tIỂU LUẬN: KINH TẾ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP ĐỀ TÀI: HÃY PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 20102018 VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THÚC ĐẨY HIỆN ĐẠI HÓA NỀN KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN KHU VỰC TƯ NHÂN ĐẾN NĂM 2035 Sau nhiều năm đổi mới nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng và phát triển luôn ở mức cao. Đảng ta đã chủ trương phát triern kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, cùng tham gia vào quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. So với các thành phần kinh tế khác thì thành phần kinh tế tư nhân xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu, để có thể phát triển hiệu quả và mạnh mẽ hơn nữa chúng ta cần có những chính sách biện pháp thật đồng bộ nhắm phát huy hết sức mạnh của thành phần kinh tế này. Những thành tựu của khu vực kinh tế trong thời gian vừa qua là không thể phủ nhận hiệu quả và lợi ích mà nó mang lại, nó đóng góp vào tăng trưởng quốc gia, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo ra nhiều việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo. Vì vậy việc nghiên cứu, lí giải những vấn đề về lý luận và thực tiễn của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là một đòi hỏi cần thiết và khách quan.
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
-*** -TIỂU LUẬN
KINH TẾ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
ĐỀ TÀI: HÃY PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2018
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THÚC ĐẨY HIỆN ĐẠI HÓA NỀN KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN KHU VỰC TƯ NHÂN ĐẾN NĂM
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỞ ĐẦU
Sau nhiều năm đổi mới nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Tốc độ tăng trưởng và pháttriển luôn ở mức cao Đảng ta đã chủ trương phát triern kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển,cùng tham gia vào quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước vàchủ động hội nhập kinh tế quốc tế So với các thành phần kinh tế khác thì thànhphần kinh tế tư nhân xuất hiện ở Việt Nam chưa lâu, để có thể phát triển hiệuquả và mạnh mẽ hơn nữa chúng ta cần có những chính sách biện pháp thật đồng
bộ nhắm phát huy hết sức mạnh của thành phần kinh tế này Những thành tựucủa khu vực kinh tế trong thời gian vừa qua là không thể phủ nhận hiệu quả vàlợi ích mà nó mang lại, nó đóng góp vào tăng trưởng quốc gia, thúc đẩy chuyểndịch cơ cấu kinh tế tạo ra nhiều việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo Vì vậyviệc nghiên cứu, lí giải những vấn đề về lý luận và thực tiễn của kinh tế tư nhântrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay làmột đòi hỏi cần thiết và khách quan
Trang 5I.Kinh tế tư nhân
1.1.Khái niệm
Khái niệm kinh tế tư nhân hiện nay vẫn còn rất nhiều các quan điểm tráichiều được đưa ra và chưa đi tới một sự thống nhất cụ thể nào Tuy nhiên, xét vềmặt kinh tế học thì kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế thuộc cơ cấu kinh tế củamột quốc gia, được hình thành và phát triển dựa trên sự sở hữu của tư nhân về tưliệu sản xuất cũng như lợi ích cá nhân
Đối tượng sở hữu kinh tế tư nhân đó là các cá thể hoặc một nhóm ngườithuộc về tư nhân đứng lên Khái niệm này được đưa ra nhằm phân biệt với kinh
tế nhà nước, do nhà nước làm chủ và thuộc quyền quản lý của nhà nước
Kinh tế tư nhân bao gồm:
- Kinh tế cá thể tiểu chủ
- Kinh tế tư bản tư nhân
Dù hoạt động dưới hình thức nào thì kinh tế tư nhân cũng kinh doanh dướihình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân và phầnlớn hoạt động vì mục đích lợi nhuận
