1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tieu luan ra soat thong ke ho ngheo

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 137 KB
File đính kèm Tieu luan ra soat thong ke ho ngheo.rar (24 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách xã hội là một trong những chính sách quan trọng trong quá trình phát triển của các nước trên thế giới. Ở mỗi quốc gia khác nhau, trong mỗi giai đoạn khác nhau, có những hình thức và loại chính sách xã hội khác nhau, cũng như có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về chính sách xã hội. Ở nước ta, chính sách xã hội được hiểu là hệ thống công cụ tác động vào con người, vào các tổ chức và đoàn thể xã hội nhằm điều hòa các hành vi, lợi ích của các nhóm xã hội cũng như các thành viên trong xã hội, góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, phát triển toàn diện con người, đảm bảo sự phát triển bền vững. Xuất phát từ quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là trung tâm của mọi sự quan tâm xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội, chính sách xã hội cần phải tác động một cách toàn diện vào tất cả các mặt của đời sống con người, nhằm phát huy mạnh mẽ nhân tố con người. Theo Các Mác, trong tính hiện thực của mình, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội, do đó, chính sách xã hội cần phải tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng, giáo dục nhằm phát triển cân đối, toàn diện cho mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội. Dù biểu hiện dưới nhiều hình thức văn bản, nội dung khác nhau, song về bản chất, chính sách xã hội luôn hướng vào những hoạt động nhằm điều hòa các mâu thuẫn, xung đột, giảm bớt các bất công, căng thẳng xã hội, góp phần cân đối thu nhập, giải quyết việc làm, phân phối lại lợi ích, tạo ra sự công bằng hợp lý giữa cống hiến và hưởng thụ, khuyến khích người có nhiệt tình, tài năng, giúp đỡ kẻ nghèo khó, rủi ro không may trong cuộc sống., bảo đảm an ninh, an toàn xã hội cũng như quyền tự do công dân và sức khỏe, hạnh phúc cho con người. Trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta, thực hiện chính sách xã hội đúng đắn là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Những năm qua, song song với việc đẩy nhanh phát triển kinh tế, Đảng và nhà nước ta cũng hết sức quan tâm đến chính sách xã hội và nhờ có những quan điểm đúng đắn, hợp lý trong việc xây dựng và thực thi các chính sách xã hội mà đất nước ta đã đạt được những thành tựu lớn về phát triển kinh tế lẫn nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho việc phát triển nhân cách, phẩm chất, năng lực, trí tuệ và thể chất con người Việt Nam. Những kết quả mà chính sách xã hội mang lại đồng thời cũng phản ánh bản chất và tính ưu việt của chế độ ta, góp phần không nhỏ vào việc giữ vững sự ổn định và phát triển xã hội. Chính sách xã hội còn có vai trò quan trọng bởi nó luôn hướng tới sự công bằng xã hội, do đó tạo tính tích cực, năng động xã hội, làm cho xã hội phát triển bền vững. Đặc biệt là các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội. Vì vậy việc thực hiện và quản lý chính sách xã hội không chỉ là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước mà còn là của các ngành, các cấp…Nhằm đảm bảo vào sự giữ vững sự ổn định và phát triển xã hội. Từ những suy nghĩ trên, qua thực tiễn công tác, dưới đây tôi xin mô tả một trong những tình huống sảy ra để nêu lên một trong những khó khăn phức tạp không nhỏ của công tác thực hiện và quản lý chính sách hộ nghèo một trong những công tác quản lý và thực hiện chính sách của ngành Lao động – TBXH. Và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện chính sách đối với hộ nghèo trong thời gian tới với tên tình huống “Phương án giải quyết bức xúc của người dân bản Mèng, xã Canh Nậu, huyện Yên Thế trong việc rà soát thống kê hộ nghèo năm 2014”. Kết cấu của tiểu luận bao gồm, ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung của tiểu luận gồm 6 phần: I. Mô tả tình huống. II. Mục tiêu xử lý tình huống. III. Phân tích nguyên nhân và hậu quả. IV. Cơ sở, căn cứ để giải quyết tình huống. V. Phương án giải quyết tình huống VI. Kế hoạch tổ chức thực hiện.

