MỞ ĐẦU 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong vài thập kỷ trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển nhảy vọt. Thu nhập và đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, có những thành tựu lớn về phát triển kinh tế xã hội nhưng chúng ta cũng nhận thức được những thách thức và những khó khăn mà chúng ta phải vượt qua, đó là những thách thức về môi trường suy thoái, tài nguyên cạn kiệt. Nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của quốc gia và bảo đảm quyền con người sống trong môi trường trong lành. Ngày 27121993, nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) có hiệu lực từ năm 1994, tuy nhiên, nó cũng tồn tại không ít những khó khăn, hạn chế trong công tác tổ chức, xử lý vi phạm.; Sau đó, Luật này đã được thay thế bởi Luật Bảo vệ môi trường ngày 29112005. Tuy đã đạt được nhiều kết quả khả quan nhưng cũng còn không ít vấn đề tồn tại, yếu kém thậm chí có những sự việc đã trở nên bức xúc cần giải quyết. Vấn đề ở đây là đa số chỉ được phát hiện và xử lý sau khi có kiến nghị, khiếu nại của người dân sinh sống ở đó. Tuy các cơ quan chức năng đã có những cuộc kiểm tra, thanh tra và xử lý, nhưng nói chung là chậm và chưa triệt để. Đó chỉ là một phần rất nhỏ được phát hiện và xử lý. Tình trạng gây ô nhiễm ở một số nơi đến mức báo động nhưng chỉ khi nào kiến nghị nhiều lần và báo chí cũng đã “lên tiếng” thì mới được giải quyết. Kinh tế ngày càng phát triển, quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh, các công ty, xí nghiệp, nhà máy ngày càng ra đời tác động không nhỏ đến môi trường nhưng phát hiện, xử lý thì chỉ một phần. Trước tình hình đó, Luật Bảo vệ môi trường 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01012015, đã kịp thời sửa đổi cho phù hợp với tình hình hiện tại và thay thế Luật BVMT 2005 còn nhiều bất cập, hạn chế. Tiền Giang là tỉnh thuộc Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, có các đặc điểm đa dạng về điều kiện tự nhiên và kinh tếxã hội. Hàng năm Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa ra các chỉ tiêu và yêu cầu đối với công tác quản lý nhà nước về môi trường; đạt được nhiều kết quả khả quan, bên cạnh do một số nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh thời gian qua vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Đối với công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường: Do nguồn nhân lực còn hạn chế nên tỷ lệ các doanh nghiệp được kiểm tra hàng năm chưa cao, nhất là đối với tuyến huyện. Bên cạnh đó, do áp lực về kinh tế, về giải quyết việc làm đã làm cho việc xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường đôi khi chưa kiên quyết. Từ những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh thời gian qua, càng cho thấy tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, công tác thanh kiểm tra và các cơ chế chính sách liên quan đến quản lý môi trường. Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cơ chế chính sách và tổ chức nhằm nâng cao năng lực công tác thanh tra môi trường trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” ra đời mang tính thiết thực, cấp bách, phù hợp với tình hình hiện tại, với mục đích nghiên cứu các giải pháp cơ chế chính sách trong công tác bảo vệ môi trường , hiểu rõ hơn về các tổ chức, công tác thanh tra cũng như là hoạt động kiểm tra, xử lý các vụ việc vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, để từ đó đề xuất ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực công tác thanh tra môi trường trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Trang 1LỜI CÁM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường được thầy cô chỉ bảo, truyền đạt những kiến thứchữu ích Cuối cùng em cũng đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình Trong quátrình làm khoá luận đã giúp cho em mở mang được rất nhiều điều, thấy được mức độvận dụng lý thuyết vào thực tế, mong muốn được học hỏi hơn nữa Với khoá luận tốtnghiệp này chính là bước khởi đầu để em có thể tự tin bắt tay vào công việc chuyênmôn của mình sau này
Em xin được tỏ lòng biết ơn của mình đến thầy ………… là người trực tiếphướng dẫn em làm khoá luận này Người đã tận tình hướng dẫn, cho em rất nhiều lờikhuyên và góp ý để em hoàn thành khoá luận này Cảm ơn thầy đã tạo điều kiện cho
em tiếp thu kiến thức mới
Mặc dù được sự giúp đỡ của nhiều người, nhưng với lượng kiến thức còn hạn chếnên chắc chắn đề tài không tránh khỏi những sai sót Em mong được sự đóng góp ýkiến chân thành của thầy cô, anh chị và các bạn để em có thể sửa chữa những sai sótcũng như để nâng cao được kiến thức của mình
Tp Hồ Chí Minh, tháng … năm ………
Sinh viên
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
Giảng viên hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 6
Giảng viên phản biện
(Ký và ghi rõ họ tên)
Mục lụ
Trang 7Lời cám ơn i
Lời cam đoan ii
Nhận xét của giảng viên hướng dẫn iii
Nhận xét của giảng viên phản biện iv
Mục lục v
Danh mục bảng ix
Danh mục hình x
Chữ viết tắt trong khoá luận xi
MỞ ĐẦU 1
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 Tổng quan về tình hình áp dụng các cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực môi trường trên thế giới 7
1.2 Tổng quan về cơ chế chính sách và tổ chức liên quan đến công tác thanh tra môi trường đã được ban hành ở nước ta hiện nay 9
1.2.1 Tình hình áp dụng các cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực môi trường tại Việt Nam 9
1.2.2 So sánh sự thay đổi cơ bản giữa luật BVMT 1994, luật BVMT 2005 và luật BVMT 2014 11
1.2.3 Một số cơ chế chính sách liên quan đến công tác thanh tra môi trường15 1.2.4 Tổng quan về cơ cấu tổ chức thanh tra môi trường 16
1.3 Tổng quan về công tác thanh tra môi trường 18
1.3.1 Khái niệm 18
Trang 81.3.2 Mối liên hệ giữa thanh tra và kiểm tra 19
1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn 21
1.3.4 Nguyên tắc, phương thức hoạt động 22
1.4 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Tiền Giang 24 1.4.1 Điều kiện tự nhiên 24
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THANH TRA MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG 33
2.1 Thực trạng và đánh giá thực trạng áp dụng cơ chế chính sách và tổ chức trong công tác thanh tra môi trường trước năm 2014 33
2.1.1 Kết quả thực hiện công tác thanh tra 33
2.1.2 Nhận xét 34
2.1.3 Đánh giá 35
2.2 Thực trạng áp dụng cơ chế chính sách và tổ chức trong công tác thanh tra môi trường từ năm 2014 đến nay 37
2.2.1 Kết quả công tác thanh tra 37
2.2.2 Nhận xét 38
2.2.3 Đánh giá 39
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG BẰNG MA TRẬN SWOT 41
3.1 Ma trận SWOT 41
3.2 Điểm mạnh ( Strengths) 42
3.2.1 Trong công tác thanh tra 42
3.2.2 Trong cơ chế chính sách 43
3.2.3 Trong công tác tổ chức 44
3.2.4 Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến môi trường 44 3.3 Điểm yếu (Weaknesses) 45
3.3.1 Trong cơ chế chính sách 45
3.3.2 Vấn đề về nội dung thanh tra, xử lý các trường hợp cố tình vi phạm 46
3.3.3 Tình trạng chồng chéo thanh tra, kiểm tra 47
3.3.4 Trang thiết bị và nguồn nhân lực, kinh phí, năng lực và trình độ chuyên môn 48
