Tên Người Dao Các tên gọi khác: Mán bắt nguồn từ chữ Man, Đông, Trại, Dìu Miền,Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, CốcMùn, Sơn Đầu v.v Sự thiếu xác định đó khôn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
BỘ MÔN DU LỊCH -
TIỂU LUẬN
Học kỳ 2 năm học 2019 - 2020
Học phần: Văn hóa tộc người Việt Nam
Tên bài tiểu luận: Văn hóa tộc người Dao đối với
sự phát triển du lịch
Giảng viên: Nguyễn Đức Khoa
Sinh viên: Nguyễn Phương Thảo
Lớp: Văn hóa tộc người.2
Giảng viên Chấm 1 Giảng viên chấm 2
Nguyễn Đức Khoa Phùng Đức Thiện
Trang 2HÀ NỘI, tháng 03 năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1 GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI DAO 1
1.1 Tổng quan về người Dao 1
1.1.1 Tên 1
1.1.2 Nhóm 2
1.1.3 Dân số 4
1.1.4 Nguồn gốc lịch sử phát triển 5
1.1.5 Phân bố ở Việt Nam 7
1.2 Các giá trị văn hóa của người Dao 7
1.2.1 Văn hóa vật chất 8
1.2.2 Văn hóa phi vật chất 20
PHẦN 2 VẬN DỤNG VĂN HÓA NGƯỜI DAO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 23 2.1 Vận dụng văn hóa tộc người Dao với vai trò là tài nguyên du lịch 23
2.1.1 Tài nguyên du lịch 23
2.1.2 Hoạt động khai thác 24
2.2 Vận dụng văn hóa tộc người Dao với vai trò dịch vụ du lịch 25
2.2.1 Dịch vụ lưu trú 25
2.2.2 Dịch vụ ăn uống 26
2.3 Vận dụng văn hóa tộc người Dao trong ứng xử du lịch 26
2.3.1 Khách du lịch 26
2.3.2 Cư dân 28
2.3.3 Người làm du lịch 31
PHẦN 3 KẾT LUẬN 33
Trang 4PHẦN 1 GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI DAO
1.1 Tổng quan về người Dao
1.1.1 Tên
Người Dao
Các tên gọi khác: Mán (bắt nguồn từ chữ Man), Đông, Trại, Dìu Miền,Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, CốcMùn, Sơn Đầu v.v
Sự thiếu xác định đó không chỉ phổ biến trong dân gian à còn thấy ngaytrên sách báo và các văn bản của nhà nước
Người Dao tự gọi là Dìu miền hay Kiềm miền Qua tìm hiểu: tên Mán làbắt nguồn từ chữ Man Các tộc người sinh tụ ngoài địa bàn cư trú của Hán tộc từlưu vực Trường Giang trở xuống phương Nam đều bị phong kiến Hán gọi làMan Tên này chỉ là một tên phiếm định nhưng dần về sau đã hàm ý khinh miệt(lạc hậu, mọi rợ) Người Dao chỉ là một tộc người trong nhiều tộc có tên là Man,
do đó tên Man hay Mán không thể là tên gọi riêng của người Dao Tên Động,Trại, Xá cũng đều là những tên gọi không đúng với tên tự gọi của người Dao và
ít nhiều đều có ý khinh thị Tên Dạo là gọi chệch từ tên Dao, cũng như ngườiMèo được gọi là Mẹo
Còn tên tự nhận của người Dao là Kiềm miền hay Kim Mùn đều có nghĩa
là người ở rừng núi (Kiềm, Kềm, Kìm = rừng; miền, mần, mùn= người) Tênnày cũng là tên phiếm xưng Ngoài tên Kiềm miền, người Dao còn có tên Dìumiền, phát âm theo tiếng Hán- Việt là Dao nhân tức là người Dao Tên này đượcnhắc đến trong các câu chuyện truyền miệng hoặc trong các tài liệu cổ của ngườiDao: trong truyện quả bầu, trong Qủa sơn bảng văn (Bình hoàng hoán diệp),trong bản trường thi thất ngôn nói về cuộc di cư của người Dao Tiền và DaoQuần chẹt từ Quảng Đông vào Việt Nam hồi nhà Lý,… Sử sách cổ Trung Quốccũng nói tới tên Dao như: sách Tùy thư địa lý chí, sách Thuyết man, sách QuếHải ngu hành chí, sách Lĩnh ngoại đại đáp,… như vậy, Dao là tên tự nhận của
Trang 5người Dao, nó gắn với lịch sử hình thành dân tộc Dao, nó gắn với lịch sử hìnhthành dân tộc Dao, nó được người Dao thừa nhận và nay đã là tên gọi chính thứccủa dân tộc này.
