Theo quan điểm duy vật biện chứng: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó vật chất giữ va
Trang 1Chương I
1 Quan điểm của chủ nghĩa
DVBC về vật chất? Ý nghĩa
phương pháp luận?
Hoàn cảnh ra đời
Cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX,
các cuộc đấu tranh giữa các
trường phái, các luồng học
thuyết, tư tưởng, chính trị diễn ra
gay gắt khoa học tự nhiên phát
triển như vũ bão và có nhiều
sáng kiến mang tính chất vác thời
đại, đặc biệt là những phát minh,
Rownghen phát hiện ra tia X,
Beccoren phát hiện ra hiện tượng
phóng xạ, Tomxon phát hiện ra
điện tử,…
Những phát minh này chứng
minh rằng sự đồng nhất vật chất
với những dạng cụ thể của vật
chất, với những thuộc tính của
vật chất như quan niệm duy vật
trước Mác đã không còn phù hợp
nữa và trở thành căn cứ để chủ
nghĩa duy tâm lợi dụng chống lại
chủ nghĩa duy vật Họ cho rằng
“vật chất đã tiêu tan”, và toàn bộ
nền tảng của chủ nghĩa duy vật
đx bị sụp đổ hoàn toàn Cuộc
“khủng hoảng của vật lý học” xuất
hiện
Lê nin đã phân tích tình hình
phức tạp ấy và chỉ rõ: Những
phát minh có giá trị to lớn của vật
lý học cận đại không hề bác bỏ
chủ nghĩa duy vật mà chỉ bác bỏ
quan niệm cho rằng thế giới tự
nhiên là có tận cùng về mặt cấu
trúc, rằng nguyên tử hay khối
lượng là giới hạn cuối cùng, bất
biến của giới tự nhiên Lê nin đã
chỉ ra rằng, không phải vật chất
tiêu tan mất, mà chỉ có giới hạn
hiểu biết của con người về vật
chất là tiêu tan Trên cơ sở phân
tích một cách sâu sắc cuộc khủng
hoảng của vật lý học và phê phán
những quan niệm duy tâm, siêu
hình về phạm trù vật chất, Lê nin
đã đưa ra một định nghĩa hoàn
chỉnh về phạm trù vật chất mà
cho đến nay các khoa học hiện
đại vẫn thừa nhận
Nội dung định nghĩa Trong tác phẩm “chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lê nin đã định nghĩa: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khác quan, được đem lại cho con người trong cảm giác và được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Phân tích nội dung định nghĩa
Trong định nghĩa này của Lênin
đã chỉ rõ vật chất là một phạm trù triết học như vậy phạm trù vật chất của triết học là một phạm trù
có tính khái quát nhất, dùng chỉ vật chất nói chung, vô tận, vô hạn, không sinh ra, không mất đi;
không giống với khái niệm vật chất trong một số ngành khoa học cụ thể hay trong đời sống hằng ngày Vì vậy không được đồng nhất vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với các dạng tồn tại cụ thể của nó mà các nhà khoa học nghiên cứu
Vật chất có thuộc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất là thực tại khách quan và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Thực tại khách quan là tồn tại thực và không phụ thuộc vào ý thức con người Thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người là điều kiện cần và đủ
để phân biệt cái gì thuộc về vật chất và cái gì không thuộc về vật chất, cả trong tự nhiên và đời sống xã hội Tất cả những gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức con người đều là những dạng khác nhau của vật chất Ví
dụ những quan hệ kinh tế - xã hội, những quan hệ sản xuất của
xã hội…tuy không tồn tại dưới dạng các vật thể, cũng không mang thuộc tính năng lượng, khối lượng, cũng không có cấu trúc phân tử, nguyên tử nhưng chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức và quyết định ý thức
Thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh Vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại trừu tượng mà là sự tồn tại hiện thực, cụ thể, cảm ứng Khi vật chất tác động đến các giác quan của con người thì gây ra cảm giác ở con người, đem lại cho con người sự nhận thức về chính nó Như vậy, khả năng nhận thức của con người đối với vật chất chính là xuất phát
từ thuộc tính tồn tại cảm tính -tức tồn tại có thể nhận thức được của bản thân vật chất Vật chất đem lại cho con người trong cảm giác, điều này nói lên rằng, thực tại khách quan (vật chất) có trước, cảm giác của con người có sau Cảm giác của con người có thể chép lại, chụp lai, phản ánh được thực tại khách quan Thực tại khách quan không tồn tain trừu tượng mà tồn tại thông qua các dạng tồn tại cụ thể của mình
và bằng cảm giác của có người
có thể nhận thức được Điều này cũng có nghĩa là, thực tại khách quan là nội dung khách quan, nguồn gốc hách quan của những cảm giác của con người
