1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện kế toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất ở việt nam – nghiên cứu cho cáctomtat v

27 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, với các lý do: 1 Xu hướng phát triển bền vững của xã hội hiện đại; 2 Vai trò và lợi ích của KTQTMT; 3 Nhu cầu cần thông tin về MT của nhà quản trị; 4 Thực trạng ô nhiễm MT tại c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN THỊ HẰNG NGA TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Việt

Phản biện 1 :

Phản biện 2 :

Phản biện 3 :

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại

Vào hồi giờ ngày tháng năm Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện :……….………

(ghi tên các thư viện nộp luận án)

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phát triển bền vững là một xu hướng phát triển tất yếu của xã hội hiện đại, đó là “sự phát triển

có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (Keeble, 1988, tr.20) Ở các nước phát triển, kinh tế xanh đã trở thành xu hướng kinh doanh, trong khi đó phần lớn các nước đang phát triển lại tạm thời ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, và hoạt động của các DNSX có thể sẽ gây ra các ảnh hưởng không tốt cho môi trường (O’Neill và cộng sự, 2005) Tuy nhiên dưới áp lực của tất cả các bên liên quan, các doanh nghiệp đã tiến hành kinh doanh ngày càng có trách nhiệm hơn Vì vậy, để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh, ngoài các thông tin về doanh thu, chi phí, lợi nhuận như trước đây, nhà quản trị còn cần thêm các thông tin liên quan đến môi trường Kế toán quản trị môi trường (KTQTMT) xuất hiện vào những năm 1970, có thể cung cấp thông tin để đáp ứng yêu cầu này (Mohd và cộng sự, 2012) Thực hiện KTQTMT không chỉ giúp các tổ chức tuân thủ luật pháp về bảo vệ môi trường mà còn mang lại cho nhiều lợi ích cho tổ chức, đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững (Delmas và Toffel, 2008)

Ngày nay, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề được toàn cầu quan tâm, vì vậy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thường chiếm vị trí trung tâm trong các cuộc thảo luận (Sadeghzadeh, 1995) Ở Việt Nam, thời gian qua tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng diễn biến phức tạp, các vụ việc ô nhiễm MT gây bức xúc dư luận có chiều hướng gia tăng Theo Bộ tài nguyên và môi trường (2016, tr.28), bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là một vùng kinh tế có đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh

tế của cả nước Năm 2016, mức tăng trưởng của vùng gấp 1,5 lần mức bình quân của cả nước, tỷ lệ đóng góp vào ngân sách chiếm tới 60% (Bùi Ngọc Hiền, 2017) Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã và đang chịu nhiều áp lực về môi trường Theo các số liệu công bố, ở nhiều nơi mức ô nhiễm cao hơn 4 – 5 lần so với tiêu chuẩn cho phép (Mạc Thị Minh Trà, 2014) Trước tình hình này việc giám sát của chính phủ, các cơ quan quản lý, truyền thông và công chúng đối với việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân sẽ ngày càng gia tăng

Với vai trò là phương tiện để các DN có thể quản lý hoạt động kinh doanh và môi trường, KTQTMT đã nhận được sự quan tâm ngày càng tăng của các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp và nhà nghiên cứu Là một nhánh kế toán tương đối mới, các nghiên cứu liên quan đến KTQTMT vẫn còn rất khiêm tốn (Bouma và Van der Veen, 2002) Vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về thực hiện KTQTMT ở các nước đang phát triển (Herzig và cộng sự, 2012) Riêng ở Việt Nam, KTQTMT là một lĩnh vực mới cả trong nghiên cứu lẫn ứng dụng thực tiễn KTQTMT vẫn chưa phổ biến ở các DN và rất ít các nghiên cứu chuyên sâu về KTQTMT (Phạm Thị Bích Chi và cộng sự, 2016)

Như vậy, với các lý do: (1) Xu hướng phát triển bền vững của xã hội hiện đại; (2) Vai trò và lợi ích của KTQTMT; (3) Nhu cầu cần thông tin về MT của nhà quản trị; (4) Thực trạng ô nhiễm MT tại các khu, cụm, điểm công nghiệp ở vùng KTTĐ phía Nam; và (5) Thiếu các nghiên cứu về nhân tố ảnh

hưởng đến thực hiện KTQTMT, tác giả đã thực hiện đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện Kế

toán quản trị môi trường tại các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam – Nghiên cứu cho các tỉnh thành khu vực phía Nam” Nghiên cứu này sẽ khám phá mối liên hệ giữa các nhân tố đến thực hiện

KTQTMT tại các DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến thực hiện KTQTMT tại các

DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể:

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng (trực tiếp và gián tiếp) đến thực hiện KTQTMT tại các DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam

- Đo lường mức độ ảnh hưởng (trực tiếp và gián tiếp) của các nhân tố đến thực hiện KTQTMT tại các

DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu: Câu hỏi nghiên cứu tương ứng với từng mục tiêu cụ thể như sau:

- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT tại các DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam?

- Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến thực hiện KTQTMT tại các DNSX ở các tỉnh thành khu vực

phía Nam hiện nay như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện KTQTMT và các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện

KTQTMT

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài được giới hạn trong phạm vi các DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam Thời gian nghiên cứu trong khoảng từ tháng 12/2014 đến 4/2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, được thực hiện thông qua 2 giai đoạn

1 Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, với kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia Giai đoạn nghiên cứu định tính nhằm giải quyết mục tiêu: (1) Xác định các nhân tố ảnh hưởng (trực tiếp và gián tiếp) đến thực hiện KTQTMT tại các DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam, (2) hoàn thiện thang

đo thực hiện KTQTMT và thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT

2 Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua việc thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng phiếu khảo sát và sử dụng các phần mềm SPSS, AMOS để hỗ trợ xử lý dữ liệu Giai đoạn nghiên cứu

định lượng nhằm giải quyết mục tiêu: Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến thực hiện

KTQTMT tại các DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

* Ý nghĩa khoa học: Thứ nhất, nghiên cứu này bổ sung vào cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng

đến việc thực hiện KTQTMT Thứ hai, ngoài các ảnh hưởng trực tiếp, nghiên cứu này còn phân tích

ảnh hưởng trung gian của các nhân tố đến việc thực hiện KTQTMT Thứ ba, nghiên cứu này đã phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố từ hai bối cảnh khác nhau (bối cảnh tổ chức và bối cảnh thể chế), thông qua việc kiểm tra ảnh hưởng của yếu tố nhận thức về sự biến động của MTKD đến áp lực mô phỏng trong quá trình đẩy mạnh việc thực hiện KTQTMT

* Ý nghĩa thực tiễn: Ở Việt Nam, KTQTMT là một lĩnh vực nghiên cứu mới và chưa thu hút được

nhiều sự quan tâm, nghiên cứu này được coi là kịp thời và phù hợp Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các hàm ý cho các DNSX trong việc thực hiện KTQTMT Nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho nhà quản trị tại các DNSX trong việc SXKD có trách nhiệm với môi trường Kiến thức thu được

từ nghiên cứu có thể thúc đẩy thực hiện KTQTMT tại các DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam

nhằm hướng tới mục tiêu gia tăng lợi ích kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Trang 5

7 Kết cấu của luận án

Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, luận án bao gồm các nội dung:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và một số hàm ý

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 1.1.1 Các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT

1.1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Những nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT đã trình bày khái niệm, phân loại thông tin môi trường, phương pháp xác định chi phí (CP), thu nhập (TN) môi trường và các hướng dẫn về KTQTMT Có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu như: USEPA (1995); Gray và cộng sự (1996), Epstein (1996a), Sefcek và các cộng sự (1997); Elkington (1997); UNDSD (2001); Burritt và cộng sự (2002); Lamberton (2005); IFAC (2005) Các nghiên cứu này đã trình bày nhiều khái niệm về KTQTMT và hiện nay vẫn chưa có khái niệm được thống nhất chung Tuy nhiên, những khái niệm do UNDSD (2001) và khái niệm do IFAC (2005) đề xuất được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về KTQTMT (Schalteger và cộng sự, 2011)

Thuộc nhóm các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT còn có các nghiên cứu về phương pháp xác định CPMT Trong đó có thể kể đến các dòng nghiên cứu như: (1) Kế toán chi phí (KTCP) theo dòng vật liệu (Schaltegger và Buritt, 2000; UNDSD, 2001; Bộ Môi trường Đức (Federal Environment Ministry - Germany), 2003; IFAC, 2005); (2) KTCP theo chu kỳ sống (Schaltegger và Buritt, 2000; Parker, 2000), (3) KTCP theo mức độ hoạt động (Stuart và cộng sự, 1999), (4) KTCP đầy đủ (Epstein,1996b; Bebbington và cộng sự, 2001), và (5) KTCP toàn bộ (USEPA, 1995) Các nghiên cứu phân loại chi phí theo nhóm (1), (2) và (3) nhằm phục vụ cho mục tiêu phân tích chi phí, còn các nghiên cứu phân loại theo nhóm (4) và (5) nhằm phục vụ cho mục tiêu thẩm định dự án đầu

