1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tổng hợp câu hỏi ôn thi tốt nghiệp môn Triết học có đáp án

14 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 59,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm duy vật biện chứng: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó vật chất giữ va

Trang 1

Chương I

1 Quan điểm của chủ nghĩa

DVBC về vật chất? Ý nghĩa

phương pháp luận?

Hoàn cảnh ra đời

Cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX,

các cuộc đấu tranh giữa các

trường phái, các luồng học

thuyết, tư tưởng, chính trị diễn ra

gay gắt khoa học tự nhiên phát

triển như vũ bão và có nhiều

sáng kiến mang tính chất vác thời

đại, đặc biệt là những phát minh,

Rownghen phát hiện ra tia X,

Beccoren phát hiện ra hiện tượng

phóng xạ, Tomxon phát hiện ra

điện tử,…

Những phát minh này chứng

minh rằng sự đồng nhất vật chất

với những dạng cụ thể của vật

chất, với những thuộc tính của

vật chất như quan niệm duy vật

trước Mác đã không còn phù hợp

nữa và trở thành căn cứ để chủ

nghĩa duy tâm lợi dụng chống lại

chủ nghĩa duy vật Họ cho rằng

“vật chất đã tiêu tan”, và toàn bộ

nền tảng của chủ nghĩa duy vật

đx bị sụp đổ hoàn toàn Cuộc

“khủng hoảng của vật lý học” xuất

hiện

Lê nin đã phân tích tình hình

phức tạp ấy và chỉ rõ: Những

phát minh có giá trị to lớn của vật

lý học cận đại không hề bác bỏ

chủ nghĩa duy vật mà chỉ bác bỏ

quan niệm cho rằng thế giới tự

nhiên là có tận cùng về mặt cấu

trúc, rằng nguyên tử hay khối

lượng là giới hạn cuối cùng, bất

biến của giới tự nhiên Lê nin đã

chỉ ra rằng, không phải vật chất

tiêu tan mất, mà chỉ có giới hạn

hiểu biết của con người về vật

chất là tiêu tan Trên cơ sở phân

tích một cách sâu sắc cuộc khủng

hoảng của vật lý học và phê phán

những quan niệm duy tâm, siêu

hình về phạm trù vật chất, Lê nin

đã đưa ra một định nghĩa hoàn

chỉnh về phạm trù vật chất mà

cho đến nay các khoa học hiện

đại vẫn thừa nhận

Nội dung định nghĩa Trong tác phẩm “chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lê nin đã định nghĩa: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khác quan, được đem lại cho con người trong cảm giác và được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

Phân tích nội dung định nghĩa

Trong định nghĩa này của Lênin

đã chỉ rõ vật chất là một phạm trù triết học như vậy phạm trù vật chất của triết học là một phạm trù

có tính khái quát nhất, dùng chỉ vật chất nói chung, vô tận, vô hạn, không sinh ra, không mất đi;

không giống với khái niệm vật chất trong một số ngành khoa học cụ thể hay trong đời sống hằng ngày Vì vậy không được đồng nhất vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với các dạng tồn tại cụ thể của nó mà các nhà khoa học nghiên cứu

Vật chất có thuộc tính cơ bản nhất, quan trọng nhất là thực tại khách quan và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác Thực tại khách quan là tồn tại thực và không phụ thuộc vào ý thức con người Thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức con người là điều kiện cần và đủ

để phân biệt cái gì thuộc về vật chất và cái gì không thuộc về vật chất, cả trong tự nhiên và đời sống xã hội Tất cả những gì tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức con người đều là những dạng khác nhau của vật chất Ví

dụ những quan hệ kinh tế - xã hội, những quan hệ sản xuất của

xã hội…tuy không tồn tại dưới dạng các vật thể, cũng không mang thuộc tính năng lượng, khối lượng, cũng không có cấu trúc phân tử, nguyên tử nhưng chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức và quyết định ý thức

Thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh Vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại trừu tượng mà là sự tồn tại hiện thực, cụ thể, cảm ứng Khi vật chất tác động đến các giác quan của con người thì gây ra cảm giác ở con người, đem lại cho con người sự nhận thức về chính nó Như vậy, khả năng nhận thức của con người đối với vật chất chính là xuất phát

từ thuộc tính tồn tại cảm tính -tức tồn tại có thể nhận thức được của bản thân vật chất Vật chất đem lại cho con người trong cảm giác, điều này nói lên rằng, thực tại khách quan (vật chất) có trước, cảm giác của con người có sau Cảm giác của con người có thể chép lại, chụp lai, phản ánh được thực tại khách quan Thực tại khách quan không tồn tain trừu tượng mà tồn tại thông qua các dạng tồn tại cụ thể của mình

và bằng cảm giác của có người

có thể nhận thức được Điều này cũng có nghĩa là, thực tại khách quan là nội dung khách quan, nguồn gốc hách quan của những cảm giác của con người