Như vậy định nghĩa vật chất của Leenin đã giải quyết được cả 2 vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng, bao gồm những nội dung sau: Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được Vật chất là cái gây nên cảm giác
ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan của con người
Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất
Ý nghĩa phương pháp luận
Định nghĩa vật chất của Lênin đã
bỏ qua quan điểm của chủ nghĩa
Trang 2duy tâm, bác bỏ thuyết không thể
biết, đã khắc phục được những
hạn chế trong các quan điểm của
chủ nghĩa duy vật trước Mác về
vật chất Đồng thời định nghĩa vật
chất của Lênin còn có ý nghĩa
định hướng đối với khoa học cụ
thể trong việc tìm kiếm các dạng
hoặc các hình thức mới của vật
thể trong thế giới
Khi nhận thức các hiện tượng
thuộc đời sống xã hội, định nghĩa
vật chất của Lênin cho phép xác
định cái gì là vật chất trong lĩnh
vực xã hội Từ đó giúp các nhà
khoa học có cơ sở lý luận để giải
thích những nguyên nhân cuối
cùng của các biến cố xã hội,
những nguyên nhân thuộc về sự
vận động của phương thức sản
xuất; trên cơ sở ấy, người ta có
thể tìm ra các phương án tối ưu
để hoạt động thúc đẩy xã hội phát
triển
Nội dug định nghĩa vật chất của
Lênin đã khắc phục được tính
trực quan, siêu hình, máy móc
trong quan niệm về vật chất của
chủ nghĩa duy vật cũ, do đó làm
chủ nghĩa duy vật phát triển lên
một trình độ mới, trở thành chủ
nghĩa duy vật biện chứng tạo cơ
sở khoa học cho quan niệm duy
vật trong lĩnh vực xã hội, đó là
chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng
thời cũng tạo cơ sở khoa học cho
sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy
vật biện chứng với chủ nghĩa duy
vật lịch sử
Định nghĩa về vật chất của Lênin
là cơ sở của thế giới quan khoa
học và phương pháp luận đúng
đắn cho các nhà khoa học nghiên
cứu thế giới vật chất
Chuong I.
3 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa của phương pháp luận.
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
- Vật chất là 1 phậm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
- Về bản chất, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Theo quan điểm duy vật biện chứng: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức
Trong mối quan hệ đối với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất
Vật chất có trước, ý thức có sau
Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức vfa là nguồn gốc sinh ra ý thức Não người là dạng vật chất cao có tổ chức của thế giới vật chất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong qua trình phản ánh thế giới khách quan
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thế giới khách quan Thế giới khách quan là nguồn gốc của
ý thức, quyết định nội dung của ý thức Sự vận động và phát triển
của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không những quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức
Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất
Ý thức có tính năng động, sáng tạo nên tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan,
có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất Nhưng nếu ý thức không phản ánh đúng hiện thực khách quan,
ở mức độ nhất định có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người dù đến mức độ nào thì vẫn dựa trên những tri thức của mình về thế giới khách quan hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp thực hiện và ý chí thực hiện mục tiêu đó
Vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thức con người trong quá trinhg cải tạo thế giới hiện thực được phát triển đến mức độ nào vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới khách quan và các điều kiện khách quan
Không bao giờ ý thức lại quyết định vật chất Trái lại, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo của ý thức; là điều kiện tiên quyết
để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động trở lại vật chất,
sự tác động ấy không phải tự
Trang 3thân mà phải thông qua hoạt
động thực tiễn của con người
Sức mạnh của ý thức trong sự
tác động này phụ thuộc vào trình
độ phản ánh của ý thức, mức độ
thâm nhập của ý thức vào những
hành động, trình độ tổ chức của
con người và những điều kiện vật
chất, hoàn cảnh vật chất trong đó
con người hành động theo định
