1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề giới trong ca dao việt

110 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Giới Trong Ca Dao Việt
Tác giả Nguyễn Thị Linh Huệ
Người hướng dẫn TS. Châu Minh Hùng
Trường học Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Bình Định
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu về giới bao gồm phản biện lại kiến tạo giới trong lịch sử, qua huyền thoại, tôn giáo, xác lập lại vai trò phụ nữ, từ đó vấn đề giới được mở rộng trên nhiều lĩnh vực: tâm l

Trang 1

NGUYỄN THỊ LINH HUỆ

VẤN ĐỀ GIỚI TRONG CA DAO VIỆT

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số : 8220121

Người hướng dẫn: TS CHÂU MINH HÙNG

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của thầy TS Châu Minh Hùng Các kết quả, nội dung nghiên cứu,

là trung thực và chưa được công bố với bất kỳ hình thức nào trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Linh Huệ

Trang 3

đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trong và ngoài trường Đại học Quy Nhơn, những người đã chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu; xin chân thành cảm ơn phòng đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện luận văn

Bình Định, tháng 9 năm 2020 Tác giả

Nguyễn Thị Linh Huệ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

2 Đối tượng và phạm nghiên cứu 8

3 Mục đích nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Bố cục của luận văn 9

Chương 1: GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ GIỚI 10

1.1 Diễn ngôn về giới 10

1.1.1 Diễn ngôn huyền thoại, tôn giáo 10

1.1.2 Nữ quyền luận 14

1.2 Giới như một hiện tượng văn hóa – xã hội 16

1.2.1 Giống và giới 16

1.2.2 Giới trong xã hội Việt Nam 21

Tiểu kết 27

Chương 2: HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ VỀ GIỚI TRONG CA DAO VIỆT 29

2.1 Giới trong quan hệ tình yêu, tình dục 29

2.1.1 Giới trong quan hệ tình yêu 29

2.1.2 Giới trong quan hệ tình dục 34

2.2 Giới trong hôn nhân và thân phận phụ nữ 38

2.2.1 Giới trong hôn nhân 38

2.2.2 Thân phận phụ nữ 46

2.3 Khát vọng tự do, bình đẳng và hạnh phúc của phụ nữ 53

Trang 5

Tiểu kết 63

Chương 3: CẤM KỴ, BIỂU TRƯNG HÓA VÀ PHỨC CẢM VỀ GIỚI 64

3.1 Các dấu hiệu cấm kỵ 64

3.1.1 Cấm tục 64

3.1.2 Cấm dục 68

3.2 Biểu trưng hóa 74

3.2.1 Biểu trưng hóa quan hệ nam nữ 75

3.2.2 Biểu trưng hóa thân phận nữ 84

3.3 Các phức cảm về giới 91

3.3.1 Phức cảm bị thiến 91

3.3.2 Phức cảm vụng trộm, lén lút 95

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cũng là sản phẩm của tạo hóa nhưng nam giới trong kiến tạo xã hội được nâng lên hàng thượng đẳng, còn nữ giới lại bị đày xuống hạ lưu Kiến tạo này có từ thời huyền thoại, vắt ngang qua ngàn năm phong kiến và tồn tại dai dẳng trong tâm thức nhân loại, đến mức trở thành một cơ chế tự động trong hành vi ứng xử của con người Sự phân biệt giới, lấy đàn ông làm trung tâm, khi đã trở thành vô thức của cả cộng đồng thì việc xác lập lại quan hệ về giới, ngay cả đấu tranh bằng máu để giải phóng thật sự cho nữ giới là vô cùng khó khăn, phức tạp Vô thức có sức mạnh như một vật cản ngay cả khi ý thức bình đẳng giới hay giải phóng phụ nữ đã hình thành

Ở mọi quốc gia, dân tộc, vấn đề giới gần như được đặt ra thường trực, ngấm ngầm trong lịch sử hay phát động thành phong trào đấu tranh mạnh mẽ, nhưng không phải ở đâu và bao giờ vấn đề thực hiện bình đẳng giới hay giải phóng phụ nữ cũng diễn ra suôn sẻ và thành công Sau các cuộc đấu tranh bằng máu, các nhà nữ quyền luận chủ trương mọi cuộc cách mạng, trong đó đặc biệt là cách mạng về giới, phải bắt đầu từ nhận thức: phải hiểu quan hệ về giới, đặc biệt người nữ phải tự nhận thức đầy đủ chính mình Ý thức làm chủ phải có sức mạnh chiến thắng thứ vô thức nô lệ mà con người đã kiến tạo qua hàng ngàn năm lịch sử

