1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Câu hỏi ôn thi cao học lý luận y sinh

23 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 566,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do lượng nước trong huyết tương đi ra khỏi thành mạch, nhanh chóng vận chuyển vào khoảng gian bào của các tế bào cơ đang hoạt động.. Các sản phẩm của quá trình trao đổi chất có ảnh hưởng

Trang 1

I.SINH LÝ HỆ MÁU

1 Khái niệm, thành phần,

chức năng của máu

Khái niệm: Máu là một thể

lỏng được lưu thông trong mạch kín

bao gồm đường, đam, mỡ, VTM ,

muối khoáng, các chất chuyển hóa

thay đổi khi cơ thể vận động Sự thay

đổi này thể hiện ở sự thay đổi tỷ lệ

phần trăm giữa thành phần hữu hình

của máu trên khối lượng máu chung

gọi là hệ số hêmatocrít

Theo Kox, khi vận động hệ số

hêmatocrít ở nam tăng từ 47% lên

50,7%

ở nữ tăng từ 42% lên 47%

Theo Kox một người châu Âu có 5,5

lít máu lưu thông gồm :

+ 2,6 lít tế bào hữu hình của máu

+ 2,9 lít huyết tương

Chỉ số hêmatocrít của người đó là

(2,6 x100) /5,5 = 47%

VD :VĐV chạy 800m mất 0.5 lít

nư-ớc trong huyết tương ,như vậy lượng

máu lưu thông chỉ còn 5 lít, 2.9 lít

huyết tương 2,6 lít tế bào hữu hình

của máu

và như thế chỉ số Hematocrit bằng

(2,6 x100) /5 = 52%

Theo Kox điều này được giải thích

rằng khi vận động, cơ thể mất nước

qua con đường mồ hôi Do lượng

nước trong huyết tương đi ra khỏi

thành mạch, nhanh chóng vận chuyển

vào khoảng gian bào của các tế bào

cơ đang hoạt động Kết quả là khối

lượng máu tuần hoàn chung giảm đi

nhưng các tế bào máu trong một đơn

vị thể tích tăng lên, máu bị cô đặc lại

Chức năng của máu.

- Chức năng hô hấp: Máu thực hiện

chức năng hô hấp nhờ huyết cầu tố

Cơ chế vận chuyển này chủ yếu do hệ

tim mạch (hệ tuần hoàn) quyết định

- Chức năng dinh dưỡng: Các chất

dinh dưỡng như axít, amin, glucose,

axít béo và vitamin được hấp thụ từ

ống tiêu hoá vào máu và được vận

chuyển đến các mô để đảm bảo hoạt

động sống của tế bào

- Chức năng đào thải : Máu đưa các

chất cuối cùng của quá trình trao đổi

chất đến các cơ quan bài tiết : thận,

da, ruột, phổi để bài tiết ra ngoài

- Chức năng bảo vệ : Máu thực hiện

chức năng bảo vệ bằng hai cách:

+ Các tế bào bạch cầu ở trong máu có

khả năng tiêu diệt vi trùng

- Chức năng điều hoà thân nhiệt:

Máu theo mạch máu thực hiện chức

năng dẫn nhiệt từ trung tâm ra ngoại biên Nhờ máu mà nhiệt độ

cơ thể chỉ đạo động trong phạm

vi hẹp

- Chức năng điều hoà: Các

hormone của hệ thống nội tiết ra đều được đổ trực tiếp vào máu

Do vậy máu đi đến các cơ quan đem theo hormone điều khiển sự hoạt động của các cơ quan đó

Ngoài các chức năng trên, máu còn có một số chức năng khác như chức năng ổn định nội môi

Động lực huyết dịch trong vòng tuần hoàn

Khái niệm: Là động

lực gây nên sự chuyển động của máu trong vòng tuần hoàn

Động lực huyết dịch trong vòng tuần hoàn của người tập luyện TDTT khác với người bình thường

Động lực huyết dịch gồm 2 nhóm:

+ Nhu động thành mạch: Là hoạt động cơ phối hợp đồng thời 3 lớp cơ:

Lớp ngoài chạy dọc

Lớp giữa chạy vòng

Lớp trong chạy chéo

Sự chuyển động đó thúc đẩy lượng máu trong mạch

Nhu động thành mạch phụ thuộc vào trương lực của thành mạch và sự phát triển của các cơ ở thành mạch:Trương lực giảm, lớp cơ phát triển tạo tính đàn hồi cao thì nhu động thành mạch tốt và vận chuyển máu tốt

Tính đàn hồi thành mạch có ý nghĩa quan trọng giảm lực cản ( R) của thành mạch Khi đường kính của thành mạch nhỏ thì lực cản lớn và ngược lại Tính đàn hồi thành mạch còn có ý nghĩa tạo dòng máu liên tục và đều đặn ở ngoại vi vì thời kỳ tâm thu của tâm thất là thời kỳ tống máu ra động mạch chủ, tâm trương là thời kỳ nạp máu về tim

sẽ tạo ra sự ngắt quãng theo mỗi thời kỳ của chu chuyển tim, nhưng thành động mạch đàn hồi

co và giãn liên tục kế tiếp nhau đẩy máu ra ngoại vi

Nhóm 2:

Động lực ngoài tim:

những yếu tố tác động không phải do thành mạch mà chỉ xuất hiện khi có hoạt động vận động bao gồm 4 động lực:

+ Sự co và duỗi của cơ khi vận

động ép lên tĩnh mạch dồn máu chuyển động, đặc biệt tĩnh mạch nửa dưới của cơ thể, khi cơ co và duỗi gây chèn ép lên tĩnh mạch và tác dụng đẩy máu hồi tim

+ Lực hút

do áp suất âm trong lồng ngực tạo nên áp lực hạ thấp Khi áp lực âm hạ thấp thành động lực hút máu hồi tim tạo nên mức chênh lệch huyết áp

+ Hiện tượng tăng áp lực khoang bụng trong vận động dẫn đến sự chèn ép tĩnh mạch cửa gan đẩy máu hồi tim

+ Do hoạt động gấp duỗi của khớp gây chèn ép tĩnh mạch để thúc đẩy máu hồi tim

Kết luận:

Từ các động lực cho thấy hoạt độngTDTT

sẽ góp phần làm tăng lưu thông máu

2 Hồng cầu

Hồng cầu là tế bào không nhân, hình đĩa, lõm 2 mặt, có đường kính từ 7-7,5µ, hồng cầu có thể thay đổi hình dạng khi đi qua thành mạch

Số lượng hồng cầu ở nam là 4,2 triệu/1 mm3 máu, ở nữ là 3,8 triệu/1 mm3 máu

Theo Kox năm 1982, người Châu âu, ở nam là 5,1 triệu/1 mm3 máu, nữ là 4,6 triệu/1 mm3 máu

*Quá trình tạo hồng cầu

Hồng cầu được tạo ra từ tuỷ đỏ của xương, các tế bào này có khả năng sinh sản suốt cuộc đời mỗi giây có chừng 10 triệu hồng cầu được tạo ra Trong quá trình tạo máu luôn luôn giữ mối cân bằng giữa lượng hồng cầu bị phá huỷ

và lượng hồng cầu mới sinh ra

• Quá trình tạo hồng cầu và phát triển hồng cầu trải qua các giai đoạn sau :Tiền nguyên hồng cầu ↓

Nguyên hồng cầu ưa kiềm ↓

Nguyên hồng cầu đa sắc ↓

Nguyên hồng cầu ưa a xít ↓

Hồng cầu lưới ↓Hồng cầu trưởng thành Hồng cầu lưới từ tủy xương vào máu sau 1 - 2 ngày thì trở thành hồng cầu

*Đời sống và phân huỷ hồng cầu: Đời sống của

hồng cầu kéo dài từ 100 - 120 ngày, có một số men tham gia quá trình chuyển hoá glucose để tạo ra một lượng nhỏ ATP của hồng cầu nhằm duy trì tính mền dẻo của tế bào Sự vận chuyển Ion qua màng giữ cho sắt (hem)

luôn luôn có hoá trị 2 để vận chuyển

ô xy

Hệ thống men trong hồng cầu cạn dần, màng hồng cầu trở lên

dễ vỡ rồi vỡ ra đi theo mao mạch nhỏ

ở lá lách Hemoglobin được giải phóng khỏi gan, lá lách tổ chức lưới Sắt của Hemoglobin đưa vào máu được vận chuyển đến tuỷ xương dưới dạng Transferin để tạo hồng cầu mới hoặc nằm ở gan dưới dạng feritin dự trữ Phần xác của hồng cầu được chuyển hoá qua nhiều công đoạn, tạo thành sắc tố bilirubin ( sắc tố mật), chất này vào máu đến gan được bài tiết vào mật, làm cho mật có màu xanh

Chức năng của hồng cầu.

- Hồng cầu có cấu tạo đặc biệt bởi vậy nó có thể tăng diện tích tiếp xúc, tăng tốc độ khuyếh tán khí nhờ Hêmôglôbin

- Chức năng của hồng cầu là vận chuyển ô xy dưới dạng kết hợp hoá học HbO2 đến các mô

- Hồng cầu chứa một lượng men anhydraza cac bon nic Men này có tác dụng xúc tác cho phản ứng CO2

và H2O làm tăng tốc độ phản ứng chuyển CO2 từ mô qua máu đến phổi

để đào thải CO2

- Hêmôglôbin là một chất đệm điều hoà toan kiềm

Nồng độ Hêmôglôbin trong máu

Theo Serba ở nam là 32.9g

% , nữ là 30.4 g%

Nồng độ Hb có thể tính bằng g/ 100ml máu Ở người Việt nam , trung bình là 15 g/100 ml máu ( Nam khoảng 16g/ 100ml máu, Nữ khoảng 14g/ 100ml máu)

1g Hêmôglôbin có khả năng kết hợp với 1,39ml ôxy

Vậy 15 g Hêmôglôbin kết hợp được với 20,85 ml ôxy gọi là

dung tích ôxy của máu.

Như vậy nồng độ Hêmôglôbin trong máu được xác định bằng khả năng kết hợp tối đa

ôxy với Hêmôglôbin đó là dung tích ôxy của máu

Dung tích ôxy của máu phụ thuộc vào nồng độ Hb và phân áp ô xy

- Hàm lượng Hêmôglôbin trong máu càng cao thì dung tích ôxy càng lớn

- Nồng độ a xit lactic tăng thì khả năng phân ly HbO2 tăng ( Hiệu ứng Bor )

* Sự biến đổi hồng cầu trong hoạt động TDTT.

Egorốp nghiên cứu

sự biến đổi số lượng hồng cầu

*Cơ sở nghiên cứu:

Egorốp dựa vào cách phân vùng I của Farơfen Trong các môn thể thao có tính chất chu kỳ Ông Farơfen chia 4 vùng cường độ

Egorốp gọi Fa 1 ứng với vùng cường độ I Fa 2 ứng với vùng II ,

Fa 3 ứng với vùng III, Fa 4 ứng với

vùng IV Ông quan sát thấy hồng cầu tăng ở Fa 1, Fa2, đến giữa pha 3 giảm

ở cuối Fa 3, Fa 4

Trang 2

* Giải thích nguyên

nhân tăng hồng cầu trong vận động

: Trong quá trình vận động, để đáp

ứng với nhu cầu vận động, số lượng

hồng cầu tăng lên làm nhiệm vụ vận

chuyển ôxy cho tổ chức và tế bào

hoạt động Hồng cầu tăng trong vận

động có thể do :

- Tăng hồng cầu

thật: Tăng từ nơi sản xuất (cơ quan

tạo máu) là tuỷ xương.Ví dụ VĐV

tập luyện trên núi cao hoặc người dân

sống trên vùng núi cao, đây là cơ chế

thích ứng với sự hoạt động trong điều

kiện thiếu ô xy tương đối

- Tăng hồng cầu giả

: Do mất nước làm tăng tỷ lệ % giữa

tế bào hữu hình của máu với huyết

tương dẫn đến số lượng hồng cầu

trong một đơn vị thể tích máu tăng

lên

Điều này được giải thích rằng, khi

vận độnghuyết tương trong máu đã

nhanh chóng vận chuyển vào khoảng

gian bào của các tế bào cơ đang hoạt

động Kết quả là khối lượng máu tuần

hoàn giảm nhưng các tế bào máu

trong một đơn vị thể tích máu thì tăng

lên do mất nước, máu bị cô đặc cũng

dẫn đến sự tăng hồng cầu.