hướng của vật chất
Ý nghĩa phương pháp
luận
Trên cơ sở quan điểm về bản
chất vật chất của thế giới, bản
chất năng động, sáng tạo của ý
thức và mối quan hệ biện chứng
giữa vật chất và ý thức, chủ
nghĩa duy vật biện chứng xây
dựng nên 1 nguyên tắc phương
pháp luận cơ bản, chung nhất đối
với mọi hoạt động nhận thức và
thực tiễn của con người Nguyên
tắc đó là: trong mọi hoặt động
nhận thức và thực tiễn đòi hỏi
phải xuất phát từ thực tế khách
quan, tôn trọng khách quan, đồng
thời phát huy tính năng động chủ
quan
Xuất phát từ thực tế khách
quan, tôn trọng khách quan là
xuất phát từ khách quan của vật
chất, có thái độ tôn trọng đối với
hiện thực khách quan mà căn
bản là tôn trọng quy luật, nhận
thức và hành động theo quy luật;
tôn trọng vai trò quyết định của
đời sống vật chất đối với đời sống
tinh thần của con người, của xã
hội Điều đó đòi hỏi trong nhận
thức và hành động của con người
phải xuất phát từ thực tế khách
quan để xác định mục đích, đề ra
đường lối, chủ trường, chính
sách, kế hoạch; phải lấy thực tế
khách quan làm cơ sở, phương
tiện; phải tìm ra những nhân tố
vật chất, tổ chức những nhân tố
ấy thaanhf lực lượng vật chất để
hành động
Phát huy tính năng động chủ
quan là phát huy vai trò tích cực,
năng động, sáng tạo của ý thức
và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo đó
Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Ý thức muốn tác động trở lại đời sống hiện thực phải bằng lực lượng vật chất Để phát huy tính năng động, sáng tạo ddosddoif hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá náo vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướng dẫn quần chúng hành động Mặt khác phải tự giác
tu dưỡng, tu dưỡng để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động
Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trong nhận thức đòi hỏi phải phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí; đó
là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan thay cho chính sách, lấy tính cách làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược,… Đây cũng là quá trình chống chủ nghĩa khinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lý luận, thụ động… trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Chương II.
1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.(trang 1)
1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Khái niệm Mối liên hệ phổ biến là khái niệm chỉ mọi sự ràng buộc, tác động ảnh hưởng lẫn nhau của các sự vật hiện tượng và trong điều kiện nhất định gây nên sự chuyển hóa
Tính chất
Tính khách quan
Đó là mối liên hệ hiện thực của bản thân thế giới vật chất chứ không phải do thượng đế hay người ta tự nghĩ ra
Trong hiện thực có rất nhiều mối liên hệ như giữa cái vật chất với cái tinh thần, giữa những hiện tượng tinh thần với nhau,… Tất
cả suy cho cùng đều là sự phản ánh mối liên hệ phổ biến và sự quy định lần nhau giữa cacsuwj vật hiện tượng của thế giới khách quan
Tính phổ biến
Đó là thể hiện sự liên hệ giữa các
sự vật hiện tượng với nhau, liên
hệ giữa các yếu tố, các thuộc tính, đặc trưng… trong từng sự vật, hiện tượng
Mối liên hệ tồn tại trong mỗi sự vật cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Ví dụ: + Liên hệ giữa mặt trời và trái đất
+ Liên hệ thực vật với động vật
+ Liên hệ con người – tự nhiên – xã hội
Tính đa dạng của sự liên
hệ qua lại đó
Có liên hệ bên ngoài, có mối liên
hệ bên trong
Có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu
Có mối liên hệ chung bao quat toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của thế giới đó
Trang 4Có mối liên hệ trực tiếp, có mối
liên hệ gián tiếp mà trong đó có
sự tác động qua lại được thực
hiện thông qua một hay một số
khâu trung gian
Có mối liên hệ bản chất và mối
liên hệ không bản chất, liên hệ tất
yếu và liên hệ ngẫu nhiên
Có mỗi liên hệ giữa các sự vật
khác nhau, có mối liên hệ giữa
các mặt khác nhau của cùng 1 sự
vật
Sự vật, hiện tượng nào cũng vận
động và phát triển qua nhiều giai
đoạn khác nhau, giữa các giai
đoạn đó cũng có mối liên hệ với
nhau tạo thành lịch sử phát triển
hiện thực của các sự vật và các
quá trình tương ứng…
Tính đa dạng của sự liên hệ do
tính đa dạng trong sự tồn tại, sự
vận động và phát triển của chính
các sự vật và hiện tượng quy
định
1.2 Nguyên lý về sự phát
triển của phép BCDV.