Ứng dụng các học thuyết hiện đại về giới, chúng tôi chọn đề tài Vấn đề

giới trong ca dao Việt để góp phần hiểu thêm về vấn đề giới trong cộng đồng

Việt Cùng với huyền thoại, ca dao là nơi không chỉ phản ánh phần nào những kiến tạo giới trong lịch sử xã hội Việt, mà còn, với tư cách là nghệ thuật trữ tình, chính ca dao lại chứa đựng những phức cảm trong tâm lý Việt khi đặt con người vào lằn ranh giữa ham muốn và cấm kỵ, giữa tự do và luật lệ Ở

Trang 7

bình diện tâm lý, ca dao thể hiện những mâu thuẫn, kịch tính trong ứng xử của người Việt, nhưng trên bình diện văn hoá – nghệ thuật, chính những mâu thuẫn, kịch tính ấy lại chuyển hoá thành những sáng tạo phong phú, đa dạng

mà theo cách nhìn truyền thống là vẻ đẹp của tâm hồn Việt

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Về mặt lý thuyết lẫn ứng dụng, từ khi có trào lưu nữ quyền đầu thế kỷ

20 ở Pháp, Mỹ, vấn đề giới được nghiên cứu sâu rộng trong nhiều quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam Các nghiên cứu về giới bao gồm phản biện lại kiến tạo giới trong lịch sử, qua huyền thoại, tôn giáo, xác lập lại vai trò phụ

nữ, từ đó vấn đề giới được mở rộng trên nhiều lĩnh vực: tâm lý, văn hoá, ngôn ngữ, chủng tộc, trong đó văn học nghệ thuật được xem là tiên phong

2.1 Các nghiên cứu về giới ở nước ngoài

Ở Âu Mỹ, vấn đề giới được nghiên cứu cả về lý thuyết lẫn ứng dụng Nền tảng nghiên cứu thực hiện trên cả hai trục; trên chiều lịch đại, các nghiên cứu dựa vào huyền thoại, tôn giáo và các tài liệu nhân chủng; trên trục đồng đại, các nghiên cứu đối chiếu, xem xét tâm lý, hành vi của con người đương đại so với lịch sử và khái quát thành lý thuyết Ban đầu là lý thuyết về nữ quyền với nhu cầu hướng đến bình đẳng giới hay giải phóng phụ nữ, sau còn tiến đến vấn đề đồng tính hay giới tính thứ ba, và thậm chí là quyền “chuyển giới” Chính tri thức về giới đã buộc nhiều nhà nước phải luật hoá để đảm bảo các quyền của giới lâu nay bị kỳ thị, phân biệt đối xử

Các lý thuyết về giới đều thống nhất: giới là một kiến tạo xã hội Mọi

kiến tạo dẫn đến kỳ thị giới đều do chế độ phụ quyền, bắt nguồn từ huyền thoại và cố kết thành các diễn ngôn tôn giáo và nhà nước có tính tôn giáo Lý thuyết giới gắn liền với Phân tâm học, Cấu trúc luận và sau đó là Giải cấu trúc Tinh thần phản biện liên tục đã cho ra một bức tranh tương đối hoàn chỉnh về vấn đề giới

Trang 8

Các tác phẩm nổi tiếng phải kể đến như:

Vai trò giới tính và nhận biết giới tính: Nghiên cứu về sự phát triển của con người, tác giả Judith Lober Jonh C Cavanaugh, Robert V Kail, Nguyễn

Kiên Trường dịch,(2006) Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội

Trong đó có những tác phẩm đã chạm đến những vấn đề căn bản và táo bạo, điển hình như:

Sự thống trị của nam giới (1998) Pierre Bourdieu do Lê Hồng Sâm

dịch (2011) Trong cuốn sách này, Bourdieu đã phân tích các mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới, xuất phát từ việc nghiên cứu dân tộc học xã hội của người Berbères tại Kabylie, và tìm hiểu những cấu trúc tượng trưng của vô thức lấy nam giới làm trung tâm, hiện vẫn tồn tại ở nam giới và nữ giới ngày nay

Giới nữ, Le deuxième sexe (1949) Simone De Beauvoir, Nguyễn Trọng

Định và Đoàn Ngọc Thanh dịch (1996), được xem là một trong những quyển sách hay nhất của thế kỷ XX, là một cuốn bách khoa toàn thư về các giai đoạn của cuộc đời phụ nữ từ lúc sinh ra, dậy thì, lấy chồng, làm mẹ; đồng thời vạch

ra con đường giành quyền lợi cho nữ giới

Nghiên cứu về giới không thể không nhắc đến tác phẩm Căn phòng

riêng, (1929) Virginia Woolf, Trịnh Y Thư dịch (2009) NXB Tri thức Đây

được xem là một trong những cuốn sách khơi nguồn cho phong trào nữ quyền, vốn khởi phát từ phương Tây và ngày càng có sức lan tỏa rộng rãi, trở thành một khúc ngoặt văn hóa – khúc ngoặt nữ quyền