Như vậy định nghĩa vật chất của Leenin đã giải quyết được cả 2 vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường duy vật biện chứng, bao gồm những nội dung sau: Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thức được Vật chất là cái gây nên cảm giác

ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan của con người

Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất

Ý nghĩa phương pháp luận

Định nghĩa vật chất của Lênin đã

bỏ qua quan điểm của chủ nghĩa

Trang 2

duy tâm, bác bỏ thuyết không thể

biết, đã khắc phục được những

hạn chế trong các quan điểm của

chủ nghĩa duy vật trước Mác về

vật chất Đồng thời định nghĩa vật

chất của Lênin còn có ý nghĩa

định hướng đối với khoa học cụ

thể trong việc tìm kiếm các dạng

hoặc các hình thức mới của vật

thể trong thế giới

Khi nhận thức các hiện tượng

thuộc đời sống xã hội, định nghĩa

vật chất của Lênin cho phép xác

định cái gì là vật chất trong lĩnh

vực xã hội Từ đó giúp các nhà

khoa học có cơ sở lý luận để giải

thích những nguyên nhân cuối

cùng của các biến cố xã hội,

những nguyên nhân thuộc về sự

vận động của phương thức sản

xuất; trên cơ sở ấy, người ta có

thể tìm ra các phương án tối ưu

để hoạt động thúc đẩy xã hội phát

triển

Nội dug định nghĩa vật chất của

Lênin đã khắc phục được tính

trực quan, siêu hình, máy móc

trong quan niệm về vật chất của

chủ nghĩa duy vật cũ, do đó làm

chủ nghĩa duy vật phát triển lên

một trình độ mới, trở thành chủ

nghĩa duy vật biện chứng tạo cơ

sở khoa học cho quan niệm duy

vật trong lĩnh vực xã hội, đó là

chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng

thời cũng tạo cơ sở khoa học cho

sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy

vật biện chứng với chủ nghĩa duy

vật lịch sử

Định nghĩa về vật chất của Lênin

là cơ sở của thế giới quan khoa

học và phương pháp luận đúng

đắn cho các nhà khoa học nghiên

cứu thế giới vật chất

Chuong I.

3 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa của phương pháp luận.

Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

- Vật chất là 1 phậm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

- Về bản chất, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức

là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Theo quan điểm duy vật biện chứng: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó vật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức

 Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức

Trong mối quan hệ đối với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất

Vật chất có trước, ý thức có sau

Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức vfa là nguồn gốc sinh ra ý thức Não người là dạng vật chất cao có tổ chức của thế giới vật chất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong qua trình phản ánh thế giới khách quan

Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào não người, là hình ảnh của thế giới khách quan Thế giới khách quan là nguồn gốc của

ý thức, quyết định nội dung của ý thức Sự vận động và phát triển

của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không những quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức

 Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất

Ý thức có tính năng động, sáng tạo nên tác động trở lại vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan,

có tác dụng thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất Nhưng nếu ý thức không phản ánh đúng hiện thực khách quan,

ở mức độ nhất định có thể kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người dù đến mức độ nào thì vẫn dựa trên những tri thức của mình về thế giới khách quan hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp thực hiện và ý chí thực hiện mục tiêu đó

Vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thức con người trong quá trinhg cải tạo thế giới hiện thực được phát triển đến mức độ nào vẫn phải dựa trên sự phản ánh thế giới khách quan và các điều kiện khách quan

Không bao giờ ý thức lại quyết định vật chất Trái lại, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo của ý thức; là điều kiện tiên quyết

để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động trở lại vật chất,

sự tác động ấy không phải tự

Trang 3

thân mà phải thông qua hoạt

động thực tiễn của con người

Sức mạnh của ý thức trong sự

tác động này phụ thuộc vào trình

độ phản ánh của ý thức, mức độ

thâm nhập của ý thức vào những

hành động, trình độ tổ chức của

con người và những điều kiện vật

chất, hoàn cảnh vật chất trong đó

con người hành động theo định

hướng của vật chất

Ý nghĩa phương pháp

luận

Trên cơ sở quan điểm về bản

chất vật chất của thế giới, bản

chất năng động, sáng tạo của ý

thức và mối quan hệ biện chứng

giữa vật chất và ý thức, chủ

nghĩa duy vật biện chứng xây

dựng nên 1 nguyên tắc phương

pháp luận cơ bản, chung nhất đối

với mọi hoạt động nhận thức và

thực tiễn của con người Nguyên

tắc đó là: trong mọi hoặt động

nhận thức và thực tiễn đòi hỏi

phải xuất phát từ thực tế khách

quan, tôn trọng khách quan, đồng

thời phát huy tính năng động chủ

quan

Xuất phát từ thực tế khách

quan, tôn trọng khách quan là

xuất phát từ khách quan của vật

chất, có thái độ tôn trọng đối với

hiện thực khách quan mà căn

bản là tôn trọng quy luật, nhận

thức và hành động theo quy luật;