*Giải thích nguyên nhân làm giảm

hồng cầu trong vận động

- Chủ yếu hồng cầu bị phá huỷ do

chấn thương cơ học vì khi hoạt động,

tốc độ dòng máu tuần hoàn tăng

- Các tế bào hồng cầu già rất nhạy

bén với sự thay đổi thành phần máu

và dễ bị phá vỡ do va chạm dẫn đến

sự thiếu máu giảm quá trình vận

chuyển ôxy cho tổ chức

3 Nhóm máu

Năm 1900 Lansteiner

nhận thấy sự ngưng kết hồng cầu xảy

ra khi trộn máu của 2 cá thể cùng

loài.Từ đó ông đã tìm ra kháng

nguyên và kháng thể đặc hiệu của

hồng cầu Dựa trên cơ sở đó ông đã

phân chia ra 4 nhóm máu

1.Kháng nguyên A và B

của hồng cầu

Trên bề mạt của hồng cầu

có kháng nguyên A và B Có thể

trong hồng cầu của người có một

trong 2 loại(A, B hoặc AB) và có thể

không có loại nào (0) Dựa trên cơ sở

kháng nguyên của hồng cầu , người

2 Kháng thể α và

õ của huyết tương

Khi người không có kháng nguyên A của hồng cầu thì trong huyết tương sẽ có kháng

thể anti A( α)

Khi người không có kháng nguyên B của hồng cầu thì trong huyết tương sẽ có kháng

thể anti B(õ).Người ta phân ra

các nhóm máu như sau :

Nhóm máu O không

có 2 loại kháng nguyên A và B của hồng cầu Bởi vậy trong

huyết tương có anti A( α) và anti

B (õ)

Nhóm máu A có kháng nguyên A và kháng thể

(õ)

Nhóm máu B có kháng nguyên B và kháng thể ( (

α)

Nhóm máu AB có kháng nguyên A và B , không có

kháng thể ( α) và(õ)

3.Cơ chế truyền máu

ở người có 4 nhóm máu : I (O); II ( A) ; III ( B ) ;

IV (AB )

II A

I

OAB

IV

B III

Nhóm máu I có thể truyền cho các nhóm máu II, III,

IV Nhóm này được gọi là nhóm cho phổ thông vì nhóm máu này không có các kháng nguyên A và

B nên không gây phản ứng với kháng thể an ti A và B

Nhóm máu II A

Có thể truyền cho nhóm máu AB

và cho chính nó , không thể truyền cho nhóm I và III vì có kháng thể gây ngưng kết hồng cầu

Nhóm máu III B Có thể truyền cho nhóm máu AB và cho chính nó , không thể truyền cho nhóm I và II vì có kháng thể gây ngưng kết hồng cầu

Nhóm máu IV (AB)

có 2 loại kháng nguyên A và B chỉ truyền cho chính nhóm đó và

nó có thể nhận máu của nhóm I,

II, III và được gọi là nhóm nhận phổ thông

Sự phân nhóm máu rất quan trọng trong việc truyền máu, nhất là trong chiến tranh

Muốn truyền máu phải tránh sự ngưng kết những hồng cầu truyền vào bởi huyết thanh của người nhận máu

4 Tai biến do truyền nhầm nhóm máu

Sự truyền nhầm nhóm máu thường là sự ngưng kết hồng cầu của người cho, ít khi ngưng kết hồng cầu của người nhận

Mặt khác, máu người cho không

đủ để pha loãng kháng thể trong huyết tương người nhận bởi vậy các kháng thể sẽ làm ngưng kết trong hồng cầu người cho

Tất cả phản ứng truyền máu thường làm vỡ hồng cầu, Hb được giải phóng chuyển thành bilirubin về gan rồi bài tiết theo một nồng độ bilirubin cao gây vàng da

5.Yếu tố Rh

Ngoài nhóm máu ra, khi truyền máu phải lưu ý đến một hệ thống có vai trò cực kỳ quan trọng là hệ Rh Có sự khác nhau giữa kháng thể tự nhiên OAB và yếu tố Rh OAB là kháng thể tự nhiên, còn kháng thể của yếu tố Rh là kháng thể miễn dịch

Có 6 kháng nguyên

Rh, mỗi loại kháng nguyên Rh được gọi là một yếu tố Rh có ký hiệu C,D,E,c,d,e(C - c, D - d, E - e) Khi người có kháng nguyên C

sẽ không có c, D không có d, E không có e Vì mỗi người chỉ có một kháng nguyên trong mỗi cặp C-d-E, CDE …Kháng nguyên D

là phổ biến nhất và cũng có tính kháng nguyên mạnh nhất Người

có kháng nguyên D là người có Rh+, Người không có kháng nguyên D là người có Rh-, Ở Việt Nam có 99,92 % người có Rh+, Người Mỹ có 95 % người

có Rh+, Châu Phi có 100 % người có Rh+

Nếu người có Rh - , chưa hề tiếp xúc với máu Rh+, bao giờ thì việc truyền máu Rh+cho họ không có phản ứng ngưng kết nào xảy ra Tuy nhiên

ở một số người Rh- nhận máu của người Rh+, sẽ có sự tạo thành kháng thể anti Rh, lượng kháng thể này đủ gây ngưng kết hồng cầu Rh+ của người cho vẫn còn tồn tại trong máu người nhận

ở thể nhẹ, Nếu lần sau lại tiếp tục truyền máu Rh+ sẽ xảy ra các tai biến truyên máu ở thể nặng

4 Độ pH của máu

Cơ chế điều hòa độ pH của máu(Cân bằng toan kiềm của máu)

- Độ pH của máu

Máu có độ pH =7.35 -7.45 tức là có tính kiềm yếu Giới hạn độ

pH của máu mà cơ thể chịu đựng được là từ 6.8 đến 8.0

Nếu dung dịch trung tính pH = 7.1; Kiềm pH > 7.1; A xit pH < 7.1

Độ pH của máu luôn được

ổn định nhờ hệ thống đệm của máu, nhờ vào hô hấp, trao đổi chất ở thận

Các sản phẩm của quá trình trao đổi chất có ảnh hưởng đến

độ pH của máu

Khi hoạt động cơ trong điều kiện yếm khí, quá trình trao đổi đường sẽ gây sự tích tụ a xitlactic trong cơ hoặc trong máu:

C6H12O6 + 2 ADP + 2 H3PO4 

2 C3H6O3 + 2 ATP + 2 H2O (C6H10O5)n+ 3 ADP +3 H3PO4 

cơ thể bị nhiễm a xit gây rối loạn nhiều chức năng cơ thể, Ví dụ giảm quá trình tổng hợp ATP, Đặc biệt khi axitlactic sản sinh ra ở trong cơ của các VĐV chưa kịp vào máu sẽ làm tăng sự kết hợp bền vững Actomiozin gây ra hiện tượng co cứng cơ, một trong những nguyên nhân “ Chuột rút

“ trong hoạt động TDTT, Ví dụ: ở bài

tập công suất tối đa trong thời gian ngắn Điều này được giải thích rằng hoạt động có công suất tối đa trong thời gian ngắn thì tuần hoàn và hấp chưa phát huy được công suất tối đa, ôxy vào cơ thể ít do đó không thoả mãn được yêu cầu vận động, kết quả

là axitlactic tích tụ trong cơ Các hoạt động với công suất cao trong thời gian kéo dài khi đó tuần hoàn và hô hấp đã phát huy kịp công suất hoạt động, Axitlactic khi đó được chuyển vào máu làm cho độ pH của máu giảm Nồng độ Axitlactic càng cao thì độ pH của máu càng giảm

- Nồng độ Axitlactic phụ thuộc vào công suất hoạt động, thời

gian hoạt động và số lượng sợi cơ tham gia vào hoạt động

Bài tập công suất cao thời gian ngắn thì Axitlactic nhiều và tích

tụ trong cơ

Bài tập 400, 800, 1500m thì Axitlactic chuyển vào trong máu làm cho độ pH giảm

Bài tập Maraton có ôxy đầy đủ thì không có Axitlactic, độ pH không thay đổi

Ở bài tập cử tạ, đòi hỏi huy động nhiều sợi cơ tham gia sức mạnh tối đa nên Axitlactic sản sinh nhiều và tích tụ trong cơ vì thời gian

cử tạ ngắn

Cơ chế điều hòa độ pH của máu

Để duy trì và ổn định độ pH của máu phải nhờ hệ thống đêm.

Hệ thống đệm của máu gồm axit yếu

và muối của nó với một kiềm mạnh

- Hệ thống đệm bicacbonat NaHCO3 ,

H2CO3 , HCO3– CO2

Độ pK =6.1 chiếm 53 %

Trang 3

Khi cho một a xít mạnh tác dụng với

NaHCO3 kết quả của phản ứng sẽ

thành HCO3- hoặc ngược lại thì hệ

thống này không còn khả năng đệm

CO2 hoà tan trong máu có thể thay

đổi làm tăng hoặc giảm thông khí

phổi, có tác dụng điều hoà pH Bởi

vây, tốc độ điều chỉnh pH của hệ này

chỉ trong vài phần của giây mà ở các

tác dụng với đệm phosphat kết quả

của phản ứng sẽ cho ta một a xít yếu

HCL + Na2 HPO4 =

NaH2PO4 + NaCL

Khi cho một kiềm mạnh

tác dụng với đệm phosphat kết quả

của phản ứng sẽ là một kiềm yếu

Protein được tạo ra từ Protein của

huyết tương, chiếm 79 % các Protein

Đó là các gốc của a xit a min tự do -

COOH có khả năng phân ly thành

Protein thực hiện bởi Hemoglobin

gồm ô xy hemoglobin và muối ka li.

* Khi thực hiện

công suất vận cơ ở mức nhẹ và trung

bình , nhu cầu ô xy chiếm khoảng 50

% VO2 max thì a xit lactic trong máu

khoảng 0.4 - 0.5g/ lit

Khi vận động với

công suất lớn hơn, nhu cầu ô xy vào

khoảng 50 - 85 % VO2 max thì a xit

lac tic tăng nhanh trong máu ở các

bài tập sức bền ưa khí tối đa, khi nhu

cầu ô xy lớn hơn 85 % VO2 max thì

nồng độ a xit lac tic tối đa trong máu

là do sản phẩm trung gian của quá

trình trao đổi chất để sử dụng năng

lượng từ hệ glucophân tạo axitlactic

Axitlactic là một a xit mạnh, khi phân

(Axitlactic)(Bicacbonat Na)(Muối LactatNa)

Tuỳ theo điều kiện H2CO3 phân

ly dưới 2 dạng:

H2CO3  H++ HCO3- trong điều kiện thiếu O2

H2CO3  H2O + CO2

trong điều kiện đủ O2

Khi sử dụng hết dung lượng của hệ thống H2CO3

= H2O + CO2, Khí CO2 được tạo thành bị đào thải qua phổi thì môi trường chuyển về phía a xit,

độ pH trong máu giảm xuống 0.2

so với yên tĩnh thì hoạt tính của men giảm Độ pH giảm sẽ gây rối loạn chức năng của toàn bộ

cơ thể như giảm hoạt tính men ATP - aza, giảm tốc độ dẫn truyền xung động thần kinh, tăng

áp suất thẩm thấu gây phồng tế bào chèn ép lên các nhánh tận cùng thần kinh làm đau cơ do tăng sự kết hợp bền vững giữa 2 sợi ac tin và miozin

Khi độ pH tăng máu

sẽ nhiễm kiềm, quá trình thải

CO2 bị ngừng trệ, CO2 chuyển thành bicacbonat, ion HCO3. –

Trạng thái cơ thể chứa axit hoặc kiềm khi độ pH của máu vẫn còn

ổn định gọi là trạng thái nhiễm kiềm hoặc nhiễm toan có bù, còn khi độ pH trong máu biến đổi thì trạng thái đó gọi là nhiễm a xit không bù

Trong yên tĩnh, độ pH của máu động mạch 7,4; máu tĩnh mạch 7,35

Khi hoạt động độ pH của máu giảm xuống 7,0 ; cá biệt

ở VĐV có trình độ tập luyện tốt

pH = 6,8 Khi độ pH của máu giảm sẽ có cảm giác khó chịu, nôn ọe, chóng mặt, đau cơ, phá hủy quá trình trao đổi chất, bởi vậy phải huy động hệ thống đệm bicacbonat trong máu hoặc hệ thống đệm Protein trong tế bào

để trung hòa a xit và ổn định độ

pH của máu

Ngoài hệ thống đệm, máu còn có một số muối kiềm để trung hoà a xit Những muối này gọi là dự trữ kiềm của máu Khi vận động, công suất vận động càng cao thì khả năng dự trữ kiềm càng giảm

Tóm lại : Hệ thống

đệm có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cho máu và các tế bào mô Khi có các phản ứng tích cực xảy ra, ngoài hệ thống đệm và dự trữ kiềm của máu thì phổi, thận, gan, ống tiêu hoá cũng tham gia vào sự điều hoà kiềm toan của máu

SINH LÝ HỆ TUẦN HOÀN

1 Chu chuyển tim, Ảnh hưởng

của TDTT đến chu chuyển tim.

