chất ngoài hiện thực, trong giai đoạn này con người lựa chọn phương pháp, phương tiện để tác độngvào hiện thực khách quan để nhằm thực hiện mục đích của mình.- Ý thức là 1 hiện tượng xã
Trang 1CÂU HỎI ÔN THI CAO HỌC MÔN TRIẾT HỌC NĂM 2021
MỤC LỤC
Câu 1: Phân tích quan điểm vật chất của Lênin, Ý nghĩa của định nghĩa? 2
Câu 2: Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức? 4
Câu 3: Phân tích mối quan hệ vật chất và ý thức Ý nghĩa trong việc phê phán bệnh chủ quan duy chí và bệnh bảo thủ, trì trệ? 7
Câu 4: Mối liên hệ phổ biến? Ý nghĩa phương pháp luận? 10
Câu 5: Nguyên lý về sự phát triển Ý nghĩa phương pháp luận 13
Câu 6: Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) 16
Câu 8: Quy luật phủ định của phủ định 24
Câu 9: Mối quan hệ biện chứng cái chung và cái riêng Ý nghĩa phương pháp luận 26
Câu 10: Phạm trù nguyên nhân – kết quả? Ý nghĩa phương pháp luận? 29
Câu 11 Tất nhiên và ngẫu nhiên 31
Câu 12 Nội dung và hỉnh thức 33
Câu 13 Bản chất và hiện tượng 35
Câu 14 Khả năng và hiện thực 37
Câu 17: Phân tích nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Ý nghĩa phương pháp luận Sự vận dụng quy luật này trong cách mạng Việt Nam 46
Câu 18: Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Ý nghĩa phương pháp luận Sự vận dụng quy luật này trong cách mạng Việt Nam? 50
Câu 19: Hình thái kinh tế - xã hội Tại sao nói sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên 53
Câu 20: Quan điểm Mác xít về bản chất con người và ý nghĩa của nó 56
Câu 21:Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Ý nghĩa phương pháp luận 59
Câu 23 Cách mạng xã hội 64
Câu 24 Giai cấp và đấu tranh giai cấp 66
Câu 25 Quan hệ giai cấp - dân tộc 68
Câu 26: Nguồn gốc, bản chất và chức năng của Nhà nước 70
Trang 2Câu 1: Phân tích quan điểm vật chất của Lênin, Ý nghĩa của định nghĩa?
1 Vị trí, vai trò của phạm trù vật chất
Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử rất lâu Ngay từ lúc mới ra đời, xungquanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm
2 Các quan điểm
- Các quan điểm trước Mác về vật chất:
+ Thời kỳ cổ đại: Ở phương Tây và phương Đông đều đề cập đến vật chất, đồng nhất vậtchất với các vật thể cụ thể Ở phương Tây đồng nhất vật chất là nước, lửa, không khí ỞPhương Đông đồng nhất vật chất với âm dương, ngũ hành
+ CNDV thời kỳ phục hưng thế kỷ XV- XVI: trong thời này CNDV tiếp tục khôi phục vàphát triển, bằng những dữ liệu khoa học tự nhiên, người ta tiếp tục khẳng định thế giứi này làthế giới vật chất, tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người, tiêu biểu thời kỳnày là Bruno, Coopepnic
+ Thế kỷ XVII – XVIII: Thời kỳ khai sáng cận đại: CNDV tiếp tục phát triển dưới ánh sángkhoa học tự nhiên, trong thời kỳ này CNDV phát triển mạnh ở Anh, Pháp nổi tiếng là Bê Cơn,Decart
+ Thế kỷ XIX: CNDV tiếp tuc phát triển, nhất là ở Đức, tuy nhiên CNDV trong thời kỳnày mang tính chất máy móc siêu hình như Thế kỷ XVII – XVIII và không triệt để Nghĩa làduy vật trong tự nhiên còn trong đời sống XH thì cơ bản vẫn rơi vào quan điểm duy tâm, tiêubiểu là Phoi ơ Bách
- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác xít về vật chất:
Mác – Ăngghen đã kế thừa những giá trị tích cực và vạch ra những hạn chế trong quan niệm vềvật chất của các nhà duy vật trước đó, đồng thời các ông đã tổng kết những thành tựu khoa học hiệnđại, khái quát thành một quan niệm khoa học về vật chất Mác – Ăngghen đã nêu quan niệm về sự đốilập giữa vật chất và ý thức, về tính thống nhất vật chất của thế giới, về những dạng tồn tại cụ thể củanó; về tính vô hạn, vô tận, tính không thể sáng tạo và không thể tiêu diệt được của vật chất và các hìnhthức tồn tại của nó Tuy nhiên các ông chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất, nhưngchính quan điểm duy vật biện chứng của các ông về vật chất đã đóng vai trò là cơ sở, nền tảng,tiền đề để Lênin đưa ra định nghĩa về vật chất sau này
Kế thừa tư tưởng của Mác - Ăngghen; tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷXIX, đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, trong tác phẩmChủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I.Lênin đã định nghĩa:
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
* Phân tích định nghĩa:
- Vật chất là một phạm trù triết học:
+ Đây là sự khái quát hóa, trừu tượng hóa, vật chất là đối tượng của triết học
+ Ở đây phân biệt vật chất với tính cách là một phạm trù triết học với khái niệm vậtchất trong các khoa học cụ thể
Trang 3+ Vật chất với tính cách là phạm trù triết học dùng để chỉ vật chất nói chung thì vô hạn
và vô tận, không sinh ra và cũng không mất đi Còn các hiện tượng, các dạng vật chất của cáckhoa học cụ thể và trong đời sống thường ngày thì có giới hạn, đều sinh ra và mất đi, chuyển
từ dạng này sang dạng khác
+ Thể hiện cách giải quyết vấn đề cơ bản của phạm trù triết học Vấn đề tồn tại và tưduy: trả lời câu hỏi thứ nhất, mối quan hệ vật chất và ý thức cái nào có trước Câu hỏi thứ 2:con người có khả năng nhận thức được được thế giới hay không?
- Vật chất dùng để chỉ thực tại khách quan:
+ Thực tại khách quan là tất cả những gì có thuộc tính tồn tại khách quan, nghĩa là tồntại bên ngoài, độc lập với cảm giác, ý thức của con người
+ Phân biệt cái nào là vật chất, đặc biệt vật chất trong đời sống xã hội
Ví dụ: Lịch sử 4.000 năm có trước chúng ta, chúng ta nhận thức được nó là vật chất
- Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh:
+ Điều này đã cho thấy vật chất là cái có trước ý thức con người là cái có sau Đồngthời điều này cũng khẳng định con người có thể nhận thức về thế giới
+ Khi tác động vào giác quan thì gây nên cảm giác Thuộc tính này là tiêu chuẩn cơbản để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất
- Tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác: Vật chất là nguồn gốc, nội dung của ý thức.
* Ý nghĩa của định nghĩa:
- Nghiên cứu phạm trù vật chất đòi hỏi chúng ta phải có quan niệm khách quan mọi việc
phải xuất phát từ thực tế khách quan không được lấy ý muốn chủ quan của chúng ta để thaythế cho hiện thực khách quan
- Định nghĩa vật chất của Lênin bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học, vì địnhnghĩa khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau và con người hoàn toàn có khả năng nhậnthức được vật chất Do đó, nó đã chống lại cả CNDT chủ quan và CNDT khách quan cũng nhưchống lại thuyết không thể biết và chủ nghĩa hoài nghi
- Định nghĩa chống lại quan điểm chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo về vấn đề vật chất, bởi vìchủ nghĩa duy tâm coi vật chất là tổ hợp của các cảm giác của con người hoặc là sản phẩm của
ý niệm, ý niệm tuyệt đối, còn tôn giáo coi vật chất là sản phẩm của Chúa, Thượng đề
- Khắc phục tính siêu hình, máy móc của chủ nghĩa duy vật trước Mác, bởi vì chủ nghĩaduy vật trước Mác đồng nhất vật chất với vật thể cụ thể
- Khắc phục cuộc khủng hoảng vật lý học, cổ vũ các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thếgiới vật chất, tìm ra những thuộc tính mới, kết cấu mới của VC, không ngừng làm phong phútri thức của con người
- Chống lại chủ nghĩa bất khả tri, bởi vì chủ nghĩa bất khả tri phủ nhận khả năng nhậnthức của con người đối với thế giới hoặc con người chỉ nhận thức được bản chất của thế giới
- Đã liên kết chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử thành một thể thốngnhất Đó là, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
- Định hướng cho sự phát triển của khoa học, đặc biệt khoa học tự nhiên Đã mở ra chocác nhà khoa học đi sâu, sáng tạo vào việc tìm hiểu bản chất và quy luật của thế giới vật chất,bởi vì vật chất tồn tại khách quan và con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được bảnchất và quy luật của thế giới vật chất
Trang 4Câu 2: Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức?
1 Một số quan niệm về ý thức trong lịch sử
- Chủ nghĩa duy tâm quan niệm ý thức như một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, là cái cótrước từ đó sinh ra vật chất
- Chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất, coi ý thức là sự phản ánh giảnđơn, thụ động thế giới vật chất
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII, XVIII coi ý thức là một biến tướng của vật chất do con ngườisinh ra giống như gan tiết ra mật Ưu điểm của quan điểm này là chống lại quan điểm duy tâm tôn giáo,nhược điểm là không phân biệt đâu là vật chất, đâu là ý thức, không thấy được vai trò ý thức
2 Nguồn gốc của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý thức của con người là sản phẩm của quá trình pháttriển tự nhiên và lịch sử - xã hội Vì vậy, để hiểu đúng nguồn gốc và bản chất của ý thức cần phảixem xét nguồn gốc của ý thức trên cả hai mặt tự nhiên và xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên:
+ Ý thức là đặc tính riêng của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ não người Bộ nãongười là cơ quan vật chất của ý thức Hoạt động ý thức chỉ diễn ra trong bộ não người, trên cơ sởcác quá trình sinh lý - thần kinh của não Do đó khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽkhông bình thường
Nhưng tại sao bộ óc người lại có thể sinh ra ý thức? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phảinghiên cứu mối liên hệ vật chất giữa bộ óc với thế giới khách quan Chính mối liên hệ vật chất ấyhình thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào bộ óc con người
Phản ánh là thuộc tính phổ biến trong mọi dạng vật chất Phản ánh là sự tái tạo những đặcđiểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại củachúng Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật, đó là vật tác động và vật nhận tác động.Trong quá trình ấy, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động
+ Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng riêng có của con người, được phát triển từ thuộctính phản ánh có ở mọi dạng vật chất Đó là năng lực giữ lại, tái hiện của hệ thống vật chất nàynhững đặc điểm của hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng
+ Các tổ chức, các hệ thống vật chất tiến hoá, thuộc tính phản ánh của chúng cũng phát triển
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Phản ánh ý thức của con người là hình thức phản ánh caonhất của thế giới vật chất
Như vậy, ý thức là thuộc tính của bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ nãongười Bộ não người (cơ quan phản ánh thế giới vật chất xung quanh) và sự tác động của thế giớivật chất xung quanh lên bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
- Nguồn gốc xã hội:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, bên cạnh nguồn gốc tự nhiên thì ý thức còn đượcbắt ngồn từ xã hội, Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ lao động, ngônngữ và những quan hệ xã hội:
+ Lao động: là quá trình con người dùng các công cụ lao động tác động vào thế giới tự nhiênnhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của mình Quá trình này làm thế giới bộ lộ đặcđiểm, thuộc tính của nó và những thuộc tính này được bộ óc của con người ghi nhận để dần dần
Trang 5hình thành nên tri thức, nghĩa là con người có ý thức về thế giới Lao động là cũng chính là hoạtđộng đặc thù của con người, làm cho con người và xã hội loài người khác hoàn toàn với các loàiđộng vật khác.