tôn trọng vai trò quyết định của

đời sống vật chất đối với đời sống

tinh thần của con người, của xã

hội Điều đó đòi hỏi trong nhận

thức và hành động của con người

phải xuất phát từ thực tế khách

quan để xác định mục đích, đề ra

đường lối, chủ trường, chính

sách, kế hoạch; phải lấy thực tế

khách quan làm cơ sở, phương

tiện; phải tìm ra những nhân tố

vật chất, tổ chức những nhân tố

ấy thaanhf lực lượng vật chất để

hành động

Phát huy tính năng động chủ

quan là phát huy vai trò tích cực,

năng động, sáng tạo của ý thức

và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo đó

Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Ý thức muốn tác động trở lại đời sống hiện thực phải bằng lực lượng vật chất Để phát huy tính năng động, sáng tạo ddosddoif hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá náo vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướng dẫn quần chúng hành động Mặt khác phải tự giác

tu dưỡng, tu dưỡng để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động

Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trong nhận thức đòi hỏi phải phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí; đó

là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan thay cho chính sách, lấy tính cách làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược,… Đây cũng là quá trình chống chủ nghĩa khinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thường lý luận, thụ động… trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

Chương II.

1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.(trang 1)

1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.

Khái niệm Mối liên hệ phổ biến là khái niệm chỉ mọi sự ràng buộc, tác động ảnh hưởng lẫn nhau của các sự vật hiện tượng và trong điều kiện nhất định gây nên sự chuyển hóa

Tính chất

 Tính khách quan

Đó là mối liên hệ hiện thực của bản thân thế giới vật chất chứ không phải do thượng đế hay người ta tự nghĩ ra

Trong hiện thực có rất nhiều mối liên hệ như giữa cái vật chất với cái tinh thần, giữa những hiện tượng tinh thần với nhau,… Tất

cả suy cho cùng đều là sự phản ánh mối liên hệ phổ biến và sự quy định lần nhau giữa cacsuwj vật hiện tượng của thế giới khách quan

 Tính phổ biến

Đó là thể hiện sự liên hệ giữa các

sự vật hiện tượng với nhau, liên

hệ giữa các yếu tố, các thuộc tính, đặc trưng… trong từng sự vật, hiện tượng

Mối liên hệ tồn tại trong mỗi sự vật cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy

Ví dụ: + Liên hệ giữa mặt trời và trái đất

+ Liên hệ thực vật với động vật

+ Liên hệ con người – tự nhiên – xã hội

 Tính đa dạng của sự liên

hệ qua lại đó

Có liên hệ bên ngoài, có mối liên

hệ bên trong

Có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu

Có mối liên hệ chung bao quat toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnh vực riêng biệt của thế giới đó

Trang 4

Có mối liên hệ trực tiếp, có mối

liên hệ gián tiếp mà trong đó có

sự tác động qua lại được thực

hiện thông qua một hay một số

khâu trung gian

Có mối liên hệ bản chất và mối

liên hệ không bản chất, liên hệ tất

yếu và liên hệ ngẫu nhiên

Có mỗi liên hệ giữa các sự vật

khác nhau, có mối liên hệ giữa

các mặt khác nhau của cùng 1 sự

vật

Sự vật, hiện tượng nào cũng vận

động và phát triển qua nhiều giai

đoạn khác nhau, giữa các giai

đoạn đó cũng có mối liên hệ với

nhau tạo thành lịch sử phát triển

hiện thực của các sự vật và các

quá trình tương ứng…

Tính đa dạng của sự liên hệ do

tính đa dạng trong sự tồn tại, sự

vận động và phát triển của chính

các sự vật và hiện tượng quy

định

1.2 Nguyên lý về sự phát

triển của phép BCDV.

