MỞ ĐẦU Nước – tài nguyên quý giá. Nước đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của con người và sinh vật. Nước cũng là yếu tố không thế thiếu trong hầu hết các quá trình của sự sống. Là thành phần không thể thiếu trong cấu trúc tế bào, chiếm khoảng 6070% trọng lượng của cơ thể người (thậm trí lên tới 99% đối với loài sứa), nước phân phối ở khắp nơi như máu, cơ bắp, não bộ, phổi, xương khớp.... Các nghiên cứu đã chứng minh, con người có thể chịu đựng đói ăn trong vài tháng, nhưng thiếu nước trong vài ngày là đã có nguy cơ tử vong. Theo Luật Tài nguyên nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Ngoài ra nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người. Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thuỷ sản v.v.. Do tính chất quan trọng của nước như vậy nên UNESCO lấy ngày 223 làm ngày “Nước thế giới”. Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, áp lực từ sự gia tăng dân số không ngừng và nhu cầu sử dụng lớn trong mọi ngành nghề kinh tế, xã hội, nhu cầu sử dụng nước, đặc biệt là nước sạch ngày một gia tăng. Tuy nhiên , do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người mà nguồn nước sạch ở một số địa phương trở nên khan hiếm. Điển hình như xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, vấn đề nhiễm phèn đang trở nên nhức nhối đối với cả người dân và nhà quản lý. Và câu hỏi đặt ra là phải làm thế nào để cung cấp đủ nước sạch cho cuộc sống của người dân và đảm bảo nguồn nước cho phát triển trong tương lai? Trước thực trạng cấp bách đó, bài báo cáo:” Đề xuất hệ thống xử lý nước nhiễm phèn quy mô hộ gia đình tại xã Tân Thuận, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận” sẽ đưa ra một số hệ thống , công nghệ xử lý nước phù hợp với quy mô và đặc điểm nước nhiễm phèn tại xã Tân Thuận, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.
Trang 1VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện môn Đồ án Kỹ thuật Môi trường này, em đãnhận được sự giúp đỡ của rất tận tình của cô giáo hướng dẫn Vì vậy việcnghiên cứu những dữ kiện thực tế và phối hợp với những lý thuyết đã học hếtsức thuận lợi Nhóm em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cô ……… đãchỉ dạy nhiệt tình giúp nhóm em có được lượng kiến thức cơ bản làm nền tảng
để thực hiện bài báo cáo này
Trong quá trình thực hiện bài báo cáo, do hạn chế về mặt kiến thức nănglực chủ quan Nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì thế nhóm em rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp từ cô và các bạn để đề tài này có thểhoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt, QCVN 02: 2009/BYT.Bảng 3.3 So sánh quy trình công nghệ
Trang 6Nước – tài nguyên quý giá Nước đóng vai trò quan trọng đối với sự sốngcủa con người và sinh vật Nước cũng là yếu tố không thế thiếu trong hầu hết cácquá trình của sự sống Là thành phần không thể thiếu trong cấu trúc tế bào, chiếmkhoảng 60-70% trọng lượng của cơ thể người (thậm trí lên tới 99% đối với loàisứa), nước phân phối ở khắp nơi như máu, cơ bắp, não bộ, phổi, xương khớp Các nghiên cứu đã chứng minh, con người có thể chịu đựng đói ăn trong vàitháng, nhưng thiếu nước trong vài ngày là đã có nguy cơ tử vong.