1.1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam, các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTMT chủ yếu dựa vào nghiên cứu của UNDSD (2001) và IFAC (2005) Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào khái niệm, phân loại, phương pháp xác định CP, TN môi trường và hạch toán các khoản CP, TN môi trường, hoặc rút

ra bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác để hình thành những hướng dẫn về KTQTMT Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi bật như: Nguyễn Chí Quang (2003); Trần Thị Hồng Mai (2012); Phạm Đức Hiếu (2010); Võ Văn Nhị và Nguyễn Thị Đức Loan (2013); Huỳnh Đức Lộng (2015); Hoàng Thị Bích Ngọc (2014); Huỳnh Đức Lộng (2016)

1.1.2 Các nghiên cứu vận dụng Kế toán quản trị môi trường

1.1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Thời gian qua, rất nhiều tác giá quan tâm đến việc vận dụng KTQTMT trong các tổ chức khác nhau Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Deegan và cộng sự (1996); Brown và Deegan (1998); Verschoor (1998); Bartolomeo và cộng sự (2000); Frost và Wilmshurst (2000); Frost và Seamer (2002); Burritt, Hahn và Schaltegger (2002); Masanet-Llodra (2006); Burritt và Saka (2006); Kokubu và Nashioka (2008)

Trang 6

1.1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các nghiên cứu vận dụng KTQTMT trong các DN vẫn còn rất ít Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016) Các nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến phương pháp hạch toán CPMT tại các

DN thuộc một lĩnh vực cụ thể Thuộc nhóm này, có các nghiên cứu sau: Nguyễn Thị Ánh Tuyết và Nguyễn Chí Quang (2006); Bùi Thị Thu Thủy (2010); Phạm Hoài Nam (2016); Hoàng Thị Bích Ngọc (2017)

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ MÔI TRƯỜNG

Hiện nay đã có một vài nghiên cứu chuyên sâu về các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT tại các DN Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT của các tác giả như: Ferreira và cộng sự (2010); Chang và Deegan (2010); Qian và cộng sự (2011); Jalaludin và cộng

sự (2011); Christ và Burritt (2013); Alkisher (2013); Jamil và cộng sự (2015); Mokhtar và cộng sự (2016); Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016); Nguyễn Thị Nga (2016); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018a); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018b) …v.v sẽ cung cấp bằng chứng và sự hiểu biết toàn diện hơn cho những nhà hoạch định chính sách và những người ủng hộ thực hiện KTQTMT

Các nghiên cứu trước chủ yếu sử dụng lý thuyết ngẫu nhiên và lý thuyết thể chế để giải thích việc thực hiện KTQTMT Trong số các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT được rút ra từ các nghiên cứu trước, có 6 nhân tố phổ biến được nhiều tác giả ủng hộ, đó là: ALCE, ALQC, ALMP, Nhận thức về sự biến động của MTKD, CLMT và Sự phức tạp của nhiệm vụ Theo đề xuất của Al Kisher (2013), có thể phân loại các nhân tố này thành hai nhóm, bao gồm: nhóm nhân tố thuộc lý thuyết ngẫu nhiên (bối cảnh tổ chức) và nhóm nhân tố thuộc lý thuyết thể chế (bối cảnh thể chế)

1.2.1 Các nhân tố thuộc bối cảnh thể chế (Institutional Context)

Dựa trên nghiên cứu trước đây sử dụng lý thuyết thể chế để phân tích mức độ ảnh hưởng của

áp lực bên ngoài đến các tổ chức trong thực hiện KTQTMT, có ba nhân tố chính thuộc bối cảnh thể chế được lựa chọn để phân tích Các nhân tố này bao gồm áp lực cưỡng ép (ALCE), áp lực quy chuẩn (ALQC) và áp lực mô phỏng (ALMP)

1.2.1.1 Áp lực cưỡng ép (Coercive pressure)

Áp lực cưỡng ép là một nhân tố quan trọng của lý thuyết thể chế để giải thích sự đổi mới ở một tổ chức (DiMaggio và Powell, 1983; Delmas và Toffel, 2004b) Một số tác giả đã tìm thấy ảnh hưởng của ALCE đến thực hiện KTQTMT như: Ambe (2007); Chang và Deegan (2010), Qian và cộng

sự (2011), Alkisher (2013), Jamil và cộng sự (2015); Nguyễn Thị Nga (2016); Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018a)

1.2.1.2 Áp lực quy chuẩn (Normative pressure)

Sức ép áp lực quy chuẩn của các hiệp hội nghề nghiệp là một nhân tố thuộc bối cảnh thể chế, rất quan trọng trong các nghiên cứu trước (DiMaggio và Powell, 1983; Chang và Deegan, 2010) Các tác giả Ambe (2007), Qian và cộng sự (2011), Jalaludin và cộng sự (2011), Alkisher (2013), Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016), Nguyễn Thị Hằng Nga (2018a) nhận thấy rằng mức độ thực hiện KTQTMT bị ảnh hưởng đáng kể bởi ALQC

1.2.1.3 Áp lực mô phỏng (Mimetic pressure)