Trang 93.3.6 Tình hình chấp hành của đối tượng sau khi được thanh tra 483.3.7 Ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức 493.3.8 Việc xây dựng báo cáo kết quả thanh tra và ban hành kết luận thanh tra 49
3.4 Cơ hội (Opportunities) 50
3.4.1 Kinh tế phát triển, đẩy mạnh tăng cường hợp tác quốc tế, thu hút vốn đầu tư 503.4.2 Có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế, giao lưu, thu hút vốn đầu tư 513.4.3 Được sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, ban cấp lãnh đạo 513.4.4 Nghị định 179 được ban hành có nhiều tiến bộ 523.4.5 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, hướng tới phát triển bền vững 53
3.5 Thách thức (Threats) 54
3.5.1 Kinh tế phát triển thu hút nhiều vốn đầu tư, doanh nghiệp nhiều đa dạng
về các lĩnh vực 543.5.2 Doanh nghiệp phát triển, mở rộng, tập trung nhiều nguồn nhân lực 543.5.3 Quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội gây sức ép lên nguồn tài nguyên 553.5.4 Còn nhiều hạn chế trong việc thu hút vốn đầu tư chi cho sự nghiệp bảo vệ môi trường 55
3.6 Chiến lược kết hợp 55 CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG TÁC THANH TRA MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TIỀN GIANG 59 4.1 Hoàn chỉnh hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp với tình hình hiện tại của tỉnh 59 4.2 Giải pháp về hạn chế việc chồng chéo thanh kiểm tra 60 4.3 Giải pháp về việc tiếp nhận, xử lý và giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của người dân về vấn đề môi trường 61 4.4 Giải pháp về đội ngũ, cán bộ làm công tác thanh tra môi trường và phong trào thi đua khen thưởng 62 4.5 Giải pháp về nguồn tài chính 63 4.6 Giải pháp về khoa học công nghệ 63 4.7 Giải pháp tăng cường và phối hợp cùng các ngành chức năng trong công tác thanh tra, kiểm tra 64
Trang 104.8 Giải pháp về công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật 65
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 1: XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG YÊU CẦU ĐƠN VỊ ĐƯỢC THANH TRA BÁO CÁO 70
PHỤ LỤC 2: QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP ĐOÀN THANH TRA 71
PHỤ LỤC 3: KẾ HOẠCH TIẾN HÀNH THANH TRA 74
PHỤ LỤC 4 : BIÊN BẢN KIỂM TRA 76
PHỤ LỤC 5 : BIÊN BẢN LÀM VIỆC 78
PHỤ LỤC 6: BIÊN BẢN VI PHẠM HÀNH CHÍNH 80
PHỤ LỤC 7: QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 82
PHỤ LỤC 8: PHIẾU TRÌNH GIẢI QUYẾT HỒ SƠ 84
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh cơ bản giữa luật BVMT 2005 và luật BVMT 2014 18
Bảng 1.2 Quy trình thanh tra xử phạt liên quan đến lĩnh vực môi trường 22
Bảng 1.3 Tốc độ phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 28
Bảng 1.4 Đăng ký kinh doanh năm 2014 29
Bảng 2.1 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra từ năm 2009-2013 33
Bảng 2.2 Kết quả công tác thanh kiểm tra từ năm 2014 đến Quý I năm 2015 37
Bảng 3.1 Mô hình SWOT 41
Bảng 3.2 Các chiến lược trong mô hình SWOT 56
Trang 12DANH MỤC HÌNHHình 1.1 Bản đồ tỉnh Tiền Giang 24 Hình 1.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang từ năm 2010-2014 27 Hình 1.3 Dân số trung bình của tỉnh Tiền Giang năm 2010-2014 31
Trang 13CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN
Trang 14MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong vài thập kỷ trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triểnnhảy vọt Thu nhập và đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nângcao, có những thành tựu lớn về phát triển kinh tế - xã hội nhưng chúng ta cũng nhậnthức được những thách thức và những khó khăn mà chúng ta phải vượt qua, đó lànhững thách thức về môi trường suy thoái, tài nguyên cạn kiệt
Nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của quốc gia và bảo đảm quyền conngười sống trong môi trường trong lành Ngày 27/12/1993, nước ta đã ban hành LuậtBảo vệ môi trường (BVMT) có hiệu lực từ năm 1994, tuy nhiên, nó cũng tồn tạikhông ít những khó khăn, hạn chế trong công tác tổ chức, xử lý vi phạm.; Sau đó, Luậtnày đã được thay thế bởi Luật Bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 Tuy đã đạt đượcnhiều kết quả khả quan nhưng cũng còn không ít vấn đề tồn tại, yếu kém thậm chí cónhững sự việc đã trở nên bức xúc cần giải quyết Vấn đề ở đây là đa số chỉ được pháthiện và xử lý sau khi có kiến nghị, khiếu nại của người dân sinh sống ở đó Tuy các cơquan chức năng đã có những cuộc kiểm tra, thanh tra và xử lý, nhưng nói chung làchậm và chưa triệt để Đó chỉ là một phần rất nhỏ được phát hiện và xử lý Tình trạnggây ô nhiễm ở một số nơi đến mức báo động nhưng chỉ khi nào kiến nghị nhiều lần vàbáo chí cũng đã “lên tiếng” thì mới được giải quyết Kinh tế ngày càng phát triển, quátrình đô thị hóa ngày càng nhanh, các công ty, xí nghiệp, nhà máy ngày càng ra đời tácđộng không nhỏ đến môi trường nhưng phát hiện, xử lý thì chỉ một phần Trước tìnhhình đó, Luật Bảo vệ môi trường 2014,có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015, đã kịpthời sửa đổi cho phù hợp với tình hình hiện tại và thay thế Luật BVMT 2005 còn nhiềubất cập, hạn chế
Tiền Giang là tỉnh thuộc Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thuộc Vùng Kinh tếtrọng điểm phía Nam, có các đặc điểm đa dạng về điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội.Hàng năm Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa ra các chỉ tiêu và yêu cầu đối với công tác quản
lý nhà nước về môi trường; đạt được nhiều kết quả khả quan, bên cạnh do một sốnguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môitrường trên địa bàn tỉnh thời gian qua vẫn còn tồn tại một số hạn chế Đối với công tác
Trang 15thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường: Do nguồn nhân lực còn hạnchế nên tỷ lệ các doanh nghiệp được kiểm tra hàng năm chưa cao, nhất là đối với tuyếnhuyện Bên cạnh đó, do áp lực về kinh tế, về giải quyết việc làm đã làm cho việc xử lý
vi phạm về bảo vệ môi trường đôi khi chưa kiên quyết
Từ những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trườngtrên địa bàn tỉnh thời gian qua, càng cho thấy tầm quan trọng của công tác bảo vệ môitrường, công tác thanh kiểm tra và các cơ chế chính sách liên quan đến quản lý môi
trường Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cơ chế chính sách và tổ chức nhằm nâng cao năng lực công tác thanh tra môi trường trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” ra đời mang tính thiết thực, cấp bách, phù hợp với tình hình hiện tại, với mục
đích nghiên cứu các giải pháp cơ chế chính sách trong công tác bảo vệ môi trường ,hiểu rõ hơn về các tổ chức, công tác thanh tra cũng như là hoạt động kiểm tra, xử lýcác vụ việc vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, để từ đó đề xuất ra các biệnpháp nhằm nâng cao năng lực công tác thanh tra môi trường trên địa bàn tỉnh TiềnGiang
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 16Đưa ra được các nhóm vấn đề cần ưu tiên giải quyết, từ các vấn đề tổng thể và cụthể, từ đó xác định vấn đề tập trung ưu tiên hơn trong công tác kiểm tra, thanh tra,quản lý và bảo vệ môi trường.