Quá trình lao động đồng thời cũng làm biến đổi và hoàn thiện bản thân con người, làm chokhả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày càng phát triển Do đó năng lực nhận thức vàphản ánh ngày càng phát triển
+ Ngôn ngữ: Trong quá trình lao động con người tất yếu có những quan hệ với nhau và cầnphải phối hợp với nhau, cần trao đổi thông tin, kinh nghiệm với nhau Do chính nhu cầu đó mà ngônngữ được hình thành
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, không có ngôn ngữ thì thì ýthức không thể tồn tại và thể hiện được
Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằmkhái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực Nhờ có ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn,trao đổi thông tin cho nhau, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác
Như vậy thì, lao động, ngôn ngữ, đó chính là nguồn gốc xã hội quyết định sự hình thành
- Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh tồn tại khách quan,
ở ngoài và độc lập với cái phản ánh tức là ý thức con người Ý thức là hình ảnh chủ quan, là hìnhảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý Ý thức lấy cái khách quan làm tiền đề Nội dungcủa ý thức do thế giới khách quan quy định
- Ý thức là của con người mà con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo, ý thức
ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới cho nên ý thức của con người là sựphản ánh một cách tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo, tức không phản ánh một cáchnguyên xi, máy móc
Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú, trên cơ sở những cái có trước, ý thức có khảnăng sáng tạo ra tri thức mới về sự vật, tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán,
dự báo tương lai, tạo ra những giả thuyết lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao
VD: khi nhìn thấy chuồn chuồn bay, con người tưởng tưởng trong tương lai sẽ tạo ra 1 vật thể
bay trong không trung và con người đã sáng tạo ra các loại máy bay, tàu vũ trụ
Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới cho nên quá trình phản ánhhiện thực khách quan vào bộ óc con người là quá trình năng động sáng tạo thông nhất ba mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, sự trao đổi này mang tính chất
hai chiều, có định hướng, có chọn lọc các thông tin cần thiết
Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần, thực chất đây là quá
trình “sáng tạo lại” hiện thực của ý thức theo nghĩa: mã hóa các đối tượng vật chất thành các ýtưởng tinh thần phi vật chất
Ba là, chuyển mô hình tư duy ra hiện thực khách quan tức là hiện thực hóa tư tưởng, thông qua
thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành dạng vật
Trang 6chất ngoài hiện thực, trong giai đoạn này con người lựa chọn phương pháp, phương tiện để tác độngvào hiện thực khách quan để nhằm thực hiện mục đích của mình.
- Ý thức là 1 hiện tượng xã hội, sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn,chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hôi và các điều kiện sinh hoạt hiệnthực của con người quy định, ý thức mang bản chất xã hội
4 Ý nghĩa
- Chống lại chủ nghĩa duy tâm giải thích sai lệch, xuyên tạc về nguồn gốc, bản chất của ý thức
- Chống lại chủ nghĩa duy vật tầm thường, chủ nghĩa duy vật trước Mác không thấy được vai tròcủa ý thức và con người nói chung, xem ý thức chỉ là bản sao chép giản đơn thế giới bên ngoài
- Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò con người trong việc cải tạo thếgiới Đồng thời khắc phục bệnh trì trệ, bảo thủ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại ngồi chờ trong quátrình đổi mới con người Việt Nam
- Sức mạnh của ý thức không phải ở chỗ nó tách rời hiện tượng vật chất, hiện tượng khách quan
mà phải dựa vào những tiền đề vật chất nhất định, phản ánh đúng hiện thực, từ đó chủ động cải tạothế giới bên ngoài
- Con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan bao nhiêu thì càng cải tạo nó
có hiệu quả bấy nhiêu./
Trang 7Câu 3: Phân tích mối quan hệ vật chất và ý thức Ý nghĩa trong việc phê phán bệnh chủ
quan duy chí và bệnh bảo thủ, trì trệ?
Khác với CNDV máy móc siêu hình, CNDVBC đã giải quyết 1 cách khoa học mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức điều đó được trên những nội dung cơ bản sau:
1 Các khái niệm
Vật chất (của Lê Nin): Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, vàtồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Thực tại khách quan là sự tồn tại có thật, không phải do ý muốn của thần linh, thượng đế hoặc
do ý thức chủ quan của con người sản sinh ra, mà đó là sự tồn tại, vận động, chuyển hóa và pháttriển theo những quy luật vốn có của bản thân các sự vật, hiện tượng, dù con người có muốn, có biếthay chưa biết về sự tồn tại đó thì chúng vẫn tồn tại
Ý thức: ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh tích cực, chủ
động và sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con người
Ý thức không phải là một hiện tượng thần bí, tách rời khỏi vật chất mà là đặc tính của một dạngvật chất có tổ chức đặc biệt là bộ não của con người, là sự phản ánh sự vật, hiện tượng của thế giớibên ngoài vào bộ não của con người trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo và được hiệnthực hóa bằng ngôn ngữ Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Quan niệm duy tâm: Đề cao ý thức, duy vật cũ: không thấy khả năng nhận thức của con người.
Còn quan điểm duy vật biện chứng (DVBC) về MLH giữa vật chất và ý thức như sau:
* Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức
- Vật chất quyết định ý thức, vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quanđộc lập với ý thức, là nguồn gốc của ý thức; còn ý thức là sự phản ánh vật chất vào trong bộ óccon người, là cơ quan vật chất của ý thức., ý thức là chức năng của bộ óc; ý thức hoạt độngphụ thuộc vào bộ óc con người do vậy khi bộ óc con người bị tổn thương thì hoạt động ý thứckhông bình thường
- Vật chất quyết định nội dung của ý thức: sự phản ánh thế giới vật chất càng phong phúthì nội dung ý thức càng phong phú Vật chất như thế nào thì ý thức như thế Ví dụ: mặt trờihình tròn có quan niệm về mặt trời hình tròn
- Vật chất biến đổi sớm muộn gì ý thức cũng biến đổi theo Tuy nhiên, ý thức có tính độclập tương đối nên sự biến đổi đó có thể không diễn ra đồng thời với sự biến đổi của vậtchất.vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xh bộc lộ ở mối quan hệ giữa tồn tại xh
và ý thức xh, đời sống vật chất với đời sống tinh thần
- Vât chất là nhân tố quyết định đến khả năng sáng tạo, năng động của ý thức
* Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song khi ra đời ý thức có tính độc lập tương đối, có sự tác động trở lại vật chất.
- Lý do: ý thức có sự tác động trở lại đối với vật chất vì ý thức là ý thức của con người,gắn liền với tính năng động, sáng tạo của nhân tố con người, nhân tố chủ quan, mặt khác ýthức là sự phản ánh sáng tạo đối với thế giới
Trang 8- Thể hiện:
+ Thứ nhất, ý thức là sự phản ảnh thế giới khác quan vào bộ não, nhưng đó là sự phản
ánh tích cực, chủ động và sáng tạo, do đó ý thức có thể tác động trở lại sự vận động và pháttriển của thế giới vật chất góp phần cải tạo thế giới vật chất
+ Thứ hai, Ý thức có khả năng cải biến thế giới vật chất thay đổi hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người sự tác động trở lại của ý thức với thế giới vật
chất có thể xảy ra theo hai hướng đó là: xu hướng tích cực: ý thức sẽ thúc đẩy sự phát triển củathế giới vật chất nếu nó phản ảnh đúng quy luật vận động của thế giới vật chất; Xu hướng tiêucực: ý thức sẽ kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất nếu nó phản ánh không đúng quyluật vận động của thế giới vật chất
- Sự tác động trở lại của ý thức tới thế giới vật chất phải được thông qua hoạt động thực
tiễn của con người Ý thức sẽ giúp con người xác định được mục tiêu, phương hướng đồngthời giúp đề ra được các biện pháp cho các hoạt động của mình, từ đó tác động là thay đổi thếgiới vật chất Ví dụ: những ý tưởng, phải thông qua hoạt động thực tiễn thì ý tưởng, NQ đómới trở thành hiện thực
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ Tính khoa học của ý thức
+ Mức độ thẩm thấu của ý thức trong quần chúng Ví dụ: Đảng ra Nghị quyết 17, 18thì quán triệt và triển khai tổ chức thực hiện ở các tổ chức đảng
+ Vai trò của chủ thể lãnh đạo triển khai ý thức
- Ý thức có thể nhân sức mạnh vật chất vốn có lên nhiều lần thông qua hoạt động thựctiễn của con người thậm chí nó có thể tạo ra những dạng vật chất mới cụ thể tạo ra nguyênliệu mới phục vụ đời sống, nhu câu ngày càng tăng của con người
- Nói đến ý thức với vai trò tích cực của nó là nói đến vai trò của con người, vai trò thựctiễn của con người
3 Ý nghĩa của phương pháp luận
- Do vật chất quyết định ý thức và ý thức chỉ là sự phản ánh thế giới khách quan trong đầu
óc con người, cho nên trong mọi hoạt động thực tiễn phải tôn trọng nguyên tắc khách quan,phải xuất phát từ hiện thực khách quan và hoạt động theo quy luật khách quan.Tức là, khi xemxét sự vật, hiện tượng cần phải xuất phát từ chính nó, chứ không được áp đặt ý chí, ý muốnchủ quan của mình vào sự vật, hiện tượng
+ Phải nhận thức được và hiểu quy luật khách quan Mọi đường lối, chủ trương phải xuấtphát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan Cụ thể: trong thực tế khi hoạch định đường lối,chủ trương chính sách phải luôn xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội ví dụ: để xây dựng kếhoạch phát triển kinh tế xã hội của một tỉnh, địa phương….cần căn cứ vào điều kiện thực tế cơsở… Phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan duy ý chí, nóng vội
- Do ý thức có tính độc lập tương đối, có thể tác động trở lại thế giới vật chất thông qua hoạt độngcủa con người cho nên cần phải phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức:
+ Tôn trọng tri thức thức khoa học, lý luận khoa học, xây dựng bồi dưỡng tình cảm.