Khái niệm
Quan điểm siêu hình xem phát
triển chỉ là sự tăng lên hay giảm
đi thuần túy về lượng, không có
sự thay đổi về chất, có thay đổi
về chất đi nữa thì nó cũng chỉ
diễn ra theo 1 vòng trong khép
kín
Quan điểm duy vật biện chứng:
Phát triển là 1 phạm trù triết học
dùng để khái quát hóa quá trình
vận động tiến hóa từ thấp lên
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn
Phân biệt giữa phát triển và vận
động: Theo quan điểm DVBC,
phát triển là 1 trường hợp đặc
biệt của sự vận động Trong qua
trình phát triển sẽ nảy sinh những
tính quy định mới cao hơn về vật
chất, nhờ vậy làm tăng cường
tính phức tạp của sự vật và sự
liên hệ, làm cho cả cơ cấu tổ
chức, phương thức tồn tại và vận
động của sự vật cùng chức năng
vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn
Tính chất
Tính khách quan
Theo quan điểm DVBC, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật do mâu thuẫn của sự vật quy định Phát triển trong quan điểm DVBC, là quá trình tự thân của mọi sự vật
và hiện tượng Do vậy, phát triển
là một quá trình khách quan độc lập với ý thức con người
Tính phổ biến
Tính phổ biến của sự phát triển với nghĩa là sự phát triển diễn ra
ở tất cả mọi lĩnh vực – từ tự nhiên đến xã hội đến tư duy, từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù khách quan phản ánh hiện thực ấy
Tính chất phức tạp của sự phát triển
Phát triển không đơn giản là chỉ
sự tăng hay giảm đơn thuần về lượng, mà bao hàm cả sự nhảy vọt về chất
Phát triển không loại trừ sự lặp lại hoặc thậm chí tạm thời đi xuống trong trường hợp cá biệt,
cụ thể Nhưng xu hướng chung là
đi lên, tiến bộ
Phát triển bao hàm cả sự phủ định cái cũ và cả sự nảy sinh cái mới sự lặp lại dường như cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn Do vậy, phát triển là con đường xoáy
ốc từ thấp đến cao
Trang 5Chương II.
1 Hai nguyên lý cơ bản của
phép biện chứng duy vật.
(trang 2)
1.3 Ý nghĩa phương pháp
luận của 2 nguyên lý trên.
Quan điểm toàn diện
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến của các sự
vật hiện tượng, chúng ta cần rút
ra quan điểm toàn diện trong việc
nhận thức, xem xét các sự vật và
hiện tượng cũng như trong hoạt
động thực tiễn
Với tư cách là một nguyên tắc
phương pháp luận trong việc
nhận thức các sự vật và hiện
tượng, quan điểm toàn diện đòi
hỏi để có được nhận thức đúng
đắn về sự vật, chúng ta phải xem
xét nó:
Một là, trong mối liên hệ
qua lại giữa các bộ phận, giữa
các yếu tố các thuộc tính khác
nhau của chính sự vật đó
Hai là, trong mối liên hệ
qua lại giữa các sự vật đó với các
sự vật khác
Hơn thế nữa, quan điểm toàn
diện còn đòi hỏi để nhận thức
được sự vật, chúng ta cần xem
xét nó trong mối liên hệ với nhu
cầu thực tiễn của con người
Ý thức được điều đó, chúng ta sẽ
tránh được việc tuyệt đối hóa
những tri thức đã có về sự vật,
tránh xem đó là những chân lý
bất biến, tuyệt đối không thể bổ
sung, không thể phát triển
Quan điểm toàn diện đối lập với
quan điểm phiến diện và khác với
chủ nghĩa chiết trung và thuật
ngụy biện
Từ những điều vừa trình bày, có
thể rút ra rằng, quá trình hình
thành quan điểm toàn diện đúng
đắn với tư cách là nguyên tắc
phương pháp luận để nhận thức
sự vật sẽ phải trải qua các giai
đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban
đầu về cái toàn thể đến nhận
thức một mặt, một mối liên hệ
nào đó của sự vật đó; cuối cũng
khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật
1.4 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn phải sử dụng đồng
bộ nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay đổi những liên
hệ tương ứng
Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cũng đồng thời coi đổi mới
tư duy lý luận, tư duy chính trị về CNXH là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm
Cần lưu ý rằng mọi sự vật đều tồn tại trong không gian – thời gian nhất định mang dấu ấn của không gian – thời gian đó Do vậy, chúng ta cần có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét và giải quyết moi vấn đề do thực tiễn đặt ra
Quan điểm lịch sử - cụ thể
Khi xem xét và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra đồi hỏi chúng ta phải chú ý đúng mức tới hoàn cảnh lịch sử - cụ thể đã làm phát sinh vẫn đề đó tới sự ra đời
và phát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực- cả khách quan lẫn chủ quan Khi quan sat một quan điểm, một luận thuyết cũng phải đặt nó trong những mối quan hệ như vậy Chân lý sẽ trở thành sai lầm, nếu nó bị đẩy ra ngoài giới hạn tồn tại của nó