Từ đó, đề xuất được chiến lược, kế hoạch thực thi các giải pháp hiệu quả để nângcao năng lực công tác thanh tra và bảo vệ môi trường trên các khía cạnh
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng
Hệ thống các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về môi trường
Các cơ chế, chính sách, quy định đang thực hiện tại tỉnh Tiền Giang
Cơ quan, tổ chức về thanh kiểm tra môi trường tại tỉnh Tiền Giang
Phạm vi nghiên cứu
Trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Luận văn làm rõ chức năng, trách nhiệm của công tác thanh tra, cũng như thựctrạng của công tác quản lý, đánh giá những việc đã làm được, những tồn tại và tháchthức trong công tác bảo vệ môi trường, đưa ra những chính sách, giải pháp về bảo vệmôi trường và những vấn đề ưu tiên
Đây là một nghiên cứu khoa học nhằm giúp các nhà Quản lý môi trường có cơ sở
để triển khai thực hiện biện pháp nhằm nâng cao năng lực của công tác thanh tra môitrường trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Bên cạnh đó có những giải pháp thiết thực trong
cơ chế chính sách, tổ chức liên quan đến lĩnh vực môi trường để không ngừng nângcao công tác quản lý và bảo vệ môi trường
5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Phân tích, đánh giá tổng thể các cơ chế chính sách đang thực thi liên quan đếnlĩnh vực môi trường cũng như chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị tổ chức thông quacác Luật định đã được ban hành
Đánh giá về chính sách môi trường hiện tại tập trung vào một số nội dung chínhnhư:
Trang 17 Đánh giá các cơ chế chính sách 2005 so với năm 2015 có gì khác, thay đổi
ra sao so với tình hình hiện tại
Các chính sách, quy định hiện tại có thể đáp ứng để giải quyết những vấn
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp kế thừa các số liệu, các kết quả công trình nghiên cứu hiện có
Dựa trên các nguồn số liệu, tài liệu đã có từ địa phương, đưa ra giải pháp để giảiquyết vấn đề
Các tài liệu và báo cáo của các cơ quan ban ngành huyện/tỉnh về điều kiện tựnhiên, tình hình sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường các năm,quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội…
Trang 18 Phương pháp thu thập, xử lý các số liệu, thông tin, tài liệu
Thu thập, tổng hợp, xử lý các thông tin, tài liệu về cơ chế chính sách, các tài liệuchuyên ngành, luật định,…
Thu thập, chọn lọc các văn bản pháp lý có liên quan
Từ việc tổng hợp và xử lý thông tin tài liệu, đi đến việc phân tích để đưa ranhững đánh giá về các vấn đề môi trường
Phương pháp so sánh
So sánh các cơ chế chính sách đang thực thi tại tỉnh so với chính sách hiện tại cóđiểm gì mới, những điểm đạt và chưa đạt,… để có những nhận xét, đánh giá kháchquan hơn đối với các tổ chức, cá nhân cũng như năng lực công tác thanh kiểm tra
- Trang thiết bị, nguồn nhân lực.
- Năng lực, trình độ chuyên môn.
- Luật và nghị định mới ban hành
- Kinh tế phát triển, doanh nghiệp
đa dạng các lĩnh vực
- Sức ép lên công tác bảo vệ môi
trường
Trang 197 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Phần nội dung gồm 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tài liệu.
- Chương 2: Thực trạng và đánh giá công tác thanh tra môi trường trên địa bàn
tỉnh Tiền Giang
- Chương 3: Phân tích thực trạng công tác thanh tra môi trường trên địa bàn tỉnh
Tiền Giang bằng ma trận SWOT
- Chương 4: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực công tác thanh tra
môi trường trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Trang 20CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ÁP DỤNG CÁC CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH
LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI
Môi trường toàn cầu đang có chiều hướng ngày càng xấu đi, ảnh hưởng rất lớnđến sự tồn vong của con người Môi trường trở thành là vấn đề đặc biệt quan tâm củacộng đồng quốc tế và khu vực với mục tiêu cam kết phối hợp, nỗ lực nhằm cải thiệnmôi trường, phát triển bền vững cho cả thế hệ hiện nay và thế hệ mai sau
Các tổ chức tài chính thế giới ra sức khuyến khích các dự án đầu tư theo hướng thânthiện với môi trường, giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, bảo vệ lợi ích chínhđáng của quốc gia.[1]
Một số kinh nghiệm của thế giới trong lĩnh vực bảo vệ môi trường:
- Kinh nghiệm về hoạch định các chính sách về bảo vệ môi trường
Một trong những nước đã có nhiều thành công trong việc hoạch định các chính
là nước cộng hoà Liên bang Đức giảm thuế hoặc cho vay tiền với lãi suất thấp trả dầnnếu đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý chất thải nguy hại
Ý tưởng phát triển Singapore - thành phố xanh, sạch, đẹp, được hình thành từnhững năm 1960, trong đó việc bảo vệ môi trường sinh thái được coi là một nhiệm vụchiến lược trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Để có một Singapore đượcmệnh danh là "thành phố sạch nhất thế giới" phải do rất nhiều yếu tố, song quan trọngnhất phải kể đến tính toàn diện của pháp luật về môi trường.[1]
- Kinh nghiệm về áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Áp dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường được áp dụng dựa trên hainguyên tắc cơ bản, đó là: người gây ô nhiễm phải trả tiền và người được thụ hưởngphải trả tiền Công cụ kinh tế được áp dụng có thể bao gồm rất nhiều loại hình khácnhau như thuế tài nguyên môi trường, phí, giấy phép xả thải, quỹ môi trường, trợ cấp,miễn giảm thuế, cho vay ưu đãi Các nước phát triển, đặc biệt là các nước trong Tổchức hợp tác kinh tế và phát triển đã có nhiều thành công trong việc áp dụng các công
cụ kinh tế trong quản lý môi trường [2]
Tại Singapore việc đánh giá thu thuế đối với nước thải sản xuất và sinh hoạt đãthực hiện từ lâu, theo đó mức phí mà các cơ sở sản xuất phải trả tuỳ thuộc vào nồng độ
Trang 21các chất có trong nước thải (COD, BOD, kim loại nặng) và mức phí này sẽ tăng luỹtiến theo nồng độ các chất gây ô nhiễm có trong nước thải.