Trang 1

MỤC LỤC

II MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG 6

III PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ

6

IV CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

7

IV PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 8

VI KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

A PHẦN MỞ ĐẦU

Chính sách xã hội là một trong những chính sách quan trọng trong quá trình phát triển của các nước trên thế giới Ở mỗi quốc gia khác nhau, trong mỗi giai đoạn khác nhau, có những hình thức và loại chính sách xã

Trang 2

hội khác nhau, cũng như có những quan niệm và định nghĩa khác nhau về chính sách xã hội Ở nước ta, chính sách xã hội được hiểu là hệ thống công

cụ tác động vào con người, vào các tổ chức và đoàn thể xã hội nhằm điều hòa các hành vi, lợi ích của các nhóm xã hội cũng như các thành viên trong

xã hội, góp phần thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, phát triển toàn diện con người, đảm bảo sự phát triển bền vững Xuất phát từ quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là trung tâm của mọi sự quan tâm xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội, chính sách xã hội cần phải tác động một cách toàn diện vào tất cả các mặt của đời sống con người, nhằm phát huy mạnh mẽ nhân

tố con người Theo Các Mác, trong tính hiện thực của mình, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội, do đó, chính sách xã hội cần phải tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng, giáo dục nhằm phát triển cân đối, toàn diện cho mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội Dù biểu hiện dưới nhiều hình thức văn bản, nội dung khác nhau, song về bản chất, chính sách xã hội luôn hướng vào những hoạt động nhằm điều hòa các mâu thuẫn, xung đột, giảm bớt các bất công, căng thẳng xã hội, góp phần cân đối thu nhập, giải quyết việc làm, phân phối lại lợi ích, tạo ra sự công bằng hợp lý giữa cống hiến và hưởng thụ, khuyến khích người có nhiệt tình, tài năng, giúp đỡ kẻ nghèo khó, rủi ro không may trong cuộc sống., bảo đảm an ninh, an toàn xã hội cũng như quyền tự

do công dân và sức khỏe, hạnh phúc cho con người

Trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta, thực hiện chính sách xã hội đúng đắn là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước Những năm qua, song song với việc đẩy nhanh phát triển kinh tế, Đảng và nhà nước ta cũng hết sức quan tâm đến chính sách xã hội và nhờ có những quan điểm đúng đắn, hợp lý trong việc xây dựng và thực thi các chính sách xã hội mà đất nước

Trang 3

ta đã đạt được những thành tựu lớn về phát triển kinh tế lẫn nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho việc phát triển nhân cách, phẩm chất, năng lực, trí tuệ và thể chất con người Việt Nam Những kết quả mà chính sách xã hội mang lại đồng thời cũng phản ánh bản chất và tính ưu việt của chế độ ta, góp phần không nhỏ vào việc giữ vững sự ổn định và phát triển xã hội

Chính sách xã hội còn có vai trò quan trọng bởi nó luôn hướng tới

sự công bằng xã hội, do đó tạo tính tích cực, năng động xã hội, làm cho xã hội phát triển bền vững Đặc biệt là các chính sách giảm nghèo và an sinh

xã hội Vì vậy việc thực hiện và quản lý chính sách xã hội không chỉ là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước mà còn là của các ngành, các cấp…Nhằm đảm bảo vào sự giữ vững sự ổn định và phát triển xã hội

Từ những suy nghĩ trên, qua thực tiễn công tác, dưới đây tôi xin mô

tả một trong những tình huống sảy ra để nêu lên một trong những khó khăn phức tạp không nhỏ của công tác thực hiện và quản lý chính sách hộ nghèo

- một trong những công tác quản lý và thực hiện chính sách của ngành Lao động – TB&XH Và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý và thực hiện chính sách đối với hộ nghèo trong thời gian tới với tên tình

huống “Phương án giải quyết bức xúc của người dân bản Mèng, xã Canh Nậu, huyện Yên Thế trong việc rà soát thống kê hộ nghèo năm 2014”.