Theo Luật Tài nguyên nước của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã quy định: " Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nướcdưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ".Ngoài ra nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế củacon người Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,thuỷ điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thuỷ sản v.v Do tính chất quan trọng củanước như vậy nên UNESCO lấy ngày 22/3 làm ngày “Nước thế giới”
Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, áp lực từ sự giatăng dân số không ngừng và nhu cầu sử dụng lớn trong mọi ngành nghề kinh tế,
xã hội, nhu cầu sử dụng nước, đặc biệt là nước sạch ngày một gia tăng Tuy nhiên, do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người mà nguồnnước sạch ở một số địa phương trở nên khan hiếm Điển hình như xã Tân Thuận,huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, vấn đề nhiễm phèn đang trở nên nhứcnhối đối với cả người dân và nhà quản lý Và câu hỏi đặt ra là phải làm thế nào đểcung cấp đủ nước sạch cho cuộc sống của người dân và đảm bảo nguồn nước chophát triển trong tương lai? Trước thực trạng cấp bách đó, bài báo cáo:” Đề xuất
hệ thống xử lý nước nhiễm phèn quy mô hộ gia đình tại xã Tân Thuận, HàmThuận Nam, Bình Thuận” sẽ đưa ra một số hệ thống , công nghệ xử lý nước phùhợp với quy mô và đặc điểm nước nhiễm phèn tại xã Tân Thuận, Hàm ThuậnNam, Bình Thuận
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XÃ TÂN THUẬN, HUYỆN HÀM THUẬN
NAM, TỈNH BÌNH THUẬN
Trang 71.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế- xã hội
1.1.1. Vị trí địa lý
Tân Thuận là một xã thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, ViệtNam Tọa độ địa lý là 10o46’12”B – 107o52’10”Đ
Phía Bắc giáp với xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam
Phía Nam giáp với biển Đông
Phía Đông giáp với các xã Tân Thành, Thuận Quý, Hàm Minh thuộc HàmThuận Nam
Phía Tây giáp với xã Tân Hải, huyện Hàm Tân
Xã Tân Thuận có diện tích 65,71 km² [1]
Hình 1.1 Xã Hàm Thuận, Huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
1.1.2. Điều kiện kinh tế- xã hội
Dân số cũa xã là 11677 người
Xã Tân Thuận là một xã khó khăn của huyện Hàm Thuận Nam
Ngoài sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt hải sản là thế mạnhcủa vùng, đặc biệt là nuôi tôm…
Nghề làm muối cũng đang được đầu tư và phát triển mạnh, các dự án lớnlần lượt ra đời và được triển khai xây dựng, đưa vào hoạt động kinh doanh
sẽ góp phần cung ứng một lượng muối cần thiết cho người dân địa phương
và các vùng lân cận
1.2. Hiện trạng nhiễm phèn tại vùng nghiên cứu
Trang 8Thực trạng nước bị nhiễm bẩn ở xã đã kéo dài hàng chục năm nay Ngàyngày, hàng ngàn hộ dân phải lọc nước phèn bằng phương pháp thủ công để sinhhoạt, dù rất tốn thời gian Để có được lượng nước tương đối ít phèn phục vụ chosinh hoạt của gia đình như tắm rửa, giặt giũ, một số hộ dân phải sử dụng hệ thốnglọc phèn bằng các bình lọc tự chế qua cát Nhưng khi nước lọc xong cũng khôngthể sử dụng để nấu ăn, uống được Phần lớn các hộ dân ở Tân Thuận phải đi muanước uống, mỗi bình 10.000 đồng