Tại Trung Quốc từ nhiều năm nay đã thiết lập hệ thống xử phạt các hành vi viphạm các tiêu chuẩn môi trường Hệ thống này có tới 100 mức phí đánh vào các nguồngây ô nhiễm đối với nước thải, khí thải, chất thải rắn, tiếng ồn Mức phí được quy địnhphụ thuộc vào lượng và nồng độ các chất thải ra môi trường Việc sử dụng nguồn thunày cũng đã có nhiều thay đổi, mấy năm gần đây Chính phủ Trung Quốc đã sử dụngnguồn thu này trợ cấp lại cho các doanh nghiệp để họ thực hiện các biện pháp kiểmsoát và xử lý ô nhiễm [2]
Tại Philippines, Malaysia cũng đều có các quy định tương tự, đặc biệt trong việcđịnh giá tài nguyên và các yếu tố môi trường, thiết lập thị trường chất thải.[1]
- Kinh nghiệm của thế giới trong xã hội hoá quản lý chất thải và sự tham gia của
cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường.
Là một nền kinh tế hàng đầu thế giới, Nhật Bản cũng được đánh giá cao trongvấn đề bảo vệ môi trường Sau khi trở thành một cường quốc công nghệ và đô thị hoá,tại Nhật Bản đã xảy ra những sự kiện nghiêm trọng về môi trường, thậm chí có ngườicoi đây là một cuộc khủng hoảng thực sự về môi trường Chính phủ Nhật Bản bắt đầunhận ra trách nhiệm đối với môi trường, xây dựng chính sách phát triển theo hướngmột quốc gia thịnh vượng về kinh tế và giàu đẹp về môi trường thiên nhiên Chính phủluôn khuyến khích các nhà chuyên môn đưa ra ý kiến, các giải pháp về bảo vệ và gìngiữ môi trường thiên nhiên.[2]
Một kinh nghiệm hữu ích từ Mỹ, Canada và từ nhiều nước phát triển khác là việclập quy hoạch phát triển với sự tham gia của cộng đồng Theo đó việc tham gia củacộng đồng được tiến hành ngay từ khâu khảo sát, thiết kế quy hoạch cho đến xâydựng, cải tạo, duy trì bảo dưỡng đô thị [1]
Có rất nhiều biện pháp về các cơ chế chính sách, tổ chức quản lý Song, tùythuộc vào tình hình quốc gia, điều kiện kinh tế-xã hội, tài nguyên thiên nhiên,… Mà
có những lựa chọn thích hợp nhất cho quá trình phát triển của mình, để sao cho vừađẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, vừa bảo vệ môi trường mà không phải trả giácao về môi trường
Trang 221.2 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH VÀ TỔ CHỨC LIÊN QUAN
ĐẾN CÔNG TÁC THANH TRA MÔI TRƯỜNG ĐÃ ĐƯỢC BAN HÀNH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1 Tình hình áp dụng các cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực môi
trường tại Việt Nam
Vào ngày 5/8/2002, Bộ Tài Nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghịquyết số 02/2002/QH11 của Quốc hội, thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc của Đảng
và Nhà nước, gắn liền với xu thế thời đại, nhằm thống nhất quản lý nhà nước về tàinguyên và môi trường trên phạm vi cả nước Bộ TN&MT đã được thành lập trên cơ sởhợp nhất nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước, hiện nay đang thực hiện chức năng, nhiệm
vụ quản lý nhà nước trên 07 lĩnh vực, bao gồm: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyênkhoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu; đo đạc, bảnđồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo Bộ TN& MT đã có những bước
đi cụ thể về việc xây dựng cơ chế, chính sách, tham mưu cho Chính phủ nhằm pháttriển ngành TN&MT, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TN&MT.[3]
Bộ đã đưa ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản, thể hiện đường lối, chủtrương về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa: “ Coi côngtác bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; là nội dung cơbản không thể tách rời với đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội của tất cả các cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững,thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (theo Chỉ thị36-CT/TW của Bộ Chính trị ).[3]
Chính phủ cũng đã cam kết vận dụng các nguyên tắc và nội dung cơ bản củaChương trình nghị sự 21 vào điều kiện cụ thể của nước ta: “ Coi phòng ngừa và ngănchặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường vàbảo tồn thiên nhiên; kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững”
Trong thời gian qua với sự hợp tác trong nhiều chương trình với nước ngoàichúng ta đã soạn thảo xây dựng và hoàn thiện một số hệ thống chính sách pháp luậttrong lĩnh vực quản lý tài nguyên môi trường: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng
Trang 23sinh học, Luật Hoá chất, Giới thiệu, nghiên cứu, thí điểm, đề xuất biện pháp ứng dụngđối với một số vấn đề mới đối với Việt Nam như Đánh giá môi trường chiến lược(ĐMC), Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với các dự án, quy hoạch, kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội…
Khác với nhiều nước khác, nền kinh tế của chúng ta vừa mới chuyển đổi từ nềnkinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường nên chúng ta chưa cóhoặc có rất ít kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý môi trường cũng như trong nhiềulĩnh vực khác nữa Việc áp dụng các công cụ pháp lý trong quản lý môi trường chúng
ta đề cập vẫn còn nhiều hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với điều kiện phát triển hiệnnay, khi mà chúng ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhậpkinh tế thế giới Nhiều chuyên gia cho rằng các quy định của pháp luật về môi trường(luật, nghị định, tiêu chuẩn, quy chuẩn,… về bảo vệ môi trường) là cần thiết, tuy nhiên
nó là cứng nhắc và nhiều khi là rào cản các doanh nghiệp phát triển sản xuất, ứng dụngcông nghiệp mới Mặt khác, để thực thi được vấn đề này cần có một bộ máy quản lý,giám sát cồng kềnh, chi phí lớn.[4]
Chính vì những lý do trên đây mà chúng ta cần học tập kinh nghiệm của cácnước khác để áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Thực tế cho thấy chỉ
có áp dụng kết hợp các công cụ pháp lý, công cụ kinh tế và sự tham gia của cộng đồngthì công tác quản lý môi trường mới có hiệu quả, đạt được các mục tiêu đã đề ra làphát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường
Chính vì vậy, xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường là chủ trương, định hướng,chiến lược lớn, lâu dài của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đồng thời cũng là một trongnhững giải pháp cơ bản để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá và hiệnđại hoá đất nước Trong xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường và khuyến khích cácthành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các dự án môi trường chiếm vị trí ưu tiên hàngđầu Các hoạt động này khá đa dạng cả về loại hình hoạt động (thu gom, xử lý, tái chếchất thải; tư vấn, đào tạo, thông tin về môi trường; nghiên cứu triển khai, chuyển giaocông nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ môi trường;…), cả về hìnhthức tổ chức hoạt động (tổ, đội, HTX, doanh nghiệp, trung tâm…) và nội dung hoạtđộng Những hoạt động dịch vụ môi trường này đang có chiều hướng phát triển vàngày càng đóng góp nhiều hơn vào sự nghiệp bảo vệ môi trường.[4]
Trang 24Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá kinh nghiệm xây dựng cơ chế, chínhsách liên quan của các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như các kết quả thuthập tổng hợp số liệu, điều tra khảo sát thực tế về mô hình tiên tiến về bảo vệ môitrường ở một số địa phương trong nước, chúng ta đã ban hành các cơ chế chính sáchnhằm tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và đoàn thểvào các hoạt động bảo vệ môi trường và tiến hành áp dụng thử nghiệm trong thực tiễn.