Áp lực mô phỏng là một trong các nhân tố thuộc lý thuyết thể chế, đã được một số tác giả như Qian và cộng sự (2011); Jalaludin và cộng sự (2011); Jamil và cộng sự (2015); Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016) nghiên cứu về ảnh hưởng của nó đến thực hiện KTQTMT

Trang 7

1.2.2 Các nhân tố thuộc bối cảnh tổ chức (Organizational Context)

Các tác giả Ferreira và cộng sự (2010), Chang và Deegan (2010), Qian và cộng sự (2011), Alkisher (2013), Christ và Burritt (2013), Mokhtar và cộng sự (2016) đã nghiên cứu rất nhiều các nhân

tố thuộc bối cảnh tổ chức ảnh hưởng đến việc cải tiến kỹ thuật và hành chính của các doanh nghiệp

Dựa trên các tài liệu liên quan đến thực hiện KTQTMT, ba biến chính thuộc bối cảnh tổ chức được lựa chọn để phân tích thực hiện KTQTMT tại các DNSX ở các tỉnh thành khu vực phía Nam, đó là: chiến lược môi trường (CLMT), nhận thức về sự biến động của môi trường kinh doanh (MTKD) và

sự phức tạp của nhiệm vụ Các biến này được chọn bởi vì trong các nghiên cứu trước đây là các nhân

tố quan trọng đã được đề xuất hoặc được phát hiện có ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT

1.2.2.1 Nhận thức về sự biến động của Môi trường kinh doanh (Business environmental uncertainty)

Môi trường kinh doanh (MTKD) là một nhân tố thuộc bối cảnh tổ chức trong các nghiên cứu

sử dụng lý thuyết ngẫu nhiên (Chenhall, 2003) Nếu một tổ chức trải qua mức độ biến động về MTKD cao, nó có thể phải đổi mới hệ thống KT nhằm cung cấp thêm thông tin cho việc ra quyết định để giảm thiểu ảnh hưởng của MTKD và quản lý các chi phí liên quan (Gul và Chia, 1994) Nhận thức về sự biến động của MTKD được tìm thấy là biến giải thích lớn đối với thực hiện KTQTMT trong một số nghiên cứu như Chenhall (2003); Qian và cộng sự (2011); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018b)

1.2.2.2 Chiến lược môi trường (Environmental strategy)

Liên quan đến KTQTMT, Parker (1997) cho thấy thực hiện KTQTMT có thể tùy thuộc vào chiến lược môi trường của tổ chức Kết quả này cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Ferreira

và cộng sự (2010), Qian và cộng sự (2011); Cadez và Guilding (2012), Christ và Burritt (2013), Alkisher (2013) Gần đây, Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016), Nguyễn Thị Hằng Nga (2018b) đã tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của CLMT đến thực hiện KTQT CPMT tại các DNSX ở Việt Nam

1.2.2.3 Sự phức tạp của nhiệm vụ (Task complexity)

Công việc của tổ chức (thường được gọi là nhiệm vụ tổ chức) liên quan đến loại công việc được thực hiện bởi một tổ chức (Daft và Macintosh, 1978) Nhiệm vụ bao gồm các thành phần: mức

độ phức tạp của quá trình thực hiện nhiệm vụ, số lượng thời gian suy nghĩ cần thiết để giải quyết các vấn đề liên quan đến công việc, và kiến thức cần có để thực hiện nhiệm vụ (Perrow, 1967) Liên quan đến KTQTMT, kết quả nghiên cứu của Woodward (1965); Chang và Deegan (2010), Qian và cộng sự (2011) cho thấy thực hiện KTQTMT có liên quan chặt chẽ đến sự phức tạp của nhiệm vụ

1.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1.3.1 Về đối tƣợng khảo sát

Các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng và thực hiện KTQTMT đã chú ý nhiều đến quan điểm của nhà quản trị hơn so với đối tượng khác Việc chỉ tập trung nghiên cứu dựa vào quan điểm của nhà quản trị là chưa đủ để giải thích các nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng và thực hiện các KTQTMT, do đó cần phải có thêm những nghiên cứu dựa trên quan điểm của các đối tượng khác

1.3.2 Về kết quả của các nghiên cứu

1.3.2.1 Đối với nhân tố áp lực cưỡng ép (Coercive pressure)

Có một số khác biệt giữa các nghiên cứu trước đây về ALCE trong việc thúc đẩy các công ty chấp nhận và thực hiện KTQTMT Các tác giả Ambe (2007), Chang và Deegan (2010), Alkisher (2013), Jamil và cộng sự (2015), Nguyễn Thị Nga (2016), Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016), Nguyễn Thị Hằng Nga (2018a) phát hiện thấy ALCE là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT Tuy nhiên, nghiên cứu của Jalaludin và cộng sự (2011) cho thấy ALCE đã không có một ảnh hưởng mạnh đến việc áp dụng KTQTMT