1.1.2 Nhóm
* Nhóm ngôn ngữ
Người Dao thuộc nhóm Ngôn ngữ Mông - Dao (Do xưa kia, các tộc ngườisinh tụ ngoài địa bàn cư trú của người Hán từ lưu vực sông Trường Giang trởxuống phương Nam đều rất gần với ngôn ngữ Mông vì vậy được xếp cùngnhóm)
Những người Dao ở Việt Nam, đứng về mặt ngôn ngữ mà xét thì họ cóthể chia thành hai nhóm lớn, ứng với hai phương ngữ Thuộc phương ngữ thứnhất có hai nhóm lớn: Dao Đại Bản và Dao Tiểu Bản Thuộc phương ngữ thứ 2cũng có 2 nhóm lớn: Dao Quần trắng và Dao Làn Tẻn Nhưng đứng về mặtphong tục, tập quán về những đặc trưng của trang phục mà xét, 4 nhóm lớn lạibao gồm nhiều nhiều nhóm nhỏ cùng với nhiều tên gọi khác nhau chúng ta cóthể xem bảng phân loại sau đây:
Nhóm theo
phương ngữ
Nhóm lớn Nhóm nhỏ với các tên gọi khác nhau
- Dao Quần Chẹt, Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo,Dao Nga hoàng, Dao Ba tiêu
Tiểubản
Dao tiền, Dao đen tiền
Nhóm II
(Kim mùn)
Quầntrắng
- Dao quần trắng
- Dao họLàn
Trang 6Tất cả các nhóm Dao đều nói chung một thứ tiếng là tiếng Dao, ngôn ngữDao rất gần với ngôn ngữ Mèo, hợp với ngôn ngữ Mèo thành nhóm ngôn ngữMèo- Dao Hiện nay, việc xác định vị trí của ngôn ngữ Mèo- Dao trong hệ thốngphân loại ngôn ngữ thế giới còn có ý kiến khác nhau Có người xếp ngôn ngữMèo - Dao vào ngữ tộc Hán - Tạng, có người lại chủ trương ngôn ngữ Mèo -Dao thuộc ngữ hệ Nam Á.
Sự khác nhau về tiếng nói giữa các nhóm Dao ở Việt Nam không đáng kể,chỉ ở một số ít từ vị cơ bản và thanh điệu, còn cấu tạo ngữ pháp không có gì thayđổi
* Nhóm trong tộc người:
Người Dao có nhiều nhóm khác nhau phân biệt theo vùng Tên gọi cácnhóm Dao dựa vào nhiều yếu tố không chỉ là phong tục, tập quán mà còn dựatrên trang phục và những đặc điểm truyền thống bên ngoài, như:
Dao Đỏ (Dao Sừng, Dao Đại Bản…);
Dao Quần Chạt (Dao Sơn đầu, Tam Đảo, Nga Hoàng…);
Dao Lo Ga (Thanh Phán, Cóc Mun);
Dao Tiền (Dao deo tiền, tiểu bản);
Dao Quần trắng (Dao Họ);
Dao Thanh Y;
Dao Làn Tẻn (ở Tuyên Quang mặc Áo Dài)
Người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng
về phong tục tập quán, mà biểu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục của họ Trangphục của người phụ nữ Dao thường là áo, yếm, chân quấn xà cạp, cùng các đồtrang sức vàng bạc, khăn vấn đầu Trang phục của nam giới, thường là chiếc áongắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực
Tiến sỹ Võ Mai Phương, Viện bảo tàng Dân tộc Việt Nam, cho biết:
Nhóm Dao Đỏ khi nhìn vào bộ quần áo trang phục là có thể nhận thấyngay vì màu sắc nổi bật là màu đỏ Màu đỏ chiếm hầu hết trăng phục của
Trang 7họ từ áo quần váy đến khắn, thắt lưng trên trng phục nữ thì màu đỏchiếm màu chủ đạo Vậy khi nhìn Dao Đỏ là có thể nhìn nhận qua trangphục
Nhóm Dao Tiền thì là nhóm Dao duy nhất mặc váy trong 7 nhóm Dao.Những nhóm khác thường mặc quần áo Trên trang phục nữ nười Daotiền thì in sáp ong Khi in trên váy hiển thị rõ nhất là hoa văn đồng tiền
Nhóm Dao quần chạt (Sơn Đầu) ở có đặc điểm riêng biệt đó là đầungười phụ nữ cạo trọc và sơn đầu và họ dùng những khăn truyền thống
Nhóm Dao quần Trắng, nhóm dân tộc Dao này chỉ sử dụng quần màutrắng trong trang phục của họ
1.1.3 Dân số