Khái niệm : Hoạt động nhịp

nhàng liên tục của tim được chia

ra thành từng thời kỳ, có sự lặp

đi lặp lại đều đặn gọi là chu chuyển tim

Mỗi chu chuyển tim gồm có một tâm thu

và một tâm trương của nhĩ và thất

Yếu tố ảnh hưởng đến chu chuyển tim.

Chu chuyển tim phụ thuộc vào tần số nhịp tim, áp suất trong buồng tim và tiếng tim

+Tần số nhịp tim tăng thì chu chuyển tim giảm

+Tần số nhịp tim giảm thì chu chuyển tim tăng (Kox)

Các thời kỳ của chu chuyển tim

-Thời kỳ tâm thu bao gồm tâm nhĩ thu và tâm thất thu

-Thời kỳ tâm trương bao gồm tâm nhĩ trương và tâm thất trương

- Thời kỳ tâm trương toàn bộ ,

cả nhĩ và thất đều trong trạng thái trương

* Tâm nhĩ thu

Tâm nhĩ thu 0.1giâylà khởi đầu của sóng P áp suất trongbuồng nhĩ hơi tăng (5-6 mmHg) và bắt đầu cao hơn áp suất trong buồng thất đang giãn Máu từ tâm nhĩ chảy xuống tâm thất qua van nhĩ thất, Khi áp suất trong buồng tăng, máu trong buồng nhĩ không đi ngược trở lại tĩnh mạch vì lỗ tĩnh mạch co lại

do sự co cơ của 2 thành tâm nhĩ

* Tâm nhĩ trương

Ngay sau khi tâm nhĩ thu, tâm nhĩ bắt đầu trương – thời gian khoảng 0.7 giây Nó sẽ chiếm toàn bộ thời kỳ tâm thất thu và phần lớn tâm thất trương

Thời kỳ tâm nhĩ trương là thời kỳ nạp máu về tim, tâm nhĩ phải nạp máu từ tĩnh mạch chủ trên , dưới

Tâm nhĩ trái nạp máu từ 4 tĩnh mạch phổi

* Tâm thất thu

Tâm nhĩ bắt đầu trương thì tâm thất thu, thời kỳ tâm thất thu khoảng 0.3 giây

Tâm thu của tâm thất được chia

áp suất trong buồng tâm thất không tăng

- Pha co đẳng trường :Khi tất cả các sợi cơ trong thành tâm thất đều co, áp suất trong buồng thất tăng lên, các van nhĩ thất nhanh chóng bị đóng lại vì áp suất trong buồng thất cao hơn buồng nhĩ

Các van bán ngyệt ngăn cách giữa buồng thất trái với động mạch chủ, buồng thất phải với động mạch phổi vẫn đóng, như vậy buồng thất được đóng kín cả 2 phía Khi các sợi

cơ tâm thất tiếp tục co đồng bộ không làm thay đổi thể tích của

buồng thất, pha này kéo dài cho tới khi nào áp suất trong buồng thất cao hơn áp suất trong động mạch chủ và động mạch phổi thì van bán nguyệt được mở rabắt đầu giai đoạn tống máu từ tâm thất vào động mạch

b, Thời kỳ tống máu chia

2 pha:

-Pha tống máu nhanh : ở pha này, các sợi cơ trong thành tâm thất co tối đa, máu được tống nhanh

từ tâm thất vào động mạch áp suất trong buồng thất đạt tối đa sau khi tâm thất bắt đầu thu khoảng 0.18 giây Tốc độ dòng máu trong động mạch chủ cao nhất sau khi tâm thất thu khoảng 0.1 giây

-Pha tống máu chậm : Máu từ tâm thất vẫn tiếp tục tống vào động mạch với tốc độ giảm dần và ngừng hẳn Khi ngừng tống máu tâm thất là bắt đầu thời kỳ tâm trương của tâm thất.Trên điện tâm đồ ghi được sóng T báo hiệu sự tái cực của tâm thất

*) Tâm thất trương

Khi tâm thất bắt đầu trương thì sự tống máu từ tâm thất phải và trái ngừng hẳn Vì áp suất trong buồng thất thấp hơn trong động mạch chủ và động mạch phổi, các van bán nguyệt phải đóng lại để máu không đi ngược lại tâm thất Thời kỳ này là thời kỳ tiền tâm thất trương của tâm thất

Tâm thất trương được chia

ra 2 thời kỳ :

- Thời kỳ thả lỏng của tâm thất :

Các buồng thất vẫn còn đóng ở 2 phía vì van bán nguyệt đã đóng ở sau thời kỳ tiền tâm trương, Van nhĩ thất vẫn tiếp tục đóng do áp suất trong buồng thất vẫn cao hơn trong buồng tâm nhĩ Lượng máu còn lại trong buồng tâm thất sau khi kết thúc thời kỳ tâm thu được gọi là thể tích cuối tâm thu, nó không thay đổi trong suốt thơì kỳ tâm trương Vì vậy thơì kỳ tâm thất trươngcòn gọi là thời kỳ đẳng thể tích hay đẳng trường Khi áp suất trong buồng thất thấp hơn buồng nhĩ thì thời kỳ thả lỏng kết thúc , van nhĩ thất mở ra – thời kỳ nạp máu từ buồng nhĩ xuống buồng thất

-Thời kỳ nạp máu của tâm thất :Được chia thành 2 pha :

+Pha nạp máu nhanh : Máu từ tâm nhĩ xuống tâm thất qua van nhĩ thấtnhiều nhất ở pha nạp máu nhanh

+ Pha nạp máu chậm tương ứng với sóng P trên điện tâm

đồ , pha này xảy ra trước và trùng vào thời gian tâm nhĩ thu Thể tích máu chứa trong tâm thất ở cuối thời

kỳ tâm trương được gọi là thể tích cuối tâm trương Trong một nhịp tim thể tích đó được quyết định bởi áp suất nạp máu áp suất này phụ thuộc vào lượng máu từ các tĩnh mạch về tâm nhĩ Lượng máu từ các tĩnh mạch

về tim càng lớn thì thể tích tâm thu càng cao

Thời gian của từng thời kỳ chu chuyển tim.

Một chu chuyển tim phụ thuộc vào tần số tim Với tần số tim là khoảng 70-80 lần/ phút sẽ có chu chuyển tim

3

Trang 4

là 0,8 giây và được phân ra các thời

- Thời kỳ tâm trương toàn bộ: là cả

tâm nhĩ và tâm thất đều trương 0,4s

Ảnh hưởng của TDTT đến chu

chuyển tim.

Một chu chuyển tim phụ thuộc vào

tần số tim Trong hoạt động TDTT,

tần số tim có sự thay đổi thì thời gian

một chu chuyển tim cũng thay đổi

theo Trong hoạt động cơ bắp, thời kỳ

tâm thu và thời kỳ tâm trương đều

giảm

Khi Tần số tim tăng,

sự rút ngắn pha co đẳng trường của

tâm thất tỷ lệ thuận với mức tăng Tần

số tim kèm theo tăng tính co bóp của

cơ tim, tăng công suất hoạt động của

tim

Khi vận động cơ bắp

căng thẳng, Tần số tim tăng tối đa,

pha co đẳng trường có thể bị mất

hẳn , cơ tim co hoàn toàn theo chế độ

đẳng trương , máu được tống ra khỏi

tâm thất trong suốt thời kỳ tâm thu

Thời gian của thời kỳ tống máu khi

vận động cơ nhẹ nhàng hầu như

không thay đổi công suất Vận động

cơ tăng dần, Tần số tim tăng thì thời

kỳ tống máu giảm

Khi Tần số tim tăng thì

thời gian tâm trương ngắn lại Tần số

tim trong vận động tối đa là 200

lần/phút thì chu chuyển tim là 0,3s

Và thời gian tâm thu/thời gian tâm

trương là 0,12 s/0,18" = 1/1,5.Thời

kỳ tâm trương của tâm thất từ 0.5

giây trong yên tĩnh rút xuống còn

0.18 giây Thời kỳ tâm trương là 0.18

giây- pha nạp máu nhanh chỉ còn

0.05-0.1 giây, pha nạp máu chậm mất

đi hoàn toàn Thời gian của thời kỳ

tâm trương rút ngắn, song lỗ tĩnh

mạch và áp suất tăng cao khi Tần số

tim rất nhanh nên sự nạp máu vào tim

hầu như không bị ảnh hưởng

Khi Tần số tim tăng quá

cao trong vận động, cơ tim phải đảm

bảo tống được một lượng máu lớn từ

tim vào lòng mạch với hoạt động kéo

dài, cơ tim mệt mỏi, khả năng co bóp

của tim giảm, kết quả là thể tích tâm

thu giảm

Trong yên tĩnh, tần số Tần số tim là 70 - 80 lần/1 phút thì chu chuyển tim là 0,8s Tỷ lệ giữa thời gian tâm thu/thời gian tâm trương là 0,4 s/0,4 s = 1/1

Tần số Tần số tim của các VĐV có sự thay đổi trong yên tĩnh, khoảng 60 lần/ 1 phút thì chu chuyển tim là 1s và thời gian tâm thu/ thời gian tâm trương là 0,4s/ 0,6s = 1/1,5

Trong hoạt động TDTT, với sự thay đổi thời gian của chu chuyển tim thì cả hai đều được rút ngắn nhưng thời kỳ tâm thu rút ngắn nhiều hơn thời kỳ tâm trương bởi vậy lượng máu được nạp vào tim nhiều hơn

Trong yên tĩnh của vận động viên, do sự phì đại

cơ tim nên lưu lượng tâm thu tăng tần số Tần số tim giảm nhưng thời kỳ tâm trương keó dài nên lưu lượng phút vẫn không giảm Sự hoạt động của tim như vậy là biểu hiện tim vận động viên thích nghi với hoạt động thể lực

2 Các chỉ số sinh lý của tim

Để đánh giá chức năng của tim trên quan điểm sinh lý- chỉ số quan trọng nhất của tim là thể tích phút Chỉ số này phụ thuộc vào 2 đại lượng là thể tích tâm thu và tần số tim

(1) Tần số tim

a Khái niệm tần số tim(HR ) là số lần tim đập trong 1 phút hoặc là tần số chu chuyển tim trong 1 phút Tần số tim phản ánh hoạt động của tim

Tần số tim trong yên tĩnh ở người bình thường khoảng

70 - 80lần/phút, Tần số tim ở người bình thường dưới 60 lần/phút là tần số tim chậm, trên 90lần/phút là tần số tim nhanh

b.Yếu tố ảnh hưởng và đặc điểm biến đổi

Tần số tim phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, yếu tố tâm lý, tư thế của cơ thể,

Ngoài ra tần số tim tăng cùng với thể tích tâm thu

Khi tần số tim tăng lên 3 lần so với yên tĩnh thì thể tích tâm thu cũng tăng lên tương ứng, thể tích phút sẽ tăng lên gấp 6 -7 lần so với yên tĩnh ở hoạt động sức bền