Trang 8

1.3.2.2 Đối với nhân tố áp lực quy chuẩn (Normative pressure)

Trái với kỳ vọng, nghiên cứu của Chang và Deegan (2010), Jamil và cộng sự (2015) cho thấy

áp lực của các hiệp hội nghề nghiệp và giáo dục chính thức (ALQC) không có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc áp dụng KTQTMT Trong khi đó, Ambe (2007), Qian và cộng sự (2011); Jalaludin và cộng

sự (2011); Alkisher (2013); Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018a) tìm thấy ALQC là những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT Như vậy kết quả của các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của ALQC vẫn còn những điểm khác biệt

1.3.2.3 Đối với nhân tố áp lực mô phỏng (Mimetic pressure)

Các nghiên cứu của Qian và cộng sự (2011); Alkisher (2013); Nguyễn Thị Hằng Nga (2018a)

đã tìm thấy ảnh hưởng cùng chiều của ALMP đến thực hiện KTQTMT tại các DNSX ở Việt Nam Trong khi đó, các kết quả nghiên cứu của Chang và Deegan (2010), Jalaludin và cộng sự (2011), Jamil

và cộng sự (2015); Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016) cho thấy ALMP không có ảnh hưởng mạnh đến việc áp dụng KTQTMT

1.3.2.4 Đối với nhân tố nhận thức về sự biến động của môi trường kinh doanh (Business environmental uncertainty)

Trong khi nhận thức về sự biến động của MTKD được tìm thấy là biến giải thích lớn đối với thực hiện KTQTMT (Chenhall, 2003; Qian và cộng sự, 2011; Nguyễn Thị Hằng Nga, 2018b), thì Osborn (2005) lập luận rằng ảnh hưởng của nhận thức về sự biến động của MTKD đến thực hiện KTQTMT không ảnh hưởng mạnh so với các biến số ngẫu nhiên khác Tương tự, Chang và Deegan (2010), Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016) cũng không tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của nhận thức về sự biến động của MTKD đến thực hiện KTQTMT

1.3.2.5 Đối với nhân tố chiến lược môi trường (Environmental strategy)

Kết quả nghiên cứu của Chang (2007) cho thấy CLMT đã không ảnh hưởng mạnh đến việc áp dụng KTQTMT Kết quả này không phù hợp với những phát hiện và kỳ vọng của các nghiên cứu (Kokubu và Nashioka, 2006; Qian và cộng sự, 2011; Christ và Burritt, 2013; Alkisher, 2013 Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016), Nguyễn Thị Hằng Nga (2018b), khi cho rằng các chiến lược của doanh nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc thực hiện đổi mới ở các tổ chức

1.3.2.6 Đối với nhân tố sự phức tạp của nhiệm vụ (Task complexity)

Qian (2007) đã diễn giải sự phức tạp của nhiệm vụ theo hướng là sự phức tạp trong công việc liên quan đến quy trình sản xuất kinh doanh Vì thế tác giả lập luận rằng nếu nhiệm vụ (liên quan đến quy trình sản xuất) càng phức tạp thì doanh nghiệp (hoặc tổ chức) càng phải thực hiện KTQTMT để thu thập các thông tin cần thiết Còn theo các tác giả Keit (2011); Dikgwatlhe (2013) và Kotzee (2014)

sự phức tạp của nhiệm vụ được hiểu là sự phức tạp liên quan đến thực hiện KTQTMT Vì vậy khi sự

phức tạp của nhiệm vụ tăng lên sẽ cản trở thực hiện KTQTMT

1.3.3 Về số lƣợng các nghiên cứu

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về áp dụng KTQTMT ở các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới được thực hiện, nhưng các nghiên cứu về KTQTMT ở các nước đang phát triển vẫn còn rất ít Ở Việt Nam, thời gian gần đây cũng đã có một vài tác giả quan tâm nghiên cứu vấn đề này, ví dụ như Hoàng Thị Bích Ngọc (2016); Phạm Thị Bích Chi và cộng sự (2016); Nguyễn Thị Nga (2016) Tuy nhiên các tác giả mới chỉ xem xét một khía cạnh của KTQT đó là KTQT chi phí Ngoài ra, các tác giả cũng chỉ

mới nghiên cứu cho một lĩnh vực sản xuất kinh doanh cụ thể

Trang 9

1.4 KHE HỔNG NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

1.4.1 Khe hổng nghiên cứu

Ở Việt Nam, KTQTMT vẫn chưa phổ biến ở các DN và rất ít các nghiên cứu về KTQTMT được thực hiện (Phạm Thị Bích Chi và cộng sự, 2016) Kết quả của một số nghiên cứu ở nước ngoài