Tác phẩm Bí ẩn nữ tính, The Feminine Mystique, của Betty Friedan,

Nguyễn Vân Hà dịch (2015), Nxb Hồng Đức tác phẩm này được đánh giá là quyển sách quan trọng nhất của thể kỉ XX Quyển sách truy lùng nguồn gốc

bí ẩn nữ tính, và ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ sống vì nó, hoặc lớn lên dưới cái bóng của nó

Trang 9

Những tác phẩm trên như những phát súng đầu tiên nổ vào thành trì của chế độ phụ quyền đã tồn tại và vấn vít hàng ngàn năm Bên cạnh những chuyên luận nghiên cứu về giới nhằm hướng tới sự công bình của giới nam

và nữ, còn có sự xuất hiện nhiều những nghiên cứu vấn đề đồng tính và chuyển giới

2.2 Các nghiên cứu về giới ở Việt Nam

Ở Việt Nam giới cũng là đối tượng được sự quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức, cá nhân như: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các nhà giáo dục, các nhà tâm lý… Sự quan tâm ấy đóng góp một phần không nhỏ vào tiếng nói đòi bình quyền cho giới nữ

Trong cuốn sách: Định kiến giới và phân biệt đối xử theo giới (Lý

thuyết và thực tiễn), (2011) của các tác giả Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung, Đỗ Hoàng đã đề cập tới một số vấn đề lý luận liên quan đến định kiến giới, các hình thức biểu hiện của định kiến giới trên phương diện lý luận và thực tiễn ở nước ta

Từ góc độ định kiến giới, các tác giả Trần Thị Vân Anh (1999), Nguyễn Thị Hòa (2002) đã nghiên cứu về những định kiến đối với những người phụ nữ làm công tác lãnh đạo Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: những định kiến với người phụ nữ đã làm cho họ trở nên tự ti, tự đánh giá thấp về khả năng của mình, họ thường cho rằng mình kém hơn nam giới Trong nhiều trường hợp, nhiều người đàn ông, người chồng có tâm lý không muốn cho vợ hơn mình về mọi mặt, không tạo điều kiện giúp người phụ nữ, tạo ra những áp lực cản trở sự tiến bộ của họ

Tuyển tập giới và xã hội, số 2 – 2014, Trường Đại học Hoa Sen Trung

tâm nghiên cứu giới và xã hội, Nxb Hồng Đức (2015), phần quan trọng nhất

của tuyển tập là 12 bài nghiên cứu được sắp xếp theo ba chủ đề: Những gương mặt nữ quyền Nghiên cứu phụ nữ: Một góc nhìn lịch sử Giới và phát

Trang 10

triển: những vấn đề đương đại Đặc biệt tìm hiểu phụ nữ qua cách tiếp cận các nhân chứng và lời chứng của người trong cuộc là một hướng nghiên cứu mang lại những đóng góp quan trọng

Trong đề tài Giới thiệu nghiên cứu về nam giới và nam tính của Viện

Gia đình và giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã đề cập đến đặc trưng của nam giới, nam tính dưới góc độ các lý thuyết khác nhau, hậu quả của việc quá

đề cao những phẩm chất nam tính truyền thống

Trong văn học, giới và giới tính cũng được nghiên cứu tương đối

nhiều Những công trình tiêu biểu như: Sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ

(2005) của Trần Xuân Điệp, trong đề tài này Trần Xuân Điệp đã trình bày trực tiếp về vấn đề kì thị giới tính trong ngôn ngữ Trên cở sở đó tác giả còn

đề xuất hướng giải quyết vấn đề kì thị giới tính trong ngôn ngữ theo góc độ cải cách ngôn ngữ và quy hoạch ngôn ngữ

Văn học và giới nữ (2016) của Phùng Gia Thế - Trần Thiện Khanh

biên soạn Cuốn sách này cung cấp một số tri thức về nữ quyền luận trên thế giới, đồng thời đưa ra những diễn giải bước đầu về vấn đề nữ giới trong diễn ngôn văn học Về tổng thể cuốn sách hướng đến khẳng định vị thế ngày càng cao của nữ giới

Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính của Vũ Tiến Dũng (2007), trong

công trình này tác giả đề cập về vấn đề giới tính với những nội dung về cách xưng hô giữa phái nam và phái nữ

Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên cho thấy đây là đề tài được quan tâm rộng rãi và đạt được những thành tựu to lớn Giới ở thể loại ca dao cũng là một trong những đề tài thu hút người nghiên cứu

2.3 Nghiên cứu về giới trong ca dao Việt

Vấn đề giới trong ca dao Việt không phải chưa từng được đặt ra Trong nhiều giáo trình, công trình nghiên cứu về ca dao, khi nói đến thân phận

Trang 11

người phụ nữ, gần như các nhà nghiên cứu đều chạm đến vấn đề giới Về nội dung, thân phận con ong cái kiến của phụ nữ được phân tích, mổ xẻ khá nhiều

và tất cả gần như đều quy về kiến tạo nam nữ bất bình đẳng của Nho giáo Về hình thức, các biểu trưng trong ca dao cũng được phân tích mổ xẻ nhiều, nhưng chỉ đánh giá như là những sáng tạo mà không thấy động lực của tâm

lý, hành vi bên trong Hình thức dịch chuyển từ cấm dục, cấm tục sang nguỵ trang bằng các biểu trưng chưa hề được nói đến

Trước tiên, là các giáo trình văn học dân gian Hầu như giáo trình nào khi nói đến ca dao dưới góc độ trữ tình thân phận, đều có chạm đến vấn đề giới, nhưng chủ yếu là vấn đề thân phận phụ nữ Một mặt, các giáo trình gần như quy hết vấn đề thân phận phụ nữ vào nguyên nhân chính trị và văn hoá,

cụ thể là nền chính trị trọng nam khinh nữ của chế độ phong kiến và văn hoá tôn ti của Nho giáo Mặt khác lại ngợi ca sự thuỷ chung, nhẫn nhục chịu đựng, kể cả vẻ đẹp kín đáo, tinh tế của phụ nữ Năm 1957 khi đề cập tới hình

tượng người phụ nữ trong ca dao Vũ Ngọc Phan nhận xét: “trong cuộc đời

người phụ nữ phải chịu nhiều nỗi khổ quá và chịu nhiều thiệt thòi quá Mặc

dù công sức đóng góp cho xã hội không thua kém gì đàn ông, nhưng thực tế người phụ nữ không có quyền lực gì” [16,tr 231] Trong giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” Đinh Gia Khánh chủ biên, viết về thân phận phụ nữ tác

giả bộc bạch: “Dưới chế độ phong kiến người phụ nữ lao động là nạn nhân

của nhiều tầng áp bức và là hạng người đau khổ nhất Đời sống của họ là đầy rẫy những sự chịu đựng, nếu có niềm vui nào thì niềm vui đó cũng chỉ là niềm vui được hi sinh cho chồng cho con” [29, tr456]

Một số công trình nghiên cứu trực tiếp về giới trong ca dao có thể kể đến như: Luận văn của Lưu Thị Nụ, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội viết về đề tài Những người phụ nữ qua những hình ảnh so sánh trong

ca dao Việt Nam (1992) Trong chuyên luận này tác giả đã phân tích các biểu

Trang 12

hiện về ngoại hình, số phận, tâm trạng… của người phụ nữ được thể hiện qua nghệ thuật so sánh trong ca dao

Giới trong thành ngữ - tục ngữ (2012) của Trần Kim Anh (Đại học Sư

phạm Thành phố Hồ Chí Minh)… trong đề tài này người viết làm rõ giới trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt với hai vấn đề chủ yếu: ngôn ngữ về giới chính là sự phản ảnh cách nhìn nhận về giới của nhân dân trong cuộc sống và

sự kì thị giới được phản ảnh trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt

Trong công trình luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thịnh Định kiến giới

trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam, tác giả chú trọng làm nổi bật định

kiến về giới: “Ca dao, tục ngữ, thành ngữ là một bộ phận của văn học dân

gian, phản ánh nền văn hoá dân tộc Trong kho tàng văn học dân gian đồ sộ

ấy, có một số lượng nhất định các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ hàm chứa những nội dung định kiến giới, phản ánh tư tưởng, quan niệm, hay những ứng

xử giới của nhân dân ta Trải qua biết bao nhiêu thế hệ, các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ đó vẫn được lưu truyền cho đến ngày nay, trong các chương trình sách giáo khoa, các tạp chí, trong cuộc sống hàng ngày, trong các phương tiện truyền thông đại chúng, có khi chúng ta vẫn được giáo dục theo những khuôn mẫu giới, định kiến giới đó.” [12, tr1 ]