Kết cấu của tiểu luận bao gồm, ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung của tiểu luận gồm 6 phần:

I Mô tả tình huống

II Mục tiêu xử lý tình huống

III Phân tích nguyên nhân và hậu quả

IV Cơ sở, căn cứ để giải quyết tình huống

Trang 4

V Phương án giải quyết tình huống

VI Kế hoạch tổ chức thực hiện

B PHẦN NỘI DUNG

I MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

Trang 5

Tại Phòng Lao động – TB&XH huyện Yên Thế, khoảng 9h giờ sáng ngày đầu tháng 12 năm 2014 UBND xã Canh Nậu, huyện Yên Thế điện lên Phòng nhờ về chỉ đạo hướng dẫn bình bầu việc rà soát thống kê hộ nghèo tại thời điểm 01/10/2014 tại Bản Mèng Do UBND xã A đang chỉ đạo việc bình bầu hộ nghèo không thoả đáng, dẫn đến một số người dân bức xúc, kéo đến UBND xã A gây mất trật tự và yêu cầu đề nghị UBND huyện về giải quyết lại

Phòng Lao động – TB&XH huyện yêu cầu UBND xã trình bày tóm tắt sự việc dẫn đến nguyên nhân gây bức xúc của một số người dân tại bản Mèng, xã Canh Nậu UBND xã tóm tắt như sau: Gia đình nhà ông Nguyễn Văn Hùng – sinh năm 1959, có 03 khẩu, không được đưa ra bình xét vào

hộ nghèo tại thời điểm 01/10/2014 nên khiến gia đình ông và một số gia đình xung quanh bức xúc, cho là cán bộ làm việc quan liêu, trù úm gia đình Tại phiên họp tại thôn A về việc bình xét hộ nghèo, có một số hộ gia đình đã rất bức xúc Khiến phiên họp không diễn ra được, ông Phó Chủ tịch UBND xã đang trực tiếp chỉ đạo, cũng không chỉ đạo được

Hồ sơ bình xét của nhà ông Nguyễn Văn Hùng như sau:

* Hoàn cảnh gia đình:

Năm 2011, hộ gia đình ông Hùng không nằm trong danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo của địa phương

- Ông Nguyễn Văn Hùng – Sinh 1959; nghề nghiệp: Làm ruộng;

- Vợ: Nguyễn Thị Lan – 1960; nghề nghiệp: Làm ruộng;

- Con trai: Nguyễn Văn Trung – sinh 1992; nghề nghiệp: Sinh viên năm thứ 3 đại học Nông nghiệp I Hà Nội

Bà Nguyễn Thị Lan mới phát hiện bị suy thận độ 3 được 2 tháng

Trang 6

* Hồ sơ của điều tra viên về thu nhập của gia đình ông Hùng: Thu nhập bình quân đầu người 530.000đ/người/tháng

Qua nghe trình bày, ông Trưởng Phòng Lao động – TB&XH huyện

đã cử ông Phó Trưởng phòng về để trực tiếp phối hợp với UBND xã để giải quyết tình huống

III MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

- Ngăn chặn việc sai sót trong quá trình rà soát thống kê hộ nghèo tại cơ sở nhằm mục tiêu chung là kết quả thống kê, rà soát phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, là căn cứ, cơ sở để cấp có thẩm quyền thực hiện chính sách đúng đối tượng theo quy định của pháp luật;