Năm 2009, Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh vàUBND huyện Hàm Thuận Nam đã về làm việc với địa phương để xây dựng nhàmáy nước Tuy nhiên kế hoạch khởi công nhà máy bị kéo dài do vướng đền bùgiải tỏa Từ năm 2009, UBND tỉnh đã giao trung tâm phối hợp với huyện HàmThuận Nam đầu tư nhà máy nước tại xã Tân Thuận Qua quá trình khảo sát, trungtâm chọn địa điểm xây nhà máy nước ở thôn Hiệp Nhơn Năm 2012, tiến hànhđiều chỉnh áp giá đền bù đất để chuẩn bị khởi công, nhưng có một hộ dân đến nayvẫn chưa đồng ý giá đền bù của cơ quan chức năng Do vậy, thời gian tới huyện
sẽ dùng các biện pháp theo quy định của pháp luật để công trình được thực hiệntheo đúng tiến độ Dự kiến, nhà máy nước tại xã Tân Thuận sẽ được khởi côngvào năm 2014 Tuy vậy đến thời điểm hiện tại (gần cuối năm 2014) nhà máy nàyvẫn chưa xây dựng xong do chưa đủ kinh phí Do vậy, nước sạch đang là nhu cầubức bách của nhân dân xã Tân Thuận.[2]
Trang 9Hình 1.2 Giếng nước bị nhiễm phèn.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NƯỚC 2.1 Nước nhiễm phèn và các thành phần của nước nhiễm phèn
2.1.1 Nước nhiễm phèn
Nước nhiễm phèn là nước có độ acid cao (pH thấp), có vị chua củasulphuric acid, được tạo thành khi đất phèn (pyrite (FeS2)) tiếp xúc với khôngkhí Quá trình này đang diễn ra nhanh hơn do tốc độ khai thác sử dụng đất nôngnghiệp ngày càng cao
Nước bị nhiễm phèn là do tiếp xúc với đất phèn, loại đất này giàu nguyên tốlưu huỳnh ở dạng sunfua hay ở dạng sunfat và một vài nguyên tố kim loại nhưnhôm, sắt [3]
Dựa vào sự hình thành và phát triển của đất phèn, đất phèn được chia thànhhai loại:
Đất phèn tiềm tàng: là đơn vị đất thuộc nhóm đất phù sa phèn Đất phèntiềm tàng được hình thành trong vùng chịu ảnh hưởng của nước có chứa nhiềusulfat Trong điều kiệm yếm khí cùng với hoạt động của vi sinh vật, sulfat bị khử
Trang 10để tạo thành lưu huỳnh và chất này sẽ kết hợp với sắt có trong trầm tích để tạothành FeS2.[4]
Đất phèn hoạt động: Đất phèn hoạt động được hình thành sau khi đất phèntiềm tàng diễn ra quá trình oxi hóa Một số hợp chất và tinh khoáng khác thườnghiện diện trong đất phèn hoạt động như là hydroxide sắt (Fe(OH)3), geothite(FeO.OH), heamatite (Fe2O3), aluminium sulphate (A12(SO4)3)… Khi đất phèntiềm tàng bị ôxi hóa để trở thành đất phèn hoạt động thì hình thái đất bị biến đổiđầu tiên với sự hiện diện của tinh khoáng jarosit (KFe3(SO4)2(OH)6) màu vàngrơm Nếu độc chất phèn là sắt thì sẽ thấy màu đỏ nâu của rỉ sắt (còn gọi là phènnóng) và độc chất phèn nhôm sẽ có màu trắng (còn gọi là phèn lạnh).[5]
Quá trình hình thành nước nhiễm phèn:
Giai đoạn hình thành khoáng Pyrite FeS2 :
Sự hình thành pyrite(FeS2) là nguy cơ của phèn hoá đất và nước Giai đoạnđầu là sự phát triển của hệ thực vật nước mặn ở vùng gần bờ biển Sau đó, do quátrình bồi tụ phù sa, biển rút lui dần, rừng ngập mặn bị mất môi trường sống, câyngập mặn bị vùi trong phù sa và bị phân hủy yếm khí Cây nước mặn chứa rấtnhiều sulfat, trong quá trình phân giải yếm khí sulfat bị chuyển thànhhydrosulful Sản phẩm này khử oxit sắt tạo thành FeS Sau đó FeS chuyển hóadần thành khoáng pyrite (FeS2) Pyrite dần dần tích tụ lại tầng đáy