Quan điểm phát triển
Quan điểm duy vật biện chứng vè
sự phát triển cung cấp cho chúng
ta phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới là:
khi xem xét các sự vật và hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, trong sự phát triển, phải
phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng Quan điểm phát triển với tư cách
là nguyên tắc phương pháp luận
để nhận thức sự vật hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến
Hơn nữa, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là cái đang có mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó Trong quá trình phát triển, sự vật thường đồng thời có những sự biến đổi tiến lên và có cả những biến đổi thụt lùi
Sự phát triển của các sự vật và hiện tượng thực tế là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn Do vậy, quan điểm phát triển được vận dụng vào quá trình nhận thức cũng đòi hỏi chúng ta phải thấy rõ tính phức tạp của quá trình phát triển như là một hiện tượng phổ biến
Vận dụng quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận của hoạt động thực tiễn nhằm thúc đẩy sự phát triển theo quy luật vốn có của nó đòi hỏi chúng ta phải tìm ra mâu thuẫn của chính sự vật, và bằng hoạt động thực tiễn mà giải quyết mâu thuẫn Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển
Sự phát triển biện chứng của các quá trình hiện thực và của tư duy được thực hiện bằng con đường thông qua những sự tích lũy về lượng mà tạo ra sự thay đổi về chất, thông qua phủ định của phủ định Do vậy, việc vận dụng quan điểm phát triển vào hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo sự vật đòi hỏi chúng ta phải phát huy nỗ lực của mình trong việc hiện thực hóa 2 quá trình nêu trên
Trang 6Chương II.
2 Thực tiễn – vai trò của
thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn là toàn bộ hoạt
động vật chất có mục đích , mang
tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải biến tự nhiên và
xã hội
Khác với hoạt động khác , hoạt
động thực tiễn là loại hoạt động
mà con người sử dụng những
công cụ vật chất tác động vào
những đối tượng vật chất nhất
định , làm biến dổi chúng theo
mục đích của mình Đó là những
hoạt động đặc trưng và bản chất
của con người .Nó được thực
hiện một cách tất yếu khách quan
và không ngừng phát triển bởi
con người qua các thời kỳ lịch
sử Chính vì vậy , hoạt động
thực tiễn bao giờ cũng là hoạt
động vật chất mang tính chất
sáng tạo và có tính mục đích , tính lịch sử- xã hội
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
- Thực tiễn đóng vai trò là
cơ sở, động lực , mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý , kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức
Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức ; nó đề ra nhu cầu ,nhiệm vụ , cách thức , khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức Chính con người có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật , hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Sự tác động đó làm cho sự vật , hiện tượng bộc lộ những thuộc tính , những mối liên
hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng , đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất , các quy luật vận động và phát triển của thế giới
Thực tiễn là cơ sở , động lực vầ mục đích của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện ; năng lực
tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển
Thực tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn của chân lý , kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức Điều này có nghĩa thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức Đồng thời , thực tiễn không ngừng bổ xung , điều chình , chỉnh sửa , phát triển và hoàn thiện nhận thức
Thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức , là yếu
tố đóng vai trò quyết định đối với
sự hình thành và phát triển của nhân thức mà còn là nơi nhân thức phải luôn luôn hướng tới để
thể nghiệm tính đúng đắn của mình
=>Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải luôn xuất phát từ thực tiễn , dựa trên cơ sở thực tiễn , đi sâu vào thực tiễn , phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn
Trang 7Chương I.
2 Quan điểm của chủ nghĩa
DVBC về ý thức? Ý nghĩa
phương pháp luận.
Nguồn gốc của ý thức.