Tại Trung Quốc người Dao là một trong số 56 dân tộc thiểu số ở đượccông nhận, (tiếng Hán: 瑶族, Pinyin: Yáo zú, nghĩa là Dao tộc) với dân số là2.637.000 người Người Dao cũng là một dân tộc thiểu số ở Lào, Myanma, TháiLan
Người Dao là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, với số dân là 751.067người (2009) Ở Việt Nam, người Dao tuy có dân số không đông nhưng các bảnlàng của họ trải rộng tại các miền rừng núi phía Bắc (Cao Bằng, Hà Giang, LàoCai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang, ) đến một số tỉnh trung du như: PhúThọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miền biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y)
1.1.4 Nguồn gốc lịch sử phát triển
Về lai lịch của người Dao, đến nay trong nhân dân Dao vẫn còn lưutruyền rộng rãi câu chuyện Bàn Hồ Truyện Bàn Hồ có nhiều yếu tố huyễn hoặcnhưng là câu chuyện giải thích nguồn gốc của người Dao Gạt bỏ những chi tiết
mơ hồ quái dị đi, ít ra chúng ta cũng thấy được sự hình thành các nhóm Dao vàquá trình di thực của nhóm này trên đất nước Trung Quốc xưa
Trang 8Những người Dao ở Việt Nam thì không nghi ngờ gì, họ vốn gốc ở TrungQuốc Do sự đàn áp tàn khốc của phong kiến Hán, Ngô,… hoặc do chiến tranhliên mien, hạn hán, mất mùa liên tiếp nhiều năm,… Tổ tiên người Dao phải di
cư dần về miền núi phía Nam và một bộ phận nhỏ đã vào đất Việt Nam Quátrình đó có thể diễn ra từ thời Tùy, Đường đến Minh, Thanh và cho tới đầu thế
kỷ này vẫn còn tiếp tục Người Dao vào Việt Nam qua nhiều thời kỳ, bằng nhiềuđường và nhiều nhóm khác nhau Qua gia phả của một số dòng họ người Dao,chúng ta có thể thấy sơ bộ như sau:
Dao Quần trắng vào Việt Nam khoảng thế kỷ XIII, họ từ Phúc Kiến tớiQuảng Yên ngược Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên rồi mới tới TuyênQuang Một bộ phận nhỏ của nhóm này lạ từ Tuyên Quang xuôi về ĐoanHùng rồi ngược sông Hồng lên Yên Bái và Lào Cai Bộ phận này tên làDao Họ
Dao Quần Chẹt và Dao Tiền, hiện có mặt ở Phú Thọ, Hòa Bình, HàGiang, Tuyên Quang là từ Quảng Đông vào và phân tán tới các địa điểmtrên Sự kiện này được viết thành một cuốn sử thi với nhiều tình tiết khálâm li, thống thiết nay vẫn lưu truyền trong nhân dân Dao Hai nhóm nàyvào Việt Nam có thể là từ thế kỉ 15
Dao Thanh Y đến Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ XVII, họ từ QuảngĐông vào Móng Cái qua Lục Ngạn (nay còn một bộ phận ở Lục Nam),tới sông Đuống rồi ngược lên Tuyên Quang Một bộ phận khác lại lênYên Bái và Lào Cai, về sau có tên là Dao Tiền
Dao Đỏ và Dao Tiền ở Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, HàGiang, Tuyên Quang là từ Quảng Đông và Quảng Tây đến, cũng vàokhoảng cuối thế kỷ 18 Riêng nhóm Dao Lô gang vào Việt Nam muộnhơn cả, khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỉ 20
Như đã nói, do nhiều biến cố lịch sử đã làm cho khối Dao ở Trung Quốcphân tán thành nhiều nhóm nhỏ và rời khỏi cái nôi của mình là đất Châu Dương
và Châu Kinh, tản mát đi các nơi để sinh sống; trong đó có 1 số nhóm đã vào
Trang 9Việt Nam Trên đường di cư, các nhóm nhỏ đã tiếp thu thêm các yếu tố văn hóacủa các tộc người khác, đồng thời những yếu tố văn hóa mới cũng được nảy sinh