ưa khí tối đa

Tần số tim còn phụ thuộc theo lứa tuổi lứa tuổi giới tính, Tuổi nhỏ tần số tần số tim cao, Tần số tim từ 130 lần/ phút sau sinh giảm dần xuống 75 ở lứa tuổi trưởng thành và tăng lên nhẹ ở tuổi già Ở nữ tần số tim cao hơn so với nam

Trong hoạt động, tần

số tim phụ thuộc vào công suất vận động,HR tăng tỷ lệ thuận, tần số tim cao nhất ở bài tập công suất tối đa, tần số tim tăng tối ưu ở bài tập công suất dưới tối đa

Tần số tim phụ thuộc vào trình độ tập luyện của VĐV

c Ý nghĩa :

- Tần số tim là chỉ số đánh giá trình độ tập luyện của

VĐV:Trong yên tĩnh, Tần số tim

của VĐV giảm hơn người bình thường, khoảng 60 lần / phút, thấp nhất là VĐV sức bền, tiếp đến là sức nhanh, sức mạnh, hoạt động tĩnh lực, còn trong hoạt động tới mức tối đa thì tần số tim của VĐV lại cao hơn người bình thường, đó là biểu hiện tính tiết kiệm của tim VĐV và khả năng thích ứng với luyện tập

- Tần số tim là chỉ số đánh giá cường độ thích nghi lượng vận động:

Cách 1:Đánh giá bằng tần số tim tối đa: Tần số tim tối

đa có thể tính bằng công thức:

Tần số tim tối đa: HR max =

220 – tuổi Như vậy tuổi càng cao thì tần số tim tối đa càng giảm

Cách 2 Đánh giá bằng tần số tim tối ưu: Là tần số tim ở

đó hiệu suất tuần hoàn đạt công suất tối đa (Tần số tim khoảng

170 -180 lần/ phút)

- Tần số tim là chỉ số đánh giá cường độ bài tập: Trong thể

thao, công suất của bài tập được xác định bằng mét/giây, số lần…hoặc chuyển hóa năng lượng được xác định bởi 3 vùng bài tập:

+ Bài tập ưa khí:

HR < 140lần/phút + Bài tập hỗn hợp: HR khoảng 140 - 165lần/phút

+ Bài tập yếm khí: HR > 165lần/phút

- Tần số tim là chỉ số phản ánh quãng nghỉ:

+ Quãng nghỉ ngắn: Tần số tim sau vận động chưa trở

về mức ban đầu+ Quãng nghỉ đủ: : Tần số tim sau vận động bằng tần số tim trước vận động hoặc cộng 10%

tần số tim trước vận động + Quãng nghỉ dài: Tần số tim sau hồi phục nhỏ hơn hoặc bằng tần số tim tĩnh trước vận động

Tần số tim là chỉ số đánh giá hồi phục

(2)Thể tích tâm thu

a Khái niệm :Thể

tích tâm thu là lượng máu tống vào động mạch một lần tim đập ( một lần co bóp ), người thường 60-70ml/1 lần tâm thu VĐV đạt giá trị tối đa 160-200ml/1 lần tâm thu

b.Yếu tố ảnh hưởng

và đặc điểm biến đổi

Lượng máu tĩnh mạch trở về tim

Tốc độ dòng máu tĩnh mạch trở về tim trong một đơn vị thời gian Thời gian dòng máu tĩnh mạch trở về tim càng nhỏ thì tần số tần số tim càng cao

Tần số tim có ảnh hưởng đến thể tích tâm thu: Giữa kích thước buồng tâm thất và thể tích tâm thu có mối tương quan tỷ lệ thuận, kích th-ước buồng tim càng lớn thì thể tích tâm thu càng cao

Ngoài ra thể tích tâm thu còn phụ thuộc vào lực bóp của cơ tim, thể tích máu đọng trong tim, vào

tư thế của cơ thể ở người bình ường, thể tích tâm thu khoảng 60-70ml ở tư thế nằm ngang, các điều kiện cơ học đảm bảo cho máu về tim

th-dễ dàng, thể tích tâm thu của người không tập luyện là 100ml Hoạt động

cơ bắp vẫn trong tư thế nằm, thể tích tâm thu khoảng 100 -120ml

Thể tích tâm thu tối đa phụ thuộc vào giới tính: ở phụ nữ trẻ, trong tư thế nằm tĩnh là 70ml, hoạt động cơ bắp là 100ml Do kích thước buồng tim của nữ nhỏ hơn, thể tích tâm thu của nữ nhỏ hơn của nam giới 25% Phụ thuộc vào tư thế, máu tĩnh mạch trở về tim ở tư thế đứng ít hơn

tư thế nằm Bởi vậy thể tích tâm thu của người khi ở tư thế nằm cao hơn t-

ư thế đứng 30 - 40 %

Thể tích tâm thu phụ thuộc vào lượng máu tuần hoàn chung, giữa hai đại lượng này có mối tương quan dương tính rất cao Những người có lượng máu tuần hoàn chung cao thì thể tích tâm thu cao

Thể tích tâm thu phụ thuộc vào lứa tuổi: ở người già thấp hơn người trưởng thành khoảng 20%, giảm thể tích tâm thu ở người cao tuổi có thể do khả năng co bóp cơ tim giảm

Ở mức độ nhất định, thể tích tâm thu tăng cùng với công suất vận động ở nhiều người, thể tích tâm thu đạt tới mức tối đa khi vận động với lượng vận động chỉ đòi hỏi gần 40% mức hấp thụ O2 tối đa của người

đó Khi công suất vận động tiếp tục tăng thì tần số tim cũng tăng, thời gian nạp máu vào tâm thu bị rút ngắn

sẽ gây cản trở sự tăng thể tích tâm thu

Trong yên tĩnh:Thể tích tâm thu

sẽ hơi giảm ở các VĐV khi trình độ tập luyện tăng lên do công suất co bóp của tim giảm Điều đó chứng tỏ tim hoạt động kinh tế hơn trong nghỉ ngơi

Khi hoạt động TDTT

+Thể tích tâm thu hầu như không thay đổi so với người bình thường khi cơ thể VĐV hoạt động ở bài tập công suất tối đa

+Thể tích tâm thu tăng lên trong các bài tập công suất lớn và trung bình, đạt cao nhất

từ 180 – 200 ml ở bài tập công suất dưới tối đa

c.Ý nghĩa

Là chỉ số để đánh giá trình

độ tập luyện của VĐV

(3) Thể tích phút của tim:

a khái niệm : Thể tích

Trang 5

phút của tim Là khối lượng máu tim

tống ra động mạch trong một phút

Trung bình khối lượng

máu tống vào động mạch của tâm

thất vào khoảng 4-5l/phút Lượng

máu từ tâm thất trái bơm vào vòng

tuần hoàn lớn, tâm thất phải đẩy vào

vòng tuần hoàn nhỏ cân bằng nhau

tim Đó là tỷ lệ thể tích phút với diện

tích bề mặt của cơ thể Chỉ số tim

trong yên tĩnh 3-3.5l/ph/m2 Hoạt

động cơ bắp có liên quan đến hoạt

động tuần hoàn cần phải vận chuyển

đến các cơ đang vận động một lượng

máu chứa nhiều ôxy Bởi vậy, hoạt

động của tuần hoàn có liên quan trực

tiếp đến trao đổi chất của cơ thể được

đo bằng khả năng hấp thụ O2

- Thể tích phút là chỉ số

chung tổng hợp cho sự hoạt động của

tim Chỉ số này phụ thuộc vào thể

tích tâm thu và tần số tim Công thức

tính thể tích phút theo quy ước quốc

tế như sau : CO = SV x HR hoặc Q

= Qs x fc

Q - CO : thể tích phút; Qs - SV : thể

tích tâm thu ; fc - HR là tần số tim:

Từ công thức trên,

thể tích phút có thể thay đổi khi thay

đổi một trong hai đại lượng.Ví dụ,

trong điều kiện yên tĩnh, tần số tim

bình thường của người trưởng thành

với yên tĩnh ở phụ nữ, thể tích tâm

thu trong hoạt động ưa khí tối đa nhỏ

trong máu động mạch , lấy máu ở

động mạch cánh tay của vòng tuần

hoàn lớn

Hàm lượng oxy

trong máu tĩnh mạch, lấy máu ở tĩnh

mạch chủ buồng tim phải

tĩnh mạch nơi gần tim nhất Chất chỉ định chảy qua tim, phổi rồi vào máu động mạch Nếu đo liên tục nồng độ chất chỉ định (C) trong máu lấy ra từ máu động mạch của vòng tuần hoàn lớn trong một thời gian nhất định (t) thì thể tích phút được tính theo công thức : Co = I/C x t

Đặc điểm biến đổi

- Trong yên tĩnh: Thể tích phút

củaVĐV giảm hơi thấp so với người thường do nhu cầu về máu của tổ chức thấp hơn vì họ có khả năng sử dụng oxy từ máu tốt hơn

- Trong hoạt động TDTT

Thể tích phút củaVĐV hầu như không thay đổi

so với bình thường khi hoạt động ở bài tập công suất tối đa

Thể tích phút tăng lên trong các bài tập công suất lớn và công suất trung bình, đạt cao nhất có thể đạt 35 – 40 lít/ phút ở bài tập công suất dưới tối đa

c.Ý nghĩa

Là chỉ số để đánh giá trình độ tập luyện của VĐV

4 Sinh lý tuần hoàn động

tố thúc đẩy máu di chuyển trong mạch máu

Sinh lý tuần hoàn động mạch

Động mạch là những mạch máu vận chuyển máu từ tim đến tổ chức tế bào Từ động mạch chủ chia ra nhiều động mạch nhỏ, càng xa tim thiết diện của động mạch càng nhỏ, bởi vậy máu chảy trong động mạch càng

xa tim vận tốc của nó càng giảm

Tính chất sinh lý của động mạch

- Tính đàn hồi của thành mạch: Động mạch có khả

năng giãn và co Khi máu vào động mạch, ngay lập tức mạch máu giãn to và khi máu ra khỏi phần động mạch đó thì mạch máu thu nhỏ lại trở về vị trí ban đầu Nhờ tính đàn hồi của thành mạch mà dòng máu chảy liên tục, tăng thể tích máu mỗi lần tâm thu

Tính co thắt: Đó là

khả năng của động mạch co lại

làm cho động mạch hẹp, giảm lượng máu đi qua Tính chất này

có tác dụng điều hoà máu đến các cơ quan Các động mạch nhỏ

có tính co thắt cao, vì thành động mạch có nhiều cơ trơn

b.Áp suất động mạch trong chu

kỳ tim

Áp suất động mạch trong chu kỳ tim được ghi lại ở các phần của động mạch bằng phương pháp nghe, bằng phương pháp giao động, huyết áp kế tự động điện

tử áp suất của máu động mạch được tính bằng milimet thuỷ ngân (mmHg), đôi khi dùng cm

H2O

Áp suất trong tuần hoàn động mạch được gọi là huyết áp động mạch

Khái niệm huyết áp động mạch: Là áp lực của dòng

máu tác động lên thành động mạch.Huyết áp của người thường

Huyết áp tối đa ở người bình thường là 110 - 130 mmHg Giới han min : 90 mmHg, Max là 140 mmHg Nếu huyết áp tối đa dưới 90mmHg là huyết áp thấp, huyết áp tối đa trên 140mmHg là huyết áp cao

Nếu Ps lớn hơn hoặc bằng 160 mmHg là bệnh tăng huyết áp

- Huyết áp tối thiểu: Là trị số

huyết áp thấp nhất trong chu kỳ tim, ứng với thời kỳ tâm trương

Thông số này phản ánh trương lực của thành mạch

Huyết áp tối thiểu ở người bình thường khoảng 70 - 90mmHg, Giới hạn min là 50 mmHg, Max là 90 mmHg

Trong một số trường hợp tăng huyết áp , nếu huyết áp tối đa tăng cao chưa gây trở ngại nhiều cho tim nhưng nếu cả hai thông số huyết áp đều tăng cao,

ví dụ huyết áp tối đa tăng trên

160 mmHg, Huyết áp tối thiểu trên 95 mmHg thì gánh nặng đối với tim rất lớn, trong điều kiện như vậy, tâm thất sẽ phì đại ở những người bệnh lý do phải thắng áp lực cao ở hệ động mạch, cuối cùng là dẫn đến suy tim