Theo triết học duy vật biện
chứng, ý thức của con người là
sản phẩm của quá trình phát triển
của cả tự nhiên và lịch sử xã hội
Vì vậy để hiểu đúng nguồn gốc
và bản chất của ý thức cần phải
xem xét nguồn gốc của ý thức
trên cả hai mặt tự nhiên của xã
hội
Nguồn gốc tự nhiên
Chủ nghĩa duy vật biện chứng
cho rằng ý thức không phải có
nguồn gốc siêu tự nhiên, không
phải ý thức sản sinh ra vật chất
mà khẳng định ý thức là một
thuộc tính của vật chất nhưng
không phải là của mọi dạng vật
chất, mà chỉ là thuộc tính của một
dạng vật chất có tổ chức cao là
bộ óc con người Bộ óc người là
cơ quan vật chất của ý thức Ý
thức là chức năng của bộ óc con
người Ya thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc con người
Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng riêng của con người, được phát triển từ thuộc tính phản ánh
có ở mọi dang vật chất Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của một hệ thống vật chất này, những đặc điểm của hệ thống vật chất khác khi hia hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau
Nội dung và hình thức phản ánh phụ thuộc vào trình độ tổ chức của vật phản ánh và vật được phản ánh Vì vậy cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến cao Như vậy ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất nhưng ý thức lại là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao
là bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người Bộ não người và sự tác động của thế giới vật chất xung quanh lên bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Nguồn gốc xã hội.
Triết học duy vật biện chứng chỉ
ra chính lao động và ngôn ngữ là
2 nguồn gốc xã hội quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức
Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình, là một quá trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa con người và tự nhiên Lao động là điều kiện tự nhiên và chủ yếu để con người tồn tại Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, bắt khách quan bộc
lộ những thuộc tính Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con người, làm biến đổi thế giới đó Ý thức với tư cách là hoạt động phản ánh sang tạo
không thể có được bên ngoài quá trình lao động của con người làm biến đổi thế giới xung quanh Vì thế có thể nói rằng lao động tạo
ra ý thức tư tưởng hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng
là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao động của con người Lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu mang nội dung ý thức Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Ý thức không phải thuần túy là hiện tượng cá nhân mà là hiện tượng xã hội, do đó không
có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được
Bản chất của ý thức.
Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức như 1 thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, là cái có trước từ đó sinh ra vật chất Chủ nghĩa duy tâm tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phán ánh đơn giản, thụ động thế giới vật chất Cả 2 quan niệm đó đều sai lầm Chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý luận phản ánh: về bản chất, coi ý thức
là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sang tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Ý thưức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, nó không
có tính vật chất Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Phản ánh ý thức là sáng tạo, do nhu cầu thực tiễn quy định Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi chủ thể phải nhận thức cái phản ánh Sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của
Trang 8phản ánh, dựa trên cơ sở phán
ánh
Phản ánh ý thức là tích cực, chủ
động
Ý thức là 1 hiện tượng xã hội
Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn
liền với hoạt động thực tiễn, chịu
sự chi phối không chỉ các quy luật
sinh học mà chủ yếu là quy luật
xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã
hội và các điều kiện sinh hoạt
hiện thực của con người quy
định Ý thức mang bản chất xã
hội
Kết cấu của ý thức.
Ý thức là 1 hiện tượng tâm lý –
xã hôi có kết cấu rất phức tạp
bao gồm nhiều thành tố khác
nhau có quan hệ với nhau Có
thể chia cấu trúc của ý thức theo
2 chiều:
Theo chiều ngang: Bao
gồm các yếu tố như tri thức, tình
cảm, niềm tin, lý trí,… trong đó trí
thức là yếu tố cơ bản và cốt lõi
Theo chiều dọc: Bao gồm
các yếu tố như tự ý thức, tiềm
thức, vô thức
Chương II:
3 Các cặp phạm trù (trang 1)
Nguyên nhân và kết quả.