đã phát hiện ra các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT ở các tổ chức Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này đều không xem xét một cách toàn diện tất cả các nhân tố và đã bỏ qua ảnh hưởng gián tiếp của các nhân tố đến thực hiện KTQTMT

Mặt khác, những phát hiện trong các nghiên cứu trước còn có nhiều điểm khác biệt Kết quả của một số nghiên cứu không phù hợp với những kỳ vọng từ lý thuyết, hoặc trái với những lập luận và phát hiện của nhiều tác giả trong các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT

1.4.2 Định hướng nghiên cứu của tác giả

Luận án kế thừa những công trình nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện

KTQTMT, đồng thời xem xét thêm ảnh hưởng gián tiếp của các nhân tố đến thực hiện KTQTMT

Thứ hai, nghiên cứu này là một trong số ít các nghiên cứu phân tích đường đi giữa các nhân tố

từ hai bối cảnh khác nhau (bối cảnh tổ chức với các nhân tố được phát triển từ lý thuyết ngẫu nhiên và bối cảnh thể chế với các nhân tố được phát triển từ lý thuyết thể chế) đến thực hiện KTQTMT bằng cách kiểm tra ảnh hưởng của nhân tố nhận thức về sự biến động của MTKD đến ALMP trong quá trình ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT

1.5 TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương này trình bày khảo lược về các công trình nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT Trên cơ sở đánh giá những công trình nghiên cứu trước nhằm xác định được khe hổng nghiên cứu, xác định hướng nghiên cứu cho luận án

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ MÔI TRƯỜNG

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

2.1.2 Định nghĩa và phân loại Kế toán môi trường

2.1.3 Định nghĩa Kế toán quản trị môi trường

Các định nghĩa về KTQTMT rất đa dạng (ví dụ Bennett và James, 1998;Bartolomeo và cộng

sự, 2000; UNDSD, 2001; Jasch, 2003; Bouma và Correlje, 2003; IFAC, 2005; Staniskis và Stasiskiene, 2006) Mặc dù có một số khác biệt trong các định nghĩa KTQTMT về phạm vi áp dụng, nhưng hầu hết các định nghĩa đều giải thích rằng KTQTMT là một hệ thống thông tin bổ sung cho KTQT Nó không phải là một hệ thống riêng biệt, nhưng giúp cải thiện cho hệ thống KTQT

Định nghĩa do Bennett và James (1998) đã được lựa chọn cho các mục đích của nghiên cứu này Theo đó, “KTQTMT là một hệ thống thông tin cung cấp thông tin tiền tệ và phi tiền tệ để cải tiến và đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của một doanh nghiệp” Định nghĩa này làm nổi bật tầm quan trọng của thông tin được tạo ra bởi KTQTMT nhằm nâng cao hiệu quả tài chính và HQMT trong một tổ chức

2.1.4 Đối tượng của Kế toán quản trị môi trường

Theo IFAC (2005) đối tượng của KTQTMT bao gồm:

- Kế toán chi phí môi trường

- Kế toán doanh thu và các khoản thu nhập môi trường

- Kế toán đánh giá hiệu quả các nguồn lực

Trang 10

2.1.5 Các loại thông tin của Kế toán quản trị môi trường

Thực hiện và áp dụng KTQTMT trong một tổ chức phải bao gồm kế toán theo thước đo tiền tệ (thông tin tài chính hoặc thông tin tiền tệ) và kế toán theo thước đo hiện vật (thông tin phi tiền tệ) về

sử dụng vật liệu, giờ lao động cũng như các trình điều khiển chi phí khác

2.1.6 Nội dung kế toán quản trị môi trường

Nội dung công tác KTQTMT trong DN được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau

- Tiếp cận theo chu trình công việc, công tác KTQTMT bao gồm các nội dung:

+ Tổ chức thu thập thông tin ban đầu (xác định chi phí, thu nhập môi trường)

+ Tổ chức hệ thống hóa, xử lý TTMT (tổng hợp, phân bổ thông tin CP TN môi trường, phân tích CP vòng đời, phân tích dòng CP NVL, phân tích dòng luân chuyển vật chất)

+ Tổ chức phân tích hiệu quả hoạt động môi trường

+ Tổ chức cung cấp TTMT (Báo cáo KTQTMT)

Như vậy, thực hiện KTQTMT bao gồm việc tổ chức thu thập thông tin, xử lý thông tin,

phân tích thông tin và cung cấp thông tin môi trường.