- Huyết áp hiệu số là

sự chênh lệch giữa huyết áp tối

đa và huyết áp tối thiểu.Bình thường hiệu số huyết áp là 120mmHg - 80mmHg = 40mmHg

Thông số này phản ánh hiệu lực của một lần tống máu của tim Hoạt động cơ cần có khối lượng máu đến với cơ nhiều hơn, khi

đó hiệu số huyết áp tăng cao, có thể tới 70 - 80 mmHg

Hiệu số huyết áp tăng có quan hệ với hệ số cung cấp máu cho cơ hoạt động và tần số nhịp tim, trong điều kiện yên tĩnh cũng như trong điều kiện vận động, hiệu số huyết áp của các VĐV đều tăng cao hơn mức bình thường, điều này chứng tỏ hệ số cung cấp máu của VĐV cao hơn bình thường Ngược lại, nếu hiệu số huyết áp giảm có nghĩa là huyết áp tâm thu gần với huyết áp tâm trương - được gọi là kẹt huyết áp Hiện tượng kẹt huyết áp là khả năng bơm máu của tim giảm

Huyết áp trung bình: Là trị số huyết

áp biến động trong chu kỳ tim

Huyết áp trung bình không nằm ở trị

số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương mà gần với huyết áp tâm trương hơn

- Người bình thường, huyết áp trung bình 90-100 mmHg

- Công thức tính : huyết áp tối thiểu + 1/3 huyết áp hiệu số

80 + 40/3 = 93 mmHg

Các yếu tố ảnh hưởng

Huyết áp phụ thuộc vào 3 yếu tố chính là : Lưu lượng tim, tính chất máu và mạch máu

- Lưu lượng tim : phụ thuộc vào thể

tích tâm thu và tần số nhịp tim Nếu các chỉ số trên tăng thì huyết áp tăng Thể tích tâm thu lại phụ thuộc vào lực bóp cơ tim và nhịp tim

+ Lực bóp của tim: Khi tim co bóp mạnh lượng máu tống vào động mạch nhiều dẫn đến thể tích tâm thu tăng và lưu lượng tim tăng làm cho huyết áp tăng

+ Khi tim đập chậm thì huyết áp giảm,khi tim đập nhanh thì huyết áp tăng

- Máu :

+ Độ nhớt của máu tăng thì huyết áp tăng, và ngược lại

+ Thể tích máu tăng làm huyết áp tăng và ngược lại mất máu làm thể tích máu giảm thì huyết áp giảm

-Mạch máu :

+Lực cản của dòng máu (R) là sự chống lại (cản trở)dòng máu chảy trong mạch máu Lực cản

R = 8 Ln /π r4 Lực cản của mạch máu tỷ lệ thuận với chiều dài của mạch máu ( L) và độ nhớt (n) của máu, tỷ lệ nghịch với luỹ thừa bậc bốn của bán kính r

+ Đường kính mạch máu

có ảnh hưởng đến huyết áp Khi mạch máu co gây tăng huyết áp, mạch máu giãn làm huyết áp giảm

+ Tính đàn hồi thành mạch kém gây tăng huyết áp ở người già và đặc biệt ở những ngừơi sơ vữa động mạch do mạch kém đàn hồi nên huyết áp tăng

*Đặc điểm biến đổi -Trong yên tĩnh: Khi

VĐV có trình độ tập luyện tăng lên,

5

Trang 6

huyết áp có xu hướng tăng, song vẫn

nằm trong giới hạn bình thường theo

lứa tuổi và giới tính

- Khi vận động tối đa: Ở

VĐV, huyết áp tối đa tăng nhanh và

giữ mức 180 -200 mmHg, huyết áp

tối thiểu nói chung biến đổi ít trong

hoạt động căng thẳng còn trong hoạt

động kéo dài nó có thể giảm xuống

Trang 7

SINH LÝ HỆ HÔ HẤP

1.Các khái niệm về hô

hấp và hiện tượng cơ học của quá

trình hô hấp

a.Các khái niệm về hô

hấp

- Hô hấp là quá trình

trao đổi ôxy và CO2

giữa cơ thể với môi

trường bên ngoài.Hô

- Hô hấp ngoài: Là quá trình vận

chuyển ôxy từ ngoài vào máu thông

qua hệ hô hấp và đào thải CO2 từ máu

ra ngoài

Đảm nhiệm chức năng hô hấp ngoài

là vòng tuần hoàn nhỏ: Trao đổi khí ở

phổi

- Hô hấp trong :Hay còn gọi là hô

hấp tế bào là quá trình trao đổi ôxy

và CO2 giữa máu và tế bào

Đảm nhiệm chức năng hô hấp trong

là vòng tuần hoàn lớn : Trao đổi khi

xảy ra tại tế bào

b Hiện tượng cơ học của

quá trình hô hấp

Hô hấp được thực hiện

nhờ vào sự cử động của lồng ngực, sự

chênh lệch áp suất trong khoang

ngực, trong phế nang và co giãn của

các cơ hô hấp tạo dòng không khí từ

ngoài vào phổi và từ phổi đi ra ngoài

Áp suất âm trong khoang

màng phổi.

Áp suất âm trong khoang màng phổi

được tạo thành giữa 2 lá thành và lá

tạng

Lá thành : Bọc mặt trong của thành

lồng ngực

Lá tạng : Bọc lên bề mặt ngoài của

phổi, có áp suất 753 mmHg thấp hơn

áp suất của khí quyển (760mmHg) là

7 mmHg, áp suất này gọi là áp suất

âm, áp suất này có sự thay đổi khi

thực hiện động tác hít vào Bình

thừơng (– 7 )mmHg, Hít vào sâu

xuống (- 30) mmHg, Khi thở ra (-4)

mmHg, Thở ra gắng sức áp suất âm

xấp xỉ bằng không( bằng hoặc hơi

tăng hơn áp suất khí quyển( +1) đến

(+2) mmHg

*Vai trò của áp suất âm:

+ Giúp cho máu từ tĩnh mạch về tim

được dễ dàng

+ Giúp cho máu từ tim phải lên phổi

+ Giúp cho sự trao đổi khí đạt mức

tối đa

+ Giúp cho phổi di động theo hướng

thay đổi của lồng ngực

Cơ chế hít vào :

Để thực hiện động tác hít vào thể tích lồng ngực tăng theo 3 chiều: Phải trái,Trước sau,Trên dưới

+ Khi cơ hoành co, vòm cơ hoành hạ xuống, ép các

cơ quan nội tạng trong khoang bụng dưới làm cho thể tích lồngg ngực tăng theo chiều trên dưới

+ Khi cơ liên sườn ngoài co nâng các xương sườn lên làm cho thể tích lồng ngực tăng theo chiều phaỉ trái và trước sau

+ Ngoài ra có một số

cơ phụ tham gia như cơ thang, cơ

ức đòn chũm, cơ răng to

* Khi hít vào, lượng không khí vào phổi nhiều hay ít tuỳ thuộc vào lực co của cơ hô hấp Ví dụ cơ hoành hạ 1 cm, thì làm cho thể tích lồng ngực tăng

250 cm3. Khi hít vào bình thường, cơ hoành hạ xuống 4 cm

Hít vào gắng sức cơ hoành hạ xuống 7- 8cm Động tác hít vào

là động tác tích cực được thực hiện do năng lượng của cơ hoành

và cơ liên sườn ngoài

Cơ chế thở ra

Thở ra là cơ chế thụ động, Khi thở ra, các cơ hô hấp giãn ra, lồng ngực xẹp xuống, đẩy không khí ra ngoài cử động của lồng ngực khi thở ra ngược chiều với động tác hít vào Khi thở ra là hoạt động theo ý muốn

có thêm vai trò của cơ liên sườn trong tham gia

Các cơ liên sườn trong co có tác dụng hạ thấp các xương sườn hạ xuống xích lại gần nhau, ép lồng ngực xẹp xuống cũng làm cho thể tích lồng ngực giảm

Cơ thẳng bụng co đẩy các bộ phận nội tạng bụng ở dưới ép sát lên vòm cơ hoành về phía lồng ngực Ngực thu nhỏ, phế nang thu nhỏ , áp suất phế nang tăng đẩy thêm một lượng không khí ra khỏi phổi được gọi

là thể tích khí dự trữ thở ra

2 Các thông số chức năng

hô hấp

(1) Tần số hô hấp.

a- Khái niệm: Tần số hô hấp là số

lần thở trong khoảng thời gian 1 phút

- Tần số hô hấp ở người bình thường 16 -20 lần/1 phút

ở vận động viên giảm xuống còn 9-10 lần/1 phút khi vận động tần

số hô hấp tăng lên đạt giá trị tối

đa để phù hợp với nhu cầu ôxy

mà cơ thể đòi hỏi

b Tần số hô hấp phụ thuộc vào:

+ Lứa tuổi, giới tính.

+ Trình độ tập luyện

+ Trạng thái sức khoẻ

+ Yếu tố tâm lý

(2) Dung tích phổi toàn phần

a- Khái niệm: Dung tích phổi

toàn phần là tổng lượng khí tối

đa có được trong phổi ở người bình thường từ 4 - 6 lít Thành phần của dung tích phổi gồm:

+ Thể tích thở bình thường(VT):

Là thể tích không khí thực hiện trao đổi do hít vào và thở ra bình

thường trong một nhịp thở - khoảng 500ml

+ Thể tích khí hít vàodự trữ (IRV): Là thể tích không khí do hít vào hết sức sau khi hít vào bình thường, khoảng 1500ml

+ Thể tích khí dự trữ thở ra (ERV): Là thể tích không khí do thở ra hết sức sau khi thở ra bình thường khoảng 1500ml Ba loại khí trên tạo thành dung tích sống

+Thể tích cặn( RV):Là thể tích không khí chứa ở trong phổi sau khi thở ra tối đa nhưng không thể đưa lượng khí đó ra được, còn gọi là không khí cặn chức năng Khoảng 1200 - 1500m.( Vẽ hình các thể tích khí hô hấp )

b Khái niệm dung tích sống

( VC ): Dung tích sống là lượng

khí thở ra tối đa sau 1 lần hít vào hết sức ở người bình thường dung tích sống khoảng 3500ml

Dung tích sống phụ thuộc vào:

+ Lực cơ hô hấp

+ Số lượng phế nang tham gia

+ Lứa tuổi, giới tính

Dung tích sống tăng cao ở các vận động viên bơi lội, bóng nước, bơi nghệ thuật, chạy sức bền ưa khí 6-7 lít.Dung tích sống thay đổi chủ yếu là không khí l-

ưu thông ,chỉ số không khí lưu thông tăng lên tiến đến giới hạn của dung tích sống(từ 500-2000-2500ml)

Người ta dùng chỉ số dung tích sống để đánh giá trình

độ tập luyện của VĐVở các môn thể thao mang tính chu kỳ và các môn thể thao không hạn chế thở

Chỉ số Lorenls = dung tích sống( ml) /chiều cao (cm)

(3).Thông khí phổi.

a Khái niệm thông khí phổi: Là

lượng khí ra vào phổi trong khoảng thời gian 1 phút

ở người bình thường thông khí phổi khoảng 8 - 9 lít/1 phút

- Thông khí phổi được tính bằng tích của tần số hô hấp (f) và thể tích khí lưu thông (VT)

V =(VT)x f = 18 lần/1 phút x 500 ml = 9000ml = 9 lít

b- Khái niệm thông khí phổi tối đa: (MVV hoặc (MBC))

Là lượng khí hít vào và thở ra tối đa trong khoảng thời gian 1 phút

Người bình thường thông khí phổi tối đa đạt

+ Lực cơ hô hấp

+ Kích thước của lồng ngực

+ Lực cản của đường dẫn khí

+ Sự đàn tính của phế nang

+ Số lượng phế nang tham gia vào quá trình hô hấp

+ Thông khí phổi tối đa tăng dần theo lứa tuổi đến 20-25 tuổi đạt cao nhất và sau đó giảm dần (Astrand - 1960)

+ Trình độ tập luyện+ Đặc thù môn thể thao: Bơi lội, điền kinh (hoạt động ưa khí tối đa) có thông khí phổi tối đa Các môn khác như các môn bóng, võ vật, thể dục chỉ đạt % của thông khí phổi tối đa

* Trong hoạt động TDTT,

thông khí phổi tăng phụ thuộc vào công suất vận động Công suất vận cơ tăng thì thông khí phổi tăng và có thể đạt tối đa 140 -160 lít/phút ở bài tập công suất dưới tối đa

(4) Hấp thụ ôxy của cơ thể.

a Khái niệm hấp thụ ôxy: Là khả

năng tiếp nhận lượng ôxy từ bên ngoài đưa vào tế bào nhằm mục đích thực hiện chức năng trao đổi chất.Hấp thụ ôxy của cơ thể người bình thường khoảng 250-300 ml/phút

b Khái niệm hấp thụ ôxy tối đa (VO 2 max):

Là khả năng hấp thụ ôxy lớn nhất của

cơ thể trong thời gian 1 phút với công suất của tuần hoàn và hô hấp đạt tới giá trị tối đa

Người bình thường

VO2max khoảng 2-3 lít/phút

ở vận động viên 4-5 lít/1 phút

c- Phân loại VO 2 max: Có 2 loại.