Từ kết quả áp dụng thử nghiệm, được đánh giá, đúc kết kinh nghiệm nhằm hoàn thiệncác Dự thảo thể chế chính sách bảo vệ môi trường ở nước ta
1.2.2 So sánh sự thay đổi cơ bản giữa luật BVMT 1994, luật BVMT 2005 và luật
BVMT 2014
1.2.2.1 So sánh sự thay đổi cơ bản giữa luật BVMT 1994 và luật BVMT 2005
Nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của quốc gia và bảo đảm quyền conngười sống trong môi trường trong lành Ngày 27/12/1993, nhà nước ta đã ban hành
Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ năm 1994; Luật BVMT năm 1993 gồm 7 chương và 55 điều, bao gồm những quy định chung về bảo vệ môi trường, phòng,
chống và khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và sự cố môi trường, sựquản lý của nhà nước về môi trường, các quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường, khenthưởng và xử lý vi phạm, các điều khoản thi hành Tuy nhiên, nó cũng tồn tại không ítnhững khó khăn, hạn chế trong công tác tổ chức, xử lý vi phạm.[5]
Sau đó, Luật này đã được thay thế bởi Luật Bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005, gồm 15 chương và 136 điều, tăng 8 chương và 81 điều so với Luật Bảo
vệ môi trường năm 1993, đã khắc phục được phần nào những hạn chế của Luật 1993;nhấn mạnh về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực môi trường, cáctiêu chuẩn về môi trường, quản lý chất thải, bảo vệ tài nguyên nước và việc thực hiệncam kết môi trường, đánh giá tác động môi trường [6]
Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì cũng còn không ít vấn đề tồntại, yếu kém thậm chí có những sự việc đã trở nên bức xúc cần giải quyết, nhưng chủyếu do cảnh sát môi trường và người dân phát giác, mà chưa thấy vai trò của lực lượngthanh tra môi trường
Trang 25Vấn đề ở đây là đa số chỉ được phát hiện và giải quyết chủ yếu là sau khi có kiếnnghị, khiếu nại của người dân sinh sống ở đó Tuy các cơ quan chức năng đã có nhữngcuộc kiểm tra, thanh tra và xử lý, nhưng nói chung là chậm và chưa triệt để Đó chỉ làmột phần rất nhỏ được phát hiện và xử lý Tình trạng gây ô nhiễm ở một số nơi đếnmức báo động nhưng chỉ khi nào kiến nghị nhiều lần và báo chí cũng đã “lên tiếng” thìmới được giải quyết Kinh tế ngày càng phát triển, quá trình đô thị hóa ngày càngnhanh, các công ty, xí nghiệp, nhà máy ngày càng ra đời tác động không nhỏ đến môitrường nhưng phát hiện, xử lý thì chỉ một phần.
1.2.2.2 So sánh sự thay đổi cơ bản giữa luật BVMT 2005 và luật BVMT 2014
Trước những vấn đề còn tồn tại trong luật BVMT 2005, ngày 23/6/2014 LuậtBảo vệ môi trường (BVMT) 2014 số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua , đã kịp thời sửa đổi chophù hợp với tình hình hiện tại và thay thế Luật BVMT số 52/2005/QH11 ngày12/12/2005 của Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 còn nhiều bất cập, hạn chế.[7]Luật BVMT 2014 trên tinh thần kế thừa các nội dung của Luật BVMT 2005,đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật BVMT 2005 Luật hóa chủtrương của Đảng, các chính sách mới về BVMT; mở rộng và cụ thể hóa một số nộidung về BVMT nhằm đáp ứng yêu cầu BVMT trong giai đoạn mới Ngoài ra, LuậtBVMT 2014 cũng đã xử lý những trùng lặp và mâu thuẫn với các luật khác để bảođảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; tạo tiền đề pháp lý để xây dựng các nghịđịnh về BVMT, sắp xếp lại trật tự các chương, điều, câu chữ đảm bảo tính logic và
khoa học[7] Luật BVMT 2014 gồm 20 chương và 170 điều, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2015, tăng 5 chương và 34 điều so với Luật BVMT 2005 Sự khác nhau cơbản giữa Luật BVMT 2005 và Luật BVMT 2014 được đưa ra trong bảng 1.1
Bảng 1.1 So sánh cơ bản giữa luật BVMT 2005 và luật BVMT 2014
15 chương và 136
điều
20 chương và 170 điều Số lượng chương, điều
Có 20 khái niệm để Có 29 khái niệm để giải thích từ
Quy chuẩn kỹ thuật môitrường, sức khỏe môitrường, công nghiệp môi
Trang 26giải thích từ ngữ ngữ trường, kiểm soát ô
nhiễm, hồ sơ môi trường,quy hoạch BVMT, hạtầng kỹ thuật BVMT, ứngphó biến đổi khí hậu, anninh môi trường
hành vi vận chuyển chất độc,chất phóng xạ, chất thải và chấtnguy hại khác không đúng quytrình kỹ thuật về bảo vệ môitrường; thải chất thải chưa được
xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môitrường…
Các hành vi bị cấm
Chưa có Xây dựng một mục riêng cho
Quy hoạch BVMT với nội dunghoàn toàn mới
Có 5 Điều: Nguyên tắccấp độ, kỳ quy hoạch; Nộidung quy hoạch; Tráchnhiệm lập quy hoạch;Tham vấn, thẩm định, phêduyệt quy hoạch; Rà soát
và điều chỉnh quy hoạch
Có 7 nhóm đối
tượng phải lập ĐTM
Chỉ có 3 nhóm đối tượng phảilập ĐTM
Đối tượng phải lập ĐTM
Chưa có Quy định về ứng phó với BĐKH
trong mối liên quan chặt chẽ vớiBVMT
Ứng phó với biến đổi khíhậu
Chưa có Có mục riêng về BVMT đất Điều khoản riêng về
BVMT đất
Có quy định về tiêu Bổ sung thêm quy chuẩn kỹ Tiêu chuẩn môi trường
Trang 27chuẩn môi trường thuật môi trường
đang phổ biến hiện
nay như: các khu
kinh tế, khu công
tế, khu công nghiệp, khu chếxuất, khu công nghệ cao, cụmcông nghiệp
Quy định về BVMT đốivới khu sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ tập trung
phối hợp giữa thanh
tra môi trường với
lực lượng cảnh sát
môi trường
Đã có sự sửa đổi, bổ sung Sự tách biệt giữa thanh tra
và kiểm tra về bảo vệ môitrường
(Nguồn Luật BVMT 2005 - Luật BVMT 2014)
Ở Việt Nam có rất nhiều thay đổi về văn bản pháp luật, do nhiều nguyên nhânkhác nhau Trong đó, nổi bật là hành vi vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trườngcủa các doanh nghiệp ngày càng gia tăng, với mức độ nghiêm trọng hơn, có nhiềudoanh nghiệp dù biết vi phạm nhưng vẫn cố tình vi phạm gây không ít khó khăn chocông tác thanh tra Số lượng ngày càng nhiều mà đội ngũ, nguồn nhân lực cho hoạtđộng thanh tra thì ít; Nhiều đối tượng lợi dụng những khe hở để lách Luật với nhữngthủ đoạn khá tinh vi, khi bị phát hiện thì đã gây tổn hại không ít cho môi trường,
Trang 28nhưng trách nhiệm thì chỉ quy lại cho một hay hai cá nhân, mà tác động của nó lại đemlại rất lớn, khó xử lý được trong thời gian ngắn, triệt để.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, chính sự thiếu chặt chẽ trong quy định củapháp luật là nguyên nhân dẫn tới tình trạng có doanh nghiệp một năm phải tiếp tớihàng chục đơn vị tới thanh, kiểm tra Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 126 Luật Bảo vệmôi trường 2005 quy định về số lần kiểm tra, thanh tra, thì thanh tra chỉ được làm việctrong giờ hành chính và buộc phải thông báo trước cho đối tượng thanh tra ít nhất 3ngày, hay phải có thủ tục công bố quyết định thanh tra, đã tạo điều kiện cho nhiềudoanh nghiệp lách luật
Từ những nguyên nhân trên dẫn đến những tồn tại, bất cập, hạn chế trong côngtác thanh tra Việc đề xuất các cơ chế chính sách là hết sức cần thiết, cấp thiết để nângcao năng lực công tác thanh tra, nhanh chóng hoàn thiện các Dự thảo thể chế chínhsách bảo vệ môi trường ở nước ta
1.2.3 Một số cơ chế chính sách liên quan đến công tác thanh tra môi trường
- Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) ngày 29 tháng 11 năm 2005.