Nghiên cứu về huyền thoại có công trình của Tiến sĩ Châu Minh Hùng

Giải huyền thoại, lý thuyết và ứng dụng Công trình cung cấp cho chúng ta

lịch sử tri thức của nhân loại, từ siêu hình học đến giải cấu trúc, trong đó có quyền lực thống trị nam giới và thân phận nữ Các hình tượng Thượng đế và thánh thần được giải mã bằng Phân tâm học, Ký hiệu học và Giải cấu trúc Giải thoát tư duy con người ra khỏi niềm tin huyền thoại và siêu hình học bằng khoa học giải huyền thoại chính là con đường giải phóng một cách khoa học, tránh những cực đoan thiếu hiểu biết. “Vai trò của người phụ nữ bàng bạc

trong các huyền thoại đa thần trước đó hoặc bị vùi lấp hoặc bị phế truất xuống

Trang 13

hàng thứ yếu Ở cấp độ này, huyền thoại không còn là sản phẩm của sự ngây thơ, hồn nhiên mà đã tách lọc trong mớ hỗn độn của huyền thoại đa thần thành huyền thoại độc thần với những trật tự đầu tiên của quyền lực và vai trò thống trị của đàn ông[1, tr114] Có thể nói đây là công trình lý thuyết và ứng dụng rất quan trọng, gợi mở cho một hướng nghiên cứu khả thi Các vấn đề cấm kỵ và tự

do, diễn ngôn quyền lực và tinh thần phản kháng, giữa ký hiệu văn hoá và các dấu vết kiến tạo… được diễn giải tường minh để có thể soi vào những ngóc ngách tâm hồn con người

Từ thực tiễn nghiên cứu trên, cho thấy vấn đề mà chúng tôi quan tâm, trước đó vẫn chưa được khai thác triệt để Các nghiên cứu, chuyên luận chủ yếu chỉ dừng lại ở nội dung với các đề tài về thân phận con người, trong đó nổi bật hơn cả là số phận bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến Ít có công trình đi sâu vào giới với những cấm kị, phức cảm và các biểu trưng hóa về giới trong ca dao một cách hệ thống và chuyên sâu

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM NGHIÊN CỨU

Đề tài áp dụng tri thức về giới để tìm hiểu lại ca dao Việt Người Việt

có quan niệm và kiến tạo về giới vừa theo tư duy chung của nhân loại vừa có những ứng xử đặc thù

Phạm vi đề tài giới hạn trong hệ thống tri thức đã được thế giới tuyên

bố rộng rãi và chỉ ứng dụng cho các bài ca dao đã được phổ biến cả ba miền

Phần lớn ca dao chúng tôi khảo sát từ: Tuyển tập Kho tàng ca dao người Việt,

(Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Phan Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan,

Đặng Diệu Trang, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 1995) Tục ngữ ca dao,

dân ca Việt Nam, (Vũ Ngọc Phan, Nxb Văn học, năm 2017) Đôi điều suy nghĩ về ca dao, (Trần Sĩ Huệ, Nxb Văn hóa dân tộc, 2008) Có tham khảo

thêm nguồn từ internet: nhung-goc-nhin-van-hoa/8828-yeu-to-sex-trong-ca-dao-viet-

Trang 14

http://vanhoanghean.com.vn/component/k2/30-nam.https://cadao.me/the/tinh-duc/ Các cứ liệu chúng tôi đưa vào luận văn chỉ là những cứ liệu điển hình để làm sáng tỏ từng luận điểm

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề tài hướng đến các mục đích sau:

- Diễn giải lại tri thức luận về giới để làm công cụ lý giải vấn đề giới trong ca dao Việt

- Phân tích về giới trong ca dao Việt chính là để người Việt hiểu chính mình trong cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới, và với tư cách là văn chương nghệ thuật

- Làm sáng tỏ nguyên nhân ca dao Việt đã có những sáng tạo thẩm

mỹ cao đẹp, vừa thôi thúc hành động giải phóng vừa tạo nên hệ thống giá trị văn hoá Việt

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tiếp cận vấn đề giới thường là tiếp cận liên ngành: xã hội học, nhân chủng học, tâm lý học, văn hoá học, ngôn ngữ - ký hiệu học Các chuyên ngành này đều

có chung các thao tác: phân tích - tổng hợp, so sánh – loại hình

Với đề tài này chúng tôi cũng tiếp cận liên ngành với các thao tác trên tuỳ theo từng nội dung Đặc biệt ưu tiên phân tích tâm lý của Phân tâm học, khảo cổ tri thức của Giải cấu trúc hay Giải kiến tạo, và mọi thao tác cuối cùng

là giải mã các ký hiệu-biểu trưng như là giải kiến tạo văn hoá- xã hội về vấn

đề giới

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn ngoài phần Mở đầu và Kết luận, gồm có ba chương:

Chương 1: Giới thuyết chung về giới

Chương 2: Hệ thống chủ đề về giới trong ca dao Việt

Chương 3: Cấm kị, biểu trưng hóa và phức cảm về giới

Trang 15

Chương 1: GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ GIỚI

1.1 DIỄN NGÔN VỀ GIỚI

Diễn ngôn (discourse) nghĩa gốc là diễn thuyết, thảo luận, tranh luận Trong học thuật nửa sau thế kỷ 20, khái niệm này được dùng phổ biến với nhiều ý nghĩa nhưng thống nhất nội hàm: bất cứ sự diễn giải nào bằng ngôn ngữ đều dựa trên một tư tưởng hệ Vì thế, diễn ngôn gắn liền với quyền lực, hoặc thống trị hoặc phản kháng trong sự tương tác giữa chúng Giới là một kiến tạo xã hội, cho nên nói về giới là nói đến diễn ngôn, ở đó tiếng nói của kẻ mạnh đè lấp lên kẻ yếu hoặc biến kẻ yếu thành kẻ ăn theo nói leo hoặc không có tiếng nói Trong lịch sử, diễn ngôn về giới nằm trong tư tưởng của huyền thoại và tôn giáo trước khi xuất hiện tiếng nói khác, tiếng nói đối kháng

1.1.1 Diễn ngôn huyền thoại, tôn giáo

Diễn ngôn đầu tiên về giới chính là diễn ngôn huyền thoại, tôn giáo Huyền thoại mượn chuyện thánh thần để xác lập trật tự xã hội đầu tiên của loài người Nếu truy nguyên gốc gác từ những huyền thoại khai thiên lập địa,

có thể nhìn thấy quyền lực của nữ thần và nam thần là tương đương, khác chăng chỉ là chức năng tự nhiên Nữ thần như mẹ Gaia của Hy Lạp, Lajja Gauri - thần lực nữ tính (Shakti) của Ấn Độ, Nữ Oa của người Hán, Âu Cơ của người Việt mang chức năng sinh sản và nuôi dạy con cái, thậm chí mang

cả chức năng khai thiên lập địa, lao động và phân phối của cải như nam thần Tuy nhiên, huyền thoại về nữ thần như một thứ trầm tích, trong khi huyền thoại về nam thần lại nổi bật lên như một quyền lực thống trị Điều đó cũng

có nghĩa là quyền lực của phụ nữ mờ nhạt hẳn, trong khi quyền lực của đàn ông thì ưu trội và nổi bật lên thành kẻ thống trị, dẫn đến sự kỳ thị dai dẳng suốt chiều dài lịch sử Khi các tôn giáo lớn ra đời thì vị thế tôn ti của nam nữ

Trang 16

được mặc định và trở thành vô thức của các cộng đồng

Giải mã nguyên nhân này trước hết cần vén bức màn lịch sử bằng nhung của huyền thoại và tôn giáo, để thấy rằng xã hội đã kiến tạo nên vai trò của đàn ông và thân phận phụ nữ như thế nào Huyền thoại dẫn dắt con người đến vườn Eden, xác lập một niềm tin về Đức Chúa Trời toàn thiện toàn mỹ sinh ra Adam giống như ngài, rồi lấy sườn Adam tạo ra Eva đầy khiếm khuyết Sự mặc khải này xác lập ngay một trật tự đầu tiên cho loài người: đàn

ông là hiện hữu của Thượng Đế, còn đàn bà là cái khác (The Other), cái phụ

thuộc của đàn ông Cựu ước kế tiếp, rằng việc vi phạm luật trời và rơi vào tội

lỗi bắt đầu từ đàn bà Eva nghe lời kẻ xấu là con rắn, hiện thân của quỷ Satan

đã dụ Adam ăn Trái Cấm, trái sinh ra từ cây Trí tuệ đồng thời là cây Tính dục Đây là mặc khải thứ hai về thân phận người phụ nữ: Ngài phán cùng người phụ nữ rằng: ta sẽ thêm điều khổ cực bội phần trong cơn thai nghén: người sẽ chịu đau đớn mỗi khi sinh con; sự dục vọng người phải xu hướng về chồng,

và chồng sẽ cai trị ngươi ” [3, tr115]