- Không để bức xúc cho nhân dân, gây mất lòng tin ở nhân dân đối với chính quyền và có thể dẫn đến khiếu kiện kéo dài, góp phần nâng cao

uy tín và vị thế của chính quyền cơ sở với nhân dân địa phương trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý ở cơ sở;

- Giải quyết đúng chính sách, thể hiện tính ưu việt trong chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời tạo sự tin tưởng của nhân dân đối với các chính sách xã hội của Nhà nước thực hiện với người dân Tạo lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước

III PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ

1 Nguyên nhân

1.1 Nguyên nhân khách quan

- Nội dung Thông tư số 21/2014/TT-BLĐTBXH ngày 05 tháng 9 năm 2014 của Bộ Lao động - TB&XH về hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm vẫn chưa rõ ràng, các quy trình hướng dẫn vẫn còn mang tính tương đối, chưa sát thực với cơ sở

Trang 7

- Các văn bản hướng dẫn khác của Tỉnh và của huyện thiếu cụ thể, chung chung nên khó thực hiện, thực hiện thế nào cũng đúng

1.2 Nguyên nhân chủ quan

- Do trình độ của cán bộ thực hiện việc điều tra và đội ngũ cán bộ của Ban chỉ đạo giảm nghèo của xã chưa hiểu rõ bản chất của quy trình, thực hiện đôi khi còn mang tính máy móc, chưa biết vận dụng hợp lý

- Do trong quá trình thực hiện việc điều tra cán bộ xã thiếu khách quan, trung thực, làm theo cảm tính và tình cảm đối với một số hộ khác nên gây bức xúc trong dư luận

2 Hậu quả

- Gây dư luận không tốt trong nhân dân, mất lòng tin trong nhân dân đối với cán bộ, công chức;

- Làm giảm uy tín của chính quyền cơ sở trước nhân dân trong việc thực hiện chính sách xã hội;

- Không phát huy được hiệu quả chính sách của Đảng và Nhà nước;

- Là nguyên nhân dẫn đến việc khiếu kiện;

- Làm cho gia đình đối tượng ngày càng lâm vào tình cảnh khó khăn, không lối thoát về kinh tế

IV CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

- Thông tư số 21/2014/TT-BLĐTBXH ngày 05 tháng 9 năm 2014 của

Bộ Lao động - TB&XH về hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm;

- Kế hoạch số 2317/KH-UBND ngày 04/10/2014 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc rà soát, thống kê hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Bắc Giang năm 2014;

Trang 8

- Kế hoạch số: 163/KH-UBND ngày 15/10/2014 của UBND huyện

về việc rà soát, thống kê hộ nghèo, hộ cận nghèo huyện năm 2014

Cụ thể về quy trình gồm 6 bước như sau:

Bước 1 Xác định lập danh sách các hộ có nguy cơ rơi xuống nghèo, cận nghèo; hộ có khả năng thoát nghèo, cận nghèo.

Bước 2 Tổ chức điều tra thu nhập hộ gia đình.

Bước 3 Tổ chức bình xét ở thôn, bản, tổ dân phố.

Bước 4 Tổ chức thu thập đặc điểm, điều chỉnh thông tin, lập danh sách chính thức hộ nghèo, cận nghèo; hộ thoát nghèo, cận nghèo.

Bước 5 Tổng hợp, phê duyệt, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo

và báo cáo kết quả rà soát.

Bước 6 Cập nhật thông tin hộ nghèo, hộ cận nghèo vào phần mềm quản lý.

* Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân<=

400.000đ/người/tháng.

V PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1 Phương án 1

Đồng ý cho hộ ông Nguyễn Văn Hùng vào danh sách bình bầu hộ nghèo và đưa ra cho nhân dân bình xét

Ưu điểm phương án này:

- Nhân dân nhất trí và đồng thuận cao, vì hoàn cảnh gia đình nhà ông Hùng tương đối khó khăn, vợ lại mắc bệnh suy thận và đi chạy thận tốn kém Vào hộ nghèo sẽ có thẻ BHYT hộ nghèo giảm bớt rất nhiều khó khăn cho gia đình ông

- Giảm bớt khó khăn trong việc nuôi con ăn học

Trang 9

Nhược điểm phương án này:

- Theo hồ sơ điều tra thu nhập của gia đình ông Hùng có mức thu nhập lớn hơn 400.000đ/người/tháng Vì vậy đưa vào danh sách bình bầu là sai so với Hướng dẫn tại Thông tư số 21/2014/TT-BLĐTBXH ngày 05 tháng

9 năm 2014 của Bộ Lao động - TB&XH về hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm;

- Điều tra viên không phục, bất mãm;

- Có thể có khiếu kiện, vì làm sai so với hướn dẫn của cấp trên

2 Phương án 2

Từ chối Không cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn Hùng đưa vào bầu danh sách hộ nghèo năm 2014

Lý do từ chối:

Theo Thông tư số 21/2014/TT-BLĐTBXH ngày 05 tháng 9 năm

2014 của Bộ Lao động - TB&XH về hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm quy định danh sách những người đưa vào bình bầu hộ nghèo, hộ cận nghèo:

- Hộ nghèo phát sinh: Là những hộ không nghèo năm 2011 và hộ

cận nghèo năm 2011 qua rà soát có thu nhập bình quân <= 400.000 đồng đối với khu vực nông thôn hoặc <= 500.000 đồng với khu vực thành thị

- Hộ cận nghèo phát sinh: Là những hộ không nghèo năm 2011, hộ nghèo năm 2011 qua rà soát có thu nhập bình quân nằm trong khoảng > 400.000 và <= 520.000 đồng ở khu vực nông thôn hoặc > 500.000 và <= 650.000 đồng ở khu vực thành thị

Phiếu điều tra thu nhập của hộ gia đình ông Hùng đã ký không nằm trong mức thu nhập đưa ra bình bầu

* Ưu điểm của phương án này:

Trang 10

- Thực hiện đúng văn bản quy định của Nhà nước;

- Khẳng định điều tra viên làm đúng quy trình

* Nhược điểm của phương án này:

- Hộ gia đình của nhà ông Hùng sẽ rất khó khăn, vì bà Lan đang bị suy thận, phải đi chạy thận hàng tháng Như vậy thì sang năm 2013, hộ gia đình ông Hùng có thể trở thành hộ đói

- Nhân dân vẫn có bức xúc, vì thấy hoàn cảnh gia đình nhà ông Hùng rất khó khăn

3 Phương án 3

Cho rà soát lại thu nhập của hộ gia đình nhà ông Hùng, rà soát lại các mục chi để đạt mmức thu nhập đưa vào bình xét hộ nghèo Đồng thời tại hội nghị cũng phân tích với cán bộ xã Canh Nậu và bản Mèng cùng nhân dân trong bản: Xét hoàn cảnh hộ gia đình nhà ông Hùng, do bà Lan mới phát hiện bệnh 02 tháng, chưa ảnh hưởng nhiều đến thu nhập của năm

2014, nhưng do phải thường xuyên chạy thận rất tốn kém kinh phí, gia đình nhà ông Hùng trong năm 2013 sẽ rất khó khăn, và sẽ thành hộ gia đình rất nghèo Nếu như đưa vào trong danh sách hộ nghèo, sẽ có thẻ BHYT khám chữa bệnh miễn phí, đỡ tốn kém về kinh phí cho gia đình rất nhiều Gia đình ông cũng có điều kiện để làm kinh tế vươn lên thoát nghèo

Ưu điểm phương án này.