Giai đoạn hình thành acid sulful H2SO4
Sự hình thành acid sunphuaric do oxy hóa pyrite là nguyên nhân trực tiếplàm đất và nước nhiễm phèn.[3]
2.1.2 Các thành phần hóa học của nước phèn
Phèn là những muối kép có cấu tạo tinh thể đồng hình (đa phần có 8 mặt)tạo nên bởi các anion sunfat SO4-2 (cũng có thể là anion selenat SeO4-2; anionphức SeF4-2 hoặc ZnCl4-2) và cation của hai kim loại có hoá trị khác nhau
Trang 11Công thức chung của phèn là MIMIII(SO4)2.12H2O; MI là kim loại hoá trị 1như Na+, K+, Ce+, Rb+, hoặc NH4+; MIII là ion kim loại hoá trị 3 như Al3+, Fe3+,
Mn3+,Ti3+ Co 3+, Rb3+, Cr3+
Thường gặp các loại muối kép này dưới tên Phèn kép Còn các muối kimloại ngậm nước với công thức Mx(SO4)y.nH2O là Phèn đơn Ví dụ, phèn amoni làmuối kép (NH4)2SO4, Al2(SO4)3.24H2O, phèn crom Na2SO4.Cr2(SO4)3.24H2O,…,phèn đen là hỗn hợp của nhôm sunfat và than hoạt tính Dùng để tinh chế nước;dùng trong công nghiệp vải, sợi, giấy, thuộc da, vv Một số loại phèn cụ thể: Phènnhôm; Phèn sắt
Phèn sắt:
Là một muối kép của sắt (III) sunfat với muối sunfat của kim loại kiềm hayamoni
Ví dụ: Kali sắt sunfat [K2SO4.Fe2(SO4)3.24H2O hay KFe(SO4)2.12H2O]
Ở dạng tinh khiết, phèn sắt là tinh thể không màu, nhưng thường có màutím vì có vết mangan; tan trong nước
Phèn sắt được điều chế bằng cách kết tinh hỗn hợp sắt (III) sunfat với muốisunfat của các kim loại kiềm hoặc amoni Phèn sắt thường được dùng làm thuốcthử trong các phòng thí nghiệm
Phèn nhôm:
Gồm hai loại:
Phèn nhôm đơn: Al2.(SO4)3.18H2O
Phèn nhôm kép: muối kép của sunfat nhôm với sunfat kim loại kiềm hoặcamoni
Kali nhôm sunfat hay phèn nhôm kali (thường gọi: phèn chua)[KAl(SO4).12H2O hay K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O]:
Tinh thể lớn hình bát diện, trong suốt, không màu,vị chát, cảm giác se lưỡi;khối lượng riêng 1,75 g/cm3; tnc= 920C; đun nóng đến 200 0C thì mất nước kết
Trang 12tinh, thành phèn khan ở dạng bột trắng (thường gọi là phèn phi hoặc khô phèn) íttan trong nước.
Dung dịch phèn chua có tính axit, không độc Tinh thể phèn tan trong nướctạo màng hiđroxit lắng xuống kéo theo các chất bẩn lơ lửng trong nước, vì vậy,
nó được dùng làm trong nước; làm chất cầm màu trong nhuộm vải; chất kết dínhtrong ngành sản xuất giấy; làm thuốc thử trong các phòng thí nghiệm, dùng làmthuốc cầm máu bề mặt, lau rửa bộ phận cơ thể ra nhiều mồ hôi, rửa niêm mạcmiệng, họng; làm thuốc rắc kẽ chân Y học cổ truyền còn gọi phèn chua là bạchphèn Bạch phèn có tính hàn, vào kinh tì, giải độc, sát khuẩn, cầm máu, chữaviêm dạ dày, ruột; dùng thêm các vị thuốc khác chữa đau răng
Amoni nhôm sunfat hay phèn nhôm amoni[(NH4)2SO4.Al2(SO4)3.24H2O)]
Là tinh thể màu trắng, khối lượng riêng 1,65 g/cm3, tnc = 94,5 0C Dễ tantrong nước Cũng dùng làm trong nước, là một thành phần của bột nở, bột chữacháy; dùng trong mạ điện; trong y học, dùng làm thuốc lợi tiểu, gây nôn.[6]
2.2 Chỉ tiêu nước sinh hoạt
Bảng 2.1 Chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt, QCVN 02: 2009/BYT
tính
Giới hạn tối đa cho phép
Mức độ giám sát
Trang 13Ghi chú:
- (*) Là chỉ tiêu cảm quan
- Giới hạn tối đa cho phép I: Áp dụng đối với các cơ sở cung cấp nước.