+ Phát huy năng động chủ quan, đồng thời phải chống lại bệnh bảo thủ, trì trệ, ỷ lại,không biết phát huy năng động, sáng tạo của ý thức
- Do giữa vật chất và ý thức có tác động qua lại vì vậy trong mọi hoạt động cần tránh haikhuynh hướng sai lầm đó là:
Trang 9Thứ nhất, tuyệt đối hóa vai trò của vật chất để rồi rơi vào chủ nghĩa khách quan vào thái
độ thụ động, trong chờ vào vật chất;
Thứ hai, tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố ý thức dẫn đến chủ quan, duy ý chí, hạ thấp
hoặc đánh giá không đúng vai trò của vật chất đây chính là sai lầm phổ biến nhũng năm trướcđây (Ví dụ: sau thống nhất nước ta ưu tiên phát triển công nghiệp nặng…) Hay, do quá đề caovai trò của ý thức, đánh giá không đúng vai trò của điều kiện vật chất nên trong thời kỳ đấtnước hoàn toàn thống nhất, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trước thời kỳ đổi mới chúng ta đãrơi vào bệnh chủ quan duy ý chí, đưa đất nước ta lâm vào tình trạng trì trệ, chậm phát triển
Vì vậy, cần chống bệnh chủ quan, duy ý chí thổi phồng tính tích cực, sáng tạo của ý thức
- Khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí:
+ Biểu hiện cực đoan, nhấn mạnh ý chí coi thường tri thức;
+ Lấy mong muốn nhiệt tình thay cho hiểu biết;
+ Nguyên nhân: ảnh hưởng của lối tư duy người sản xuất nhỏ, tâm lý của người phươngĐông, có chế tập trung quan liêu;
+ Giải pháp: Trước hết, phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, trình độ lý luậncủa Đảng Trong hoạt động thực tiễn phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Phảiđổi mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị,chống bảo thủ, trì trệ, quan liêu
4 Sự vận dụng của Đảng ta
Trước đại hổi VI, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta quá nóng vội trong việcxác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa vàmuốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, trong khi đó LLSX của chúng ta còn thấp.Điều này đã vi phạm nhiều quy luật khách quan, chủ quan, duy ý chí
Đến Đại hội VI, chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, tiến hành đổi mớitoàn diện, trọng tâm đổi mới về kinh tế Đến đại hội VII, Đảng ta khẳng định: “Đảng ta đã phạmsai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan” Đồng thời, khẳng định: Mọi đường lối,chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Tổng kết 30 nămđổi mới Đảng ta khẳng định, bài học: “Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôntrọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn,nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra” + Nghị quyết 18, 19 xuất phát từ thưc tế việc hệ thống chính trị cồng kềnh, hoạt động kémhiệu quả, phải đổi mới theo hướng tinh gọn
+ Phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật chất bằng cách nâng cao năng lực nhậnthức các quy luật khách quan và vận dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người.Phải luôn chú ý đến việc giáo dục tư tưởng, phát triển tư duy sáng tạo
+ Phải coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để nâng cao trình độ lý luận và đổimới công tác tổ chức cán bộ
+ Bồi dưỡng phẩm chất và vai trò lãnh đạo của cán bộ, đảng viên
Trang 10Câu 4: Mối liên hệ phổ biến? Ý nghĩa phương pháp luận?
Đặt vấn đề: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nguyên lý cơ bản của
phép biện chứng duy vật Nguyên lý này chỉ ra mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quátrình trong tự nhiên xã hội và tư duy.Thế giới vật chất vô cùng đa dạng và phong phú vớimuôn vàn sự vật và hiện tượng khác nhau.Vấn đề đặt ra là giữa các sự vật, hiện tượng đó cómối liên hệ với nhau hay không và nếu có thì cơ sở mối liên hệ đó là gì? Trả lời câu hỏi nàytrong lịch sử triết học có nhiều quan điểm khác nhau:
1 Một số quan niệm về mối liên hệ
* Quan niệm duy tâm, siêu hình về mối liên hệ:
- Đối với các nhà duy đã thừa nhận giữa các sự vật và hiện tượng trong thế giới có mối liên
hệ với nhau Nhưng cơ sở của mối liên hệ đó là do yếu tố tinh thần hoặc một lực lượng siêunhiên nào đó (Ví dụ: Hê Ghen cho rằng mối liên hệ đó từ trong ý niệm tuyệt đối)
- Nhà triêt học siêu hình: khẳng định các sự vật hiện tượng tồn tại cô lập và không có quan
hệ gì với nhau Nếu có thì đó cũng chỉ là những mối liên hệ bề ngoài, có tính chất tạm thòi
* Quan niệm của CNDVBC:
- Ngược lại, những người theo quan điểm biện chứng coi mọi sự vật, hiện tượng này vừatồn tại tính độc lập, tách biệt với nhau, vừa có mối liên hệ tác động qua lại, thâm nhập vàchuyển hóa lẫn nhau
+ Khái niệm liên hệ: liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự nương tựa, thâm nhập vàonhau, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới hoặc giữa các mặt, yếu tốbên trong của sự vật, hiện tượng VD: Liên hệ đồng hóa, dị hóa trong cơ thể của động vật, liên
hệ giữa các nước trên các mặt kinh tế, văn hóa, ngoai giao…
+ Liên hệ phổ biến: là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ diễn ra ở nhiều sự vật, hiệntượng cả trong tự nhiện, xã hội và tư duy VD: Trong tự nhiên: con người – môi trường; trong
XH như kinh tế với chính trị; các giai cấp với nhau trong xã hội; trong tư duy như giữa các quátrình của tư duy: cảm giác với tri giác, phán đoán với suy lý
- Cơ sở của mối liên hệ: đó là tính thống nhất vật chất của thế giới sở dĩ mọi sự vật, hiệntượng trên thế giới đều có mối liên hệ như nhau bởi vì chúng đều là những dạng tồn tại khácnhau của vật chất
2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến (có 3 tính chất)
- Tính khách quan:
+ Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các yếu tố bên trong sự vật, hiện tượng
là cái vốn có của bản thân các sự vật, hiện tượng đó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quancủa con người
+ Con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng mối quan hệ đó chứ không thể nào sáng tạohoặc từ bỏ mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng.Ví dụ: Mối liên hệ giữa con người với môitrường là mối liên hệ tất yếu khách quan Vì vậy con người phải nhận thức đúng đắn về mốiliên hệ này để có những hành động đúng đắn, nếu không thì bản thân con người cũng sẽ bị đedọa nếu con người không nhận thức đúng được quy luật của môi trường, tàn phá môi trường
- Tính phổ biến của các mối liên hệ:
Trang 11+ Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới như: tự nhiên, xã hội, tư duy đều luôn luôn tồntại trong mối liên hệ với nhau (ví dụ: thế giới động vật – thực vật; xã hội: con nguoif với conngười; tư duy: học thuyết – tư tưởng…).
Ở ngay trong cùng của sự vật và trong bất kỳ một thòi điểm nào thì các yếu tố của mối liên
hệ luôn tồn tại và phụ thuộc nhau
+ Trong xã hội có mối liên hệ giữa con người với con người, mối liên hệ giữa các quốc gia,mối liên hệ giữa kinh tế với chính trị… đó là những mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.+ Trong tư duy là mối quan hệ về sự kế thừa những học thuyết, hệ tư tưởng từ thế hệ nàysang thế hệ khác…
- Tính đa dạng và phong phú của mối liên hệ: các sự vật, hiện tượng trên thế giới vô cùng
phong phú và đa dạng cho nên mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là vô cùng phong phú và đadạng như: bên trong- bên ngoài, cơ bản – không cơ bản, trực tiếp – không trực tiếp và mối liên hệ
đó sẽ có vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của các sự vật, hiện tượng
+ Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữacác yếu tố, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vậnđộng và phát triển của sự vật
+ Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau, nói chung
nó không có ý nghĩa quyết định Hơn nữa, nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong màphát huy tác dụng đối với sự vận động và phát triển của sự vật.Song, mối liên hệ bên ngoàicũng hết sức quan trọng, đôi khi có thể giữ vai trò quyết định
+ Mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ tấtyếu và ngẫu nhiên, cũng có tính chất tương tự như đã nêu ở trên, ngoài ra, chúng còn nhữngnét đặc thù Chẳng hạn, cái là ngẫu nhiên khi xem xét trong quan hệ này, lại là tất nhiên, khixem xét trong mối quan hệ khác
Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đốitrong sự phân loại đó, các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau Sự chuyển hoá nhưvậy có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động kháchquan của chính sự vật và hiện tượng
Trong tính đa dạng của các hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội vàtrong tư duy con người, phép biện chứng duy vật tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung,mang tính phổ biến
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Việc tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật và hiện tượng sẽ giúp tạo
cơ sở lý luận cho quan điểm toàn diện trong hoạt động thực tiễn, nhận thức con người quyếtđịnh toàn diện cần những yêu cầu sau:
Một là, vì các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ với nhau và giữa các yếu tố cấu thành sự vật
cũng luôn tồn tại và có các mối liên hệ với nhau do đó khi nghiên cứu về các sự vật, hiện tượng phảiluôn luôn đặt nó trong mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng khác Trong mối liên hệ giữa các yếu
tố cấu thành nên các sự vật, hiện tượng đó và trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người.(Vd: khi xem xét đánh giá con người cần đặt trong các mối quan hệ xã hội…)
Hai là, bởi vì sự vật tồn tại trong mối liên hệ nhiều sự vật, hiện tượng khác cho nên để cải
tạo sự vật thì cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau (Vd: giải quyết tình trạngách tắc giao thông cần tiến hành đồng bộ…)
Trang 12Ba là, sự tồn tại trong nhiều mối liên hệ khác nhau và mối liên hệ đó có vai trò khác đối
với sự tồn tại và phát triển của sự vật Do đó, để thúc đảy sự phát triển của sự vật thì cần phảiphân loại các mối liên hệ, xác định cho được mối liên hệ cơ bản, mối liên hệ bên ttrong để từ
đó tập trung giải quyết, nói cách khác khi xem xét sự vật cần trọng tâm, trọng điểm khôngđược quân bình, cào bằng điều này đặc biệt có ý nghĩa trong thực tiễn
Vd: Hiện nay nhiệm vụ then chốt của chúng ta là xây dựng chỉnh đốn Đảng, nhiệm vụtrung tâm là phát triển kinh tế - XH, văn hóa là nền tảng…
Bốn là, việc quán triệt quan điểm toàn diên yêu cầu phải chống lại các thuật ngụy biện, quan
điểm phiến diện tập trung một vấn đề và chủ nghĩa chiết chung (kết hợp vô nguyên tắc những cáikhông kết hợp được với nhau) Vd: trong công tác cán bộ, sắp xếp, bố trí cán bộ vào vị trí nào đó… + Chủ nghĩa phiến diện là chỉ thấy mặt này, mối liên hệ này mà không thấy mặt khác,mối liên hệ khác; xem xét sự vật trong trạng thái cô lập; tiếp nhận thông tin 1 chiều; xem xétgiải quyết công việc một cách dàn đều, bình quân, không xác định được trọng tâm, trọng điểm
+ Chủ nghĩa chiết trung là kết hợp một cách vô nguyên tắc, chủ quan những cái khácnhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật
+ Thuật ngụy biện là đánh tráo một cách có chủ đích vị trí, vai trò các mối liên hệ nhằmbiện hộ sai hiện thực, xuyên tạc một sự thật nào đó
4 Sự vận dụng của Đảng ta
Vận dụng quan điểm này, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra chủtrương đổi mới toàn diện trên các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội.Trong đó, xác định đổimới tư duy lý luận, tư duy chính trị là khâu đột phá, đổi mới kinh tế là trọng tâm.Thực tiễnnhững năm đổi mới ở nước ta đã mang lại nhiều bằng chứng xác nhận tính đúng đắn củanhững quan điểm nêu trên
- Đại hội VIII Đảng ta đã nhận định “Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thựchiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đềcần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tincủa nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác nhau của đời sống xã hội”
- Đại hội XII đưa ra 6 nhiệm vụ trọng tâm:
1.)Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị…xây dựng đội ngũ cán bộ ở cấp chiến lược
2.) Xây dựng tổ chức bộ máy của HTCT theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệuquả để phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liệu
3.) Tập trung thực hiện giải pháp tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh kinh tế4.) Kiên quyết, đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ
5.) Phát huy mạnh mẽ nguồn lực sáng tạo của nhân dân, chăm lo đời sống vật chất tinhthần cho nhân dân Phát triển đảm bảo an sinh, xã hội
6.) Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực, xây dựng con người về đạo đức, nhâncách, lối sống, trí tuệ và năng lực
Trang 13Câu 5: Nguyên lý về sự phát triển Ý nghĩa phương pháp luận.