mà hình thành những tính cách riêng, những tên gọi khác nhau Mặc dù vậy, cảnhóm vẫn luôn nhận rõ mối quan hệ giữa họ với nhau là có cùng một nguồn gốc,cùng một số phận lịch sử, đặc biệt là còn duy trì được tiếng nói chung
Trải qua quá trình phát triền lịch sử của mình trên đất nước Việt Nam, cácnhóm Dao vẫn còn trong tình trạng không ổn định vì phải sống du canh, du cư
Và, có lẽ nữa là họ vào Việt Nam qua nhiều đợt khác nhau, bằng các con đường
và các nhóm khác nhau, do đó quá trình tập hợp, quá trình xích lại gần nhau đểhình thanh dân tộc đã diễn ra rất chậm chạp Điều này được chứng tỏ là nhữngyếu tố văn hóa địa phương (thể hiên ở các nhóm) còn được bảo lưu rất đậm nét.Chính tình trạng này đã làm cho khó thấy cái chung, cái thống nhất của toànkhối Dao, và cũng làm cho việc xác định các nhóm Dao trở nên vô cùng phứctạp Chỉ gần đây vấn đề này mới được làm sáng tỏ
Trên đường di cư, các nhóm Dao này đã tiếp thu thêm những yếu tố vănhóa của các tộc người khác, đồng thời các yếu tố văn hóa mới cũng được nảysinh và hình thành những tính cách riêng, những tên họ khác nhau Mặc dù vậy,các nhóm vẫn luôn luôn nhận rõ mối quan hệ giữa họ với nhau là có cùng mộtnguồn gốc, cùng một số phận lịch sử, đặc biệt là còn duy trì được tiếng nóichung
1.1.5 Phân bố ở Việt Nam
Dân tộc Dao cư trú chủ yếu Dọc biên giới Việt - Trung, Việt - Lào; Một
số tỉnh trung du và ven biển Bắc Bộ Trong đó, phía Bắc, tập trung chủ yếu ởcác tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng,Bắc Kạn, Lai Châu, Lạng Sơn, Thái Nguyên, sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ PhíaNam là các tỉnh như: Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Nông vàmiền Đông Nam bộ như: Đồng Nai, Bình Phước Tại Việt Nam, dân số ngườiDao theo điều tra dân số năm 1999 là 620.538 người
Trang 10Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Dao ở Việt Nam códân số 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố
Người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh:
Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng
số người Dao tại Việt Nam),
Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1%tổng số người Dao tại Việt Nam),
Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng sốngười Dao tại Việt Nam),
Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng sốngười Dao tại Việt Nam),
Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh),
Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh),
Cao Bằng (51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh),
Lai Châu (48.745 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh),
Lạng Sơn (25.666 người),
Thái Nguyên (25.360 người)
1.2 Các giá trị văn hóa của người Dao
Người Dao có nền văn hóa lịch sử phong phú và lâu đời
1.2.1 Văn hóa vật chất
* Ẩm thực
Món ăn
Món ăn chế biến từ lương thực:
Xôi: Giống như một số tộc người anh em, người Dao cũng thườngxuyên đồ xôi để ăn trong những ngày Tết và lễ như: lễ vào nhà mới,
lễ cưới hoặc trong những ngày gia đình nhờ anh em giúp cây ruộng,gieo trồng ngô lúa, làm chuồng trại gia súc Đặc biệt, trong TếtThanh minh nhiều nhà còn đồ xôi nhiều màu
Trang 11 Ngoài cơm và xôi, đôi khi người Dao cũng ăn cháo, ăn các loại củ tựgieo trồng hoặc tìm kiếm từ trong rừng.