2.2 CÁC LÝ THUYẾT NỀN CÓ LIÊN QUAN

2.2.1 Lý thuyết thể chế (Institutional theory)

2.2.1.1 Khái niệm lý thuyết thể chế

Lý thuyết thể chế đề cập đến những thay đổi trong hành vi của tổ chức (thay đổi mô hình, chiến lược, quy trình, phương pháp, kỹ thuật, …) do sự ảnh hưởng đến từ áp lực của các bên liên quan

và cách thức các tổ chức có thể làm để tồn tại và phát triển hợp pháp (Ninh Thị Kim Thoa, 2015)

2.2.1.2 Các yếu tố cơ bản của lý thuyết thể chế

Scott (1995) đã phân nhóm 3 yếu tố của lý thuyết thể chế thành: Áp lực cưỡng ép, áp lực quy chuẩn và áp lực mô phỏng

- Áp lực cưỡng ép là việc các tổ chức phải chịu các sức ép chính thức hoặc không chính thức từ các

thể chế quyền lực bên ngoài (chính phủ, cơ quan quản lý, khách hàng, nhà cung cấp), khiến tổ chức phải thay đổi hệ thống và quy trình thủ tục để tuân thủ các quy định

- Áp lực quy chuẩn, thể hiện yêu cầu các tổ chức phải tuân thủ các chuẩn mực nghiệp vụ, các quy

định, nguyên tắc và đạo đức nghề nghiệp, được thực hiện thông qua giáo dục và hiệp hội chuyên môn

- Áp lực mô phỏng thể hiện sức ép các tổ chức phải tìm kiếm các hình mẫu trong xã hội để học tập

các hoạt động, mô hình, quy trình, phương pháp, kỹ thuật của các tổ chức thành công đó

2.2.1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố thể chế đến thực hiện Kế toán quản trị môi trường

Ảnh hưởng của các yếu tố thể chế đến thực hiện KTQTMT được giải thích như hình 2.2 dưới đây

KTQTMT

Trang 11

2.2.1.4 Vận dụng lý thuyết thể chế cho nghiên cứu này

Ngoài ba trụ cột chính của lý thuyết thể chế ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT như giải thích

ở hình 2.2, Delmas và Toffel (2004b) còn đề xuất có thể có sự tương tác giữa các yếu tố thể chế, Ví dụ như, dưới ALCE của nhà cầm quyền, các tổ chức và hiệp hội nghề nghiệp có thể phải xây dựng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn và các cơ quan chuyên môn cũng như các hiệp hội nghề nghiệp đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong cùng mạng lưới kinh doanh bắt chước hành vi của tổ chức khác Với các lập luận trên, lý thuyết thể chế vận dụng cho nghiên cứu này được trình bày như hình 2.3 dưới đây

Nguồn: Tác giả tự xây dựng

Hình 2.3 Vận dụng lý thuyết thể chế cho nghiên cứu 2.2.2 Lý thuyết ngẫu nhiên (Contingency Theory)

2.2.2.1 Khái niệm lý thuyết ngẫu nhiên

Lý thuyết ngẫu nhiên cho rằng không có hệ thống kế toán tổng quát chung phù hợp với tất cả các tổ chức trong mọi hoàn cảnh, các tổ chức phải liên tục đánh giá và cải tiến các hệ thống KTQT của mình để đối mặt với những thách thức của một môi trường luôn biến đổi và một tổ chức luôn thay đổi (Hutaibat, 2005)

2.2.2.2 Các yếu tố cơ bản của lý thuyết ngẫu nhiên

Trong các nghiên cứu trước, rất nhiều các nhân tố ngẫu nhiên đã được tìm thấy có ảnh hưởng đến việc thiết kế hệ thống kế toán Trong đó, ảnh hưởng của các nhân tố ngẫu nhiên đến thiết kế hệ thống KTQT đã được nghiên cứu nhiều nhất là: môi trường, chiến lược và nhiệm vụ tổ chức (Chenhall, 2003)

- Nhận thức về sự biến động của môi trường kinh doanh được hiểu là nhận thức về mức độ không thể

kiểm soát hoặc dự đoán chính xác các trạng thái trong tương lai của MTKD

- Chiến lược môi trường là một kế hoạch tổng thể liên quan đến hoạt động môi trường của doanh nghiệp,

nhằm triển khai nguồn lực để thiết lập một vị trí thuận lợi cho doanh nghiệp, bao gồm: tuân thủ các quy định về môi trường, xây dựng các giải pháp BVMT, hướng đến việc cung cấp SP thân thiện với MT và đạt được các chứng nhận về MT

- Sự phức tạp của nhiệm vụ được hiểu là mức độ khó khăn trong quá trình thực hiện KTQTMT (về chi

phí, thời gian, công sức, độ phức tạp để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ), và yêu cầu kiến

thức cần có để thực hiện nhiệm vụ

2.2.2.3 Ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên đến thực hiện Kế toán quản trị môi trường

Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc lý thuyết ngẫu nhiên đến thực hiện KTQTMT được giải thích như hình 2.5 dưới đây

Áp lực cưỡng ép

Áp lực quy chuẩn

Áp lực mô phỏng Thực hiện

KTQTMT

Trang 12

Nguồn: tác giả tổng hợp

Hình 2.5: Ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên thực hiện KTQTMT