1 Một số quan niệm về sự phát triển
* Quan niệm duy tâm và siêu hình về sự phát triển:
- Từ thế kỷ 19 trở về trước các nhà triết học siêu hình có xu hướng phủ nhận sự phát triển, sau
đó những thành quả của khoa học và sự phát triển xã hội theo quan điểm siêu hình phải thừa nhận sựphát triển nhưng họ coi phát triển là quá trình tiến lên liên tục không có quanh co phức tạp
- Các nhà duy tâm: thừa nhận sự phát triển nhưng họ coi ngồn gốc của sự phát triển các
sự vật, hiện tượng là từ các lực lượng siêu nhiên hoặc từ ý thức con người vd: quan điểm củaH.ghen coi nguồn gốc sự phát triển từ ý thức tuyệt đối
* Quan niệm DVBC:
- Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động theo xu hướng
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của tự nhiên,
xã hội và tư duy (máy tính – đơn giản- phức tạp…)
Các quan điểm về phát triển theo Lênin có 2 quan điểm về sự phát triển:
+ Phát triển là sự tăng lên hoặc giảm đi 1 cách đơn thuần về mặt số lượng Lênin cho rằngquan điểm này là chết cứng ngưng đọng máy móc siêu hình
+ Phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Đây là quan điểm BC sinh động
2 Tính chất của sự phát triển
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển có 3 tính chất cơ bản: Tínhkhách quan, tính phổ biến, tính đa dạng và phong phú:
+ Tính khách quan: sự phát triển ba giờ cũng mang tính khách quan, bởi vì theo quan
điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng nguồn gốc sự phát triển đó nằm ngay trong bản thân sựvật, đó là trình giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh bên trong của sự vật, nhờ đó sự vật luôn luônphát triển vì thế phát triển là 1 tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người
+ Tính phổ biến: Phát triển không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính phổ biến,
tính phổ biến của phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy…;
ở bất cứ sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Ngay cả các khái niệm, phạm trù phảnánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển, chỉ trên cơ sở của sự phát triển,mọi hình thức tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù mới có thể phản ánh đúng đắnhiện thực luôn vận động và phát triển Vd: tự nhiên: những giống lúa mới, cơ thể mới -> thíchnghi; xã hội: từ thấp đến cao như các hình thái KTXH; tư duy: năng lực ngày càng tăng củacon người
+ Tính đa dạng và phong phú: sự phát triển là khuynh hướng chung của mọi của sự vật, hiện
tượng, song mỗi sự vật, hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau Tồn tại ở không giankhác nhau, thời gian khác nhau, sự vật sẽ phát triển khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triểncủa mình sự vật hiện tượng còn chịu tác động của các sự vật hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố,điều kiện Sự tác động có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật hiện tượng; quá trìnhphát triển của sự vật không phải diến ra theo con đường thẳng, liên tục mà là quá trình quanh co,phức tạp thậm trí còn có cả bước thụt lùi (vd: quá trình cách mạng 30-35:….)
Trang 14Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Mỗi sựvật, hiện tượng đều có quá trình ra đời, tồn tại, phát triển và tiêu vong Sự vật cũ mất đi, sự vật mới
ra đời Sự mất đi của cái cũ lại tạo điều kiện tiền đề cho cái mới ra đời Phép biện chứng duy vật đãchỉ rõ nguồn gốc, nguyên nhân của mọi sự vận động, phát triển đó là sự thống nhất và đấu tranh củacác mặt đối lập ở bên trong mỗi sự vật, hiện tượng Phát triển là cái vốn có, là tự thân của mỗi sựvật, hiện tượng Phép biện chứng duy vật cũng đã chỉ rõ cách thức của sự vận động, phát triển đó là
đi từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất thông qua những bước nhảy vọt Và cũngchỉ rõ xu hướng của sự vận động, phát triển đó là theo đường xoáy ốc đi lên thông qua sự phủ địnhbiện chứng, dường như quay trở lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn
Trong hiện thực khách quan, tuỳ thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất, sựphát triển sẽ được thực hiện hết sức đa dạng Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở năng lực chinhphục tự nhiên, cải tạo xã hội để tiến tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng conngười Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúngđắn hơn đối với hiện thực tự nhiên và xã hội
Kết luận: - Cách thức của sự vận động phát triển là sự tích lũy dần về lượng dẫn đến sựthay đổi về chất và ngược lại; - Khuynh hướng của sự phát triển từ thấp đến cao, từ kém hoànthiện đến hoàn thiện hơn đó là sự phủ định biện chứng
Nguồn gốc động lực của sự phát triển đó là việc giải quyết các mâu thuẫn vốn có tronglòng các sự vận hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Việc nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển sẽ tạo cơ sở lý luận cho quan điểm phát triển tronghoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Yêu cầu của quan điểm phát triển là:
- Một là, vì mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn phát triển, nên phải xem xét sự vật, hiện
tượng trong sự vận động và phát triển của nó và phải phát hiện ra xu hướng phát triển đó đểchủ động trong mọi hoạt động Điều này có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn như trong công
tác cán bộ hoặc giáo dục Vd: trong công tác cán bộ, đánh giá nhận xét CB -> đặt trong sự phát
triển -> quy hoạch (phát triển) như thế nào có sự kế thừa, bổ khuyết và phát triển
- Hai là, sự vận động của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan là sự vận động chứa
đựng nhiều mâu thuẫn do đó chúng ta phải biết tìm mâu thuẫn và giải quyết các mâu thuẫn từ
đó giúp các sự vật phát triển
Phát triển là quá trình quanh, phức tạp thậm trí bao hàm cả những bước thụt lùi tạm thời
do đó trước những khó khăn, phức tạp phải luôn xác định tinh thần lạc quan, bình tĩnh xem xétmọi nhân tố tác động, biết chấp nhận những thất bại tạm thòi để vượt qua những khó khăn để
đi đến kết quả cao hơn Đồng thời việc thấy được tính khó khăn, phức tạp sẽ giúp tránh đượcthái độ chủ quan, giản đơn trong mọi hoạt động
- Ba là, vì sự vật luôn luôn phát triển do đó tư duy của con người luôn phải mềm dẻo, linh
hoạt để phản ánh kịp thòi sự phát triển của sự vật điều này có nghĩa trong thực tế các đườnglối chính sách cũng phải luôn được sửa đổi, bổ sung kịp thời để phù hợp với sự phát triển củathực tiễn (vd)
Việc quán triệt con người cần đòi hỏi chống lại thái độ bảo thủ, trì trệ và giáo điều
4 Liên hệ:
- Trên thực tế sự phát triển diễn ra hết sức quanh co, phức tạp
Trang 15- Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, có ảnh hưởng đến tâm lý, tư tưởng củamột số cán bộ đảng viên và các thế lực thù địch xuyên tạc Nhưng chúng ta phải hiểu đây làbước thụt lùi tạm thời Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Trung Quốc đã có nhiều thànhtựu quan trọng
- Kinh tế có lúc bị khủng hoảng, nhất là Đảng ta nhận định 4 nguy cơ, nhất là nguy cơ tụthậu hơn về kinh tế sơ với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ diễn biến hòa bìnhcủa các thế lực thù địch, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống khoảngcách giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp, bảo vệchủ quyền biển đảo gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn Chúng ta đã có giải pháp khắc phụcthách thức nêu giải pháp và thành tựu đạt được
- Mặc dù CNXH trên thế giới đang đứng trước những thử thách, khó khăn và phức tạp,song từ những thành tựu và hạn chế trong quá trình đổi mới, Đảng cộng sản các nước đã vàđang rút ra những bài học cần thiết, đưa quá trình cải cách, đổi mới diễn ra đúng hướng phùhợp quy luật phát triển của xã hội và đang đạt những chuyển biến tích cực Những thành tựu tolớn và rất quan trọng của 30 năm đổi mới làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên nhiều.Cũng như mọi thời đại khác trong lịch sử, nó có phát triển, có thoái trào, quanh co, khúckhuỷu, nhưng cuối cùng như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
(bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài
người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”./.
Trang 16Câu 6: Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn).