Quà bánh: Các loại quà bánh của người Dao cũng khá đa dạng như:bánh chưng, bánh dầy, bánh rán, bánh gio, bánh trôi, bánh chay,bánh đúc, bánh sừng bò… Trước đây, trong các ngày Tết NguyênĐán và Tết 14 tháng 7 âm lịch người Dao làm nhiều bánh chưng đếđành ăn dần Không ít gia đình trong suốt tháng giêng hoặc tháng 7đều có bánh ăn
Món chế biến từ thịt và thủy sản
Món xào:
Khi thịt gà, thịt lợn, thịt dê, thịt bò người Dao thường đem sào gừng
và nghệ Đối với thịt lợn, thịt gà khi chế biến món sào đều cho một ítnước và thường cho thêm gừng
Một số món như thịt bò, thịt trâu còn tươi cũng được đem xào chínvới gừng
Chỉ có lòng gan lợn thịt chim, thịt chuột đồng, nhộng được xào khô
và cho thêm hành, gừng hoặc lá chanh thái nhỏ và cho một ít rượu
Trường hợp xào cho nhiều người ăn còn nêm thêm một số hương vịnhư thảo quả, quế, gừng sả…
Món luộc:
Để làm món thịt luộc, rửa sạch thịt và cắt thành miếng to bằng bàntay Sau đó bỏ vào nồi hoặc chảo, cho nước vừa đủ rồi bắc lên bếplửa đun sôi, dùng đũa lật và chọc vào thịt để kiểm tra, nếu thấy chínđều thì vớt ra
Nước luộc thịt được đem nấu canh với rau cải, cải bắp hoặc với raungót, mồng tơi
Trước khi ăn, thịt luộc chín được đem thái hoặc chặt thành miếngnhà xếp vào bát, đĩa hay đổ thịt ra lá dong, lá chuối
Trang 12 Món hầm:
Thịt hầm cũng được người Dao ưa thích
Món thịt hầm thường phải có thêm những thứ bô trợ như đu đủ,khoai sọ, măng khô, giá đậu tương, su hào…
Tuỳ theo đặc điểm của món thịt hầm, họ có cho thêm một số gia vịnhư rượu, hành, hồ tiêu, củ sả, riềng, gừng…
Món nấu (o khấu):
Trong các món ăn của người Dao, nếu so sánh với các món xào, luộc
và hầm thì các món nấu từ thịt cũng không phải là ít
Họ rất thích ăn thịt lợn nạc nấu hoặc rim, nhất là thịt gà nấu canhgừng Nhiều khi đậu phụ, trứng gà cũng được đem nấu canh
Ngoài ra, họ còn hay nấu canh thịt lợn nạc với phở hoặc miến dong,nấu xương lợn với bí đao… Khi bắt được những con cá to họ cũnghay đem nấu canh với gia vị
Nhìn chung, trong những ngày Tết hoặc lễ thường thấy xuất hiệnnhiều món thịt nấu Với ốc đồng hoặc ốc suối, họ thường đem rửasạch, chặt đuôi rồi nấu canh nghệ, khi ăn thì mút lấy thịt bỏ vỏ
Món rán:
Món rán được chế biến khá đơn giản
Khi thấy chảo nóng thì cho mỡ vừa đủ, sau đó đập trứng hoặc chođậu phụ hay cá xuống rán cho đến khi chín thì vớt ra, người chế biếnmón rán phải biết điều chỉnh ngọn lửa cho phù hợp và lật đồ rán chokhỏi bị cháy
Món nướng:
Trước đây khi thịt lợn, người Dao có thói quen lây ít gan có cả mật
và thịt nạc đem ướp muối rồi dùng tre gắp lại, đặt cạnh than hồng đểnướng
Trang 13 Khi chín gan được thái từng miếng, mật thì cho vào bát rượu, sau đóchia cho mọi người cùng ăn, thịt nướng thái ra bát cho trẻ con ăn.