Nhắc tới kinh tế tư nhân, chúng ta có thể xét về 2 khía cạnh dưới đây:
- Về lĩnh vực sản xuất kinh doanh: kinh tế tư nhân bao gồm các hộ giađình, các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các quá trình, hoạt động sản xuấtkinh doanh ở các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, nông lâm thủysản, thương mại, dịch vụ, kinh tế xây dựng,…
- Về mô hình tổ chức: kinh tế tư nhân bao gồm các hộ kinh doanh cá thể vàcác doanh nghiệp tư nhân được tổ chức dưới các loại hình tư nhân, trách nhiệmhữu hạn (TNHH), cổ phần, hợp danh,…
1.2.Vai trò của kinh tế tư nhân
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vị trí, vaitrò của kinh tế tư nhân trong chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.Nhờ vậy, kinh tế tư nhân không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong nhữngnhân tố chính tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh Trải qua hơn 30 năm đổimới, kinh tế tư nhân đã không chỉ dần được phục hồi mà còn có những bước
Trang 6phát triển cả về số lượng và chất lượng Đặc biệt là sau Đại hội X (năm 2006),khi kinh tế tư nhân được xác định chính thức là thành phần kinh tế được khuyếnkhích phát triển, không hạn chế về quy mô Kinh tế tư nhân đã có những đónggóp rất lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam.Việt Nam hiện có khoảng 600 nghìn doanh nghiệp, trong đó có gần 500nghìn doanh nghiệp tư nhân Trong số này có tới hơn 96% là doanh nghiệp nhỏ
và vừa, 2% doanh nghiệp quy mô vừa và 2% doanh nghiệp lớn Doanh nghiệp tưnhân tạo ra khoảng 1,2 triệu việc làm, đóng góp hơn 40% tổng sản phẩm quốcnội (GDP) mỗi năm
Kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế là bởi những
tỉ trọng 40-43% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp phần quantrọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhànước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội
-Hai là, đóng góp vào nền kinh tế và hiệu quả hoạt động của khu vực kinh
tế tư nhân cao, nhiều sáng kiến, đổi mới và sự đột phá được xuất phát từ những doanh nghiệp tư nhân Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân
cao hơn 1,2 lần so với mức bình quân của nền kinh tế và hơn 1,9 lần so với khuvực nhà nước Vai trò của kinh tế tư nhân càng trở nên quan trọng hơn khi màkhoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong cơ cấu GDP luôn ở mức trên43%GDP (so với khu vực kinh tế nhà nước 28,9% GDP và khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài FDI là 18% GDP) Số lượng doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh, đạt
Trang 7hơn 110.000 doanh nghiệp mới (năm 2016) Thương hiệu của khu vực tư nhân
đã không chỉ được ghi nhận ở thị trường trong nước mà cả ở thị trường khu vực
và quốc tế Đã xuất hiện những tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn cả vềvốn và công nghệ cao
-Ba là, chiến lược kinh tế của Đảng và Nhà nước đang hướng tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn Chính phủ cam kết
sẽ cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng bình đẳng, minh bạch, an toàn vàthân thiện, tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tưnhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển thuận lợi.Bên cạnh đó, khu vực tư nhân cũng luôn đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh
để đứng vững trên thị trường và hoạt động theo cơ chế thị trường
-Bốn là, trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả với những dự án lớn đang bị thua lỗ thì vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng được đánh giá tích cực hơn Đầu tư tài chính của nhiều doanh nghiệp nhà nước đạt hiệu quả thấp Hiệu quả sản xuất kinh doanh kém, gây ra những hậu quả
kinh tế lớn Một số doanh nghiệp nhà nước chưa thực hiện được vai trò là lựclượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, dẫn dắt, tạo động lực phát triển đối với nềnkinh tế
1.3.Sự khác biệt của kinh tế tư nhân với các khu vực kinh tế khác
Có 3 khu vực kinh tế chính, đó là:
- Khu vực kinh tế tư nhân
- Khu vực kinh tế nhà nước
- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Vậy, 3 khu vực này có gì khác nhau? Khu vực kinh tế tư nhân là khu vực
do tư nhân làm chủ và sở hữu, làm việc và thực hiện theo hiến pháp và phápluật Còn khu vực kinh tế nhà nước là do nhà nước làm chủ Khu vực kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp ngoại quốc, công ty FDI sẽ mangvốn của họ tới đất nước sở tại sản xuất và hoạt động kinh doanh
Trang 8II Thực trạng tình hình kinh tế khu vực tư nhân tại Việt Nam giai đoạn 2010-2018
2.1.Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010-2018
Nền kinh tế Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thươngmại thế giới (WTO) vào tháng 12/2006, ngay sau đó Việt Nam bị ảnh hưởng từcuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 – 2009 khiến nền kinh tế cónhiều lúc thăng trầm
Đến năm 2017 - 2018, nhiều chuyên gia kinh tế dự báo tăng trưởng kinh tếcủa Việt Nam có thể rơi vào chu kỳ 10 năm Tuy nhiên, kết thúc năm
2018, GDP của Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng ấn tượng, vượt kế hoạch đề rađầu năm là 6,7% và đạt mức 7,08%
Nhờ đâu nền kinh tế Việt Nam có được mức tăng trưởng ấn tượng và có thểvượt qua những cơn sóng gió tiếp theo hay không? BizLIVE điểm lại những chỉtiêu chính về tăng trưởng GDP giai đoạn 2008 – 2018
-Tăng trưởng GDP và tín dụng đã hài hoà hơn
Giai đoạn năm 2008 – 2018, nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng khácao so với nhiều nước trên thế giới, đạt mức bình quân 6,1%, nhưng tăng thấphơn so với giai đoạn 1986-2006 trước đó, GDP bình quân tăng 6,8%
Tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn còn nhờ nhiều vào tín dụng ngân hàngnhưng giảm dần phụ thuộc Nếu những năm 2008 – 2010, mức bơm tín dụngcủa ngân hàng vào nền kinh tế luôn trên 30% (năm 2009 là 37,7%) nhưng GDPtăng trưởng chưa tương xứng, chỉ ở mức 5,66 - 6,42% Từ năm 2013 trở đi, mức
"bơm" tín dụng đã chậm lại nhưng vẫn ở hai con số 13-18%, tăng trưởng GDPcũng tăng mạnh mẽ trở lại luôn trên mức 6,2% (trừ năm 2014 là 5,98%), đạt caonhất trong 10 năm qua ở mức 7,08% cho năm 2018
Tín dụng hỗ trợ tăng trưởng GDP nhưng cũng làm lạm phát tăng cao Chỉ
số giá tiêu dùng (CPI) rất cao 22,97% năm 2008, giảm dần nhưng tăng trở lạimức hai con số 18,58% vào năm 2011 do tín dụng vẫn tăng mạnh năm 2009(37,7%) và năm 2010 (27,6%)
Trang 9Mức "bơm" tín dụng giảm mạnh từ năm 2011 còn 10,9% và 8,85% năm
2012 khiến lạm phát những năm sau đó lao dốc và về mức rất thấp 0,63% năm
2015 khiến nhiều chuyên gia kinh tế lo ngại giảm phát xuất hiện Tuy nhiên,điều này đã không xảy ra khi lạm phát được kiểm soát dưới 4% cho đến năm
2018 nhờ tiền được "bơm" ở mức 14-18%
Sau giai đoạn mấp mô giữa tăng trưởng tín dụng, tăng lạm phát và tăngGDP, các yếu tố này đã tăng trưởng hài hoà trở lại từ năm 2016 – 2018 với mứcGDP luôn tăng trên 6% và lạm phát dưới 4%
-Quy mô tín dụng luôn cao hơn GDP
Với việc bơm vốn nhiều vào nền kinh tế đã giúp GDP tăng trưởng, nhưngcũng khiến cho quy mô tín dụng luôn cao hơn quy mô GDP Tỷ lệ tín dụng trênGDP ở mức 125% đạt được vào năm 2010 với quy mô GDP là 116 tỷ USD,năm 2011 là 124% với quy mô GDP là 135,5 tỷ USD
Đặc biệt, năm 2017 và 2018 quy mô tín dụng đã lên đến 130% - 134%GDP, tương ứng với quy mô GDP ở mức 223,9 tỷ USD và 240 tỷ USD