1.Vị trí, vai trò của quy luật
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đây là 1 trong 3 quy luật cơ bản củaphép BCDV Quy luật này chỉ ra nguồn gốc, động lực sự phát triển của các sự vật hiện tượng
và là cơ sở lý luận để giúp hiểu thực chất của những quy luật khác của phép BCDV, do đó, quyluật này được coi là hạt nhân của phép biện chứng
2 Các khái niệm
2.1 Mặt đối lập: là 1 phạm trù triết học chỉ những mặt có đặc điểm thuộc tính, tính quy
định, có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau tồn tại khách quan trong sự vật, hiện tượng.Vd: Đồng hóa và dị hóa trong cơ thể động vật, cực bắc cực trong thanh nam châm, điện tích
âm - dương của dòng điện
2.2 Sự thống nhất giữa các mặt đối lập: là khái niệm chỉ sự liên hệ, sự ràng buộc, sự quy
định lẫn nhau của các mặt đối lập Sự thống nhất của các mặt đối lập có thể được hiểu theo banghĩa:
Thứ nhất, giữa các mặt đối lập có sự nương tựa, là điều kiện tồn tại lẫn nhau, không có mặt
này thì không có mặt kia (vd: tư sản – vô sản, không có ts thì kg có vs…);
Thứ hai, sự thống nhất của các mặt đối lập là sự đồng nhất, sự giống nhau của các mặt đối lập; Thứ ba, sự thống nhất của các mặt đối lập là sự tác động ngang nhau tạo nên trạng thái làm
cân bằng giữa các mặt đối lập, trường hợp này thể hiện rõ đặc biệt trong thời kỳ quá độ, trong
xã hội đan xen nhau…
Sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ là tương đối, tạm thời, bởi vì sự thống nhất đó gắnliền với sự đứng im, ổn định tạm thời của sự vật Mặt khác bản thân sự thống nhất của các mặtđối lập trong đó đã bao hàm sự đấu tranh của các mặt đối lập đó
2.3 Sự đấu tranh của các mặt đối lập: Đấu tranh của các mặt đối lập là khái niệm dùng
để chỉ sự xung đột, bài trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập
- Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập là hết sức phong phú và đa dạng, tùy thuộc vàotính chất và mối quan hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng và tùy thuộc vào các điều kiện cụthể diễn ra cuộc đấu tranh đó
- Đấu tranh là động lực của sự phát triển: Thực chất của phát triển là quá trình phá bỏ cái cũ đểhình thành cái mới, cái tiến bộ hơn Nhưng cái cũ, cái lỗi thời bao giờ cũng có tính bảo thủ cao Còncái mới nhiều khi còn non nớt Vì vậy, nếu không có đấu tranh thì không thể có sự phát triển
Chẳng hạn, lịch sử phát triển của xã hội loài người từ thời cổ đại đến nay bao giờ cũng là kếtquả của cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt giữa người bị bóc lột chống kẻ bóc lột, người bị áp bứcchống kẻ áp bức, như cuộc đấu tranh của nô lệ chống lại chủ nô, của nông dân chống lại địa chủ,phong kiến Bản thân sự phát triển xã hội hiện đại cũng là sản phẩm của cuộc đấu tranh giữa giaicấp vô sản với giai cấp tư sản
- Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối bởi vì nó diễn ra thường xuyên, liên tục trongtất cả các giai đoạn vận động, phát triển của sự vật và ngay trong sự thống nhất của các mặt đốilập cũng đã bao hàm những nhân tố phá vỡ sự thống nhất đó
Trang 172.4 Mâu thuẫn biện chứng: Mâu thuẫn biện chứng là sự liên hệ, sự tác động qua lại lẫn
nhau của hai mặt tác động biện chứng
- Mỗi một mâu thuẫn biện chứng bao gồm 2 mặt đối lập, nhưng không phải 2 mặt đối lập bất kỳnào cũng hình thành mâu thuẫn mà chỉ có 2 mặt đối lập tồn tại trong cùng sự vật, trong cùng mộtthời điểm và thường xuyên liên hệ qua lại với nhau thì mới tạo thành một mâu thuẫn biện chứng
- Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến, là hiện tượng khách quan bởi vìmâu thuẫn bắt nguồn từ chính trong bản thân sự vật, từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa cácyếu tố của sự vật, đồng thời mâu thuẫn xảy ra ở mọi sự vật, hiện tượng và xảy ra trong tất cảcác sự vật hiện tượng đó
2.5 Mâu thuẫn là nguồn gốc sự vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng
- Trong mỗi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng mâu thuẫn Quá trình phát triển của mâu thuẫn
là quá trình tương tác khác nhau và trải qua các giai đoạn khác nhau với những đặc điểm riêng
+ Sự chuyển hóa của các mặt đối lập có thể xảy ra theo nhiều cách: hai mặt đối lậpchuyển hóa cho nhau, hoặc cả hai mặt đối lập cùng chuyển hóa thành những mặt đối lập mới
+ Ở giai đoạn đầu khi mới hình thành, mâu thuẫn thể hiện như là sự khác biệt của haimặt có hai khuynh hướng phát triển trái ngược nhau trong cùng sự vật, lúc này sự vật vận độngtrong sự bình yên, chậm chạp
+ Ở giai đoạn tiếp theo, sự khác biệt đó được phát triển thành sự đối lập, mâu thuẫnđược bộc lộ một cách rõ nét Các mặt đối lập đấu tranh với nhau làm cho sự vận động theonhịp điệu ngày càng tăng và khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển đến mức độ gay gắtthì sẽ dẫn tới sự chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập Khi đó, mâu thuẫn được giải quyết,
sự thống nhất của các mặt đối lập cũ bị phá vỡ, sự vật cũ bị mất đi và sự vật mới ra đời vớinhững mâu thuẫn mới… quá trình này làm cho sự vật không ngừng vận động, phát triển Nhưvậy, nếu không có đấu tranh thì không thể có sự phát triển
Chẳng hạn, lịch sử phát triển của xã hội loài người từ thời cổ đại đến nay bao giờ cũng là kếtquả của cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt giữa người bị bóc lột chống kẻ bóc lột, người bị áp bứcchống kẻ áp bức, như cuộc đấu tranh của nô lệ chống lại chủ nô, của nông dân chống lại địa chủ,phong kiến Bản thân sự phát triển xã hội hiện đại cũng là sản phẩm của cuộc đấu tranh giữa giaicấp vô sản với giai cấp tư sản
Như vậy, cả sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập đều đóng vai trò quan trọngtrong sự vận động phát triển của sự vật, đều là nguồn gốc của sự vận động và phát triển đó Sựvật phát triển do sự đấu tranh để giải quyết những mâu thuẫn trong lòng sự vật, hiện tượng
3 Phân loại mâu thuẫn
Dựa vào nhiều căn cứ khác nhau:
- Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu thuẫn thành mâu
thuẫn bên trong, ngoài
+ Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập củacùng một sự vật
+ Mâu thuẫn bên ngoài đối với một sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan hệgiữa sự vật đó với các sự vật khác
Từ đó, mâu thuẫn bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với sự vận động, phát triểncủa sự vật Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài không ngừng tác động qua lạilẫn nhau Mâu thuẫn bên ngoài có thể phát triển thành mâu thuẫn bên trong hoặc tìm kiếm mâu
Trang 18thuẫn bên trong Thực tiễn nước ta cho thấy việc giải quyết những mâu thuẫn nước ta không tách rờiviệc giải quyết những mâu thuẫn giữa nước ta với các nước khác.
- Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu thuẫn được chia
thành mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản
+ Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển của tất
cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại các sự vật Mâu thuẫn cơ bản đượcgiải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn bản về chất
+ Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự vật,
nó không quy định bản chất của sự vật Mâu thuẫn đó nảy sinh hay được giải quyết không làm cho
sự vật thay đổi căn bản về chất
- Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai
đoạn nhất định:
+ Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của
sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu trong từnggiai đoạn là điều kiện cho sự vật chuyển sang giai đoạn phát triển mới
+ Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó của
sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối Giải quyết mâuthuẫn thứ yếu là góp phần vào việc từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ yếu
- Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong xã hội thành mâu
thuẫn đối kháng và không đối kháng
+ Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn phát triển có lợi ích
cơ bản đối lập nhau
+ Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn trong những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bảnthống nhất nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời Chẳng hạn, mâu thuẫntrong lao động trí óc và lao động chân tay
Từ sự phân tích trên có thể rút ra nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
như sau: Mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynh hướng biến đổi ngược chiều nhau gọi là
những mặt đối lập Mối liên hệ của hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và chuyển hoá lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.
4 Ý nghĩa, phương pháp luận
Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực phát triển nên trong thực tiễn cần xác định mâu thuẫn
và giải quyết nó
- Muốn phát hiện ra mâu thuẫn cần xác định các mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ
sự tác động qua lại với nhau giữa các mặt đối lập
- Khi phân tích mâu thuẫn phải bắt đầu từ việc xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từngmặt đối lập; xem xét vai trò, vị trí và mối liên hệ và điều kiện chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng
- Khi giải quyết mâu thuẫn phải xác định trạng thái chín muồi của mâu thuẫn, tìm raphương thức, phương tiện và lý luận, có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn đểgiải quyết một cách có hiệu quả; không nóng vội hay bảo thủ, trì trệ khi giải quyết mâu thuẫn.không được điều hoà mâu thuẫn
- Trong xã hội phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng
+ Không đối kháng: mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không giải quyết bằng vũ lực
Trang 19+ Mâu thuẫn đối kháng: mâu thuẫn giữa ta và địch: sử dụng nhiều biện pháp
- Vì mâu thuẫn là khách quan phổ biến nên chúng ta không được tuyệt đối hóa một mặtđối lập nào Ví dụ: Trung Quốc đưa giàn khoan 981 vào vùng biển và thềm lục địa Việt Nam,nhận định rõ tình hình và mức độ nhạy cảm của vấn đề, Việt Nam đã sử dụng hình thức đấutranh khôn khéo bằng con đường ngoại giao, hòa bình…
5 Sự vận dụng của Đảng ta:
Hồ Chí Minh xác định đúng mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX,đầu thế kỷ XX: mâu thuẫn dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp Từ đó giải quyết mâu thuẫn:xác định trạng thái chín muồi, tranh thủ thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa tháng Tám
Phát hiện mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn: giải quyết mâuthuẫn LLSX mâu thuẫn QHSX;,
Trang 20Câu 7: Quy luật chuyển hóa về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất.
Ý nghĩa phương pháp luận.
1 Vị trí, vai trò của quy luật
Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất là 1 trong 3 quy luật cơ bảncủa phép biện chứng duy vật Quy luật này chỉ ra cách thức sự vận động và phát triển của sựvật, hiện tượng
2 Các khái niệm
- Chất: là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sự vật,
hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu tố, đặc điểm cấu thành các sự vật, hiện tượng làm cho sự vật là nó để phân biệt với các sự vật, hiện tượng khác
Ví dụ: cái bàn, ghế, giường có những thuộc tính riêng tự nó quy định (hay muối: mặn, hòatan, trắng, kết tinh dạng tinh thể khác với đường….)
