HÃY PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20162020. ĐẠI DỊCH COVID 19 TÁC ĐỘNG THẾ NÀO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2020, MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2021. CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM ĐẠT MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NĂM 2021
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
-*** -TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ NÂNG CAO
Đề tài: HÃY PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2020 ĐẠI DỊCH COVID 19 TÁC ĐỘNG THẾ NÀO ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2020, MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM
2021 CHÍNH SÁCH VĨ MÔ NHẰM ĐẠT MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG
Trang 2Hà Nội-2021
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I.Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020 2
1.1.Thành tựu kinh tế 2
1.2.Những hạn chế, bất cập trong giai đoạn 2016-2020 7
II.Tác động của đại dịch Covid 19 đến tăng trưởng kinh tế năm 2020 9
2.1 Tình hình đại dịch Covid-19 trên thế gới và Việt Nam 9
2.2 Tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ Covid-19 11
III.Mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2021 17
3.1.Mục tiêu 17
3.2 Thách thức 19
IV.Các chính sách vĩ mô nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2021 .21
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 4MỞ ĐẦU
Đại dịch Covid-19 diễn ra từ cuối năm 2019 đến nay, gây ảnh hưởng toàndiện, sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới, hiện vẫn đang diễn biến phứctạp Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng, kinh tế Việt Nam cũng chịutác động không nhỏ từ đại dịch Covid-19 Bằng việc tổng hợp các tư liệu và sốliệu thống kê, bài viết phân tích tác động của đại dịch Covid-19 đến sự tăngtrưởng kinh tế và phát triển bền vững ở Việt Nam Từ đó, gợi mở một số đề xuấtcho sự phát triển bền vững trong thời gian tới
Đại dịch Covid-19 gây ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả quốc gia,hiện vẫn diễn biến phức tạp Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng.Việt Nam là một quốc gia có độ mở nền kinh tế lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng,cũng chịu nhiều tác động của dịch bệnh Covid-19 Mặc dù nước ta đã có sựkiểm soát dịch bệnh thành công bước đầu, nhưng Covid-19 đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, gây gián đoạn chuỗi cung ứng sảnxuất và lưu thông hàng hóa, một số ngành như: xuất, nhập khẩu, hàng không, dulịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, y tế, giáo dục, lao động, việc làm bị tác động trựctiếp; nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô,v.v Bài viết tổng hợp thông tin và tập trung phân tích tác động của đại dịchCovid-19 đến tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững ở Việt Nam, từ đó đề xuấtmột số ý kiến
Trang 5I.Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020
Việt Nam đang được xem là câu chuyện thành công của thế giới khi tăngtrưởng kinh tế luôn nằm trong tốp đầu suốt thập niên vừa qua
Kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diệntrên hầu hết các lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật trong giai đoạn 2016-2020, tôđậm thành tựu của 35 năm Đổi mới với những bước tiến vượt bậc
Nâng cao vị thế và xây dựng cơ đồ vững mạnh
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, kinh tế Việt Nam đãđạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, nhiều dấu ấn nổi bật, đột phá
Quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng của ViệtNam trong giai đoạn 2016-2019 diễn ra mạnh mẽ, có nhiều chuyển biến tích cực
và thực chất hơn
Tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng tăng cường sử dụnghiệu quả các nguồn lực, tăng trưởng dựa trên chất lượng là một trong những chủtrương lớn của Đảng và Nhà nước
Việt Nam đã có 4 năm liên tiếp 2016-2019 cơ bản hoàn thành và hoànthành vượt mức kế hoạch đề ra, năm sau tốt hơn năm trước, tạo đà để Việt Namđứng vững trong sóng gió
Việt Nam thuộc nhóm các nước tăng trưởng kinh tế cao nhất thế giới, kinh
tế vĩ mô duy trì ổn định, cải cách thể chế được đẩy mạnh, tổng số doanh nghiệptăng gấp 1,5 lần Đây là thành tựu chung của cả hệ thống chính trị, cộng đồngdoanh nghiệp và toàn thể nhân dân, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng
Trang 6Theo Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế-xã hội năm 2020 và 5năm 2016-2020, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao, bình quân6,8%/năm.
Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, nhưng tăngtrưởng vẫn đạt 2,91%; là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trongkhu vực và trên thế giới
Năng suất lao động giai đoạn 2016-2020 tăng 5,8% vượt mục tiêu đề ra; chỉ
số giá tiêu dùng giảm từ 18,6% năm 2011 xuống dưới 4% giai đoạn 2016-2020;xuất nhập khẩu tăng 1,7 lần, xuất siêu 5 năm liên tục; thương mại điện tử tăng25%, trở thành một kênh phân phối quan trọng của nền kinh tế; du lịch tăngtrưởng bình quân gần 30%/năm, đạt 18 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2019,tăng hơn 10 triệu lượt so với năm 2015
Phân tích kết quả phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2016-2020, Phó giáo Tiến sỹ Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế, cho rằng dù vẫn còn có nhữngmặt tồn tại, nhưng công tâm đánh giá, 5 năm qua là 5 năm thành công về pháttriển kinh tế của Việt Nam
sư-Trong 5 năm qua (2016-2020) cơ cấu nền kinh tế Việt Nam chuyển đổimạnh mẽ Trong đó, kinh tế tư nhân dần trở thành một động lực thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và đóng góp đến 40% tổng GDP Đây là sự phát triển đúnghướng, tạo đà cho nền kinh tế đi vào quỹ đạo tăng trưởng phát triển
Trong 5 năm qua, nhất là năm 2020, việc thực hiện chuyển đổi số, ứngdụng công nghệ số vào nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ Đây đượcxem là động lực trong thời cơ mới, để giúp nền kinh tế tăng trưởng, năng suấtlao động cao
Không chỉ đạt thành tựu về các chỉ số kinh tế, các chỉ số xã hội khác cũng
có những dấu ấn đáng khen ngợi Nhiệm kỳ qua, phát triển văn hoá xã hội đạtkết quả tích cực, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, đời sống nhân dân tiếp tụcđược cải thiện Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.750 USD
Quy mô GDP tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015 Xây dựng nông thônmới hoàn thành trước thời hạn gần 2 năm; đến cuối năm 2020 có khoảng 63% xã
Trang 7đạt chuẩn, vượt xa mục tiêu đề ra (50%) Nhiều địa phương đã nỗ lực vươn lênmạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước.
Dấu ấn không thể không nhắc đến trong nhiệm kỳ qua đó là thành tựu củaquá trình hội nhập quốc tế
Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng tại lễ kỷ niệm 75 năm thành lập Bộ Kếhoạch và Đầu tư ngày 31/12/2020, đến năm 2020, Việt Nam đã ký 15 Hiệp địnhFTA (năm 2020 Việt Nam đã phê chuẩn và triển khai có hiệu quả EVFTA; thamgia ký Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và ký FTA ViệtNam-Anh), đang đàm phán 2 FTA; có 16 đối tác chiến lược, 11 đối tác chiếnlược toàn diện; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trênnhiều lĩnh vực; có 71 nước đã công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thịtrường
Theo Tiến sỹ Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủtướng Chính phủ với tinh thần Việt Nam là bạn và đối tác với mọi quốc gia trênthế giới, Việt Nam đã tích cực đàm phán và ký nhiều hiệp định thương mại tự dothế hệ mới (FTA) song phương và đa phương
Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của ViệtNam phát triển mạnh, gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu Từ một nước nhậpsiêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng xuất nhập khẩu, thậm chí là xuất siêu.Việc có quan hệ FTA với các nền kinh tế lớn và phát triển tại các khu vựcđịa lý khác nhau đã giúp Việt Nam đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại và cóđược cơ cấu thị trường hợp lý hơn, không quá phụ thuộc vào một khu vực thịtrường nào Đây là minh chứng cho các nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy sự ổnđịnh cũng như tiềm năng phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Uy tín, vai trò, vị thế của Việt Nam, vì thế cũng tăng lên rõ rệt trên trườngquốc tế Các hiệp định thương mại đi vào thực thi đã giống như các “tuyến caotốc” rộng mở, nối gần hơn doanh nghiệp Việt với thế giới
Đó là những con số biết nói, là nỗ lực của cả hệ thống chính trị, không phảitrong một sớm một chiều Những thành tích đạt được đã được cộng đồng quốc tếghi nhận và đánh giá cao
Trang 8Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam đã tạo ramột “câu chuyện huyền thoại” trong công cuộc giảm nghèo với chỉ số HDI (chỉ
số phát triển con người) năm 2019 là 0,63, xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước,tức nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số Phát triển nguồnnhân lực (HDI) cao nhất trên thế giới
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá năm 2020 Việt Nam có thể trở thànhnền kinh tế đứng thứ 4 ASEAN
Việt Nam được xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu
tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 2018; năng lực cạnh tranh của Việt Namđược Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp thứ 67/141 quốc gia, vùng lãnh thổ, tăng 10bậc so với năm 2018
Theo Báo cáo phát triển bền vững 2020 của Liên hợp quốc, Việt Nam làquốc gia Đông Nam Á duy nhất đạt được năm mục tiêu hành động của Liên hợpquốc, trong đó có các biện pháp giảm khí thải CO2, thúc đẩy năng lượng tái tạo
và nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), từ năm 2010-2020, Chỉ số vốn nhân lựccủa Việt Nam tăng từ 0,66 lên 0,69
Chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam tiếp tục cao hơn mức trung bình của cácnước có cùng mức thu nhập mặc dù mức chi tiêu công cho y tế, giáo dục và bảotrợ xã hội thấp hơn
Trong “bầu trời u ám” kinh tế thế giới năm 2020 do đại dịch COVID-19,Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng đáng ghi nhận và tự hào
Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chưabao giờ Việt Nam có được vị thế và cơ đồ vững chắc như hiện nay”
Những thành công đó không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả tổng hợp vàthước đo hiệu quả khả năng tự chủ, tự cường, phản ứng chính sách và phản ứngthị trường đồng bộ cùng một quá trình phấn đấu lâu dài, không ngừng nghỉ củaĐảng, Chính phủ và Nhà nước, cũng như toàn thể cộng đồng doanh nghiệp vànhân dân Việt Nam
Trang 9Dấu ấn lãnh đạo của Đảng
Những kết quả, thành tựu đạt được trong 5 năm qua có nhiều nguyên nhân,
cả khách quan và chủ quan, nhưng quan trọng nhất là có sự lãnh đạo, chỉ đạođúng đắn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp
uỷ, tổ chức đảng trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII củaĐảng, xử lý kịp thời, có hiệu quả nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn.Dấu ấn lãnh đạo kinh tế của Đảng trong nhiệm kỳ này được thể hiện rõ nétthông qua các cương lĩnh, chiến lược và văn kiện chính thức Đại hội Đảng toànquốc khóa XII, cũng như một loạt quyết sách quan trọng khác được Ban Chấphành Trung ương, Bộ Chính trị ban hành
Qua đó nhằm tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, trên nềntảng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực,ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ và chủ động hội nhập quốc tế
Trong nhiệm kỳ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Chủtịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã nhiều lần tham dự Hội nghị Chính phủvới các địa phương
Tại những Hội nghị này, người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Quốc hội đềuđưa ra những định hướng, và đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng, thể hiện sự quantâm đặc biệt đối với công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Trong các ưu tiên của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lầnthứ XII, hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN được đặt lên là hàng đầu
Với chủ trương xây dựng Chính phủ kiến tạo, phát triển, phục vụ người dân
và doanh nghiệp, tập trung tháo gỡ vướng mắc về thể chế, thúc đẩy hoạt độngđầu tư, kinh doanh cho khởi nghiệp sáng tạo, Chính phủ, và người đứng đầu làThủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm để thể chếhóa chủ trương, đường lối của Đảng, hoàn thiện các loại thị trường
Qua đó, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; hình thành
hệ thống thể chế có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và thế giới và tạo môitrường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, lành mạnh
Trang 10Chính vì vậy, nhiều "điểm nghẽn" về thể chế đã được Chính phủ phát hiện,
xử lý Nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, kinh doanh đượctháo gỡ Cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh
Trong nhiệm kỳ, cùng với việc Đảng đã ban hành Nghị quyết về hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường, Chính phủ đã phát động thành công “đợt sóng” cảicách hành chính lớn
Nhờ vậy, Việt Nam đã tăng 20 bậc về môi trường kinh doanh, tăng 10 bậc
về năng lực cạnh tranh theo các bảng xếp hạng toàn cầu
Khoảng cách điểm số về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh củaViệt Nam so với nhóm các nước dẫn dầu ASEAN đang thu hẹp lại
Với phương châm hành động xây dựng “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêmchính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân,” đã mang lại thành quả là kinh tế
vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chất lượng tăng trưởngđược nâng lên, các cân đối lớn của nền kinh tế được cải thiện
Những kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII có ý nghĩa quan trọng khiViệt Nam chuẩn bị bước vào Kế hoạch 2021-2026 và Chiến lược mới 2021-
2030, hướng tới sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững
1.2.Những hạn chế, bất cập trong giai đoạn 2016-2020
Báo cáo tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XIV về kết quả thực hiện kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, Thủ tướng Nguyễn XuânPhúc nhìn nhận, bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế Việt Nam vẫn còn những tồntại, hạn chế, bất cập
Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 không đạt kế hoạch đề ra dotác động, ảnh hưởng lớn, ngoài dự báo của đại dịch Covid-19 Điều này đã dẫnđến tăng trưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 không đạt mục tiêu đề ra
Dự kiến kinh tế 2020 tăng trưởng 2-3%, thấp hơn mục tiêu 6,8% Kết quảnày khiến GDP giai đoạn 5 năm 2016-2020 chỉ tăng bình quân khoảng 5,9%trong khi mục tiêu là 6,8% Nhiều ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề, sốdoanh nghiệp ngừng hoạt động tăng mạnh
Trang 11Bên cạnh đó, thu nhập bình quân đầu người cũng thấp hơn mục tiêu đề ra.Đến cuối năm 2020, ước chỉ tiêu này đạt khoảng 2.750 USD, thấp hơn mục tiêu3.200-3.500 USD.