- VO2max tuyệt đối được tính bằng lít/phút

- VO2max tương đối được tính bằng ml/kg/phút

d- Những điều kiện đạt tới khả năng hấp thụ ôxy tối đa.

- Phải bão hoà ôxy

xy từ ngoài qua phổi vào máu đến tế bào, mô

- Hệ sử dụng ô xy : Hệ cơ hoạt động

sẽ quyết định khả năng sử dụng ô xy của các cơ tham gia vào vận động Số lượng cơ tham gia càng nhiều thì khả năng sử dụng ô xy càng lớn

Ô xy từ môi trường bên ngoài được đưa vào máu là cần thiết

để nồng độ ô xy trong máu động mạch đạt giá trị tối đa Quá trình này được quyết định bởỉ thông khí phổi

và khả năng thẩm thấu, khuyếch tán của màng phổi

Quá trình vận chuyển ô xy

từ phổi đến tổ chức phụ thuộc vào máu và hệ tim mạch, Nồng độ ô xy trong máu động mạch có ý nghĩa rất lớn trong việc hấp thụ ô xy tối đa của

tế bào, mô và khả năng kết hợp giữa

ô xy và hemoglobin trong máu Khả năng hấp thụ ô xy tối đa còn phụ thuộc vào lưu lượng và độ nhớt của máu, lưu lượng phút là yếu tố chính

7

Tế bào

Không khí

Trang 8

quyết định khả năng hấp thụ ô xy tối

đa của cơ thể Lưu lượng phút càng

thụ ô xy tối đa Sự phân phối

máu cho các cơ hoạt động càng

cao thì khả năng hấp thụ ô xy

càng lớn Ngoài ra ,hệ thống

mao mạch ngoại biên vận

chuyển máu nhiều cũng ảnh

hưởng đến khả năng hấp thụ ô

xy tối đa Khả năng hấp thụ ô

xy tối đa chỉ thể hiện rõ khi vận

động có sự tham gia của 50%

trọng lượng cơ tích cực trở lên,

- Lượng thông khí phổi chưa

đạt tới mức tối đa trong vận

động

- Trong thời gian vận động rất

nặng, khi khả năng hấp thụ ô xy

đã đạt mức tối đa mà lượng

thông khí phổi vẫn tiếp tục tăng

trong hoạt động cơ tăng dần đến

khi nào cơ thể xuất hiện trạng

không thể duy trì được lâu, bởi

vậy khi hoạt động thời gian dài,

quan trọng quyết định khả năng

hấp thụ ô xy ô xy đưa vào máu

một phần nhỏ hòa tan trong

huyết tương, còn phần lớn ô xy

kết hợp với Hb Khi ở nhiệt độ

O0c và áp suất 760 mmHg, cứ

100g Hb có thể kết hợp được

với 135ml ô xy, ở máu người có

thân nhiệt khoảng 36, 20c - 370c

thì khả năng kết hợp thấp

hơn.Trong yên tĩnh, tim đẩy đi

được 4 -5 lít máu/ phút thì sẽ có

250 - 300 ml ô xy được hấp thụ

Hoạt động với công suất cao, ở

BT công suất dưới tối đa, thể

tích phút của tim tăng lên 30 -

34 lít máu/ phút, với lượng máu

này chuyển tải ô xy đến tế bào

mô có 5 - 6 lít ô xy / phút được

hấp thụ Công suất hoạt động

tăng, lượng khí CO2 và các sản

phẩm của quá trình trao đổi chất

tăng tạo điều kiện cho sự phân ly Hb O2 và giải phóng ô xy

Trang 9

3 Hô hấp trong vận động

Hô hấp trong vận động được

đánh giá bằng 2 chỉ số : Nhu cầu ôxy

và khả năng hấp thụ ô xy mối quan

hệ giữa chúng là đại lượng cơ bản để

xác định trạng thái ổn định

Khi khả năng hấp thụ ô xy không

thoả mãn được nhu cầu, khả năng hấp

thụ ô xy trong thực tế thấp hơn so

với nhu cầu là trạng thái ổn định giả

* Đặc điểm của trạng thái ổn định

- Năng lượng cung cấp cho hoạt động

cơ theo con đường yếm khí

- Các chỉ số sinh lý khác duy trì ở

mức độ cao và đạt tới tối đa hoặc gần

tối đa

- Hoạt động cơ trong trạng thái ổn

định giả không thể kéo dài

* Đặc điểm của trạng thái ổn định

- Năng lượng cung cấp cho hoạt động

cơ theo con đường ưa khí

- Các chỉ số sinh lý khác duy trì ở

mức độ thấp

- Hoạt động cơ trong trạng thái ổn

định thật duy trì trong thời gian dài

trên 2 giờ

1 Nhu cầu ôxy

- Khái niệm: Nhu cầu ôxy là lượng

ôxy cần thiết cho quá trình ôxy hoá

các hợp chất hữu cơ giải phóng năng

lượng cho cơ thể hoạt động

Trong hoạt động nhu cầu ôxy tỷ lệ

thuận với công suất hoạt động và tỷ

lệ nghịch với thời gian vận động

Vídụ : Nhu cầu ôxy ở bài tập công

suất tối đa là 40- 50lít /phút

Nhu cầu ôxy ở bài

tập công suất dưới tối đa là 20-24

lít/phút

Nhu cầu ôxy ở bài

tập công suất lớn là 4 - 5 lít/phút

Nhu cầu ôxy ở bài

tập công suất trung bình là 3-4

lít/phút

- Cách tính nhu cầu ôxy.

+ Nhu cầu ôxy tính theo phút: Lượng

ôxy cần thiết cho cơ thể hoạt động

trong thời gian 1 phút

VD: Nhu cầu ôxy ở bài tập 100m là

7-8 lít/10", tính ra phút là 42 - 48

lít/phút

+ Nhu cầu ôxy tính theo tổng nhu cầu

ôxy cần thiết trong và sau vận động

VD: Nhu cầu ô xy ở bài tập 800m là

20lít /1p .Vậy trong thời gian chạy

800m mất 2 phút thì nhu cầu ô xy là

40lít

- Giải quyết nhu cầu ôxy trong vận

động.

+ Tăng công suất tuần hoàn đạt giá trị

tối đa về thể tích phút, thể tích tâm

thu của tim

Tăng công suất hô hấp, thông khí

phổi đạt giá trị tối đa

+ Tăng tốc độ phân ly HbO2, cung cấp

ôxy cho tổ chức cơ hoạt động

2 Nợ ôxy trong vận động.

Hiệu số giữa nhu cầu ôxy trong vận động và ôxy hấp thụ được trong thực tế được gọi

là nợ ôxy Sự tạo thành các chất

trong quá trình chuyển hoá yếm khí Để đào thải các chất đó, có thể thực hiện được bằng con đường ôxy hoá chúng đến sản phẩm cuối cùng là H2O và CO2

hoặc tái tổng hợp thành chất ban đầu Quá trình này cần có lượng ôxy bổ sung Vì vậy trong hoạt động với thời gian ngắn, sau khi ngừng vận động, lượng ô xy vẫn tiếp tục hấp thụ ở mức độ cao để

trang trải thiếu hụt ôxy trong vận

động

- Khái niệm nợ ôxy: Là lượng

ôxy cần thiết để đốt cháy hoàn toàn lượng Axitlactic sản sinh ra trong vận động

- Giới hạn nợ ôxy ở người bình thường là 10 lít/ ôxy/1 phút, vận động viên 18 - 20 lít ôxy/1 phút

- Nợ ôxy trong vận động phụ thuộc vào:

Công suất hoạt động, Thời gian duy trì Công suất hoạt động khác nhau thì nợ ôxy khác nhau

Ví dụ : Bài tập công suất tối đa

nợ ô xy chiếm 90-95%

Bài tập công suất dưới tối đa nợ ô xy chiếm 80-85 % Bài tập công suất lớn nợ

ô xy chiếm khoảng 15 % Bài tập công suất trung

độ )

- Nợ ôxy trong vận động phân làm 2 loại:

+ Nợ ôxy không có axitlactic: Xuất hiện ở giai đoạn đầu của quá trình vận động Đó là lượng ôxy cần thiết phải trang trải để tái tổng hợp ATP-CP và

bổ sung nguồn ôxy dự trữ của tổ chức dưới dạng Myôglôbin.Giai đoạn này vai trò của ATP,CP sẽ thực hiện việc đảm bảo năng lượng của hoạt động cơ

Ví dụ: ở bài tập công suất tối đa, thời gian ngắn

+ Nợ ôxy có axitlactic: Là giai đoạn tiếp theo,

Là lượng ôxy cần thiết để loại trừ Axítlắctic ứ đọng trong máu ở vào thời điểm vận động.Giai đoạn này ,hệ glucophân có vai trò đảm bảo sự sự cung cấp năng lượng cho hoạt động cơ

Ví dụ : ở bài tập công suất dưới tối đa như chạy 400m.800m

- Cơ chế loại bỏ axitlactic

+ Để axitlactictham gia vào quá trình ôxy hoá tạo sản phẩm cuối cùng là H2O và CO2

+ Sử dụng axitlactic

để tái tổng hợp Glycozen

+ Loại bỏ axitlactic bằng hệ thống đệm

SINH LÝ HỆ TIÊU HÓA

1.Tiêu hóa thức ăn ở các phần của hệ tiêu hóa

Tiêu hóa thức

ăn xảy ra ở một cơ quan đặc biệt gọi là cơ quan tiêu hóa, chúng tạo thành hệ tiêu hóa của cơ thể

Hệ tiêu hóa gồm ống tiêu hóa và tuyến tiêu hóa, ống tiêu hóa bắt đầu từ miệng đến thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn Các tuyến tiêu hóa gồm tuyến nước bọt, tuyến tụy ngoại tiết bài tiết dịch tụy, gan bài tiết mật

a.Tiêu hóa ở miệng và thực quản

*Tiêu hóa cơ học

Thức ăn vào miêng được tiêu hóa bằng cách nhai nhỏ nhờ cơ nhai, má răng, khi thức

ăn dược nghiền nhỏ, nhuyễn, thức ăn được nhào trộn với nước bọt rồi được đẩy xuống thực quản (khoảng 1 - 2 giây)

*Tiêu hóa hóa học: Sự tiết nước bọt ở miệng

Miệng có các tuyến nước bọt chính là tuyến mang tai, tuyến dưới lưỡi, tuyến dưới hàm.Ngoài ra còn rất nhiều tuyến nhỏ khác nằm dưới niêm mạc khoang miệng Các tuyến này tiết

ra nước bọt, là dịch tiêu hóa của khoang miệng

Lượng nước bọt được tiết ra hằng ngày khoảng 800 -1500ml

Thành phần của nước bọt gồm 2

men tiêu hóa chính:

Amylaza chuyển hóa tinh bột

Thành phần và lượng nước bọt được tiết ra phụ thuộc vào tính chất của thức ăn, Thức ăn khô và cứng làm nước bọt tiết ra nhiều hơn thức ăn lỏng