Khái niệm
Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau từ đó tạo nên sự biến đổi nhất định Phạm trù kết quả dùng để chỉ những sự biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật , hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau
Mối liên hệ biện chứng
Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả.Tuy nhiên không phải hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan hệ nguyên nhân.Ví dụ như ngày kế đêm, mùa hè kế tiếp mùa xuân… cái quan hệ nhân quả phân biệt với quan hệ kế tiếp là ở chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh ra nhau
Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân : kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnh hưởng đó thể hiện theo hai hướng : thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân
Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau: điều này
có nghĩa là sự vật , hiện tượng nào trong mối quan hệ này là nguyên nhân và trong mối quan
hệ khác là kết quả và ngược lại
Ý nghĩa phương pháp luận
Mối liên hệ nhân ủa có tính khách quan và phổ biến nghĩa là không
có sự vật hiện tượng nào trong thế giới vật chất là không có nguyên nhân Nhưng không phải con người nhận thức ngay được
trong mọi nguyên nhân Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ đầu óc của con người , tách rời thế giới hiện thực
Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một sự vật hiện tượng nào đó cần tìm trong những sự kiện Một kết quả có thể có do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải loại bỏ các nguyên nhân thứ yếu để tìm ra nguyên nhân cơ bản chủ yếu ; nguyên nhân bên trong nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân chủ quan nguyên nhân khách quan… đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực do kết quả có tác động trở lại nguyên nhân Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải khai thác tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng nhằm đạt được mục đích
Liên hệ:
Cách mạng tháng tám nổ ra và thành công là kết quả tổng hợp giữa các nguyên nhân khách quan (Pháp bị Nhật đảo chính, Nhật đầu hàng các đồng minh…)
và nguyên nhân chủ quan là có
sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng, có khối đại đoàn kết toàn dân, tinh thần yêu nước
Trang 9và cách mạng của quần chúng
nhân dân
Trên cơ sở quán triệt mối quan
hệ biện chứng giữa nguyên nhân
kết quả , rút kinh nghiệm từ
những sai lầm chủ quan, Đại hội
VI của Đảng(1986) Đảng đã chỉ
rõ bài học kinh nghiệm và đề ra
phương hướng , biện pháp khắc
phục nhằm từng bước sữa chữa
những sai lầm , đưa đất nước ra
khỏi cuộc khủng hoảng bằng việc
khởi xướng và lãnh đạo công
cuộc đổi mới toàn diện sâu sắc
trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống cũng từ những sai lầm
khuyết điểm chủ quan, ĐH VI của
Đảng đã rút ra 4 bài học kinh
nghiệm :
Một là : toàn bộ hành động của
mình Đảng ta phải có những tư
tưởng “lấy dân làm gốc” xây
dựng và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân lao động
Hai là : Đảng phải luôn xuất phát
từ thực tế tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan , năng
lực nhận thức và hành động theo
quy luật là điều kiện cho sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng
Ba là : phải biết kết hợp sức
mạnh của dân tộc và sức mạnh
của thời đại trong điều kiện mới
Bốn là: phải xây dựng Đảng
ngang tầm nhiệm vụ chính trị của
một Đảng cầm quyền lãnh đạo
nhân dân tiến hành cuộc
CM-XHCN
Từ sau khi bắt đầu công cuộc đổi
mới đến nay ,qua quá trình thực
hiện nước ta đã đạt được những
thành tựu rất quan trọng Đến ĐH
VIII đất nước ta đã khắc phục
được tình trạng khủng hoảng
KT-XH và chuyển sang thời kì
mới-thời kì CNH-HĐH đất nước văn
kiện Đại hội VIII của Đảng(tháng
6-1996) nhận định : “Nước ta đã
rút khỏi khủng hoảng kinh tế- xã
hội, tuy còn một số mặt chưa
vững chắc”
Dựa trên việc tổng kết
những nguyên nhân chủ quan và
khách quan từ nguyên nhân của những thành tựu khởi đầu, những yếu kém và khuyết điểm sau hơn
15 năm đổi mới, Đảng ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu là:
Một là : trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Hai là : đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân phù hợp với thực tiễn luôn sáng tạo
Ba là : đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Bốn là : đường lối đúng dadwnss của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới
Tóm lại, việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả , xác định được mức độ vai trò của những nguyên nhân ấy đối với những thất bại cùng những thành tựu trong công cuộc đổi mới xây dưng đất nước để có những biện pháp khắc phục những tác động thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu mong muốn là những nguyên tắc đảm bảo sự thành công của Đảng và nhà nước ta cũng như từng Đảng viên , công nhân viên chức
Chương III
1 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng?
Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội
Cơ sở hạ tầng của xã hội, trong
sự vận động của nó,được tạo nên bởi cả ba loại hình quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư và quan
hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thức mầm mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai, trong đó quan hệ sản xuất thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của một
xã hội nhất định Sự tồn tại của
ba loại hình quan hệ sản xuất cấu thành cơ sở hạ tầng của một xã hội phản ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của lực lượng sản xuất với các tính chất: kế thừa, và phát triển
VD1: Về xây dựng khu dân cư
hoặc nơi sinh sống thì cơ sở hạ tầng chính là đường sá, cầu cống, trường học, bệnh viện,
Cơ sở hạ tầng mang ý nghĩa là những sự vật, sự việc mang tính chất cơ bản nhất của 1 vấn đề hay 1 lĩnh vực nào đó
VD2: Trong xã hội phong kiến
ngoài quan hệ sản xuất phong kiến chiếm địa vị thống trị, nó còn
có quan hệ sản xuất tàn dư của
xã hội chiếm hữu nô lệ, mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và chính 3 yếu tố
đó cấu thành nên cơ sở hạ tầng phong kiến
Kiến thúc thượng tầng: Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những hệ thống kế cấu các hình thái ý thức (pháp luật, tôn giáo,
…) cùng các thể chế chính trị xã hội tương ứng (nhà nước, giáo
Trang 10phái, …) được hình thành trên 1
cơ sở hạ tầng nhất định
Mối quan hệ biện chứng
giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng:
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng là hai phương diện
cơ bản của đời sống xã hội đó là
phương diện kinh tế và phương
diện chính trị - xã hội, chúng có
quan hệ thống nhất biện chứng
với nhau, tác động lẫn nhau trong
đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò
quyết định đối với kiến trúc
thượng tầng; kiến trúc thượng
tầng có sự tác động trở lại cơ sở
hạ tầng đã sản sinh ra nó
Vai trò quyết định của cơ
sở hạ tầng đối với kiến trúc
thượng tầng
Vai trò quyết định của cơ sở hạ
tầng đối với kiến trúc thượng tầng
được thể hiện trên nhiều phương
diện:
Một CSHT sinh ra một
KTTT tương ứng
Mọi biến đổi của CSHT
đến dẫn đến sự biến đồi của
KTTT
Mâu thuẫn của CSHT
được phản ánh thành sự mẫu
thuẫn trong KTTT
Sự đấu tranh giành quyền
lợi về cơ sở kinh tế là nguyên
nhân của sự đấu tranh giành
quyền lợi về chính trị xã hội
Giai cấp nắm giữ tư liệu
sx là giac cấp nắm giữ quyền lực
Các chính sách, pháp luật
của nhà nược suy cho cùng cũng
chỉ phản ánh nhu cầu thống trị về
kinh tế của giai cấp nắm giữ, sở
hữu các tư liệu xuât
VD: Cơ chế bao cấp tương ứng
với nó là nhà nước xơ cứng,
Mệnh lệnh quan liêu
Cơ chế thị trường tương ứng với
nó là nhà nước năng động, hoạt
động có hiệu quả
Vai trò tác động trở lại của
kiến trúc thượng tầng đối với cơ
sở hạ tầng
Sự tác động của KTTT lên CSHT thông qua nhiều phương thức:
phụ thuộc vào bản chất của các nhân tố trong KTTT, phụ thuộc vào vị trí, vai trò của nó trong những đk cụ thể, Nếu có yếu tố nhà nc thì nhà nc đóng vai trò tác động chính
Tác động của KTTT lên CSHT theo hai hướng, tích cực và tiêu cực:
Tích cực: các yếu tổ của KTTT phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế ->
thúc đẩy kinh tế phát triển
Tiêu cực: Các yếu tổ của KTTT không phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh
tế -> kìm hãm sự phát triển kinh tế
Phản ánh mâu thuẫn giai cấp theo 2 hướng:
Duy trì cơ sở kinh tế hiện tại, duy trì xã hội hiện tại
Xóa bỏ nền kinh tế cũ, đấu tranh xác lập một nền kinh tế mới, xây dựng một thể chế XH khác
Tuy nhiên, dù kiến trúc thượng tầng có tác động như thế nào tới
cơ sở hạ tầng thì nó cũng không thể giữ vai trò quyết định cơ sở
hạ tầng của xã hội
Ví dụ: Nhà nước tư sản hiện dại
củng cố, bảo vệ, phát triển sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất Còn nhà nước vô sản thì bảo vệ, phát triển sở hữu xã hội(Tập thể)
Chương III:
câu 2 Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội (trang 2)
Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức
xã hội chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển ý thức xã hội, nó bác bỏ quan điểm siêu hình, máy móc, tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
*Ý nghĩa phương pháp luận:
Tồn tại tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống
xã hội Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội Cần thấy rằng, thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thưc xã hội;mặt khác cũng cần thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu dẫn đến những thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại, những tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng
có thể tạo ra những bến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại
xã hội
*Liên hệ
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, Đảng ta khẳng định, phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN và mở rộng giao lưu quốc tế song song với việc quan tâm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam