia

bị quá tải, thiếu nhân lực, thiếu thiết bị phòng chống

Thứ ba, tâm lý chủ quan ở châu Âu lớn, công dân châu Âu luôn được đề cao

quyền riêng tư và tự do cá nhân Nhiều lãnh đạo các quốc gia châu Âu cho rằng, dịch bệnh Covid-19 chỉ là cúm mùa như một số năm đã xảy ra, chủ trương để người dân tự thích nghi (không can thiệp, để thả tự do), tự miễn dịch cộng đồng

Vì vậy, các quốc gia châu Âu đã chủ quan, thiếu biện pháp kiểm soát dịch bệnh kịp thời

Thứ tư, Hiệp ước Liên minh Châu Âu (Hiệp ước Schengen) cho phép người

dân các nước được tự do đi lại, cư trú, điều đó kéo theo sự lây lan mầm bệnh Covid-19, loại bệnh truyền nhiễm, dễ lây lan do tiếp xúc thông thường

Thứ năm, các quốc gia châu Âu dường như chú trọng vào yếu tố kinh tế và

chính trị nhiều hơn, nếu mạnh tay chống dịch sẽ làm tổn thương đến kinh tế và động chạm đến các vấn đề chính trị

Ở Việt Nam, ngay từ khi phát hiện ca bệnh đầu tiên (23/01/2020), với sự chỉ đạo tích cực của Đảng và Chính phủ, bằng các biện pháp cách ly, truy vết, theo dõi và hạn chế người từ vùng dịch, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng trong phòng chống dịch Sau 2 đợt bùng phát, đến 22/10/2020, có 1.145 người

Trang 13

nhiễm Covid-19, trong đó 35 người tử vong Mặc dù là một trong số ít các nước kiểm soát tốt dịch Covid-19, nhưng kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động và ảnh hưởng nghiêm trọng

2.2 Tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ Covid-19

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới và đang diễn biến rất phức tạp, khó lường, đẩy thế giới và nhiều nước rơi vào khủng hoảng kép về y tế và kinh tế Về kinh tế, hầu hết các quốc gia rơi vào suy thoái nghiêm trọng, kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm mạnh, trong

Trong 3 nền kinh tế lớn nhất thế giới, EU dự báo giảm 7,5%, Mỹ giảm 5,9%, và Trung Quốc tăng 1,2% GDP Để ngăn chặn cú sốc kinh tế do đại dịch Covid-19 gây ra, các quốc gia đều tung ra các gói hỗ trợ kịp thời Cụ thể, Chính phủ Mỹ cam kết chi hơn 3.000 tỷ USD để giải cứu nền kinh tế Ngày 01/10/2020,

-Hạ viện Mỹ đã chấp thuận gói cứu trợ Covid-19 trị giá 2.200 tỉ USD Chính phủ Trung Quốc, tại kỳ họp Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (28/5/2020) đã cam kết chi 4.000 tỷ nhân dân tệ (tương đương 559 tỷ USD) cho gói kích thích kinh

tế, không kém gói kích thích kinh tế 826 tỷ USD của châu Âu Nếu tình hình còn khó khan, khả năng phải tăng qui mô các gói cứu trợ là không tránh khỏi

Việt Nam là một trong số ít các nước kiểm soát tốt dịch Covid-19, nhưng vẫn bị ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nền kinh tế, sau 9 tháng đã có dấu hiệu phục hồi rõ nét, sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát qua 2 lần bùng phát (tháng

3 và tháng 7) Quý I năm 2020, tốc độ tăng trưởng đạt 3,82%, quý II giảm còn 0,39%, quí III tăng trở lại đạt 2,62%, đưa con số tăng trưởng của 9 tháng năm

Trang 14

2020 lên 2,12% Mặc dù tăng trưởng vẫn là một con số dương, nhưng đây là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ của các năm trong giai đoạn 2011-2020 và là một trong số ít các quốc gia có tăng trưởng dương

Theo kết quả điều tra đột xuất của Tổng cục Thống kê về tác động của dịch Covid-19 tới doanh nghiệp (lần 1) cho thấy, đến 20/4/2020, với 126.565 doanh nghiệp tham gia trả lời, có tới 85,7% số doanh nghiệp bị tác động bởi dịch Covid-

19 Trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ chịu nhiều tác động nhất từ dịch Covid-19 với tỷ lệ doanh nghiệp bị tác động lần lượt là 86,1%

và 85,9%; trong khi khu vực nông, lâm, thủy sản chịu ảnh hưởng ít hơn với 78,7% Một số ngành kinh tế có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-

19 cao, điển hình như các ngành: hàng không 100%, dịch vụ lưu trú 97,1%, dịch

vụ ăn uống 95,5%, hoạt động của các đại lý du lịch 95,7%, giáo dục và đào tạo 93,9%, các ngành dệt may, sản xuất da, các sản phẩm từ da, sản xuất các sản phẩm điện tử, sản xuất ô tô đều có tỷ lệ trên 90%

Dịch vụ, du lịch là ngành phản ánh rõ nét nhất các ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19 Các lĩnh vực như: du lịch, vận tải (nhất là vận tải hàng không) có mức sụt giảm mạnh, chủ yếu do việc hạn chế đi lại và giãn cách xã hội Trong 6 tháng đầu năm 2020, lượng khách quốc tế giảm tới -55,8% so với cùng kỳ năm trước (quý 1 giảm -18%); khách du lịch trong nước cũng giảm tới -27,3% (quý 1 giảm 6%) Doanh thu toàn ngành giảm -77,8%, cao hơn nhiều so với mức giảm -11% của quý 1/2020 Theo Hiệp hội Vận tải hàng không Quốc tế (IATA), đại dịch Covid-19 khiến doanh thu ngành hàng không giảm 80% trong nửa đầu năm 2020, trong khi vẫn phải trang trải các chi phí liên quan đến phi hành đoàn, hoạt động bảo trì, nhiên liệu, phí sân bay và bảo quản máy bay Theo dự báo của IATA, các hãng tại Việt Nam mất đi doanh thu khoảng 4 tỉ USD, Vietnam Airlines giảm doanh thu 50.000 tỉ đồng, dự kiến lỗ 29.000 tỉ đồng, thâm hụt 16.000 tỉ đồng, sẽ rơi vào trạng thái mất thanh khoản nếu không có hỗ trợ của Chính phủ

Tuy nhiên, trong quý 3, các khu vực kinh tế đều có dấu hiệu phục hồi và khởi sắc hơn, bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện bình thường mới Theo Tổng cục Thống kê, tính chung 9 tháng năm 2020, GDP ước tăng 2,12% so với

Ngày đăng: 29/08/2021, 19:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w