Trong số 9 chỉ tiêu kinh tế cho giai đoạn 5 năm 2016-2020, có 6 chỉ tiêu đạt
kế hoạch, 2 chỉ tiêu không đạt kế hoạch và 1 chỉ tiêu đang tính toán
Mặc dù vậy, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, kết quả năm 2020cũng được Chính phủ đánh giá là thành công Việt Nam đã có 4 năm liên tiếp
2016 - 2019 cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, năm sautốt hơn năm trước
Năm 2020 chịu tác động lớn của đại dịch Covid-19, nhưng Chính phủ đãthành công trong phòng chống, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi, phát triển kinh
tế xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao
Kinh tế vĩ mô ổn định, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, bảo đảm an sinh xãhội và đời sống nhân dân Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường, quốcphòng, an ninh, đối ngoại tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực
Thời gian còn lại của năm 2020, theo Thủ tướng, các cấp, các ngành cầntiếp tục quyết liệt hành động, tập trung thực hiện “mục tiêu kép”, vừa phòngchống dịch bệnh hiệu quả, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, vừa tận dụng tốt các cơhội, nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế trong trạng thái bình thường mới
Chính phủ tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đẩy mạnhgiải ngân vốn đầu tư công, kích cầu tiêu dùng phù hợp, phát triển mạnh thịtrường trong nước, thúc đẩy xuất khẩu trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ
mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo nền tảngcho phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo
Đồng thời, các cấp các ngành tuyệt đối không chủ quan, thực hiện nghiêmtúc, hiệu quả các giải pháp phòng, chống dịch và kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp,người lao động, người dân gặp khó khăn, nhất là tập trung hỗ trợ người dânmiền Trung khắc phục nhanh hậu quả do bão lũ gây ra; nỗ lực phấn đấu đạt mứccao nhất các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2020 và 5 năm
Trang 122016 - 2020, thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XIII của Đảng.
Về mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới, Thủ tướng trình Quốc hội 12chỉ tiêu chủ yếu về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường trong kế hoạch pháttriển kinh tế xã hội năm 2021 Trong đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăngkhoảng 6%; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; tỷ trọng đóng gópcủa năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng khoảng 45 - 47%;năng suất lao động xã hội tăng khoảng 4,8%; tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng66%; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế khoảng 91%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đachiều giảm 1 - 1,5 điểm phần trăm; tỷ lệ che phủ rừng khoảng 42%
Trong giai đoạn 2021 - 2025, dự kiến có 15 chỉ tiêu chủ yếu; trong đó tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,5 - 7%; đến năm 2025, GDP bình quânđầu người đạt 4.700 - 5.000 USD; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 20% GDP; tỷtrọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởngkhoảng 45%; năng suất lao động tăng bình quân trên 6,5%/năm; tỷ lệ lao độngqua đào tạo đến năm 2025 là 70%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm 1 -1,5 điểm phần trăm/năm; tỷ lệ che phủ rừng ổn định 42%
Đánh giá về định hướng cho giai đoạn 2021-2025, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh
tế Quốc hội Vũ Hồng Thanh đề nghị Chính phủ chỉ đạo xây dựng mục tiêu tăngtrưởng thận trọng; hoàn thiện thể chế, chủ động tham gia cuộc Cách mạng côngnghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số
Đồng thời, tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, tạomôi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng, tạo điều kiện thuậnlợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững
II.Tác động của đại dịch Covid 19 đến tăng trưởng kinh tế năm 2020
2.1 Tình hình đại dịch Covid-19 trên thế gới và Việt Nam
Theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đến ngày 22/10/2020, sốngười mắc COID-19 trên thế giới là 41.518.941 người mắc, trong
đó 1.136.848 người tử vong Đứng đầu thế giới là Mỹ với 8.584.850 ca nhiễm
và 227.409 người tử vong; tiếp theo sau là Ấn Độ, Braxin, v.v Ở khu vực
Trang 13ASEAN, Indonexia đã vượt Philippines trở thành nước dẫn đầu với 373.109người nhiễm, 12.857 người tử vong Việt Nam có 1.145 ca nhiễm, trong đó có
35 người tử vong
Từ đầu năm 2020 đến nay, đại dịch COVID-19 đã trở thành chủ đề “nóng”,được bàn luận nhiều nhất ở tất cả mọi quốc gia trên thế giới Khởi phát từ VũHán (Trung Quốc), nhưng Trung Quốc khá thành công trong khống chế và kiểmsoát dịch bệnh, đến ngày 17/10/2020, số ca nhiễm của Trung Quốc đứng thứ53/215 quốc gia Sau 9 tháng lây lan, đến nay, theo WHO, tâm dịch Covid-19 đãchuyển từ châu Á sang châu Âu, sự bùng phát mạnh ở châu Âu có thể lý giảinhư sau:
Thứ nhất, châu Âu và Mỹ là những vùng khí hậu lạnh, rất thích hợp với sự
phát triển của Covid-19 So với các quốc ở châu Á, châu Âu có tỷ lệ người giàcao, khả năng chống đỡ với bệnh viêm đường hô hấp kém hơn, nên tỷ lệ nhiễmbệnh và tử vong cao hơn
Thứ hai, hệ thống y tế công cộng ở một số quốc gia châu Âu như: Pháp,
Italia bị quá tải, thiếu nhân lực, thiếu thiết bị phòng chống
Thứ ba, tâm lý chủ quan ở châu Âu lớn, công dân châu Âu luôn được đề
cao quyền riêng tư và tự do cá nhân Nhiều lãnh đạo các quốc gia châu Âu chorằng, dịch bệnh Covid-19 chỉ là cúm mùa như một số năm đã xảy ra, chủ trương
để người dân tự thích nghi (không can thiệp, để thả tự do), tự miễn dịch cộngđồng Vì vậy, các quốc gia châu Âu đã chủ quan, thiếu biện pháp kiểm soát dịchbệnh kịp thời
Thứ tư, Hiệp ước Liên minh Châu Âu (Hiệp ước Schengen) cho phép người
dân các nước được tự do đi lại, cư trú, điều đó kéo theo sự lây lan mầm bệnhCovid-19, loại bệnh truyền nhiễm, dễ lây lan do tiếp xúc thông thường
Thứ năm, các quốc gia châu Âu dường như chú trọng vào yếu tố kinh tế và
chính trị nhiều hơn, nếu mạnh tay chống dịch sẽ làm tổn thương đến kinh tế vàđộng chạm đến các vấn đề chính trị
Ở Việt Nam, ngay từ khi phát hiện ca bệnh đầu tiên (23/01/2020), với sựchỉ đạo tích cực của Đảng và Chính phủ, bằng các biện pháp cách ly, truy vết,
Trang 14theo dõi và hạn chế người từ vùng dịch, chúng ta đã đạt được những kết quảquan trọng trong phòng chống dịch Sau 2 đợt bùng phát, đến 22/10/2020, có1.145 người nhiễm Covid-19, trong đó 35 người tử vong Mặc dù là một trong
số ít các nước kiểm soát tốt dịch Covid-19, nhưng kinh tế Việt Nam cũng chịutác động và ảnh hưởng nghiêm trọng
2.2 Tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ Covid-19
Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các quốc giatrên thế giới và đang diễn biến rất phức tạp, khó lường, đẩy thế giới và nhiềunước rơi vào khủng hoảng kép về y tế và kinh tế Về kinh tế, hầu hết các quốcgia rơi vào suy thoái nghiêm trọng, kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảmmạnh, trong đó có Việt Nam