Niềm tin vào sự mặc khải này đã kéo theo hàng loạt các kiến tạo về vai trò của người đàn ông và thân phận phụ nữ Sau Adam là tổ phụ Abraham, và sau Abraham lại là Chúa con Jesus Christ Ngay trong huyền thoại đa thần trước tôn giáo độc thần, người đứng đầu các vị thần phải là đàn ông Trong huyền thoại Hy Lạp, các nữ thần hoàn toàn bị đưa xuống hàng thứ yếu sau sự thống trị của thần Zeus Và những đứa con của thần linh trong cuộc hôn phối với người trần như Heracles, Achilles được ngợi ca trong các thiên sử thi đều mang khuynh hướng ngợi ca vai trò của người đàn ông

Trong huyền thoại sơ khai của Ấn Độ, vào cái giao điểm đạo Hindu lập ra tam thần tối cao (Trimurti), gồm Barahma, Vishnu, Shiva như là sự chỉnh biên từ những câu chuyện dân gian phổ biến vùng sông Ấn, sông Hằng, vết tích một cuộc đảo chính từ thần lực nữ tính sang phụ quyền vẫn còn nguyên vẹn

Trang 17

“Trong huyền thoại của người Hán, huyền thoại Bàn Cố tồn tại gần như song song với với huyền thoại Nữ Oa, trong trường hợp Nữ Oa là huyền thoại độc lập trước khi gắn kết với Phục Hy thành cặp nhị nguyên Trong lúc xem Bàn Cố là vị thần nguyên thủy nhất, khi chết đi máu, thịt, xương biến thành núi sông và vạn vật, những loài kí sinh trùng trong cơ thể ngài hóa thành con người, thì có huyền thoại Nữ Oa nhào nặn đất sét để nắn nên con người Nữ Oa sánh tương đương với chúa trời trong Cựu ước Điều đó chứng

tỏ vai trò phụ nữ từng được đề cao trước khi diễn ra cuộc “đảo chính” mang tên phụ quyền.” [2, tr119]

Trong huyền thoại về nguồn gốc của người Việt được lưu truyền hiện nay, người đảm nhiệm vai trò sinh nở là Âu Cơ, với cái bọc trăm trứng, nhưng việc đề cao chức năng quyền lực lại thuộc về đàn ông Cái bọc nở ra trăm con trai là một kiến tạo phụ quyền Vai trò của Lạc Long Quân và trăm đứa con trai đó đã lấn át hoàn toàn vai trò của người phụ nữ, trong khi việc sinh nở và duy trì sự sống hiển nhiên là thiên chức của nữ giới Huyền thoại này mặc dù bằng nhiều thủ pháp đẩy phụ nữ xuống hàng thứ yếu, nhưng vẫn

để lộ vai trò của phụ nữ Chính Âu Cơ mang năm mươi con trai lên núi mới dựng nên cơ nghiệp các vua Hùng, còn Lạc Long Quân mang năm mươi đứa con trai về biển thì mất hút trong cõi vô hình Việc Âu Cơ hoàn thành chức năng sinh nở, bảo tồn sự sống và nhường phần xây dựng triều đại Hùng Vương cho năm mươi đứa con trai cho thấy, nữ như là sức mạnh của hiện thân tự nhiên, trong khi quyền lực đàn ông chỉ là một thứ được kiến tạo để hình thành nên các quan hệ xã hội Điều dễ nhận ra nhất là, qua các công trình khảo cổ, đền thờ nữ thần xuất hiện gần như phổ biến trên thế giới Nó cổ sơ

và nguyên thủy hơn đền thờ nam thần

Tại Ấn Độ khi mà đạo Hindu thống trị và duy trì lâu dài nhất, thì bộ tam thần đứng đầu các vị thần: Brahma, Vishnu và Shiva lại gắn với cặp

Trang 18

Linga – Yoni Cả ba đều được xem như là nam thần, nhưng có gì đó bất ổn khi đặt trong quan hệ với cặp biểu trưng tính dục nam nữ mà người Ấn Độ tôn thờ Brahma, thần sáng tạo và sinh sôi, Vishnu, thần bảo hộ thuộc Yoni; trong khi Shiva, thần hủy diệt lại thuộc Linga Quan hệ tương ứng ấy cho thấy nền tảng của sự sáng tạo và bảo hộ sinh sôi thuộc về nữ tính, trong khi hủy diệt và cõi chết lại thuộc về nam tính Lạm dụng bạo lực và tính dục dẫn đến chiến tranh chỉ có thể là đàn ông Nhưng quá trình kiến tạo văn hóa phụ

quyền, mọi tội lỗi trút hết đàn bà, đúng như Freud khẳng định: không có mẫu

quyền mà chỉ có mẫu hệ - phụ quyền

Thánh Paul, người dựa vào Cựu Ước và Tân Ước đã thiết lập nên nguyên tắc: không phải người nam được sáng tạo ra cho người nữ mà, trái lại, người nữ được sáng tạo ra cho người nam Thánh Jonn Chrysostom lại phán rằng: “trong tất cả các con vật không có con vật nào nguy hại bằng đàn bà” Thánh Thomas cũng trung thành với quan niệm này khi tuyên bố “người đàn

bà chỉ là một tồn tại phụ, không hoàn thiện Người đàn ông là người chủ của

vợ mình, cũng giống như Kitô là chúa của nhà thờ”