Ngoài ra, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên GDP cũng khá cao, mức trên40% cho những năm 2008 – 2010 Từ năm 2011 đến 2018, tỷ lệ này đã giảm vềmức 30%, thấp nhất là năm 2013 chỉ ở mức 30,4% GDP (tương ứng 1,091 triệu
tỷ đồng) và năm 2014 là 31% GDP (tương ứng 1,22 triệu tỷ đồng)
Từ năm 2016 – 2018, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội trong khoảng 33% GDP,tương ứng với mức 1,5 – 1,8 triệu tỷ đồng
Quy mô GDP của Việt Nam năm 2018 khoảng 240 tỷ USD, gấp 2,4 lần quy
mô GDP năm 2008 là 99,13 tỷ USD
-Dân số mỗi năm tăng thêm gần 01 triệu người
Trong khoảng 10 năm qua, dân số Việt Nam cũng tăng thêm 9,55 triệungười, tính bình quân mỗi năm tăng thêm gần 01 triệu người từ mức 85,12 triệudân năm 2008 tăng lên 94,67 triệu dân năm 2018
Song song đó, thu nhập bình quân đầu người cũng tăng 3,3 lần từ mức 17,3triệu đồng/người/năm của năm 2008 và đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thunhập trung bình thấp, đến năm 2018 mức thu nhập bình quân tăng lên mức 58,5
Trang 10triệu đồng/người/năm Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng Việt Nam cần nhiều
nỗ lực để thoát “bẫy thu nhập trung bình”
Dù thu nhập bình quân đầu người tăng lên, nhưng tỷ giá USD/VND cũng
đã tăng trên 30% trong 10 năm qua từ mức 17.000 - 18.000 USD/VND cuối năm
2008 đầu năm 2009 lên mức 23.200 USD/VND cuối năm 2018, tức VND đã mấtgiá trên 30% so với USD
-Năng suất lao động có cải thiện nhưng còn thấp
Trong giai đoạn 2008 - 2018, Việt Nam đã nỗ lực giảm tỷ lệ thất nghiệp.Nếu như năm 2008, tỷ lệ này tới 4,65% thì những năm tiếp theo về mức quanh2% - 2,4%
Năng suất lao động của người dân Việt 10 năm qua đã liên tục tăng tịnhtiến Nếu như năm 2008, năng suất lao động trung bình của người dân Việt chỉ ởmức 35 triệu đồng/người, đến năm 2018 đã tăng lên 102 triệu đồng/người, gấp 3lần
2.2.Tình hình phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam giai đoạn 2010-2018
“Kinh tế tư nhân đã trở thành “chân kiềng” vững chắc của nền kinh tế Việt Nam”, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân 2019, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Khu vực kinh tế tư nhân trong nước đang tạo ra khoảng 40% GDP, 30% ngân sách nhà nước, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động cả nước Những thay đổi về thể chế, chính sách đã tạo nên những thành tựu trong sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam.
Sau hơn 30 năm đổi mới, từ vị trí không được thừa nhận, bị hạn chế pháttriển, kinh tế tư nhân (KTTN) ở Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, vớiviệc từng bước được “cởi trói” và dần trở thành một thành phần không thể thiếutrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Dấu mốc quan trọng đầu tiên đối với khu vực tư nhân đó là Nghị quyết số14-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trungương (khoá IX) “Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích, tạo điềukiện phát triển KTTN” KTTN đã chính thức được khuyến khích phát triển vớinhiều giải pháp quan trọng Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng tiếp tục khẳng
Trang 11định và nhấn mạnh vai trò của khu vực KTTN Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấphành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày3/6/2017 về “Phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN” Những thay đổi về thể chế, chính sách đã tạonên nhiều thành tựu trong sự phát triển của khu vực KTTN, gồm:
Thứ nhất, về số lượng doanh nghiệp (DN) và lao động