Món ăn chế biến từ rau
Món rau nấu canh: Trong các món thức ăn hàng ngày, món rau nấucanh mặn hoặc nhạt là món chính Bất kể loại rau nào cũng đượcngười Dao đem nấu canh, chẳng hạn như rau cải, cà chua, bắp cải, đu
đủ, su su, rau bí, rau rền, măng, mướp, bầu, bí, khoai sọ…
Món rau xào: Các loại rau như: mùi khai, ngọn khoai lang, lá noncủa cây sắn, rau cải làn, rau đớn thường được sào, ít dùng nấu canh.Tuy gọi là rau xào nhưng vẫn phải cho một ít nước để đun cho rauchín, tức là tránh cho rau bị cháy So với món nấu thì món xắnthường cho muối mặn hơn
Món hầm: Nhìn chung, món rau hàm thường phải có thịt hoặc xươnghay cá thì mới ngon Với người Dao, những món hầm bằng rau, củhay quả thường ít cho các gia vị như hành, tỏi, gừng, lá tía tô…
Món luộc: Trước đây, người Dao ở Vĩnh Phúc ít ăn món rau luộc,nguyên nhân có thể lúc đó nước mắm chưa được phổ biến Hiện nay,
đã ảnh hưởng từ văn hoá của người Việt láng giềng nên người Daocũng ưa thích món rau luộc Rất nhiều loại rau như rau cải, bắp cải,
su hào, rau rền…được họ đem luộc ăn với nước chấm
Thức uống
Người Dao có tập quán uống rượu từ lâu đời Tuy vậy, chỉ có đàn ôngDao là hay uống rượu, nhất là khi nhà có khách Còn nữ giới chỉ uống rượuthuốc để chữa bệnh hoặc trong dịp lễ Tết cũng như lúc có bạn bè
Nước uống của người Dao là nước lã đun sôi với một loại rễ, lá cây rừnghoặc hạt vối vừa mát vừa bổ Hiện nay, nhiều gia đình người Dao đã tự trồngchè nên nước chè xanh cũng là đồ uống phổ biến của họ
Ứng xử trong ăn uống
Trang 14Theo tập quán, cứ đến bữa ăn chính, tất cả các thành viên trong gia đìnhđều phải ngồi vào mâm cùng ăn uống Về vị trí ngồi, hàng được gọi là phía trên
là nơi ngồi của đàn ông, còn hàng phía dưới hoặc tiếp giáp bếp là chỗ ngồi củaphụ nữ và trẻ con Việc chia ra thành nhiều mâm để ăn uống thường chỉ xảy rakhi trong nhà có khách hoặc các thành viên quá đông, không đủ chỗ ngồi ăncùng mâm Tuy vậy, hiện nay cũng có một số gia đình thích chia ra thành 2mâm để ăn uống cho thuận tiện Khi đó, mâm trong gian bếp có bà, mẹ cùng condâu và các cháu nhỏ, còn mâm trong gian khách có ông, bố cùng các con trai vàcác cháu trai lớn tuổi
Trong ăn uống của người Dao, khi mọi người ngồi vào mâm phải chờ cho
đủ cả gia đình mới được cầm bát đũa Người Dao có thói quen trong bữa ăn mời,nhường nhịn và gắp thức ăn cho nhau Bố mẹ gắp cho ông bà và con cái, ông bàgắp cho các cháu nhỏ Khi thịt gà dù to hay bé đều đành bộ gan cho ông bà, đùichân cho những đứa trẻ bé nhất, còn đầu cánh để cho những đứa lớn hơn Trongbữa ăn, nếu có khách chủ nhà cũng không quên mời và luôn tay gắp miếng ănngon cho khách
Đúng theo tập quán trước kia, người Dao vừa ăn cơm vừa uống rượu,khách thường nhấc chén uống rượu mỗi khi chủ nhà nâng chén mời nhưngkhông chạm chén Do vậy, khách cần dựa theo khả năng của mình mà uốngnhiều hay ít mỗi khi nhấc chén uống rượu Khi uống cạn chén khách cứ tụ nhiên
để cho chủ nhà rót rượu xuống Nếu cảm thấy không muốn uống nữa thì lấy tayđẩy nhẹ miệng chai lên mỗi khi thấy chủ nhà định rót rượu xuống chén củamình
Khi ăn cơm xong hoặc đang ăn không được để đũa lên miệng bắt, bởi vì
họ quan niệm rằng chỉ trong những ngày ma chay hoặc xới cơm cúng vong hồnngười chết mới được để đũa như vậy
Đối với các nghi lễ
Trang 15Đối với các nghi lễ của người Dao như đám cưới, vào nhà mới, đám ma,
có một số món ăn thường được chế biến theo chuẩn mực đã được tập quán cộngđồng quy định