Khái niệm

Quan điểm siêu hình xem phát

triển chỉ là sự tăng lên hay giảm

đi thuần túy về lượng, không có

sự thay đổi về chất, có thay đổi

về chất đi nữa thì nó cũng chỉ

diễn ra theo 1 vòng trong khép

kín

Quan điểm duy vật biện chứng:

Phát triển là 1 phạm trù triết học

dùng để khái quát hóa quá trình

vận động tiến hóa từ thấp lên

cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ

kém hoàn thiện đến hoàn thiện

hơn

Phân biệt giữa phát triển và vận

động: Theo quan điểm DVBC,

phát triển là 1 trường hợp đặc

biệt của sự vận động Trong qua

trình phát triển sẽ nảy sinh những

tính quy định mới cao hơn về vật

chất, nhờ vậy làm tăng cường

tính phức tạp của sự vật và sự

liên hệ, làm cho cả cơ cấu tổ

chức, phương thức tồn tại và vận

động của sự vật cùng chức năng

vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn

Tính chất

 Tính khách quan

Theo quan điểm DVBC, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật do mâu thuẫn của sự vật quy định Phát triển trong quan điểm DVBC, là quá trình tự thân của mọi sự vật

và hiện tượng Do vậy, phát triển

là một quá trình khách quan độc lập với ý thức con người

 Tính phổ biến

Tính phổ biến của sự phát triển với nghĩa là sự phát triển diễn ra

ở tất cả mọi lĩnh vực – từ tự nhiên đến xã hội đến tư duy, từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù khách quan phản ánh hiện thực ấy

 Tính chất phức tạp của sự phát triển

Phát triển không đơn giản là chỉ

sự tăng hay giảm đơn thuần về lượng, mà bao hàm cả sự nhảy vọt về chất

Phát triển không loại trừ sự lặp lại hoặc thậm chí tạm thời đi xuống trong trường hợp cá biệt,

cụ thể Nhưng xu hướng chung là

đi lên, tiến bộ

Phát triển bao hàm cả sự phủ định cái cũ và cả sự nảy sinh cái mới sự lặp lại dường như cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn Do vậy, phát triển là con đường xoáy

ốc từ thấp đến cao

Trang 5

Chương II.

1 Hai nguyên lý cơ bản của

phép biện chứng duy vật.

(trang 2)

1.3 Ý nghĩa phương pháp

luận của 2 nguyên lý trên.

Quan điểm toàn diện

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về

mối liên hệ phổ biến của các sự

vật hiện tượng, chúng ta cần rút

ra quan điểm toàn diện trong việc

nhận thức, xem xét các sự vật và

hiện tượng cũng như trong hoạt

động thực tiễn

Với tư cách là một nguyên tắc

phương pháp luận trong việc

nhận thức các sự vật và hiện

tượng, quan điểm toàn diện đòi

hỏi để có được nhận thức đúng

đắn về sự vật, chúng ta phải xem

xét nó:

 Một là, trong mối liên hệ

qua lại giữa các bộ phận, giữa

các yếu tố các thuộc tính khác

nhau của chính sự vật đó

 Hai là, trong mối liên hệ

qua lại giữa các sự vật đó với các

sự vật khác

Hơn thế nữa, quan điểm toàn

diện còn đòi hỏi để nhận thức

được sự vật, chúng ta cần xem

xét nó trong mối liên hệ với nhu

cầu thực tiễn của con người

Ý thức được điều đó, chúng ta sẽ

tránh được việc tuyệt đối hóa

những tri thức đã có về sự vật,

tránh xem đó là những chân lý

bất biến, tuyệt đối không thể bổ

sung, không thể phát triển

Quan điểm toàn diện đối lập với

quan điểm phiến diện và khác với

chủ nghĩa chiết trung và thuật

ngụy biện

Từ những điều vừa trình bày, có

thể rút ra rằng, quá trình hình

thành quan điểm toàn diện đúng

đắn với tư cách là nguyên tắc

phương pháp luận để nhận thức

sự vật sẽ phải trải qua các giai

đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban

đầu về cái toàn thể đến nhận

thức một mặt, một mối liên hệ

nào đó của sự vật đó; cuối cũng

khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật

1.4 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.

Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn phải sử dụng đồng

bộ nhiều biện pháp, nhiều phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay đổi những liên

hệ tương ứng

Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cũng đồng thời coi đổi mới

tư duy lý luận, tư duy chính trị về CNXH là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm

Cần lưu ý rằng mọi sự vật đều tồn tại trong không gian – thời gian nhất định mang dấu ấn của không gian – thời gian đó Do vậy, chúng ta cần có quan điểm lịch sử - cụ thể khi xem xét và giải quyết moi vấn đề do thực tiễn đặt ra

 Quan điểm lịch sử - cụ thể

Khi xem xét và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra đồi hỏi chúng ta phải chú ý đúng mức tới hoàn cảnh lịch sử - cụ thể đã làm phát sinh vẫn đề đó tới sự ra đời

và phát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực- cả khách quan lẫn chủ quan Khi quan sat một quan điểm, một luận thuyết cũng phải đặt nó trong những mối quan hệ như vậy Chân lý sẽ trở thành sai lầm, nếu nó bị đẩy ra ngoài giới hạn tồn tại của nó

 Quan điểm phát triển

Quan điểm duy vật biện chứng vè

sự phát triển cung cấp cho chúng

ta phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới là:

khi xem xét các sự vật và hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, trong sự phát triển, phải

phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng Quan điểm phát triển với tư cách

là nguyên tắc phương pháp luận

để nhận thức sự vật hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến

Hơn nữa, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là cái đang có mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó Trong quá trình phát triển, sự vật thường đồng thời có những sự biến đổi tiến lên và có cả những biến đổi thụt lùi

Sự phát triển của các sự vật và hiện tượng thực tế là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn Do vậy, quan điểm phát triển được vận dụng vào quá trình nhận thức cũng đòi hỏi chúng ta phải thấy rõ tính phức tạp của quá trình phát triển như là một hiện tượng phổ biến

Vận dụng quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận của hoạt động thực tiễn nhằm thúc đẩy sự phát triển theo quy luật vốn có của nó đòi hỏi chúng ta phải tìm ra mâu thuẫn của chính sự vật, và bằng hoạt động thực tiễn mà giải quyết mâu thuẫn Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới góp phần tích cực vào sự phát triển

Sự phát triển biện chứng của các quá trình hiện thực và của tư duy được thực hiện bằng con đường thông qua những sự tích lũy về lượng mà tạo ra sự thay đổi về chất, thông qua phủ định của phủ định Do vậy, việc vận dụng quan điểm phát triển vào hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo sự vật đòi hỏi chúng ta phải phát huy nỗ lực của mình trong việc hiện thực hóa 2 quá trình nêu trên

Trang 6

Chương II.

2 Thực tiễn – vai trò của

thực tiễn đối với nhận thức

 Thực tiễn là toàn bộ hoạt

động vật chất có mục đích , mang

tính lịch sử - xã hội của con

người nhằm cải biến tự nhiên và

xã hội

Khác với hoạt động khác , hoạt

động thực tiễn là loại hoạt động

mà con người sử dụng những

công cụ vật chất tác động vào

những đối tượng vật chất nhất

định , làm biến dổi chúng theo

mục đích của mình Đó là những

hoạt động đặc trưng và bản chất

của con người .Nó được thực

hiện một cách tất yếu khách quan

và không ngừng phát triển bởi

con người qua các thời kỳ lịch

sử Chính vì vậy , hoạt động

thực tiễn bao giờ cũng là hoạt

động vật chất mang tính chất

sáng tạo và có tính mục đích , tính lịch sử- xã hội

 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

- Thực tiễn đóng vai trò là

cơ sở, động lực , mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý , kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức

Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức ; nó đề ra nhu cầu ,nhiệm vụ , cách thức , khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức Chính con người có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật , hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Sự tác động đó làm cho sự vật , hiện tượng bộc lộ những thuộc tính , những mối liên

hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng , đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất , các quy luật vận động và phát triển của thế giới

Thực tiễn là cơ sở , động lực vầ mục đích của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng hoàn thiện ; năng lực

tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển

Thực tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn của chân lý , kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức Điều này có nghĩa thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức Đồng thời , thực tiễn không ngừng bổ xung , điều chình , chỉnh sửa , phát triển và hoàn thiện nhận thức

Thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức , là yếu

tố đóng vai trò quyết định đối với

sự hình thành và phát triển của nhân thức mà còn là nơi nhân thức phải luôn luôn hướng tới để

thể nghiệm tính đúng đắn của mình

=>Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải luôn xuất phát từ thực tiễn , dựa trên cơ sở thực tiễn , đi sâu vào thực tiễn , phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn

Trang 7

Chương I.

2 Quan điểm của chủ nghĩa

DVBC về ý thức? Ý nghĩa

phương pháp luận.

Nguồn gốc của ý thức.

Theo triết học duy vật biện

chứng, ý thức của con người là

sản phẩm của quá trình phát triển

của cả tự nhiên và lịch sử xã hội

Vì vậy để hiểu đúng nguồn gốc

và bản chất của ý thức cần phải

xem xét nguồn gốc của ý thức

trên cả hai mặt tự nhiên của xã

hội

 Nguồn gốc tự nhiên

Chủ nghĩa duy vật biện chứng

cho rằng ý thức không phải có

nguồn gốc siêu tự nhiên, không

phải ý thức sản sinh ra vật chất

mà khẳng định ý thức là một

thuộc tính của vật chất nhưng

không phải là của mọi dạng vật

chất, mà chỉ là thuộc tính của một

dạng vật chất có tổ chức cao là

bộ óc con người Bộ óc người là

cơ quan vật chất của ý thức Ý

thức là chức năng của bộ óc con

người Ya thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ óc con người

Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng riêng của con người, được phát triển từ thuộc tính phản ánh

có ở mọi dang vật chất Đó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của một hệ thống vật chất này, những đặc điểm của hệ thống vật chất khác khi hia hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau

Nội dung và hình thức phản ánh phụ thuộc vào trình độ tổ chức của vật phản ánh và vật được phản ánh Vì vậy cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng phát triển từ thấp đến cao Như vậy ý thức là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất nhưng ý thức lại là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao

là bộ não người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người Bộ não người và sự tác động của thế giới vật chất xung quanh lên bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Nguồn gốc xã hội.

Triết học duy vật biện chứng chỉ

ra chính lao động và ngôn ngữ là

2 nguồn gốc xã hội quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của ý thức

Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình, là một quá trình trong đó bản thân con người đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa con người và tự nhiên Lao động là điều kiện tự nhiên và chủ yếu để con người tồn tại Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới khách quan, bắt khách quan bộc

lộ những thuộc tính Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con người, làm biến đổi thế giới đó Ý thức với tư cách là hoạt động phản ánh sang tạo

không thể có được bên ngoài quá trình lao động của con người làm biến đổi thế giới xung quanh Vì thế có thể nói rằng lao động tạo

ra ý thức tư tưởng hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng

là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người trong quá trình lao động của con người Lao động là cơ sở hình thành, phát triển của ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu mang nội dung ý thức Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Ý thức không phải thuần túy là hiện tượng cá nhân mà là hiện tượng xã hội, do đó không

có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được

Bản chất của ý thức.

Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức như 1 thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, là cái có trước từ đó sinh ra vật chất Chủ nghĩa duy tâm tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phán ánh đơn giản, thụ động thế giới vật chất Cả 2 quan niệm đó đều sai lầm Chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý luận phản ánh: về bản chất, coi ý thức

là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sang tạo; ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Ý thưức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, nó không

có tính vật chất Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Phản ánh ý thức là sáng tạo, do nhu cầu thực tiễn quy định Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi chủ thể phải nhận thức cái phản ánh Sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của

Trang 8

phản ánh, dựa trên cơ sở phán

ánh

Phản ánh ý thức là tích cực, chủ

động

Ý thức là 1 hiện tượng xã hội

Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn

liền với hoạt động thực tiễn, chịu

sự chi phối không chỉ các quy luật

sinh học mà chủ yếu là quy luật

xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã

hội và các điều kiện sinh hoạt

hiện thực của con người quy

định Ý thức mang bản chất xã

hội

Kết cấu của ý thức.

Ý thức là 1 hiện tượng tâm lý –

xã hôi có kết cấu rất phức tạp

bao gồm nhiều thành tố khác

nhau có quan hệ với nhau Có

thể chia cấu trúc của ý thức theo

2 chiều:

 Theo chiều ngang: Bao

gồm các yếu tố như tri thức, tình

cảm, niềm tin, lý trí,… trong đó trí

thức là yếu tố cơ bản và cốt lõi

 Theo chiều dọc: Bao gồm

các yếu tố như tự ý thức, tiềm

thức, vô thức

Chương II:

3 Các cặp phạm trù (trang 1)

Nguyên nhân và kết quả.

Khái niệm

Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau từ đó tạo nên sự biến đổi nhất định Phạm trù kết quả dùng để chỉ những sự biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật , hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau

Mối liên hệ biện chứng

Nguyên nhân sinh ra kết quả, xuất hiện trước kết quả.Tuy nhiên không phải hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan hệ nguyên nhân.Ví dụ như ngày kế đêm, mùa hè kế tiếp mùa xuân… cái quan hệ nhân quả phân biệt với quan hệ kế tiếp là ở chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh ra nhau

Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân : kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnh hưởng đó thể hiện theo hai hướng : thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân

Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau: điều này

có nghĩa là sự vật , hiện tượng nào trong mối quan hệ này là nguyên nhân và trong mối quan

hệ khác là kết quả và ngược lại

Ý nghĩa phương pháp luận

Mối liên hệ nhân ủa có tính khách quan và phổ biến nghĩa là không

có sự vật hiện tượng nào trong thế giới vật chất là không có nguyên nhân Nhưng không phải con người nhận thức ngay được

trong mọi nguyên nhân Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ đầu óc của con người , tách rời thế giới hiện thực

Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của một sự vật hiện tượng nào đó cần tìm trong những sự kiện Một kết quả có thể có do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải loại bỏ các nguyên nhân thứ yếu để tìm ra nguyên nhân cơ bản chủ yếu ; nguyên nhân bên trong nguyên nhân bên ngoài; nguyên nhân chủ quan nguyên nhân khách quan… đồng thời phải nắm được chiều hướng tác động của các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân có tác động tiêu cực do kết quả có tác động trở lại nguyên nhân Vì vậy trong hoạt động thực tiễn chúng ta cần phải khai thác tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúc đẩy nguyên nhân phát huy tác dụng nhằm đạt được mục đích

Liên hệ:

Cách mạng tháng tám nổ ra và thành công là kết quả tổng hợp giữa các nguyên nhân khách quan (Pháp bị Nhật đảo chính, Nhật đầu hàng các đồng minh…)

và nguyên nhân chủ quan là có

sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng, có khối đại đoàn kết toàn dân, tinh thần yêu nước

Trang 9

và cách mạng của quần chúng

nhân dân

Trên cơ sở quán triệt mối quan

hệ biện chứng giữa nguyên nhân

kết quả , rút kinh nghiệm từ

những sai lầm chủ quan, Đại hội

VI của Đảng(1986) Đảng đã chỉ

rõ bài học kinh nghiệm và đề ra

phương hướng , biện pháp khắc

phục nhằm từng bước sữa chữa

những sai lầm , đưa đất nước ra

khỏi cuộc khủng hoảng bằng việc

khởi xướng và lãnh đạo công

cuộc đổi mới toàn diện sâu sắc

trên tất cả các lĩnh vực của đời

sống cũng từ những sai lầm

khuyết điểm chủ quan, ĐH VI của

Đảng đã rút ra 4 bài học kinh

nghiệm :

Một là : toàn bộ hành động của

mình Đảng ta phải có những tư

tưởng “lấy dân làm gốc” xây

dựng và phát huy quyền làm chủ

của nhân dân lao động

Hai là : Đảng phải luôn xuất phát

từ thực tế tôn trọng và hành động

theo quy luật khách quan , năng

lực nhận thức và hành động theo

quy luật là điều kiện cho sự lãnh

đạo đúng đắn của Đảng

Ba là : phải biết kết hợp sức

mạnh của dân tộc và sức mạnh

của thời đại trong điều kiện mới

Bốn là: phải xây dựng Đảng

ngang tầm nhiệm vụ chính trị của

một Đảng cầm quyền lãnh đạo

nhân dân tiến hành cuộc

CM-XHCN

Từ sau khi bắt đầu công cuộc đổi

mới đến nay ,qua quá trình thực

hiện nước ta đã đạt được những

thành tựu rất quan trọng Đến ĐH

VIII đất nước ta đã khắc phục

được tình trạng khủng hoảng

KT-XH và chuyển sang thời kì

mới-thời kì CNH-HĐH đất nước văn

kiện Đại hội VIII của Đảng(tháng

6-1996) nhận định : “Nước ta đã

rút khỏi khủng hoảng kinh tế- xã

hội, tuy còn một số mặt chưa

vững chắc”

Dựa trên việc tổng kết

những nguyên nhân chủ quan và

khách quan từ nguyên nhân của những thành tựu khởi đầu, những yếu kém và khuyết điểm sau hơn

15 năm đổi mới, Đảng ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu là:

Một là : trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Hai là : đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân phù hợp với thực tiễn luôn sáng tạo

Ba là : đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Bốn là : đường lối đúng dadwnss của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới

Tóm lại, việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả , xác định được mức độ vai trò của những nguyên nhân ấy đối với những thất bại cùng những thành tựu trong công cuộc đổi mới xây dưng đất nước để có những biện pháp khắc phục những tác động thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu mong muốn là những nguyên tắc đảm bảo sự thành công của Đảng và nhà nước ta cũng như từng Đảng viên , công nhân viên chức

Chương III

1 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng?