2.2.2.4 Vận dụng lý thuyết ngẫu nhiên cho nghiên cứu này

Ngoài ba yếu tố chính của lý thuyết ngẫu nhiên ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT như giải thích ở hình 2.5 Theo khung nghiên cứu của Gordon và Miller (1976) về ảnh hưởng của các biến ngẫu nhiên đến hành vi tổ chức (xem hình 2.4), các biến ngẫu nhiên vừa ảnh hưởng trực tiếp, vừa có ảnh hưởng gián tiếp đến hệ thống thông tin KT của một tổ chức thông qua ảnh hưởng giữa MTKD với các thuộc tính của tổ chức Phát triển khung nghiên cứu của Gordon và Miller (1976), các tác giả Gupta và Govindarajan (1984) đã lập luận rằng một tổ chức có thể lựa chọn các chiến lược khác nhau để đối phó với sự biến động của MTKD Điều này hàm ý rằng nhận thức về sự biến động của MTKD sẽ ảnh hưởng đến CLMT của DN và đến lượt nó CLMT ảnh hưởng đến thực hiện KTQTMT Với các lập

luận trên, lý thuyết ngẫu nhiên vận dụng cho nghiên cứu này được trình bày như hình 2.6 dưới đây

Nguồn: tác giả tổng hợp

Hình 2.6: Vận dụng lý thuyết ngẫu nhiên cho nghiên cứu 2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ MÔI TRƯỜNG

TỪ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.3.1 Thực hiện Kế toán quản trị môi trường

2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện kế toán quản trị môi trường

2.4 PHÁT TRIỂN CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Căn cứ vào tổng quan lý thuyết, kết quả của các nghiên cứu có liên quan, tác giả xây dựng 14 giả thuyết như sau:

Bảng 2.5 Các giả thuyết nghiên cứu Giả

thuyết

Nội dung giả thuyết Dấu kỳ

vọng

H1 ALCE có ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện KTQTMT +

H2 ALQC có ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện KTQTMT +

Nhận thức về sự biến động

của MTKD

Thực hiện KTQTMT

Chiến lược môi trường

Sự phức tạp của nhiệm vụ

Nhận thức về sự biến động

của MTKD

Thực hiện KTQTMT

Chiến lược môi trường

Sự phức tạp của nhiệm vụ

Trang 13

H3 ALMP có ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện KTQTMT

H4 Nhận thức về sự biến động của MTKD có ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện

KTQTMT

+

H5 CLMT có ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện KTQTMT +

H6 Sự phức tạp của nhiệm vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện KTQTMT -

H7A ALCE có ảnh hưởng gián tiếp đến thực hiện KTQTMT, thông qua vai trò

trung gian của ALQC

+

H8A ALQC có ảnh hưởng gián tiếp đến thực hiện KTQTMT, thông qua vai trò

trung gian của ALMP

+

H9 Nhận thức về sự biến động của MTKD có ảnh hưởng trực tiếp đến ALMP +

H9A Nhận thức về sự biến động của MTKD có ảnh hưởng gián tiếp đến thực hiện

KTQTMT, thông qua vai trò trung gian của ALMP +

H10 Nhận thức về sự biến động của MTKD có ảnh hưởng trực tiếp đến CLMT +

H10A Nhận thức về sự biến động của MTKD có ảnh hưởng gián tiếp đến thực hiện

KTQTMT, thông qua vai trò trung gian của CLMT

+

2.5 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT

Ngoài các mối quan hệ như đã trình bày ở hình 2.3 và hình 2.6, theo lý thuyết thể chế mới do DiMaggio và Powell (1983) đề xuất, mô phỏng là một quá trình bắt chước các hình mẫu tiêu chuẩn để đối phó với sự biến động của MTKD Điều này ngụ ý rằng nhận thức về sự biến động của MTKD có ảnh hưởng đến áp lực mô phỏng Vì vậy, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:

Nguồn: tác giả đề xuất

Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu đề xuất 2.6 TÓM TẮT KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung và cung cấp một nền tảng cơ bản về KTQTMT và các nhân tố có thể ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nó Tiếp theo chương 2 thảo luận

về việc áp dụng các lý thuyết nền tảng, bao gồm: lý thuyết ngẫu nhiên và lý thuyết thể chế trong việc giải thích việc thực hiện KTQTMT Đồng thời, chương 2 cũng nêu bật các vấn đề đã được xác định và giải quyết bởi các nghiên cứu liên quan đến thực hiện KTQTMT Những vấn đề này đã được phân tích

và biện luận nhằm xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này Chương Ba cung cấp chi tiết về phương pháp nghiên cứu cho luận án

Ngày đăng: 17/10/2018, 10:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w