Kim cương và than chì là hai chất khác nhau Chúng đều được tạo ra từ nguyên tố cácbon (C)nhưng do cách sắp xếp khác nhau mà ta thấy hai chất hoàn toàn khác biệt
+ Chất là những thuộc tính vốn có của sự vật cấu thành do đó chất luôn luôn mang tínhkhách quan gắn liền với sự vật
+ Chất của mỗi sự vật, hiện tượng đều có nhiều thuộc tính, trong đó có thuộc tính cơ bảnquy định chất của sự vật và chỉ khi các thuộc tính cơ bản này thay đổi thì chất của sự vật đómới thay đổi
+ Chất là biểu hiện trạng thái ổn định tương đối của sự vật và nó là đặc trung cho sự khácbiệt giữa sự vật này với sự vật khác
- Lượng: là một phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật hiện
tượng, biểu hiện về mặt quy mô, trình độ phát triển thông qua con số các thuộc tính và các yếu
tố cấu thành sự vật Chẳng hạn kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, tốc độ chậm hay
nhanh (hay lượng của căn phòng: dài, cao…)
+ Lượng là cái vốn có của sự vật song chưa làm cho sự vật là nó, chưa làm nó khác với cái khác,Lượng tồn tại cùng với chất của sự vật cho nên lượng có tính khách quan như chất của sự vật
+ Lượng của sự vật biểu thị dưới dạng con số cụ thể hoặc dưới dạng trừu tượng hóa: kíchthước dài hay ngắn, số lượng ít hay nhiều, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịpđiệu nhanh hay chậm…
Lưu ý: sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối, tùy thuộc vào mối liên hệxác định, nghĩa là trong mối liên hệ này là chất thì trong mối liên hệ khác là lượng và ngượclại VD: cái bàn là 1 chất khi nó ở trong không gian phòng học, nhưng nó lại là lượng khi tađếm nó trong 1 dãy bàn…
Chất và lượng thống nhất với nhau, chất nào lượng đó, 1 sự vật cò nhiều chất thì cũng cónhiều lượng Ví dụ: Nói sinh viên năm thứ 2 thì sinh viên là chất, năm thứ 2 là lượng chỉ trình
độ của sinh viên
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ là tương tối, có cái trong quan hệ này làlượng trong quan hệ khác là chất
Trang 213 Nội dung quy luật: Mối quan hệ biện chứng giữa chất với lượng
Chất và lượng luôn thống nhất hữu cơ với nhau, bất kỳ chất nào cũng có 1 lượng nhất định(có giới hạn về mặt không gian, có trình độ phát triển, có tốc độ vận động) Bất kỳ lượng nàocũng là lượng của chất Mối quan hệ giữa lượng và chất là mối quan hệ bản chất của mọi sựvật, hiện tượng Vì vậy, mối quan hệ này là một trong những quy luật vận động cơ bản của tựnhiên, xã hội và tư duy
* Một là, những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất:
- Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều là thể thống nhất giữa lượng và chất Trong đó,lượng là yếu tố thường xuyên biến đổi để đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến thay đổi về chất
- Sự thay đổi về lượng có thể chưa làm thay đổi ngay lập tức về chất của sự vật Ở một
giới hạn nhất định, lượng của sự vật thay đổi nhưng chất của sự vật chưa thay đổi cơ bản, Giới
- Ở những điểm mà tại đó thay đổi về lượng đủ làm thay đổi về chất của sự vật được gọi
là điểm nút Điểm giới hạn này gọi là điểm nút.
+ Điểm nút là điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã làm thay đổi về chất của
sự vật, hiện tượng Vd như trên thì điểm giới hạn 00Cvà 1000C là điểm nút hoặc thời điểm ônthi đại học hoặc thời điểm viết luận văn chính là điểm nút chuyển từ học sinh hoặc từ sinh viênlên cử nhân
+ Bất kỳ một độ nào đó cũng được giới hạn 2 điểm nút Sự phát triển như là 1 đường nútcủa những quan hệ về độ
- Sự thay đổi về lượng khi đạt đến điểm nút sẽ dẫn tới sự ra đời của chất mới Sự chuyển
biến từ chất cũ sang chất mới được gọi là bước nhảy.
+ Bước nhảy là khái niệm dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng do
có sự thay đổi dần dần về lượng mà trước đó gây nên Bước nhảy đánh dấu sự kết thúc của mộtgiai đoạn này và là điểm khởi đầu giai đoạn mới
+ Có nhiều hình thức bước nhảy (bước nhảy dần dần và bước nhảy đột biến, bước nhảychậm và bước nhảy nhanh, bước nhảy cục bộ và bước nhảy toàn bộ )
Bước nhảy đột biến– bước nhảy thực hiện trong thời gian ngắn làm thay đổi các yếu cố
cấu thành của sự vật VD: Phản ứng hóa học
Bước nhảy dần dần- bước nhảy thực hiện 1 cách từ từ bằng cách tích luỹ dần những
yếu tố của chất mới và loại bỏ dần các yếu tố của chất cũ, làm cho sự vật, hiện tượng biến đổichậm VD: Quá trình phát triển từ Vượn thành người
Bước nhảy cục bộ- là loại bước nhảy chỉ làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố, một
số bộ phận của sự vật, hiện tượng đó VD: sự quá độ đi lên CNXH ở nước ta đang diễn ranhững bước nhảy cục bô ở những lĩnh vự kinh tế, xã hội
Bước nhảy toàn bộ- là những bước nhảy làm cho tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu
tố của sự vật, hiện tượng thay đổi VD: Cuộc cách mạng tháng Tám làm thay đổi toàn bộ nềnkinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta
Trang 22* Hai là, sự thay đổi về chất dẫn đến thay đổi về lượng - Sự tác động trở lại của chất đối với lượng:
- Sau khi chất mới ra đời nó sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng, làm thay đổi kếtcấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
- Chất mới tạo điều kiện cho lượng mới tiếp tục tích lũy để có sự phát triển về chất tiếptheo Ví dụ: Khi học sinh THPT đỗ đại học, tức là sự thay đổi từ học sinh thành sinh viên thìmột loạt yếu tố sẽ biến đổi theo như khối lượng kiến thức tăng lên, sự trưởng thành, sự hiểubiết về xã hội, có thêm thầy cô, bạn bè…
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa chất với
lượng Trong đó, sự thay đổi dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn đến sựthay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy, chất mới ra đời sẽ tạo điều kiện cholượng mới được tiếp tục lích lũy để có sự thay đổi về chất tiếp theo Ví dụ: Cách mạng thángTám năm 1945, thực hiện bước nhảy, nhận định thời cơ ngàn năm có một đã đến, Nhật đầuhàng đồng minh Đảng ta chủ trương thực hiện bước nhảy, tiến hành Tổng khởi nghĩa (khi đãchuẩn bị về lực lượng, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng
4 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật
Từ nội dung quy luật lượng chất của phép biện chứng duy vật, rút ra một số nguyên tắcphương pháp luận trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn:
- Để có đầy đủ tri thức về sự vật phải có đầy đủ chất và lượng của nó
- Không ngừng tích lũy về lượng để có sự thay đổi về chất, khi chưa tích lũy về lượng thìkhông được thực hiện bước nhảy, tức là không nóng vội
- Khi đã tích luỹ đầy đủ về lượng phải cương quyết thực hiện bước nhảy, kịp thời chuyểnnhững thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất; Chỉ có như vậy chúng ta mới khắcphục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ, hữu khuynh thường được biểu hiện ở chỗ coi sự phát triểnchỉ là thay đổi đơn thuần về lượng
Cần phải tìm cách tác động của phương thức liên kết để tác động vào sự vật mới Trong hoạt động của con người phải biết vận dụng linh hoạt bước nhảy trên cơ sở phân tíchđầy đủ những điều kiện khách quan, chủ quan
Quy luật này cần tránh 2 khuynh hướng:
+ Tả khuynh: tư tưởng nôn nóng, chủ quan duy ý chí, chưa có sự tích luỹ về lượng đã muốnthực hiện bước nhảy vọt về chất hay chỉ nhấn mạnh đến bước nhảy, xem nhẹ tích luỹ lượng
+ Hữu khuynh: tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó, chờ đợi, không dám thực hiện bướcnhảy về chất khi đã có sự tích luỹ đủ về lượng Hoặc chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần vềlượng, từ đó rơi vào chủ nghĩa cải lương và tiến hoá luận
5 Sự vận dụng của Đảng ta, liên hệ thực tiễn
(Ví dụ: Sự kiện thành lập Đảng:Tìm ra con đường đi cho cách mạng Việt Nam, chuẩn bị
về tư tưởng, chính trị, tổ chức Thống nhất ba tổ chức Cộng sản Trong Hội nghị thành lậpĐảng Nguyễn Ái quốc đề ra Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, chỉ ra
Ví dụ: cách mạng tháng 8, Bác Hồ: Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân,chuẩn bị về lực lượng, chớp thời cơ ngàn năm có một, phát lệnh tổng khởi nghĩa
Đối với Việt Nam, để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướchiện nay, cần phải thực hiện các giải pháp phát triển khoa học công nghệ, về kết cấu hạ tầng ngàycàng hiện đại và chuyển biến quy trình sản xuất; cần phải biết phát huy những lợi thế của đất nước,
Trang 23tạo điều kiện và phát huy tối đa nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, chútrọng phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, để làm nền tảng, động lực thúc đẩy
sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có những bước nhảy vọt, đột phá Nhân
tố chủ quan có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo sự đột phá về bước nhảy để rút ngắn thờigian trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự vận dụng đúng đắn quy luật tácđộng của chất và lượng để tạo sự đột phá trong bước nhảy, thực hiện thắng lợi mục tiêu sớm trởthành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Trang 24Câu 8: Quy luật phủ định của phủ định
1 Vị trí, vai trò của quy luật
Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, quy luật phủ định của phủđịnh chỉ ra khuynh hướng, hình thức của sự phát triển của sự vật, hiện tượng
2 Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng
- Phủ định.Sự vật hiện tượng trên thế giới đều luôn vận động và phát triển không ngừng;
đều trải qua các giai đoạn hình thành, tồn tại, phát triển rồi chuyển hóa thành cái khác Sự thaythế cái này bằng cái khác chính là sự phủ định
Phủ định là khái niệm chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vậnđộng và phát triển
- Phủ định biện chứng: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tự phủ định, sự phủ định tạo
tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của sự vật, tạo tiền đề, điều kiện cái mới ra đời thay thế cáicũ
- Các đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng:
+ Phủ định biện chứng mang tính khách quan: Do mâu thuẫn của bản thân sự vật quyđịnh Nhờ việc giải quyết các mâu thuẫn mà sự vật luôn phát triển, vì thế phủ định biện chứng
là một tất yếu khách quan trong quá trình vận động và phát triển của sự vật
+ Tính kế thừa: Vì phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật,Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ mà chỉ xóa bỏ yếu tố lạc hậu, không phù hợp vớiđiều kiện, hoàn cảnh mới mà thôi và chọn lọc, giữ lại cải tạo những mặt thích hợp, tích cực Vìvậy, không có cái mới nào ra đời hư vô
3 Nội dung quy luật
- Trong quá trình vận động, sự vật đó không còn nữa mà bị thay thế bởi sự vật mới, trong
đó những nhân tố tích cực được giữ lại Song sự vật mới này sẽ lại phủ định bởi sự vật khác
Sự vật mới khác dường như là sự vật đã tồn tại song không phải là trùng lặp hoàn toàn, mà nóđược bổ sung những nhân tố mới và chỉ bảo tồn những nhân tố tích cực thích hợp với sự pháttriển tiếp tục của nó Sau khi sự phủ định hai lần phủ định của phủ định được thực hiện, sự vậtmới hoàn thành một chu kỳ phát triển
VD: Hạt mạch ->nảy mầm->cây mạch->ra hoa, thụ phấn-> hạt mạch
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát xu hướng tiến lên của sự vật – xu hướng pháttriển Song sự phát triển đó không phải diễn ra theo con đường thẳng, mà theo con đường xoáy ốc
- Đường xoáy ốc nó biểu hiện rõ ràng đầy đủ các đặc trưng của quá trình phát triển biệnchứng như tính thừa, tính lặp lại, tính tiến lên Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện trình
độ cao hơn của sự phát triển và thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
Như vậy, Quy luật phủ định của phủ định nêu lên mối liên hệ, sự kế thừa giữa cái khẳngđịnh và cái phủ định, nhờ đó phủ định biện chứng là điều kiện cho sự phát triển, nó bảo tồn nộidung tích cực của các giai đoạn trước và bổ sung thêm những thuộc tính mới làm cho sự pháttriển đi theo đường “xoáy ốc”
4 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ nội dung quy luật phủ định của phủ định của phép biện chứng duy vật, rút ra phươngpháp luận trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn:
Trang 25- Quy luật phủ định của phủ định cho ta cơ sở lý luận về nhận thức đúng đắn đúng đắn về
xu hướng phát triển của sự vật với sự ra đời của cái mới, về mối liên hệ giữa cái mới và cái cũ
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tránh thái độ phủ định sạch trơn, xó bỏ hoàntoàn cái cũ, đồng thời phải chống thái độ bảo thủ, đòi bảo tồn nguyên vẹn cái cũ mà khôngchịu đổi mới Mặt khác đối với các yếu tố tích cực của cái cũ cũng cần phải được cải tạo để nóphù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới (VD: Trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới )
- Quy luật phủ định của phủ định giúp chúng ta nhận thức phát triển không phải là 1đường thẳng mà quanh co phức tạp Do đó trong tực tiễn và nhận thức cần tránh thái độ chủquan, đơn giản và phải có cái nhìn lạc quan về sự thắng lợi tất yếu của cái mới
- Trong tự nhiên cái mới xuất hiện 1 cách tự phát, còn trong xã hội cái mới ra đời gắn liềnvới hoạt động ý thức của con người Do vậy, trong mọi hoạt động phải biết phát hiện và tíchcực ủng hộ cho sự hình thành và phát triển của cái mới để thúc đẩy sự vật phát triển theo xuhướng tất yếu của nó
- Trong công tác, chúng ta phải biết phát hiện, quý trọng cái mới, phải tin tưởng vàotương lai phát triển của cái mới, mặc dù lúc đầu nó còn yếu ớt, ít ỏi, phải ra sức bồi dưỡng,phát huy cái mới, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ
5 Sự vận dụng của Đảng ta
Ví dụ: trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, phảibảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống tích cực của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoavăn hóa của nhân loại và truyền bá truyền thống của dân tộc ra các nước khác để nền văn hóadân tộc có cơ hội phát triển rộng rãi…
Trang 26Câu 9: Mối quan hệ biện chứng cái chung và cái riêng Ý nghĩa phương pháp luận
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường tiếp xúc với sự vật, hiện tượng, quá trìnhkhác nhau ví dụ: cái bàn, cái nhà, cái cây cụ thể mỗi sự vật, hiện tượng đó có cái riêng, đồngthời có những mặt giống nhau gọi là cái chung.Mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng là mốiquan hệ của một trong 6 cặp phạm trù cơ bản của triết học Muốn nhận thức đúng đắn về mốiquan hệ giữa cái chung và cái riêng, trước hết cần nhận thức đúng đắn và thống nhất về nộidung của các phạm trù liên quan: cái riêng, cái chung, cái đơn nhất
1 Khái niệm:
- Cái riêng là một phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng, một quá trình
riêng lẻ hoặc một tập hợp các sự vật hiện tượng tồn tại với tư cách là một chỉnh thể trong mối quan hệ độc lập tương đối với những cái khác.
Chẳng hạn, một con người, một dòng sông hay một quốc gia dân tộc được xem là cáiriêng nếu nó được nhìn nhận như một chỉnh thể khác biệt với những cái khác xung quanh nó
- Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác nhau.
Vd: màu xanh của những chiếc lá cây; màu nâu của những chiếc bàn…
Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉ những yếu tố, những mặt, những thuộc tính chỉ có
ở một sự vật, hiện tượng hay quá trình nhất định chứ không lặp lại trong bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào khác.
Vd: sự ra đời của GCCN VN, có trước khi có g/c tư sản DT và trong nội bộ của nókhông có tầng lớp công nhân quý tộc
2 Mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung
Phép biện chứng duy vật cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại kháchquan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau Điều đó thể hiện ở chỗ:
- Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại
của mình Điều đó có nghĩa là cái chung thực sự tồn tại, nhưng lại chỉ tồn tại trong “cái riêng”chứ không tồn tại biệt lập, lơ lửng ở đâu đó bên cạnh cái riêng
Vd: cái “Cây” nói chung không tồn tại bên cạnh cây căm, cây quýt cụ thể, nhưng cây camcây quýt nào cũng có thân, rễ, lá, quá trình đồng hóa và dị hóa để duy trì sự sống….những đặctính này lặp lại ở các cây riêng lẻ và được phản ánh trong khái niệm “cây”
- Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, nghĩa là không có cái riêng
nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung Chẳng hạn, mỗi con người là mộtcái riêng nhưng mỗi người không thể tồn tại ngoài mối liên hệ với xã hội và tự nhiên.Không cánhân nào không chịu sự tác động của các quy luật sinh học và quy luật xã hội Đó là những cáichung trong mỗi con người hay nền kinh tế của mỗi quốc gia đều có những đặc điểm phongphú của nó là cái riêng, nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phối bới quy luật cung – cầu, QHSXphù hợp với tính chất và trình độ của LLSX…như vậy sự vật, hiện tượng nào cũng bao hàm cảcái chung
- Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung vì ngoài những điểm chung cái
riêng còn có cái đơn nhất
Trang 27VD: Nông dân VN có cái chung với nông dân trên thế giới là tư hữu nhỏ, sản xuất nôngnghiệp, sống ở nông thôn… còn có những đặc điểm riêng là chịu ảnh hưởng văn hóa làng xã,các tập quán lâu đời của dân tộc…
- Thứ tư, cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh thuộc tính, những mối liên
hệ ổn định tất nhiên lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy, cái chung là cái gắn liền vớibản chất quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng
- Thứ năm, trong những điều kiện nhất định, giữa cái chung và cái đon nhất có thể chuyển
hóa cho nhau bởi vì cùng hệ đặc điểm, thuộc tính
Vd: từ đơn nhất->cái chung, phổ biến trong xã hội
Ví dụ: Vấn đề khoán sản phẩm nông nghiệp được diễn ra đầu tiên vào năm 1981 tạiĐoàn Xá, Đồ Sơn, Hải Phòng (cái đơn nhất) Sau khi thấy việc làm này hiệu quả đã được nhânrộng ra các địa phương khác (cái chung) Như vậy việc khoán sản phẩm nông nghiệp từ cáiđơn nhất ở Đoàn Xá, Đồ Sơn, Hải Phòng sau khi được nhân rộng ra các địa phương khác thìlại chuyển hóa thành cái chung Đây chính là sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung
3 Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của
nó cho nên muốn phát hiện ra cái chung thì phải xuất phát từ từng cái riêng mà không đượcxuất phát từ những ý muốn chủ quan của con người
Để phát hiện cái chung, đề ra chủ trương, chính sách chung phải thông qua nghiên cứunhững cái riêng, tránh quan liêu, xa rời thực tế, suy luận một cách giản đơn Ví dụ: Việc xâydựng kế hoạch, các chỉ tiêu…phải xuất phát từ thực tiễn, xây dựng từ cơ sở, không được xuấtphát từ ý chí chủ quan của con người
- Cái chung là cái sâu sắc, cái căn bản chi phối cái riêng, nên nhận thức và hoạt độngthực tiễn phải nắm cái chung, dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng
- Vận dụng cái chung vào cái riêng phải tính nét độc đáo của cái riêng, điều kiện lịch sử
cụ thể của cái riêng, tránh giáo điều, máy móc
- Trong những điều kiện cụ thể, cần tạo điều kiện để cái đơn nhất có lợi chuyển thànhcái chung, nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để cái đơnnhất có lợi cho con người trở thành cái chung và cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất
Ví dụ: Khi vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, phải vận dụng một cáchsáng tạo, phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam, tránh dập khuôn, máy móc
Hay khi áp dụng CNH-HĐH mỗi tỉnh cũng phải áp dụng một cách sáng tạo, phù hợp vớiđiều kiện thực tế của tỉnh mình, vì mỗi tỉnh có những điều kiện, tiềm năng, thế mạnh khácnhau
Đảng ta vận dụng: mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, quốc gia và quốc tế
Trong thời đại ngày nay, thời đại toàn cầu hóa, đối với Việt Nam cần tiếp thu những tinhhoa văn hóa nhân loại, ứng dụng thành tựu khoa học côgn nghệ tiên tiến Song mặt khác,chúng ta cũng cần thấy rõ cái riêng bao giờ cũng phong phú hơn cái chung nên phải luôn chú ýkhai thác nguồn sức mạnh của dân tộc, phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương,từng tập thể và từng con người Việt Nam Đảng ta đã khẳng định để đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta phải phát huy nội lực, kế thừa những truyền thốngquý báu của dân tộc, nhưng đồng thời phải mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại, đa dạng hóa, đa
Trang 28phương hóa với các nước trên thế giới nhằm tiếp thu những thành tựu chung mà loài người đãđạt được trong các thời đại khác nhau./.
Trang 29Câu 10: Phạm trù nguyên nhân – kết quả? Ý nghĩa phương pháp luận?
1 Khái niệm
- Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc
giữa các sự vật với nhau gây ra một biến đổi nhất định nào đó
- Kết quả là những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vậthoặc giữa các sự vật với nhau gây ra
2 Tính chất của mối liên hệ nhân quả
- Tính khách quan: mlh nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuốc vào ýthức con người
- Tính phổ biến: mọi svht trong tự nhiên và xh đều có nguyên nhân nhất định gây ra, chỉ cóđiều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi
- Tính tất yếu: một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định sẽgây ra kết quả tương ứng với nó
3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả, còn kết quảbao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện
Tuy nhiên, không phải mọi sự nối tiếp nào về mặt thời gian cũng là mối liên hệ nhân quả
- Tính phức tạp của quan hệ nhân quả:
Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Nếu những nguyên nhân tác động cùngchiều có thể hình thành kết quả nhanh chóng, còn nếu nguyên nhân tác động ngược chiều thì
có thể hạn chế hoặc triệt tiêu việc hình thành kết quả
- Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân
Diễn ra theo hai hướng: thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân (tích cực) hoặc cản trở sựhoạt động của nn (tiêu cực)
- NN và kq có thể thay đổi vị trí cho nhau: Một svht nào đó trong mlh này là nguyên nhân,nhưng trong mlh khác lại là kết quả và ngược lại Chuỗi nhân quả là vô cùng không có ắt đầu
và kết thúc Một hiện tượng nào đấy được xem là ngnh hay kết quả bao giờ cũng ở trong mộtquan hệ xác định cụ thể
4 Một vài kết luận về mặt phương pháp luận
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối liên hệnhân quả Không được lấy ý muốn chủ quan thay cho quan hệ nhân quả
- Muốn cho hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo ra những nguyên nhân cùng những điềukiện cho những nguyên nhân đó phát huy tác dụng Ngược lại, muốn cho hiện tượng nào đómất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó cũng như những điều kiện để các nguyênnhân ấy phát huy tác dụng
- Phải biết xác định đúng nguyên nhân để giải quyết vấn đề nảy sinh vì các nguyên nhân cóvai trò không như nhau
Trang 30- Nguyên nhân có thể tác động trở lại kết quả; do đó, trong hoạt động thực tiễn cần khaithác, tận dụng những kết quả đã đạt được để thúc đẩy nguyên nhân tác động theo hướng tíchcực phục vụ cho con người.