 Cơ sở hạ tầng:

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội

Cơ sở hạ tầng của xã hội, trong

sự vận động của nó,được tạo nên bởi cả ba loại hình quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư và quan

hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thức mầm mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai, trong đó quan hệ sản xuất thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của một

xã hội nhất định Sự tồn tại của

ba loại hình quan hệ sản xuất cấu thành cơ sở hạ tầng của một xã hội phản ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của lực lượng sản xuất với các tính chất: kế thừa, và phát triển

VD1: Về xây dựng khu dân cư

hoặc nơi sinh sống thì cơ sở hạ tầng chính là đường sá, cầu cống, trường học, bệnh viện,

Cơ sở hạ tầng mang ý nghĩa là những sự vật, sự việc mang tính chất cơ bản nhất của 1 vấn đề hay 1 lĩnh vực nào đó

VD2: Trong xã hội phong kiến

ngoài quan hệ sản xuất phong kiến chiếm địa vị thống trị, nó còn

có quan hệ sản xuất tàn dư của

xã hội chiếm hữu nô lệ, mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và chính 3 yếu tố

đó cấu thành nên cơ sở hạ tầng phong kiến

 Kiến thúc thượng tầng: Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những hệ thống kế cấu các hình thái ý thức (pháp luật, tôn giáo,

…) cùng các thể chế chính trị xã hội tương ứng (nhà nước, giáo

Trang 10

phái, …) được hình thành trên 1

cơ sở hạ tầng nhất định

 Mối quan hệ biện chứng

giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc

thượng tầng:

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc

thượng tầng là hai phương diện

cơ bản của đời sống xã hội đó là

phương diện kinh tế và phương

diện chính trị - xã hội, chúng có

quan hệ thống nhất biện chứng

với nhau, tác động lẫn nhau trong

đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò

quyết định đối với kiến trúc

thượng tầng; kiến trúc thượng

tầng có sự tác động trở lại cơ sở

hạ tầng đã sản sinh ra nó

 Vai trò quyết định của cơ

sở hạ tầng đối với kiến trúc

thượng tầng

Vai trò quyết định của cơ sở hạ

tầng đối với kiến trúc thượng tầng

được thể hiện trên nhiều phương

diện:

 Một CSHT sinh ra một

KTTT tương ứng

 Mọi biến đổi của CSHT

đến dẫn đến sự biến đồi của

KTTT

 Mâu thuẫn của CSHT

được phản ánh thành sự mẫu

thuẫn trong KTTT

 Sự đấu tranh giành quyền

lợi về cơ sở kinh tế là nguyên

nhân của sự đấu tranh giành

quyền lợi về chính trị xã hội

 Giai cấp nắm giữ tư liệu

sx là giac cấp nắm giữ quyền lực

 Các chính sách, pháp luật

của nhà nược suy cho cùng cũng

chỉ phản ánh nhu cầu thống trị về

kinh tế của giai cấp nắm giữ, sở

hữu các tư liệu xuât

VD: Cơ chế bao cấp tương ứng

với nó là nhà nước xơ cứng,

Mệnh lệnh quan liêu

Cơ chế thị trường tương ứng với

nó là nhà nước năng động, hoạt

động có hiệu quả

 Vai trò tác động trở lại của

kiến trúc thượng tầng đối với cơ

sở hạ tầng

Sự tác động của KTTT lên CSHT thông qua nhiều phương thức:

phụ thuộc vào bản chất của các nhân tố trong KTTT, phụ thuộc vào vị trí, vai trò của nó trong những đk cụ thể, Nếu có yếu tố nhà nc thì nhà nc đóng vai trò tác động chính

Tác động của KTTT lên CSHT theo hai hướng, tích cực và tiêu cực:

 Tích cực: các yếu tổ của KTTT phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế ->

thúc đẩy kinh tế phát triển

 Tiêu cực: Các yếu tổ của KTTT không phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh

tế -> kìm hãm sự phát triển kinh tế

Phản ánh mâu thuẫn giai cấp theo 2 hướng:

 Duy trì cơ sở kinh tế hiện tại, duy trì xã hội hiện tại

 Xóa bỏ nền kinh tế cũ, đấu tranh xác lập một nền kinh tế mới, xây dựng một thể chế XH khác

Tuy nhiên, dù kiến trúc thượng tầng có tác động như thế nào tới

cơ sở hạ tầng thì nó cũng không thể giữ vai trò quyết định cơ sở

hạ tầng của xã hội

Ví dụ: Nhà nước tư sản hiện dại

củng cố, bảo vệ, phát triển sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất Còn nhà nước vô sản thì bảo vệ, phát triển sở hữu xã hội(Tập thể)

Chương III:

câu 2 Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội (trang 2)

Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức

xã hội chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển ý thức xã hội, nó bác bỏ quan điểm siêu hình, máy móc, tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

*Ý nghĩa phương pháp luận:

Tồn tại tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống

xã hội Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội Cần thấy rằng, thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thưc xã hội;mặt khác cũng cần thấy rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu dẫn đến những thay đổi to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại, những tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng

có thể tạo ra những bến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại

xã hội

*Liên hệ

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, Đảng ta khẳng định, phát triển nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN và mở rộng giao lưu quốc tế song song với việc quan tâm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam

Ngày đăng: 30/03/2015, 20:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w