Chẳng hạn, trong đám cưới thường phải có các món như: xôi, thịt lợnluộc, thịt gà thiến, xương lợn nấu với một số món như măng, đậu tương hầm…Nhìn chung, nếu đám cưới to thì có khá nhiều món và được chế biến như trongnhững ngày Tết Nguyên đán Trong lễ cấp sắc, họ thường ăn thịt lợn, thịt gàcùng với một số món như cá suối và thịt sóc để cúng lễ Còn trong đám ma cóthịt lợn luộc, thịt lợn xào, rau cải nấu, nhất thiết phải có món đu đủ nấu hoặc bichuối rừng nấu với xương lợn
Về cách sắp xếp số lượng người ngồi ăn trong mâm cũng tuỳ theo từngnghi lễ Còn vị trí ngồi, được xếp theo giới, ngôi thứ, vị thế trong dòng họ, theotuổi tác và địa vị của khách Tuy vậy, vị trí ngồi còn phải tuỳ theo sự quy địnhcủa từng loại nghi lễ
* Trang phục truyền thống
Một bộ trang phục hoàn chỉnh của người Dao gồm: áo, yếm, xà cạp, cùng
đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu tất cả đều làm nổi bật trang phục phụ nữDao giữa đại ngàn núi rừng Tây Bắc
Trang phục truyền thống của nữ giới
Trước đây thì người Dao tự dệt vải để may trang phục của mình nhưngngày nay thì còn rất ít người tự dệt lấy mà hầu như là dùng vải mua rồi mang vềthêu hoa văn trang trí vào bộ trang phục Trang phục phụ nữ Dao thường có áodài yếm kết hợp với quần
Theo quan niệm của người Dao, trong bộ y phục của người phụ nữ quantrọng nhất là chiếc áo được thiết kế dài đến gần đầu gối Cổ áo được thiết kếtheo hình chữ V có thêu hoa văn Sau lưng áo của phụ nữ Dao cũng có phầnthêu hoa văn Ở phần thêu này, người Dao cho rằng sẽ làm chiếc áo thêm đẹp,thêm độc đáo và để dễ phân biệt dân tộc Dao với các dân tộc khác
Trang 16Áo người Dao có hai tà và phần cầu kỳ nhất để làm nên sự độc đáo trongchiếc áo của phụ nữ Dao chính là những nét hoa văn được thêu ở phần đuôi áo.Người Dao cho rằng, nhìn áo để biết người phụ nữ khéo hay không, nhìn áo đểbiết người phụ nữ có đảm đang hay không chính là nhìn vào cách thêu hoa văn
ở phần đuôi áo mà người phụ nữ mặc
Trong khi đó, quần của phụ nữ Dao được thêu ở đoạn cuối ống giống vớiphần thêu trên áo để tạo ra một bộ trang phục mang vẻ đẹp thẩm mỹ và rất tinh
tế Kiểu quần thường mặc là quần chân què, cát hình lá tọa, đũng rộng có thể cửđộng thoải mái trong mọi tư thế lao động Đồng bào thường đeo thắt lưng đượcdệt bằng vải thủ công, rộng khoảng 40cm gấp làm tư, chiều dài đủ quấn quanhthân người hai vòng, buộc lại ở phía sau, để buông dải đuôi xuống sau lưng.Những hoa văn trên áo phụ nữ Dao được thêu sặc sỡ với nhiều họa tiếtphong phú như hình cỏ cây, hoa lá hay bất kỳ vật dụng nào mà người dân nơiđây cảm thấy gần gũi trong sinh hoạt hàng ngày Cùng ý tưởng đó nhưng trênmỗi bộ trang phục, hoa văn không giống nhau bởi mỗi người có một cách làm
và gửi vào tác phẩm của mình những nỗi niềm khác nhau
Điểm nhấn quan trọng trong bộ trang phục của phụ nữ Dao chính là khănvấn đầu Khăn quấn đầu dài hơn 1 mét được thêu nhiều hoa văn sặc sỡ gópphần làm nổi bật trang phục của người phụ nữ Dao Khăn có 3 loại: khănvuông, khăn chữ nhật và khăn dài Ngoài trang phục chính, người phụ nữ Daocòn ưa dùng đồ trang sức làm cho bộ trang phục của mình thêm sang trọng:vòng cổ, nhẫn, túi ăn trầu, các đồ trang sức bằng bạc hình bán cầu, hình sao 8cánh Có những cô gái Dao đeo 10 chiếc vòng cổ, 12 chiếc nhẫn, cùng nhữngchiếc khuy bạc đường kính 6-7cm, nổi bật trên màu áo chàm
Trang phục truyền thống của nam giới