Trang 31Câu 11 Tất nhiên và ngẫu nhiên
1 Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên là phạm trù triết học chỉ cái do nguyên nhân chủ yếu bên trong sự vật quy định
và trong những điều kiện nhất định, nó nhất định phải xảy ra như thế chứ không thể khác
Ngẫu nhiên là phạm trù triết học chỉ cái không phải do bản chất kết cấu bên trong sự vật,
mà do những nguyên nhân bên ngoài sự vật, do sự ngẫu hợp của những hoàn cảnh bên ngoài
sự vật quyết định
Lưu ý: Không đồng nhất phạm trù tất nhiên với phạm trù cái chung, bởi có cái chung là tấtnhiên, có cái chung là ngẫu nhiên Cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân nhưngcái tất nhiên do những nguyên nhân bên trong, còn ngẫu nhiên lại do những nguyên nhân bênngoài Cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên đều có quy luật Cái tất nhiên tuân theo quy luật độnglực Cái ngẫu nhiên tuân theo quy luật thống kê
2 Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
a Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật.
Cả cái tất nhiên cả cái ngẫu nhiên đều có vai trò quan trọng đối với sự vật.Tuy nhiên, cáitất nhiên đóng vai trò chi phối đối với sự vận động, phát triển của sự vật, cái ngẫu nhiên làmcho sự vật phát triển nhanh hơn hoặc chậm lại
b Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau, không có tất nhiên cũng như ngẫu nhiên thuần tuý tách rời nhau
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong sự thống nhất hữu cơ với nhau Sự thống nhất này thểhiện ở chỗ: cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình xuyên qua vô số cái ngẫunhiên Nói cách khác, cái tất nhiên bao giờ cũng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô sốcái ngẫu nhiên Cái ngẫu nhiên lại là hình thức biểu hiện của tất nhiên, bổ sung cho cái tấtnhiên
c Tất nhiên và ngẫu nhiên trong những điều kiện nhất định có thể chuyển hoá cho nhau.
Tất nhiên và ngẫu nhiên trong quá trình vận động của sự vật và trong những điều kiện xác định cóthể chuyển hoá cho nhau Cái này, trong mối quan hệ này được coi là tất nhiên thì trong mối quan
hệ khác rất có thể được coi là ngẫu nhiên.Ví dụ, trao đổi hàng hoá là tất nhiên trong nền kinh tếhàng hoá, nhưng lại là ngẫu nhiên trong xã hội nguyên thuỷ - khi sản xuất hàng hoá chưa pháttriển
Vì vậy, ranh giới giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên cũng chỉ là tương đối.Thông qua mốiliên hệ này nó là cái tất nhiên, nhưng thông qua mối liên hệ khác nó là cái ngẫu nhiên vàngược lại.Ví dụ, một máy vô tuyến sử dụng lâu ngày, mãi “tất nhiên” sẽ hỏng, nhưng hỏng vàokhi nào, vào giờ nào lại là “ngẫu nhiên”
3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
Cái tất nhiên luôn thể hiện sự tồn tại của mình thông qua cái ngẫu nhiên Do vậy, muốn nhậnthức cái tất nhiên phải bắt đầu từ cái ngẫu nhiên, thông qua cái ngẫu nhiên Trong hoạt động thựctiễn cần dựa vào cái tất nhiên, không nên dựa vào cái ngẫu nhiên.Bởi lẽ, cái ngẫu nhiên là cáikhông gắn với bản chất của sự vật, còn cái tất nhiên gắn với bản chất của sự vật Tất nhiên và
Trang 32ngẫu nhiên có thể chuyển hoá cho nhau trong những điều kiện thích hợp nhất định Do đó, tronghoạt động thực tiễn, cần tạo ra những điều kiện thích hợp để ngăn cản hoặc thúc đẩy sự chuyểnhoá đó theo hướng có lợi cho con người Ví dụ, dựa trên cơ sở quan hệ tất nhiên và ngẫu nhiênnày con người có thể uốn cây cảnh theo con vật mình ưa thích, bác sỹ có thể kẹp răng cho trẻ em
để răng đều, đẹp, v.v
Trang 33Câu 12 Nội dung và hỉnh thức
1 Khái niệm nội dung và hình thức
Nội dung là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố, các quá trình tạo nên
sự vật Còn hình thức là phạm trù triết học chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là
hệ thống các mối liện hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật
2 Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
a Giữa nội dung và hình thức có sự thống nhất hữu cơ với nhau
Không có hình thức nào không chứa nội dung, cũng như không có nội dung nào lại khôngtồn tại trong một hình thức nhất định Nội dung nào sẽ có hình thức tương ứng vậy
Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức còn thể hiện ở chỗ, các yếu tố tạo thành sự vậtvừa góp phần tạo nên nội dung vừa tham gia tạo nên hình thức.Vì vậy, nội dung, hình thứckhông tách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau
b Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức trong quá trình vận động, phát triển của sự vật
Trong quan hệ thống nhất giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức.Nội dung biến đổi nhanh, hình thức thường biến đổi chậm hơn nội dung Do vậy, hình thức khi
ấy sẽ trở nên lạc hậu so với nội dung và kìm hãm nội dung phát triển Hình thức sẽ phải thayđổi cho phù hợp với nội dung
Khi nội dung thay đổi thì sớm hay muộn hình thức cũng thay đổi theo Ví dụ, lực lượngsản xuất là nội dung còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất Do vậy,khi lực lượng sản xuất thay đổi thì sớm hay muộn quan hệ sản xuất phải thay đổi theo cho phùhợp với lực lượng sản xuất
c Nội dung và hình thức có tính độc lập tương đối với nhau, mặc dù bị quy định bởi nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối so với nội dung nên có thể tác động trở lại nội dung Điều này thể hiện ở chỗ:
Một nội dung có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Ví dụ, cùng là quá trình giáodục đào tạo) nhưng có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Cùng một hình thức có thểthể hiện những nội dung khác nhau Ví dụ, cùng một hình thức giảng dạy như nhau nhưng đượcthực hiện trong những điều kiện, môi trường, khu vực khác nhau và với những kết quả khácnhau
Hình thức cũng có tác động đối với nội dung, nhất là khi hình thức mới ra đời, theo hướnghoặc là tạo điều kiện, hoặc kìm hãm nội dung phát triển Nếu hình thức phù hợp với nội dung
sẽ thúc đẩy nội dung phát triển Ngược lại, nếu hình thức không phù hợp với nội dung sẽ kìmhãm nội dung phát triển.Ví dụ, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất
sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp vớitrình độ của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển
3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
(1) Vì nội dung và hình thức về cơ bản luôn thống nhất với nhau Vì vậy, trong hoạt độngnhận thức và thực tiễn cần chống khuynh hướng tách rời nội dung khỏi hình thức cũng nhưtách hình thức khỏi nội dung (2) Phải biết sử dụng sáng tạo nhiều hình thức khác nhau tronghoạt động thực tiễn Bởi lẽ, cùng một nội dung có thể thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau;
Trang 34đồng thời, phải chống chủ nghĩa hình thức (3) Vì nội dung quyết định hình thức, nhưng hìnhthức có ảnh hưởng quan trọng tới nội dung Do vậy, nhận thức sự vật phải bắt đầu từ nội dungnhưng không coi nhẹ hình thức Phải thường xuyên đối chiếu xem xét xem giữa nội dung vàhình thức có phù hợp với nhau không để chủ động thay đổi hình thức cho phù hợp Khi hìnhthức đã lạc hậu thì nhất thiết phải đổi mới cho phù hợp với nội dung mới, tránh bảo thủ.
Trang 35Câu 13 Bản chất và hiện tượng
1 Khái niệm bản chất và hiện tượng
Bản chất là phạm trù triết học chỉ tổng hợp tất cả các mặt, các mối liên hệ tất nhiên, tươngđối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật đó
Bản chất gắn bó với cái chung nhưng không phải cái chung nào cũng là bản chất Chỉnhững cái chung nào quy định sự vận động, phát triển cảu sự vật mới là cái chung bản chất.Bản chất và quy luật là những phạm trù cùng bậc, tuy nhiên bản chất rộng hơn, phong phú hơnquy luật
Hiện tượng là phạm trù triết học chỉ cái là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất Ví dụ, hiệntượng thể hiện bản chất của nhà nước (là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh
tế trong xã hội) như là: đàn áp sự phản kháng của các giai cấp đối địch; lôi kéo các giai cấpkhác về phía mình, v.v
2 Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
a Bản chất và hiện tượng thống nhất trong sự vật Điều này thể hiện:
Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng, còn hiện tượng bao giờ cũng là sự thể hiệncủa bản chất nhất định.Bản chất nào thì sẽ thể hiện ra qua hiện tượng ấy
Không có bản chất thuần tuý tách rời hiện tượng, không thể hiện ra qua hiện tượng vàngược lại, không có hiện tượng nào mà lại không thể hiện bản chất nhất định
Bản chất khác nhau sẽ bộc lộ ra qua các hiện tượng khác nhau
b Thống nhất giữa bản chất và hiện tượng là thống nhất bao gồm mâu thuẫn Điều này thểhiện ở chỗ:
Bản chất sâu sắc hơn hiện tượng còn hiện tượng phong phú hơn bản chất Ví dụ, bệnh cúmđược thể hiện qua nhiều hiện tượng: ho; sổ mũi, nhiệt độ tăng, v.v Hiện tượng biểu hiện bảnchất dưới dạng cải biến chứ không còn nguyên dạng bản chất nữa Ví dụ, bản chất ăn bám củanhà nước bóc lột không đơn thuần thể hiện ở chính sách thuế khoá hay bộ máy quan liêu, v.vnữa, mà có thể thể hiện ở việc từ chối đầu tư cho vấn đề môi trường; chạy đua vũ trang, v.v.Bản chất tương đối ổn định, lâu biến đổi còn hiện tượng biến đổi nhanh hơn bản chất Bản chất
ẩn dấu bên trong, hiện tượng bộc lộ ra bên ngoài.Bản chất không được bộc lộ hoàn toàn ở mộthiện tượng mà ở nhiều hiện tượng khác nhau
3 Một số kết luận về mặt phương pháp luận
Bản chất là cái ẩn dấu bên trong hiện tượng Do vậy, nhận thức sự vật phải đi sâu tìm bảnchất, không dừng ở hiện tượng Phải đi từ bản chất cấp 1 đến bản chất sâu hơn, v.v
Bản chất không tồn tại thuần tuý ngoài hiện tượng Do đó, tìm bản chất phải thông quanghiên cứu hiện tượng Trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào bản chất để định hướng hoạtđộng, không nên dựa vào hiện tượng
Muốn cải tạo sự vật phải thay đổi bản chất của nó chứ không nên thay đổi hiện tượng.Thay đổi được bản chất thì hiện tượng sẽ thay đổi theo Đây là quá trình phức tạp không đượcchủ quan, nóng vội