Khi đã bước đầu được tiêu hóa ở khoang miệng, thức ăn được nuốt xuống tiếp thực quản để vào dạ dày Động tác nuốt được thực hiện theo phản xạ khi thức ăn kích thích các thụ quan của niêm mạc ở màn hầu và lưỡi gà

b.Tiêu hóa ở dạ dày

*Tiêu hóa cơ học

Các sóng nhu động của thực quản chuyển thức ăn xuống dạ dày.Dạ dày là đoạn phình to nhất của ông tiêu hóa Dạ dày nối với

thực quản qua tâm vị, nối với ruột non qua môn vị

Dạ dày co bóp gồm hai loại :

*Tiêu hóa hóa học:

Dịch dạ dày hay còn gọi là dịch vị, là

dịch tiêu hóa do các tuyến dạ dàytiết

Tế bào viền bài tiết HCL

Tế bào niêm mạc hay tế bào nhầy bài tiết chất nhầy,Na HCO3 và các muối khoáng

Ngoài ra ,những tế bào biểu mô biến đổi của niêm mạc vùng hang bài tiết hormone GASTRIN có tác dụng điều hoà bài tiết dịch vị

Nhóm các men tiêu hóa Pep sin: Được tế bào chính tiết ra dưới dạng chưa hoạt hóa là pep sinogen,tham gia vào quá trình tiêu

hóa đạm , nó xúc tác quá trình phân giải đạm đến polypeptit

Men sữa( Lab- fermemt, Renin): Xúc

tiến quá trình tiêu hóa ban đầu các chất đạm của sữa

Lipaza dịch vị men phân giải mỡ đã

được nhũ tương hóa của thức ăn (sưã ,trứng )

- Đóng mở môn vị -Tăng cường hoạt động co bóp để di chuyển thức ăn của dạ dày

Các chất nhầy trong dạ dày:

Được tiết ra trong

dạ dày gồm nhiều

Glyprotein và mucopolysacarit Các chất nhầy tạo thành một màng dai, kiềm bao phủ toàn bộ niêm mạc dạ dày để bảo vệ niêm mạc

9

Trang 10

dạ dày khỏi tác

dụng ăn mòn của

HCl và pepsin

Khi bài tiết, chất nhầy

giảm sút niêm mạc dạ dày dễ bị ăn

mòn, gây hội chứng viêm loét dạ dày

.Chất nhầy còn có tác dụng bôi trơn

làm cho thức ăn được vận chuyển dễ

dàng

Hoạt động tiết dịch

của dạ dày dược điều khiển bằng các

xung động thần kinh đi đến dạ dày

theo dây thần kinh số 10 (là thần kinh

phó giao cảm ).Kích thích thần kinh

phó giao cảm làm dịch vị tiết ra

nhiều, ngược lại kích thích thần kinh

giao cảm làm ức chế quá trình tiết

dịch vị

Thức ăn di chuyển từ dạ

dày xuống ruột từng đợt do các cơ

của dạ dày và cơ thắt - mở môn vị co

bóp nhịp nhàng theo chu kỳ, sự co

bóp của dạ dày và nhất là môn vị

chịu tác động của hàm lượng HCl,

các yếu tố thần kinh và thể dịch

Thức ăn lưu trú trong dạ dày trung

bình từ 4 - 8 giờ phụ thuộc vào lứa

tuổi, giới tinh, trạng thái tâm lý, hoạt

đông thể lực vv nhưng trước hết phụ

thuộc vào tính chất lý hóa của thức

ăn Thức ăn mỡ lưu trú trong dạ dày

lâu nhất,thức ăn lỏng chuyển xuống

ruột ngay sau khi vào dạ dày

c.Tiêu hóa ở ruột non :

Ruột non là đoạn tiếp nối sát ngay dạ

dày ,nó là đoạn dài nhất của ống tiêu

hóa(300-600 cm ).ở đây có cơ chế

chuyển động con lắc:

Vận đông lắc lư : Sự vận động của

các cơ dọc, sự co cuả các cơ đi theo

dưới ), có tác dụng nhào trộn thức ăn

với các dịch ở ruột non.Chiều dài của

mỗi đoạn co bóp khoảng 1cm Như

thế mỗi co bóp gây ra một sự phân

đoạn của ruột non và chia ruột non

thành những đoạn

Cử động nhu động : Sự phối hợp

của hai cơ chế trên và có sự chỉ đạo

của thần kinh và hormone chuyển

thức ăn từ trên xuống dưới

*Tiêu hóa hóa học: Sự bài tiết dịch

ở ruột non

Ở ruột non là đoạn có nhiều dịch tiêu

hóa nhất,ở đây thức ăn chịu tác động

của 3 yếu tố là dịch ruột ,dich tụy

,dịch mật ,chúng được tiết tục tiêu

hóa để hoàn tất quá trình tiêu hóa

vàđược hấp thụ vào máu và bạch

huyết

Dịch ruột : Được các tuyến dịch nằm

ngay trong niêm mạc ruột tiết Dịch

ruột chứa nhiều chất nhầy và men

tiêu hóa :

Peptidaza có tác dụng tiêu hóa đạm

Lipaza có tác dụng tiêu hóa mỡ

Amylaza và Mantaza tiêu hóa

đường

Enterokinaza có tác dụng hoạt hóa

Tripsinogen của dịch tụy thành

Tripsin hoạt động

Dịch tụy : Dịch tuy chảy vào ruột

qua các ống nối tuyến tụy với ruột

Dịch tụy là một chất lỏng không

màu ,có phản ứng kiềm do chứa một

lượng lớn bicacbonat Nó có tác dụng trung hòa a xit của dịch vị , làm cho độ PH của tá tràng là 6,0 -7,0

Dịch tụy chứa nhiều men:

Amylaza ,mantaza :có tác dụng phân giải đường

Lactaza:phân giải đường sữa

Lipaza :phân giải li pid thành

glyxeerin và axit béo Dịch mật : Do các tế bào gan tiết

ra và cũng chảy vào ruột qua các ống mật

Thành phần của mật gồm :

- Muối mật :Chiếm 50 % các chất hòa tan của mật

- Sắc tố mật :là sản phẩm được chế biến từ huyết cầu tố bị phá hủy trong gan

- Các chất điện giải :Na+, K+ ,Cl-, HCO3-

- Cholesterol :Là tiền chất của muối mật do thức ăn cung cấp hoặc được tổng hợp trong các tế bào gan trong quá trình chuyển hóa mỡ

Tác dụng của dịch mật : Hoạt

hóa các men của dịch ruột và dịch tuỵ, đặc biệt là men Lipaza chuyển hóa mỡ Mật có tác dụng biến li pit thành nhũ tương, ngoài

ra còn tăng cường nhu động ruột

Dịch ruột, dịch tụy, dịch mật đều được bài tiết dưới tác động cơ học và hóa học của thức ăn theo cơ chế phản xạ

có điều kiện và phản xạ không điều kiện khi thức ăn vào đến ruột và cả các kích thích phản xạ

có điều kiện

Một số hormone đường tiêu hóa Secretin, Enterogastrin, Serotonin làm tăng bài tiết dịch ruột, dịch tụy, dịch mật

Tất cả các đoạn trên của ống tiêu hóa đều có khả năng hấp thụ các chất, Tuy nhiên

sự hấp thụ các chất dinh dưỡng xảy ra chủ yếu ở ruột non

d.Quá trình tiêu hóa ở ruột già : Khi thức ăn vào đến ruột

già, thức ăn chỉ còn một ít chất dinh dưỡng, ở ruột già có nhều vi khuẩn làm lên men đường và thối rữa đạm, Nhờ

sự lên men này mà thức ăn được phân giải và hấp thụ hoàn toàn.Trong ruột già thức

ăn sẽ bị đặc lại do hút nước

và trở thành phân Phân được cấu tạo từ các chất cặn bã của thức ăn không được tiêu hóa như sắc tố mật, vi khuẩn và các chất nhầy

2 Đặc điểm tiêu hóa trong hoạt động thể lực

Hoạt động thể lực có ảnh hưởng khác nhau đối với quá trình tiêu hóa Có hai mặt :

Một mặt hoạt động thể lực làm tăng cường quá trình trao đổi năng lượng , nâng cao nhu cầu của cơ thể về các chất dinh dưỡng vì vậy làm tăng cường hoạt động của hệ tiêu hóa

Tuy nhiên trong thời gian hoạt động cơ bắp cũng như trong giai đoạn hồi phục, sự tiết dịch của các tuyến dịch tiêu hóa cũng như nhu động của ruột và dạ dày đều giảm tức là hoạt động tiêu hóa giảm Nguyên nhân do :

+Trong hoạt đông thể lực , các trung tâm thần kinh vận động , tuần hoàn , hô hấp hưng phấn mạnh gây ức chế các trung tâm khác không có quan hệ trực tiếp đến hoạt động co cơ trong đó

có trung tâm tiêu hóa

+Trong khi hoạt động

cơ tương quan giữa hệgiao cảm

và phó giao cảm thay đổi nghiêng về phía hệ giao cảm điều đó làm giảm quá trình tiêu hóa

+Adrenalin sinh

ra nhiều trong lớp tủy thượng thận trong hoạt động cơ bắp căng thẳng cũng ức chế tiêu hóa

+Do sự phân phối lại máu trong vận động Trong yên tĩnh dòng máu đến các cơ quan tiêu hóa chiếm 25-30% lượng máu tuần hoàn Trong vận động dòng máu đến với cơ quan tiêu hóa giảm còn 3,5%, điều đó làm việc tiết dịch và háp thụ các chất dinh dưỡng ở các cơ quan tiêu hóa đều giảm đi

*Yêu cầu :

+Không nên tiến hành tập luyện sớm hơn 1,5 – 2 giờ sau khi ăn

+ Không nên tập khi đang đói vì lúc đó dự trữ đường của cơ thể giảm ảnh hưởng đến khả năng hoạt động thể lực của cơ thể

+ Sau khi ăn no cũng không nên tập vì dạ dày đầy cản trở chuyển động của cơ hoành làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của tim và phổi

*Nguy hại

+ Ăn no tập sẽ gây hiện tượng sa dạ dày

+ Bị đau sóc + Tăng thể trọng chung , rối loạn tình hình động tác

+ Tăng nguy cơ xảy ra chấn thương

II SINH LÝ HỆ BÀI TIẾT

1 Chức năng bài tiết của thận: Thận là cơ quan bài

tiết chủ yếu của cơ thể, không có thận động vật không thể tồn tại được.Vai trò chính của thận là tạo nước tiểu, Quá trình tạo nước tiểu ngoài chức năng bài tiết các sản phẩm của quá trình trao đổi chất, còn

có một số tác dụng sinh lý quan trọng là:

- Duy trì nồng độ các chất hữu cơ, muối khoáng và

H2O ở mức bình thường

- Điều hòa áp suất thẩm thấu , cân bằng độ kiềm toan

- Đào thải các chất độc hại, các chất lạ bao gồm cả thuốc ra ngoài cơ thể Ngoài ra trong thận còn có các tế bào nội

tiết chuyên bài tiết một chất có hoạt tính sinh học cao đó là Remin có tác dụng điều hòa huyết áp và quá trình tiết hormone Andosteron của tuyến thượng thận

Để thực hiện những chức năng như trên, thận có một cấu tạo đặc biệt:

Mỗi thận được cấu tạo từ trên 1 triệu đơn vị thận hay hay còn gọi là nephron (nephơron)

- Đơn vị thận được cấu tạo bởi tiểu cầu thận (thể Malpighi) và các ống dẫn nước tiểu

Tiểu cầu thận là các mạch máu nhỏ nằm song song với nhau và tạo thành khối cầu Nó được bao bọc bởi 2 lớp tế bào biểu mô đặc biệt gọi là BoWman Lớp trong của bao Bowman tiếp xúc với các mao mạch của tiểu cầu thận hình thành màng lọc

Lớp ngoài của bowman thắt lại và tiếp tục kéo dài tạo thành các ống thận , ống nối thông với bowman nằm ở vùng vỏ thận được gọi là ống lượn lượn gần, tiếp sau ống lượn gần

là quai henle và cuôi cùng là ống lượn xa , ống này đổ vào ống góp

ống góp không thuộc đơn vị thận mà chỉ nhận nước tiểu từ một số đơn vị thận nhất định để đưa đến bể thận