Tính đến cuối năm 2018, số lượng các cơ sở kinh doanh trong khu vựcKTTN (gồm các doanh nghiệp của tư nhân, các hộ kinh doanh cá thể) khoảng 6triệu đơn vị, khoảng 700 nghìn DN Trung bình, trong giai đoạn 2011- 2018, mỗinăm số cơ sở kinh doanh tăng 3,4% Xét riêng khu vực DN, tỷ trọng số lượng
DN ngoài nhà nước (tư nhân) chiếm khoảng 96-97% trong tổng số DN tronggiai đoạn 2010- 2018 và tỷ trọng này dự báo vẫn được duy trì trong năm 2019
và 2020 Trong khi đó, số lượng hộ kinh doanh cá thể tăng từ hơn 4,12 triệu năm
2010 lên trên 5,14 triệu năm 2018, trung bình tăng 3,25%/năm trong cả giaiđoạn
Số DN trung bình trên 1.000 người dân liên tục tăng lên trong giai đoạn2010-2018, từ 3,2 DN (2010) lên mức 7,6 DN/1.000 dân (2018) Tốc độ tăngbình quân đạt trên 11,5%/năm trong cả giai đoạn 2011-2018
Số lượng DN thành lập mới liên tục tăng trong giai đoạn 2011-2018, trungbình đạt gần 6,5%/năm, trong đó mức tăng trong giai đoạn 2011-2015 là 3,3%
và giai đoạn 2016-2018 là 11,6% Trong giai đoạn 2016-2018 cho thấy, số lượng
DN thành lập mới đã vượt mức 100 nghìn DN/năm Bên cạnh đó, số lượng DNngừng hoạt động quay trở lại hoạt động trong giai đoạn 2013- 2018 trung bìnhđạt 30,6%/năm (24,3% trong giai đoạn 2013-2015 và 36,8% trong giai đoạn2016-2018) Trong khi đó, tỷ lệ số lượng DN ngừng hoạt động, giải thể trungbình hàng năm khoảng 74,2% tổng số DN đăng ký mới trong giai đoạn 2011-
2018 (trong đó giai đoạn 2011- 2015 ở mức 80,2% và giai đoạn 2016-2018 ởmức 64,3%)
Chia theo ngành nghề, thống kê cho thấy, số lượng DN trong ngành dịch vụchiếm tỷ trọng từ 66% đến trên 70,6% trong giai đoạn 2010- 2016 Theo dự báo,
Trang 12tỷ trọng số lượng DN trong ngành dịch vụ tiếp tục tăng và chiếm tỷ lệ trên 71%vào năm 2019 và gần 72% năm 2020 Trong khi đó, tỷ lệ hộ kinh doanh tronglĩnh vực thương mại, dịch vụ chiếm trên 80%.
Theo Tổng cục Thống kê, tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việctrong khu vực kinh tế ngoài nhà nước (KTNNN) năm 2018 khoảng 45,19 triệungười, chiếm 83,3% tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nềnkinh tế (khoảng 54,25 triệu người) Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vựcKTNNN trong tổng số lao động trên 15 tuổi làm việc trong nền kinh tế, giaiđoạn 2010- 2018 dao động từ 83,3- 86,3% Tính riêng khu vực kinh doanh (gồmcác DN và hộ kinh doanh), năm 2017 tổng số lao động làm việc trong khu vựcnày khoảng 23,2 triệu người (gồm 14,5 triệu người trong các DN và hơn 8,7triệu người trong khu vực hộ kinh doanh)
Thứ hai, đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân
- Đóng góp vào GDP: Trong giai đoạn 2010-2018, đóng góp vào GDP củakhu vực KTNNN (bao gồm KTTN và kinh tế tập thể) chiếm tỷ trọng lớn nhất,khoảng 43%, trong đó khu vực KTTN chiếm tỷ trọng từ 38% - 40,6% Khu vựckinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong cùng giai đoạnchiếm tỷ trọng tương ứng lần lượt là từ 27,7% - 29,4% và từ 15,15% - 20,3%.Xét ở khía cạnh đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP, tốc độ tăng trưởngcủa khu vực KTNNN trong GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh
tế trong giai đoạn 2010- 2012 Tuy nhiên, tốc độ này thấp hơn mức tăng trưởngchung trong giai đoạn 2013- 2017
- Đóng góp cho NSNN: Khu vực KTNNN chiếm tỷ trọng ngày càng tăngtrong giai đoạn từ 2010-2017, từ 28,3% (2010) lên 33,2% (2016) Khu vực DN
có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp ngày càng cao trong cơ cấu thu ngân sáchnhà nước (NSNN), từ 26,3% (2010) lên 34,4% (2016) và hiện là khu vực có tỷtrọng đóng góp cao nhất Trong khi đó, tỷ trọng đóng góp vào NSNN của khuvực kinh tế nhà nước đã giảm khá nhanh, từ 45,4% (2010) xuống chỉ còn 32,3%
và là khu vực có tỷ trọng thấp nhất