- Thực hiện đúng hướng dẫn của Thông tư số 21/2014/TT-BLĐTBXH ngày 05 tháng 9 năm 2014 của Bộ Lao động - TB&XH về hướng dẫn quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm quy định danh sách những người đưa vào bình bầu hộ nghèo, hộ cận nghèo Vì đã rà soát lại mức thu nhập của gia đình ông Hùng đạt mức đưa ra bình bầu;

Trang 11

- Thể hiện sự linh hoạt trong việc áp dụng quản lý chính sách, không máy móc, dập khuôn;

- Bà Lan sẽ có thẻ BHYT khám chữa bệnh miễn phí;

- Gia đình ông sẽ bớt khó khăn trong việc nuôi con học Đại học;

- Nhân dân trong bản sẽ hưởng ứng cao hơn, tin tưởng vào chính sách của Đảng và Nhà nước Thể hiện được bản chất yêu thương đùm bọc của nhân dân ta và tính chất ưu việt của việc sử dụng thẻ BHYT

Lựa chọn phương án:

Thông qua ba phương án trên, bản thân tôi thấy phương án thứ ba

có nhiều ưu điểm và đây là phương án tối ưu nhất Vì trên thực tế hoàn cảnh của hộ gia đình nhà ông Hùng cũng khó khăn, lại có người bị bệnh, là

hộ có nguy cơ rơi xuống hộ nghèo, thậm chí là rất nghèo Hỗ trợ gia đình ông lúc này là rất cần thiết

V KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN

Trước hội nghị bình xét hộ nghèo của bản Mèng, xã Canh Nậu Đồng chí Phó Trưởng phòng Lao động – TBXH huyện đã phân tích hoàn cảnh gia đình của nhà ông Hùng, cho rà soát lại thu nhập của gia đình ông

và đồng thời phân tích rõ chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước cho nhân dân nghe

Sau khi rà soát lại thu nhập của gia đình nhà ông Hùng, xác định tổng thu và tổng chi của gia đình, đã tính gia thu nhập bình quân tháng của gia đình ông là 399.000đ/người/tháng Đưa gia đình ông vào danh sách bình xét hộ nghèo

Kết quả bình xét, gia đình ông Hùng được bà con trong bản nhất trí 100% số người tham dự nhất trí đề nghị đưa gia đình ông Hùng vào danh sách hộ nghèo

Trang 12

Đến nay cả gia đình ông Hùng đã được hưởng tất cả các chính sách

ưu đãi giành cho người nghèo, như đã có thẻ BHYT khám chữa bệnh, con ông Hùng đi học Đại học năm cuối đã được hưởng chính sách ưu đãi về giáo dục của nhà nước, miễn giảm tiền điện, ưu đãi vay vốn Gia đình ông

đã đỡ khó khăn hơn về kinh tế

Trang 13

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI

1 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện chính sách hộ nghèo

1.1 Đối với chính quyền địa phương

Nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức làm công tác xoá đói, giảm nghèo Khi cán bộ được đào tạo phải xuống tận thôn, bản phổ biến chính sách cho người nghèo, hộ nghèo

Các ban, ngành, đoàn thể, các cấp lãnh đạo tại địa phương cần nghiên cứu và thực hiện linh động, sáng tạo, đúng đẵn mục đích chính sách xoá đói, giảm nghèo của Nhà nước, đem lại hiệu quả thiết thực cho người dân

Tăng cường công tác tuyên truyền các chính sách về giảm nghèo tới mọi người dân, để mọi người dân hiểu và cùng đoàn kết thực hiện Xác định chính sách giảm nghèo là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội, của cộng đồng và chính bản thân người nghèo

1.2 Đối với Đảng và Nhà nước

Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến các xã nghèo, các

xã đặc biệt khó khăn để cho người nghèo có cơ hội thoát nghèo, thoát nghèo bền vững

Tăng cường, đẩy mạnh công tác xã hội hoá công tác xoá đói, giảm nghèo

Mở rộng hợp tác quốc tế để thu hút nguồn lực trong công tác xoá đói giảm nghèo

Tập chung đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn, chình độ chính trị cho cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo

Ngày đăng: 22/08/2021, 18:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w