* Mao mạch thận

Các mạch máu nhỏ của tiểu cầu thận được phân ra từ động mạch thận Các mạch máu nhỏ mang máu đến có đường kính lớn hơn các động mạch mang máu đi điều này có một ý nghĩa rất quan trọng vì

nó tạo nên một huyết áp tương đối cao ở lướ mao mạch nằm giữa hai động mạch đến và đi đó Các động mạch dẫn máu đi khỏi tiểu cầu thận một quãng ngắn lại tiếp tục phân nhánh và tạo thành một lưới mao mạch dày đặc bao quanh các ống lượn và quai henle Cấu tạo bao gồm các mạch máu và ống lượn đan xen, bao bọc lẫn nhau nhiều lần như vậy của đơn vị thận làm cho quá trình lọc

và tái lọc để tạo nước tiểu xảy ra thuận lợi và phù hợp với các quá trình sinh lý của cơ thể Quá trình hình thành nước tiểu xảy ra như sau:

Người ta tính được

áp suất lọc qua tiểu cầu thận là 39 mmHg

Do tác dụng của Remin điều hòa huyết áp và quá trình tiết hocmon Andosteron của tuyến thượng thận

Áp suất cao của bó mạch trong tiểu cầu thận ( 65 -75 mmHg ) có tác dụng đẩy nước vào các chất hòa tan từ lòng mạch qua màng lọc vào khoang của bao bowman.Chất lọc này được gọi là nước tiểu đầu ( có thành phần gần giống huyết tương, chỉ khác là ở nồng

độ Prôtêin thấp và nồng độ các Ion clo, HCO3 cao hơn Cứ 10 lít máu đi

Trang 11

qua tiểu cầu thận thì có 1 lít nước tiểu

đầu

1 ngày thận lọc được

khoảng 180 lít nước tiểu đầu

Nước tiểu đầu đi qua

hệ thống ống lượn gần , ống lượn xa ,

quai Henle , xảy ra quá trình tái hấp

thu các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết

cho cơ thể từ nước tiểu đầu vào máu

1 lượng rất nhỏ ( 1-1,5 lít ) là nước

tiểu mỗi ngày

Sự hấp thu lại các

chất nước tiểu đầu phụ thuộc vào

nồng độ của chúng trong máu Nếu

nồng độ một chất nào đó ở trong máu

( VD Glucose cao hơn mức bình

thường 150-180 mg % ) thì nó sẽ

không được tái hấp thu và bị đào thải

theo nước tiểu

Cơ chế tái hấp thu các chất qua

Hệ bài tiết điều hòa độ kiềm toan

Trong huyết tương

có lon H+ được bài xuất ra từ phản

ứng :

CO2 + H2O

H+ +HCO3

Na+ ở ống thận được

hấp thu lại huyết tương và kết hợp

với HCO3 tạo thành NaHCO3

Độ pH của nước tiểu

từ 5,6 - 6,6

Trong quá trình đào

thải nước tiểu độ pH giảm, nó sẽ huy

động hệ NaHCO3 trung hòa

Điều hòa thận bằng yếu tố thần

kinh và thể dịch

a, Cơ chế thần kinh :

Thần kinh giao cảm

gây hiện tượng co mạch và làm giảm

bài tiết nước tiểu

Vazprexin ( tuyến yên ) hormone

chống lợi tiểu để tăng quá trình tái

hấp thu nước thì lượng nước tiểu

hocmon khác gây co mạch và giãn

mạch cũng ảnh hưởng đến sự bài tiết

nước tiểu

2 Ảnh hưởng của hoạt động thể

lực đối với chức năng bài tiết

- Lượng máu đi đến thận giảm , bình

thường 1lít /1phút Trong vận động

giảm còn 0,25 lít /1phút

- Độ axit của nước tiểu tăng do nồng

độ axitlactic và axit phôtpho ric

- Lượng nước tiểu trong vận động

giảm, các môn hoạt động kéo dài có

thể bị ngừng trệ ( vô niệu )

- Nước tiểu giảm trong hoạt động do

sự bài tiết mồ hôi làm tăng bài tiết

Vazoprexin dẫn đến tăng tái hấp thu

Do thiếu ôxy , tính thấm của tiểu cầu thận thay đổi có một số chất trong nước tiểu như :Anbumin , glucose , protêin , thậm chí có cả hồng cầu

SINH LÝ HỆ THẦN KINH

1 Đặc điểm hoạt động của trung tâm thần kinh

a.Khái niệm về trung tâm thần kinh:

Trung tâm thần kinh

là một tập hợp các nơ ron cùng tham gia vào việc điều khiển một chức năng hoặc thực hiện một phản xạ nào đó của cơ thể khái niệm trung tâm thần kinh không phải là khái niệm cấu tạo ,mà là một khái niệm chức năng Điều

đó có nghĩa là các nơ ron của một trung tâm không nhất thiếtphải nằm ở cùng một địa điểm ở não.Ví dụ: Trung tâm hô hấp ở hành não không có giới hạn rõ rệt

Trung tâm thần kinh

là một bộ phận của cung phản xạ, làm nhiệm vụ phân tích, tổng hợp và xử lý các luồng xung động đi đến từ cơ quan cảm thụ

để tạo ra các luồng xung động ly tâm đi tới các cơ quan hiệu ứng

b Dẫn truyền hưng phấn qua các trung tâm thần kinh:

- Hưng phấn được dẫn truyền theo một chiều : Do

trung tâm thần kinh là nơi tiếp xúc của các tế bào thần kinh, nên

ở đây có các xi náp thần kinh, tại

xi náp có các hóa chất trung gian gây hiện tượng khử cực, xung động chỉ có thể truyền theo một chiều từ mặt trước đến mặt sau xi náp.Vì vậy trong các trung tâm thần kinh ,hưng phấn chỉ đi từ nơ ron cảm giác, qua các nơ ron trung gian đến nơ ron ly tâm theo một chiều

- Dẫn truyền hưng phấn bị chậm lại ở trung tâm thần kinh Khi đi qua các trung

tâm thần kinh tốc độ dẫn truyền hung phấn bị chậm lại .Dẫn truyền hưng phấn bị chậm lại là

do trong các trung tâm tâm thần kinh có các xi náp ,thời gian chậm này chính là thời gian chậm ở xi náp

- Tổng hợp hưng phấn ở trung tâm thần kinh : ở

các trung tâm thần kinh hưng phấn được tổng hợp lại, tức là làm cho phản xạ có thể xuất hiện hoặc tăng lên khi kích thích lặp lại nhiều lần, có hai loại tổng hợp :Tổng hợp theo không gian và tổng hợp theo thời gian

+Tổng hợp theo không gian :khi có một kích thích yếu tác động lên cơ quan cảm thụ thì phản xạ sẽ không xảy

ra nhng nếu cùng một lúc ,ta tác động lên nhiều cơ quan cảm thụ thì phản xạ xẽ xuất hiện do các kích thích yếu đó đã được tổng hơp ở trung tâm thần kinh

+Tổng hợp theo thời gian : nếukích thích yếu tác động lên cơ quan cảm thụ liên tục ,tuần tự chúng cũng có thể gây lên phản xạ

Hiện tượng tổng hợp hưng phấn ở trung tâm thần kinh chính là hiện tượng tổng hợp ở xi náp, tức là tổng hợp hưng phấn

để tạo điện thế động ở màng sau

tức là ở trung tâm thần kinh hưng phấn có thể bị biến đổi nhịp Vì vậy tần số xung động thần kinh

từ trung tâm thần kinh đi đén các

cơ quan hiệu ứng phụ thuộc rất ít vào tần số kích thích ban đầu, trung tâm thần kinh có xu huớng trả lời những kích thích hướng tâm khác nhau bằng một nhip hưng phấn tương đối ổn định riêng của mình

c Đặc điểm phối hợp hoạt động của các trung tâm thần kinh:

Khi luồng xung động được truyền đến trung tâm thần kinh, nó không chỉ chịu những biến đổi tuân theo đặc điểm dẫn truyền hưng phấn qua các trung tâm thần kinh quyết định và gây biến đổi đối với trung tâm thần kinh tiếp nhận kích thích, mà còn tác động đến các trung tâm thần kinh khác nữa Sự tác động đó tuân theo những đặc điểm nhất định

* Hiện tượng cảm ứng: Khi một trung tâm thần

kinh nhận được kích thích từ cơ quan cảm thụ, tức là khi hưng phấn, nó sẽ gây ra những biến đổi nhất định ở các trung tâm thần kinh khác Hiện tượng đó gọi là hiện tượng cảm ứng Ngư-

ời ta phân biệt hai loại cảm ứng :

+ Hiện tượng cảm ứng đồng thời Khi một trung tâm

thần kinh hưng phấn thì những trung tâm thần kinh ở xung quanh và những trung tâm có liên hệ chức năng với nó sẽ bị hạn chế .Nếu quá trình ức chế xảy ra ở một trung tâm thần kinh thì những trung tâm thần kinh ở xung quanh lại hưng phấn

+ Hiên tượng cảm ứng kế tiếp:Khi một trung tâm

thần kinh hưng phấn thì nó sẽ bị

ức chế một thời gian Nếu trạng thái ức chế của một trung tâm thần kinh kết thúc thì khả năng hưng phấn của nó lại tăng lên

* Hiện tượng lan tỏa

và tập trung hưng phấn : Các

xung động hướng tâm không chỉ gây hưng phấn ở trung tâm thần kinh của một cung phản xạ mà còn có thể truyền tới các trung tâm phản xạ khác .Hiện tượng

này gọi là sự lan tỏa của hưng phấn.

Trong điều kiện tự nhiên, hưng phấn có thể tỏa rộng

trong hệ thần kinh trung ương ,song trên thực tế hưng phấn chỉ truyền theo một hướng nhất định và gây ra những phản xạ theo một trình tự nhất định ,vì trong hệ thần kinh trung -uơng có những đường liên hệ ngang

và dọc nhất định Khi lan tỏa, hưng phấn sẽ yếu dần đi và mất hẳn phụ thuộc vào cường độ hưng phấn và trạng thái của các trung tâm thần kinh

Khi kích thích lặp lại nhiều lần, do sự phát triển của các ức chế phân biệt, sự lan tỏa hưng phấn bị hạn chế dần và chỉ xảy ra ở một vài trung tâm nhất định Hiện tượng đó

gọi là sự tập trungcủa hưng phấn.

Hiện tượng lan tỏa và tập trung hưng phấn trong trung tâm thần kinh có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các phản xạ có điều kiện

Hiện tượng lưu dấu vết : Sau

khi hưng phấn , sự thay đổi những đặc tính cơ năng của trung tâm thần kinh còn có thể được bảo tồn một thời gian nhất định .hiện tuợng

đó được gọi là hiện tượng

l-ưu dấu vết Dấu vêt có thể được duy trì từ vài giây đến nhiều năm Hiện tượng lưu dấu vết có vai trò quan trọng trong hoạt động của tất cả các phần của hệ thần kinh tr-ung ương ,nhất là vỏ não hiện tượng lưu dấu vết làm cho hoạt tính chức năng của trung tâm thần kinh được nâng cao Những biến đổi dấu vết ở vỏ não là cơ sở của trí nhớ

Ví dụ phản xạ tiết nước bọt bằng ánh sáng

b.Tính chất

- Không có tính ổn định

cao nếu không thường xuyên liên tục củng cố thì nó sẽ mất đi.Ví dụ : kĩ thuật nhảy xa - động tác này được hình thành trên cơ sở của động tác cũ

vì vậy phải luyện tập thường xuyên

để hình thành định hình động lực

- Phản xạ có điều kiện là phản xạ mang tính vạn năng Ví dụ : trời lạnh thì mặc ấm , trời nóng thì mặc mát

Các phản xạ nhằm mục đích phù hợp với môi trường và nâng cao khả năng thích nghi

- Phản xạ có điều kiện có sự tham gia của vỏ bán cầu đại não

c Phân loại phản xạ có điều kiện

* Dựa theo kích thích của phản xạ có điều kiện phân ra : phản

xạ có điều kiện tự nhiên, phản xạ có điều kiện nhân tạo, phản xạ có điều kiện lưu dấu vết

- Phản xạ có điều kiện tự nhiên : Tính chất của phản xạ là hình

thành có điều kiện tự nhiên, dựa theo kích thích của phản xạ không điều kiện.Ví dụ phản xạ tiết nước bọt khi

có tiếng chuông

11

Ngày đăng: 21/04/2016, 17:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w