- Giới hạn tối đa cho phép II: Áp dụng đối với các hình thức khai thác nước của cá nhân, hộ gia đình (các hình thức cấp nước bằng đường ống chỉ qua xử lý đơn giản như giếng khoan, giếng đào, bể mưa, máng lần, đường ống tự chảy) [7]
Đặc tính nước sinh hoạt tại xã Tân Thuận nhìn chung có màu vàng đục,nhiều tạp chất hữu cơ, có khoảng pH dao động từ 5,3-6,5; hàm lượng sắttrung bình lớn hơn 10mg/l
2.3 Mục đích của quá trình xử lý nước
Cung cấp đầy đủ lượng nước cho quá trình sử dụng của người dân và đảmbảo an toàn về mặt hoá học, hóa lý, sinh học…để thoả mãn các nhu cầu về ănuống, sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất…
Cung cấp nước có chất lượng tốt là nước không chứa các chấy gây đục, gây
ra màu, mùi, vị của nước
Trang 14Quá trình xử lý nước với mục đích tăng pH, khử sắt, nhôm, mangan, lọcmột phần cặn bẩn và vi sinh vật phù hợp với tiêu chuẩn vệ sinh đối với chấtlượng nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt.
2.4 Các phương pháp xử lý nước nhiễm phèn đang sử dụng
Trong nguồn nước thiên nhiên tại xã Tân Thuân, kể cả nước mặt và nướcngầm đều có chứa nhiều sắt Trong nước mặt, sắt tồn tại ở dạng hợp chất Fe3+,dạng keo hay huyền phù Trong nước ngầm, sắt thường tồn tại ở dạng ion sắt hóatrị 2 trong thành phần của các muối hòa tan như bicacbonat, sunfat, clorua Hàmlượng sắt này thường cao và phân bố không đồng đều trong các lớp trầm tíchdưới sâu Khi trong nước có hàm lượng sắt cao, nước có mùi tanh và có nhiềucặn bẩn màu vàng, làm giảm chất lượng nước ăn uống sinh hoạt và sản xuất Vìvậy, khi trong nước có hàm lượng sắt lớn hơn giới hạn cho phép thì phải tiếnhành khử sắt.[8]
Có 3 phương án khử sắt :
Khử sắt bằng phương pháp làm thoáng
Trong nước ngầm sắt thường tồn tại ở dạng ion, sắt có hoá trị 2 (Fe2+) làthành phần của các muối hoà tan như: Fe(HCO3)2; FeSO4…hàm lượng sắt cótrong các nguồn nước ngầm thường cao và phân bố không đồng đều trong các lớptrầm tích dưới đất sâu Nước có hàm lượng sắt cao, làm cho nước có mùi tanh và
có màu vàng, gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng nước ăn uống sinh hoạt vàsản xuất Do đó, khi mà nước có hàm lượng sắt cao hơn giới hạn cho phép theotiêu chuẩn thì chúng ta phải tiến hành khử sắt
Fe(OH)3, FeCl3 …trong đó Fe(OH)3 là chất keo tụ, dễ dàng lắng đọng trongcác bể lắng và bể lọc Vì thế các hợp chất vô cơ của sắt hoà tan trong nước hoàntoàn có thể xử lý bằng phương pháp lý học: làm thoáng lấy oxy của không khí đểoxy hoá sắt hoá trị II thành sắt hoá trị III và cho quá trình thuỷ phân, keo tụFe(OH)3 xảy ra hoàn toàn trong các bể lắng, bể lọc tiếp xúc và các bể lọc