- Luật Bảo vệ môi trường 2014 số 55/2014/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7, thông qua ngày23/6/2014 , có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thanh tra;
- Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ quy
định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạtđộng thanh tra chuyên ngành;
- Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014 quy định về tổ
chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiếnhành một cuộc thanh tra Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm2014
Trang 29- Nghị định số 83/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chínhphủ;
- Nghị định số 100/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về
thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra
- Thông tư liên tịch số 04/2008/TTLT-BTC-TTCP ngày 04/01/2008 của Bộ Tài
chính & Thanh tra Chính phủ về Hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng và quyết toánkinh phí bảo đảm hoạt động của các cơ quan Thanh tra nhà nước
- Thông tư 08/2010/TT-BTNMT ngày 18/03/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định việc xây dựng báo cáo môi trường quốc gia, báo cáo tình hìnhtác động môi trường của ngành, lĩnh vực và báo cáo hiện trạng môi trường cấptỉnh
- Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 07/3/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Tiền Giang ban hành Quy chế phối hợp trách nhiệm trong công tác quản lý cáckhu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
- Quyết định số 1271/QĐ-UBND ngày 30/5/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về
việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành và thủ tục hành chính bãi bỏ,thay thế về lĩnh vực đất đai và môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của SởTài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang
Nước ta đã ban hành rất nhiều cơ chế chính sách về môi trường với mục đíchphục vụ cho công tác quản lý môi trường được tốt hơn, góp phần vào việc phát triểnkinh tế- xã hội và mọi người được sống trong môi trường trong lành
1.2.4 Tổng quan về cơ cấu tổ chức thanh tra môi trường
Tổ chức của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường bao gồm:[8]
Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Thanh tra Tổng cục Quản lý đất đai, Thanh tra Tổng cục Môi trường và Thanhtra Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường
Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục và Thanh tra Sở có
con dấu riêng
Mối liên hệ giữa thanh tra môi trường với cơ quan quản lý nhà nước:
Trang 30Thanh tra môi trường trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạotrực tiếp của Giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường.
Thanh tra Sở có mối liên hệ với các ban ngành khác trong hệ thống quản lý nhànước.các cơ quan phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong công tác bảo vệ môi trường
Cụ thể quy trình thanh tra xử phạt liên quan đền lĩnh vực môi trường được đưa ra trong bảng 1.2
Bảng 1.2 Quy trình thanh tra xử phạt liên quan đến lĩnh vực môi trường Quy
Nghiên cứu đối tượng Xây dựng
đề cương yêu cầu đối tượngthanh tra báo cáo
Cơ sở được thanh tra báo cáo vớiđoàn thanh tra theo nội dung yêu
Gửi thông báo về quyết định thanhtra cho đối tượng được thanh tra biết
và kế hoạch tiến hành thanh tra
Kiểm tra, xem xét, lấy mẫu
Lập biên bản kiểm tra, xác địnhhành vi
Lập biên bản làm việc, biên bản
kiểm tra, xác định hành vi (Phụ lục
4 – Phụ lục 5).
Trang 31Lập các biên bản vi phạm hànhchính.
Lập các biên bản vi phạm hànhchính nếu đối tượng được thanh tra
Ban hành quyết định xử phạtVPHC Tống đạt quyết định
Cưỡng chế thi hành quyết định
Ban hành quyết định xử phạt và biệnpháp mà cơ sở cần để khắc phục
Sau đó gửi về cho cơ sở ( Phụ lục 7).
Báo cáo kết quả thanh tra Lập báo cáo về kết quả thực hiện sau
một thời gian kết thúc giai đoạn
thanh tra (Phụ lục 8).
(Nguồn: Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Tiền Giang)
1.3 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA MÔI TRƯỜNG
1.3.1 Khái niệm
Thanh tra là khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan thanh tra và các tổchức thanh tra nhân dân nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạmpháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách pháp luật để kiếnnghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục; phát huy nhân tốtích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức cá nhân
Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét, có nghĩa là nó xemxét những sự việc diễn ra có đúng với các quy tắc đã xác lập và các yêu cầu mà quản
lý đã ban ra hay không Kiểm tra là một hoạt động thường xuyên
Thanh tra môi trường là thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường được chínhphủ quy định cụ thể về tổ chức hoạt động, có đồng phục và phù hiệu riêng, có thiết bị
và phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ.[8]
Trang 32Thanh tra Sở là cơ quan trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm viquản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.[8]
1.3.2 Mối liên hệ giữa thanh tra và kiểm tra
1.3.2.1 Sự giống nhau giữa thanh tra và kiểm tra
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước khi nói đến hoạt động thanh trangười ta thường nói liền với hoạt động kiểm tra hoặc ngược lại Nó xuất phát từ mốiquan hệ qua lại và gắn bó với nhau giữa thanh tra và kiểm tra
Thanh tra và kiểm tra giống nhau ở tính mục đích bởi chúng đều nhằm phát huynhững nhân tố tích cực; phòng ngừa, phát hiện, xử lý những vi phạm trong quá trìnhthực hiện nhiệm vụ được giao của các chủ thể, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sáchquản lý và đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện tiếp theo để đạt kết quả như mongmuốn [9]
1.3.2.2 Sự khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra
Thứ nhất, khác nhau về chủ thể của hoạt động thanh tra, kiểm tra Chủ thể
của hoạt động thanh tra không đa dạng như kiểm tra Chủ thể thanh tra là tổ chứcthanh tra “chuyên nghiệp” của nhà nước theo quy định của Luật thanh tra; ngoài ratrong những trường hợp cần thiết người đứng đầu các cơ quan quản lý nhà nước cóquyền ban hành quyết định thành lập Đoàn thanh tra để tiến hành thanh tra Chủ thểthanh tra là Nhà nước, hoạt động thanh tra mang tính quyền lực nhà nước
Chủ thể của hoạt động kiểm tra rất rộng và đa dạng Mọi cơ quan, tổ chức nhànước, tổ chức kinh tế, các tổ chức chính tri – xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận tổquốc, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh…), các lực lượng vũ trang là chủ thể của hoạtđộng kiểm tra, có trách nhiệm tự kiểm tra hoạt động của mình, kiểm tra hoạt động cấpdưới của mình [9]
Thứ hai, khác nhau về nội dung giữa thanh tra và kiểm tra Nội dung thanh tra
thường phức tạp, đa dạng hơn so với nội dung kiểm tra (nội dung kiểm tra thường đơn