Trang phục phụ nữ Dao đặc sắc và cầu kỳ bao nhiêu thì trang phục namgiới lại đơn giản bấy nhiêu Đó là những chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trướcngực và thường cài 5 cúc Quần rất rộng đũng, có thể cử động trong mọi tư thế
Trang 17Trang phục đàn ông Dao khá đơn giản
Áo có hai loại: áo ngắn và áo dài
Thường ngày họ mặc áo ngắn, áo ngắn có bốn kiểu sau:
Áo ngắn
Áo năm thân
Áo cánh (giống như nông dân Kinh) màu chàm, nâu
Áo cổ truyền dân tộc: xẻ trước ngực, cổ thấp Thân bên trái có thêmmột nếp từ cổ áo xuống gần gấu Nẹp áo, cửa tay áo, sau lưng áo haygiữa hai bả vai được thêu rất công phu Có người đính thêm nhiềumảnh bạc tròn, sao 8 cánh rộng khoảng 1,5cm lên nẹp áo Khuy áonhỏ làm bằng bạc hay đồng
Áo dài: Trong các dịp hội hè, tết lễ hay cưới xin, đi chơi xa đàn ôngDao mới mặc áo dài
Quần:
Quần của đàn ông Dao được may bằng vải chàm, cắt kiểu “chânquè”, cạp “lá tọa”, nhuộm chàm hay để trắng
Ngày nay, thanh niên Dao thích mặc quần âu như người Kinh –
Đồ đội: Về đồ đội có nón lá và ô Nón có khung đan bằng giang, nứakiểu “mắt cáo” ngoài lợp bằng lá cọ non
Nhiều đàn ông đeo đồ trang sức như nhẫn, vòng tay, vòng cổ bằng bạchoặc đồng Những ai nhà hiếm hoi còn cho con trai đeo vòng tai
Đàn ông làm nghề thầy cúng có trang phục riêng Thầy cúng từ bảy đèntrở lên có 3 bộ quần áo cúng để mặc trong những dịp cấp sắc, làm chay.Khi cúng Bàn Vương họ mặc thêm một cái váy chàm thêu hoa văn dướigấu
Trang phục truyền thống của người dao đỏ
Trang 18Trang phục truyền thống của người Dao Đỏ ở Việt Nam gồm khăn, mũ,
áo, quần, thắt lưng, xà cạp quấn chân và giày dép Để tạo thành bộ trang phụcđẹp phải có năm màu cơ bản, nhưng chủ yếu là màu đỏ Người Dao Đỏ sốngxen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương trên vùng miền núi phía bắc Một trongnhững sắc thái độc đáo tạo nên những nét riêng cho người Dao Đỏ ở đây chính
là bộ trang phục truyền thống
Trong trang phục của người Dao Đỏ quan trọng nhất là chiếc áo dài Theophong tục, phụ nữ Dao Đỏ không mặc áo ngắn mà chỉ mặc áo dài Áo tứ thânmàu chàm hoặc đen, không khoét nách mà tay đấu thẳng vào thân Nẹp cổ liềnvới nẹp ngực được thêu kín các họa tiết trang trí bằng chỉ màu đỏ Hai đầu củanẹp ngực đính nhiều chuỗi hạt cườm và tua đỏ
Cửa tay áo, nẹp xung quanh tà áo trước và sau đều được thêu bằng chỉmàu đỏ và trắng Riêng ở gấu vạt trước và sau người ta thêu hai nẹp tách rờinhau, trông xa như hai áo mặc lồng nhau, áo ngoài ngắn hơn áo trong
Bên trong của chiếc áo dài, phụ nữ Dao Đỏ còn mặc áo con, giống như cáiyếm, mặc bên trong che kín cả ngực và bụng, cổ tròn mở sau gáy, có nhữngđường thêu bằng chỉ trắng và vàng Khoảng giữa thân áo mỗi bên đính một dảivải nhỏ để làm dây buộc ra phía sau lưng
Nam giới Dao Đỏ mặc hai áo: ngắn và dài Hoa văn trên áo ngắn tập trungchủ yếu ở phần ngực, cổ và lưng áo để khi mặc áo dài trùm bên ngoài, nhữngnơi đó không bị che lấp, các họa tiết hoa văn tinh tế sẽ được phô ra ngoài Hoavăn được trang trí trên ngực áo ngắn là cách đính cúc hoa bạc theo chiều dọc ởgiữa áo, áo ngắn mặc trong, áo dài mặc ngoài, hàng hoa bạc giữa hai hàng quảbông len đỏ Khi mặc, các hoa văn được kết hợp rất hài hòa, đẹp mắt
Khăn đội đầu được người Dao Đỏ trang trí hình vết chân hổ, cây vạn hoa,hình cách đoạn Hoa văn ở trên khăn từ ngoài vào có năm lớp, được bao khuônvuông ở trung tâm của khăn Khi đội lên đầu, các hoa văn họa tiết của năm lớpvăn sẽ phô ra ngoài, làm tăng thêm vẻ đẹp của chiếc khăn