Các ion Fe(OH)3 được lọc qua một lớp vật liệu lọc , sau đó tùy từng nguồnnước mà xử lý nước nhằm đạt mục sinh hoạt, chăn nuôi, sản xuất…
Trang 15Làm thoáng là phương án làm giàu oxy cho nước, tạo điều kiện để Fe2+ oxyhóa thành Fe3+ thực hiện quá trình thủy phân để tạo thành hợp chất ít tan Fe(OH)3
rồi dùng bể lọc để giữ lại cặn bẩn và cho ra là nước sạch
Fe2+ + O2 → Fe3+
Fe3+ + H2O → Fe(OH)3↓
Có thể làm thoáng nước thải bằng phương pháp tự nhiên hay nhân tạo:Làm thoáng tự nhiên được thực hiện ở hồ lắng lộ thiên và chất bẩn dễ bayhơi sẽ bay đi theo mặt thoáng của nước Vì hiệu suất khử thấp và chiếm nhiềudiện tích nên phương pháp làm thoáng tự nhiên ít được sử dụng
Khử khí bằng phương pháp cưỡng bức gồm 3 loại chính : tháp với vật liệutiếp xúc, thổi không khí nén vào lớp nước và tháp chân không.[8]
3Fe2+ + KMnO4 + 7H2O → 3Fe(OH)3 ↓ + MnO2 + K+ + 5H+
Kết quả cũng tạo ra chất ít tan Fe(OH)3 , và được giữ lại ở bể lọc Phươngpháp này có hiệu quả xử lý cao, tuy nhiên kinh phí cao hơn so với phương pháplàm thoáng
Khử sắt bằng vôi
Phương pháp khử sắt bằng vôi thường không đứng đôc lập, mà kết hợp vớicác quá trình làm ổn định nước hoặc làm mềm nước Phản ứng xảy ra theo 2trường hợp:
♦ Có oxy hòa tan
Trang 164Fe(HCO3)2 + O2 + 2H2O + 4Ca(OH)2 → 4Fe(OH)3 ↓ + 4Ca(HCO3)2
Sắt (III) hydroxyt được tạo thành, dễ dàng lắng lại trong bể lắng và giữ lạihoàn toàn trong bể lọc
♦ Không có oxy hòa tan
Fe(HCO3)2 + Ca(OH)2 → FeCO3 + CaCO3 + 2H2O
Sắt được khử đi dưới dạng FeCO3 chứ không phải hydroxyt sắt
Các phương pháp khử sắt khác:
Khử sắt bằng trao đổi Cation
Cho nước đi qua lớp vật liệu lọc có khả năng trao đổi ion Các ion H+ và
Na+ có trong thành phần của lớp vật liệu lọc, sẽ trao đổi với các ion Fe2+ có trongnước Kết quả Fe2+ được giữ lại trong lớp vật liệu lọc Lớp vật liệu lọc có khảnăng trao đổi ion là Cation thường được sử dụng cho nguồn nước có chứa Fe2+ ởdạng hòa tan
Khử sắt bằng điện phân
Sự điện phân là quá trình oxi hóa, quá trình khử xảy ra tại bề mặt các điệncực khi có dòng điện một chiều đi qua dung dịch chất điện li hay chất điện li ởtrạng thái nóng chảy
Dùng các điện cực âm bằng sắt,nhôm, còn có các điện cực dương bằngđồng, bạch kim, sử dụng điện cực ống hay hình sợi thay cho tấm điện cực phẳng
Khử sắt bằng phương pháp vi sinh vật
Một số loại vi sinh có khả năng ôxy hoá sắt trong điều kiện mà quá trìnhôxy hoá hoá học xảy ra rất khó khăn Chúng ta cấy các mầm khuẩn sắt trong lớpcát lọc của bể lọc, thông qua hoạt động của các vi khuẩn sắt được loại ra khỏinước Thường sử dụng thiết bị bể lọc chậm để khử sắt.[8]