Trang 33giản, dễ nhận thấy hơn) Do vậy, khi lập kế hoạch cũng như phê duyệt kế hoạch thanhtra của các cơ quan nhà nước, những cá nhân có thẩm quyền theo quy định của phápluật nhất thiết phải nghiên cứu một cách công phu, thân trọng, kỹ lưỡng, khách quan.Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ có ý nghĩa tương đối không cứng nhắc.Trên thực tế, cábiệt có những cuộc kiểm tra cũng rất phức tạp không hề đơn giản như: kiểm tra dấuhiệu vi phạm của các tổ chức Đảng, của Đảng viên theo Điều lệ Đảng và theo phápluật của Nhà nước [9]
Thứ ba, khác nhau về trình độ nghiệp vụ giữa thanh tra và kiểm tra Hoạt
động thanh tra đòi hỏi Thanh tra viên và những người là thành viên Đoàn thanh traphải am hiểu về kinh tế - xã hội, có kỹ năng , nghiệp vụ giỏi về thanh tra nhất là lĩnhvực trực tiếp tiến hành thanh tra để đi sâu tìm hiểu vụ việc, nắm bắt thông tin, chứng
cứ từ đó phân tích, đánh giá rút ra những két luận, kiến nghị chính xác, khách quan vàlàm cơ sở vững chắc, tin cậy cho quyết định giải quyết hoặc xử lý sau khi kết thúcthanh tra Còn đối với kiểm tra do nội dung kiểm tra thường ít phức tạp hơn nênnghiệp vụ của thành viên các cuộc kiểm tra không đòi hỏi cao như thanh tra; tuy nhiênkhông vì thế mà xem nhẹ việc bố trí cán bộ tham gia các cuộc kiểm tra vì “cán bộquyết định sự thành bại của một cuộc kiểm tra” [9]
Thứ tư, khác nhau về phạm vi hoạt động giữa thanh tra và kiểm tra Phạm vi
hoạt động của thanh tra thường hẹp hơn phạm vị hoạt động của kiểm tra Phạm vi hoạtđộng của thanh tra thường được cân nhắc chọn lọc một cách kĩ lưỡng, thậm chí phảiqua kiểm tra sau đó mới quyết định thanh tra để đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm,hiệu lực hiệu quả của thanh tra cũng như đảm bảo mục đích của thanh tra Nếu sự việcchỉ cần kiểm tra mà do không nắm bắt, đánh giá, nhận định đúng đối tượng mà raquyết định thanh tra thì cuộc thanh tra đó không đảm bảo tính thuyết phục, sắc bén,quyền lực của thanh tra Phạm vi hoạt động của kiểm tra thường được tiến hành theo
bề rộng, diễn ra liên tục với nhiều hình thức phong phú, đa dạng trong đó có cả hìnhthức mang tính quần chúng không bắt buộc theo hình thức, trình tự, thủ tục nghiêmngặt như hoạt động thanh tra do Luật thanh tra quy định [9]
Thứ năm, khác nhau về thời gian tiến hành giữa thanh tra và kiểm tra Nhìn
chung trong hoạt động thanh tra hầu hết các vấn đề đều được tiến hành thẩm tra, xácminh, đối chiếu rất công phu, thân trọng mới có thể đưa ra được những kết luận những
Trang 34kiến nghị một cách chính xác, khách quan nên phải sử dụng nhiều thời gian hơn so vớikiểm tra Thời hạn mỗi cuộc thanh tra do các cơ quan thanh tra tiến hành được quyđịnh chặt chẽ tại Luật thanh tra.[9]
Tóm lại, thanh tra và kiểm tra có những quan hệ mật thiết gắn bó với nhau, giữachúng có sự giống nhau về mục đích nhưng lại khác nhau về năm phương diện chủyếu trên đây Tuy nhiên, việc so sánh và phân định sự khác nhau giữa thanh tra vàkiểm tra chỉ mang tính tương đối, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn không đượctuyệt đối hóa sự phân biệt này mới thực hiện tốt được các cuộc thanh tra, kiểm trađồng thời tránh được sai lầm khi tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra Trong côngtác bảo vệ mội trường chủ yếu hoạt động theo hình thức kiểm tra là chính, sau đó làthanh tra những vấn đề môi trường phức tạp hơn
1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
1.3.3.1 Chức năng
Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên và môi trườngtrong phạm vi quản lý nhà nước của Thủ trưởng cùng cấp đối với cơ quan, tổ chức, cánhân có hoạt động liên quan đến tài nguyên và môi trường, bao gồm: Đất đai;Tàinguyên nước; Tài nguyên khoáng sản, địa chất; Môi trường; Khí tượng, thuỷ văn; Đođạc, bản đồ; Quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; Các quy định kháccủa pháp luật liên quan đến hoạt động tài nguyên và môi trường.[8]
Giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về:
• Công tác thanh tra
• Giải quyết khiếu nại, tố cáo
• Phòng, chống tham nhũng
1.3.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
về tài nguyên và môi trường trong phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhândân cấp tỉnh.[8]
Trang 35 Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hànhchính.
Thanh tra vụ việc khác do Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường giao
Thực hiện nhiệm vụ giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo theo quy định củapháp luật
Nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng theo quy định của phápluật
Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thựchiện các quy định của pháp luật về công tác thanh tra; hướng dẫn về nghiệp vụthanh tra cho Thanh tra viên
Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo,phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở Tài nguyên
và Môi trường với các cơ quan quản lý theo quy định
Chủ trì, phối hợp thẩm định, rà soát việc ban hành hoặc bãi bỏ chính sách Tàinguyên và môi trường do ngành đề xuất trên địa bàn tỉnh
Tổ chức tiếp dân, tiếp nhận xử lý đơn thư thường xuyên theo quy định của phápluật và quy chế hoạt động của UBND tỉnh
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.[8]
1.3.4 Nguyên tắc, phương thức hoạt động
1.3.4.1 Nguyên tắc hoạt động
Hoạt động thanh tra tài nguyên và môi trường phải tuân theo pháp luật; bảo đảmchính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở đếnhoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và cơquan, tổ chức, cá nhân có liên quan.[8]
Khi tiến hành thanh tra, người ra quyết định thanh tra, Thủ trưởng cơ quan Thanhtra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, thành viên đoàn thanh tra phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình.[8]
1.3.4.2 Phương thức hoạt động thanh tra
Việc thanh tra được thực hiện theo phương thức Đoàn thanh tra hoặc Thanh traviên độc lập
Trang 36Đoàn thanh tra và Thanh tra viên độc lập hoạt động theo quy định của LuậtThanh tra.
Khi tiến hành thanh tra phải có quyết định của Thủ trưởng cơ quan Thanh tra Tàinguyên và Môi trường hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp
Trưởng Đoàn thanh tra, Thanh tra viên độc lập phải chịu trách nhiệm trước phápluật và người ra quyết định thanh tra về quyết định và biện pháp xử lý của mình
Khi xử lý vi phạm, Trưởng Đoàn thanh tra, Thanh tra viên độc lập phải thực hiệnđầy đủ trình tự theo quy định của pháp luật.[8]
1.3.4.3 Hình thức thanh tra
Hoạt động thanh tra được thực hiện dưới hình thức thanh tra theo chương trình,
kế hoạch hằng năm và thanh tra đột xuất và thanh tra để giải quyết khiếu nại, tố cáotheo đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.[8]
Thanh tra theo chương trình kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kếhoạch đã được phê duyệt
Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao
Thanh tra theo yêu cầu, giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.4 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA
Trang 37Phía Đông giáp biển Đông.
Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp
Phía Nam giáp tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long
Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Long An và Tp.Hồ Chí Minh
Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Tiền Giang
(Nguồn: Báo cáo tổng kết quy hoạch kinh tế - xã hội 2013)
Tiền Giang được bổ sung gia nhập vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam theocông văn số 4973/VPCP-ĐP ngày 03/9/2005 của Văn phòng Chính phủ thông báo.Tỉnh Tiền Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Mỹ Tho, thị
xã Gò Công, thị xã Cai Lậy và các huyện: Cái Bè, Gò Công Đông, Gò Công Tây, ChợGạo, Châu Thành, Tân Phước, Cai Lậy và Tân Phú Đông Trong đó, thành phố MỹTho đạt chuẩn đô thị loại 2 là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh,đồng thời cũng là trung tâm, là hội điểm giao lưu văn hóa, giáo dục, đào tạo, thươngmại, du lịch từ lâu đời của các tỉnh trong vùng Diện tích tự nhiên là 2.509,3 km2,chiếm khoảng 6% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 8,1% diện tích vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam, 0,7% diện tích cả nước.[10]
1.4.1.2 Địa hình
Trang 38Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1% và cao trìnhbiến thiên từ 0m đến 1,6m so với mặt nước biển Cao độ mặt đất tự nhiên phổ biến từ+ 0,80 m đến + 1,00 m Hướng dốc của địa hình không rõ rệt [10]
Nhóm đất mặn: Chiếm 14,6% tổng diện tích tự nhiên 34.552ha, chiếm phần lớndiện tích huyện Gò Công Đông, thị xã Gò Công, Gò Công Tây và một phần huyệnChợ Gạo Về bản chất đất đai thuận lợi như nhóm đất phù sa, nhưng bị nhiễm mặntừng thời kỳ hoặc thường xuyên
Nhóm đất phèn: Chiếm diện tích 19,4% diện tích tự nhiên 45.912ha, phân bố chủyếu ở khu vực trũng thấp Đồng Tháp Mười thuộc phía Bắc 3 huyện Cái bè, Cai Lậy,Tân Phước
Nhóm đất cát giồng: Chiếm 3,1% diện tích tự nhiên với 7.336ha, phân bổ rải rác
ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất ở huyện GòCông Đông
1.4.1.4 Sông ngòi
Tiền Giang có mạng lưới sông, rạch chằng chịt, bờ biển dài thuận lợi cho việcgiao lưu trao đổi hàng hoá với các khu vực lân cận đồng thời là môi trường cho việcnuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.[10]
Sông Tiền: Là nguồn cung cấp nước ngọt chính, chảy 115km qua lãnh thổ TiềnGiang Sông Vàm Cỏ Tây: Là một sông không có nguồn, lượng dòng chảy trên sông
Trang 39chủ yếu là từ sông Tiền chuyển qua Sông Vàm Cỏ Tây là nơi nhận nước tiêu lũ từĐồng Tháp Mười thoát ra và là 1 tuyến xâm nhập mặn chính.
1.4.1.5 Thời tiết- Khí hậu
Khí hậu Tiền Giang mang tính chất nội chí tuyến - cận xích đạo và khí hậu nhiệt
đới gió mùa nên nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm Có 2 mùa: Mùa khô từ
tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.Độ ẩm caovào các tháng từ 5 đến 11 (độ ẩm trung bình tháng từ 76,7% đến 82,5%) và thấp từtháng 12 đến tháng 4 (79,1 - 80%) Thời đoạn ẩm nhất là 3 tháng 8, 9, 10 và khô nhấtvào các tháng 2, 3 hàng năm.[10]
Nhiệt độ trung bình tại Mỹ Tho thay đổi từ 26 đến 30 độ C Tháng nóng nhất làtháng 4 Nhiệt độ cao tuyệt đối là 38,9 độ C; nhiệt độ thấp tuyệt đối là 14,9 độ C
1.4.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Than bùn: Tìm thấy ở Phú Cường, Tân Hoà Tây - Cai Lậy (mỏ Tân Hoà) và TânHoà Đông - Tân Phước (mỏ Tràm Sập) Sử dụng làm nhiên liệu, nguyên liệu nền chosản xuất phân vi sinh, phân bón Đang có doanh nghiệp khai thác.[10]
Sét: Tìm thấy ở Tân Lập - Tân Phước Sét có chất lượng tốt, có khả năng làmnguyên liệu để sản xuất ra các mặt hàng gốm xây dựng như gạch, ngói Đang códoanh nghiệp đầu tư khai thác
Cát sông: Phân bố chủ yếu trên lòng sông Tiền Tổng lượng mỏ thuộc địa bàntỉnh hơn 93 triệu m3 Đang có 13 doanh nghiệp đầu tư khai thác
Nước dưới đất: Trên phạm vi tỉnh có 3 tầng chứa nước có triển vọng, có độ giàunước từ lớn đến trung bình, có chất lượng tốt, đủ điều kiện khai thác với qui mô lớn vàvừa.[10]
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.4.2.1 Các lĩnh vực kinh tế
a Về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tổng thu ngân sách từ kinh tế địa phương năm 2014 ước đạt 4.401 tỷ đồng, đạt118,8% so dự toán, tăng 10,2% so với năm 2013.[11]
Trang 40Cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang qua các năm được thể hiện qua hình 1.2
Hình 1.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang từ năm 2010-2014
(Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê năm 2013 và báo cáo tổng kết kinh
tế- xã hội năm 2014)
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh có sự thay đổi qua các năm Từ năm 2010, Nônglâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỉ trọng lớn nhất (43,7%), tiếp đó là công nghiệp và xâydựng (27,4%) và dịch vụ (28,9%) Từ năm 2012 đến năm 2014, liên tục chuyển dịchtheo hướng giảm tỉ trọng ngành nông lâm nhiệp và thuỷ sản (so với năm 2010, ngànhnông lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2014 giảm 4,7%), tăng tỉ trọng ngành công nghiệp
và xây dựng (tăng 3,9% so với năm 2010) và tăng nhẹ tỉ trọng ngành dịch vụ lên 0,8%
so với năm 2010 Nguyên nhân khách quan do những năm gần đây xảy ra nhiều dịchbệnh trên cây trồng, vật nuôi, giá cả của nông sản, thuỷ sản liên tục thay đổi,…
Tổng sản phẩm trên địa bàn cả năm 2014 đạt 49.892 tỷ đồng được thể hiện ởbảng 1.3[11]
Bảng 1.3 Tốc độ phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Từ năm 2010 đến năm 2013, tốc độ phát triển tổng sản phầm trên địa bàn tỉnh có
xu hướng giảm nhẹ ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản, tăng công nghiêp-xây dựng vàdịch vụ do sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, từ chú trọng nông nghiệp sang côngnghiệp và dịch vụ Năm 2014, tốc độ phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh cóchiều hướng tăng mạnh ở tất cả các ngành