Với kinh tế thế giới, hoạt động thương mại, đầu tư, du lịch, sản xuất, kinhdoanh, bị đình trệ Báo cáo của IMF và WB (10/2020) dự báo kinh tế thế giớinăm 2020 suy giảm (từ -5,2% đến -4,4%) UNCTAD dự báo FDI toàn cầu sẽ suygiảm khoảng 40% so với năm 2019 và tiếp tục giảm từ 5-10% trong năm 2021;WTO (10/2020) dự báo thương mại thế giới suy giảm khoảng 9,2% năm 2020.Lạm phát toàn cầu năm 2020 dự báo ở mức thấp (1,8-2%) do sức cầu còn yếu,giá dầu giảm mạnh và đứng ở mức thấp
Trong 3 nền kinh tế lớn nhất thế giới, EU dự báo giảm -7,5%, Mỹ giảm-5,9%, và Trung Quốc tăng 1,2% GDP Để ngăn chặn cú sốc kinh tế do đại dịchCovid-19 gây ra, các quốc gia đều tung ra các gói hỗ trợ kịp thời Cụ thể, Chínhphủ Mỹ cam kết chi hơn 3.000 tỷ USD để giải cứu nền kinh tế Ngày01/10/2020, Hạ viện Mỹ đã chấp thuận gói cứu trợ Covid-19 trị giá 2.200 tỉUSD Chính phủ Trung Quốc, tại kỳ họp Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc(28/5/2020) đã cam kết chi 4.000 tỷ nhân dân tệ (tương đương 559 tỷ USD) chogói kích thích kinh tế, không kém gói kích thích kinh tế 826 tỷ USD của châu
Âu Nếu tình hình còn khó khan, khả năng phải tăng qui mô các gói cứu trợ làkhông tránh khỏi
Việt Nam là một trong số ít các nước kiểm soát tốt dịch Covid-19, nhưngvẫn bị ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nền kinh tế, sau 9 tháng đã có dấu hiệu
Trang 15phục hồi rõ nét, sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát qua 2 lần bùng phát(tháng 3 và tháng 7) Quý I năm 2020, tốc độ tăng trưởng đạt 3,82%, quý IIgiảm còn 0,39%, quí III tăng trở lại đạt 2,62%, đưa con số tăng trưởng của 9tháng năm 2020 lên 2,12% Mặc dù tăng trưởng vẫn là một con số dương, nhưngđây là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ của các năm trong giai đoạn 2011-
2020 và là một trong số ít các quốc gia có tăng trưởng dương
Theo kết quả điều tra đột xuất của Tổng cục Thống kê về tác động của dịchCovid-19 tới doanh nghiệp (lần 1) cho thấy, đến 20/4/2020, với 126.565 doanhnghiệp tham gia trả lời, có tới 85,7% số doanh nghiệp bị tác động bởi dịchCovid-19 Trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ chịunhiều tác động nhất từ dịch Covid-19 với tỷ lệ doanh nghiệp bị tác động lần lượt
là 86,1% và 85,9%; trong khi khu vực nông, lâm, thủy sản chịu ảnh hưởng íthơn với 78,7% Một số ngành kinh tế có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động tiêucực của dịch Covid-19 cao, điển hình như các ngành: hàng không 100%, dịch vụlưu trú 97,1%, dịch vụ ăn uống 95,5%, hoạt động của các đại lý du lịch 95,7%,giáo dục và đào tạo 93,9%, các ngành dệt may, sản xuất da, các sản phẩm từ da,sản xuất các sản phẩm điện tử, sản xuất ô tô đều có tỷ lệ trên 90%
Dịch vụ, du lịch là ngành phản ánh rõ nét nhất các ảnh hưởng từ đại dịchCovid-19 Các lĩnh vực như: du lịch, vận tải (nhất là vận tải hàng không) có mứcsụt giảm mạnh, chủ yếu do việc hạn chế đi lại và giãn cách xã hội Trong 6 thángđầu năm 2020, lượng khách quốc tế giảm tới -55,8% so với cùng kỳ năm trước(quý 1 giảm -18%); khách du lịch trong nước cũng giảm tới -27,3% (quý 1 giảm6%) Doanh thu toàn ngành giảm -77,8%, cao hơn nhiều so với mức giảm -11%của quý 1/2020 Theo Hiệp hội Vận tải hàng không Quốc tế (IATA), đại dịchCovid-19 khiến doanh thu ngành hàng không giảm 80% trong nửa đầu năm
2020, trong khi vẫn phải trang trải các chi phí liên quan đến phi hành đoàn, hoạtđộng bảo trì, nhiên liệu, phí sân bay và bảo quản máy bay Theo dự báo củaIATA, các hãng tại Việt Nam mất đi doanh thu khoảng 4 tỉ USD, VietnamAirlines giảm doanh thu 50.000 tỉ đồng, dự kiến lỗ 29.000 tỉ đồng, thâm hụt