Trò chơi kiến tạo này phủ mờ lên sự thực lịch sử, che đậy hoàn toàn vai trò của người phụ nữ Điều này cũng thể hiện rõ trong Nho giáo khi luận Kinh Dịch Nho giáo xem đàn bà thuộc Âm tính so với đàn ông thuộc Dương tính

Vì thế cái xấu dành cho đàn bà Luận ngữ viết: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vi nan dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (Chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là loại khó dạy, gần nó thì nó vô phép, xa nó thì nó oán hận)

Tuy nhiên, ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh Tiếng nói bình quyền dấy lên như một lẽ tất yếu Lúc đầu có thể âm ỉ, chưa khởi phát thành một phong trào, nhưng ngọn lửa âm ỉ từng ngày, cuối cùng cũng bùng phát mạnh

mẽ Khởi đầu cho ngọn lửa đấu tranh ấy vào tháng 10/1789 một nhóm phụ nữ Paris xông thẳng vào trụ sở Quốc dân đại hội để đòi quyền bình đẳng nam nữ

Trang 19

Đây chính là sự khởi đầu cho một phong trào đấu tranh chính trị trước khi chuyển thành những vấn đề văn hoá lớn của cả thời đại văn minh

1.1.2 Nữ quyền luận

Rõ ràng tạo hóa ban tặng cho nữ giới thiên chức mà đàn ông không có được, đó là duy trì nòi giống, và có thể đảm nhiệm những vai trò như nam giới thậm chí là hơn Song thiên kiến vẫn kéo dài ròng rã suốt nhiều thiên niên kỉ Những quan niệm: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “Nữ nhi thường tình”, “Nữ sinh ngoại tộc”, đã bám rễ sâu trong tiềm thức, phủ rộng trên phạm vi không chỉ một dân tộc, một quốc gia, một vùng miền, và trở thành cái cùm để giam cầm nữ giới, là công cụ áp chế họ Và như một lẽ tất yếu, “con giun xéo lắm cũng quằn”, sự phản kháng ấy đã giáng một đòn mạnh mẽ, tấn công một các toàn diện vào tình trạng bất bình đẳng của xã hội

Nữ quyền luận (Feminism) ra đời trong những thập niên 1960, 1970, gắn liền với phong trào giải phóng phụ nữ Đó là một nỗ lực lí thuyết hóa vấn

đề nam/ nữ trên tinh thần giải cấu trúc Nó tự tạo ra chiến lược diễn ngôn chống lại diễn ngôn nam quyền hay văn hóa duy dương vật (phallocentric culture)

Chủ nghĩa nữ quyền trên thế giới đã trải qua ba giai đoạn đấu tranh Giai đoạn thứ nhất khởi đầu từ nước Anh sau đó lan ra các nước quốc gia phương Tây từ nửa sau thế kỉ XIX đến nửa đầu thể kỉ XX Đại diện của giai đoạn này chính là Mari Wollstonerast được ví như mẹ đẻ của chủ nghĩa nữ

quyền với cuốn Bản chứng minh các quyền của phụ nữ (A Vindication of de

Rights of Women, 1792), bà cho rằng phụ nữ không phải thấp kém hơn đàn

ông, chẳng qua là họ thiếu đi sự giáo dục Theo bà cả đàn ông và phụ nữ phải được đối xử với nhau bình đẳng và mường tượng về một trật tự xã hội dựa trên nguyên lí đó Tiếp theo là Viginia Woolf nhà nữ quyền học đầu tiên của phương Tây sáng lập ra bộ môn phê bình văn học cho nữ giới – với tác phẩm

Trang 20

Một căn phòng riêng (A Rom of One is Own, 1929) được coi như “sách vỡ

lòng” của nữ quyền, với những khái niệm mở về đàn bà và tinh thần dung hòa

cả hai mối

Giai đoạn thứ hai, chủ nghĩa nữ quyền bắt đầu rầm rộ ở Tây Âu và Bắc

Mỹ sau đại chiến Thế giới thứ hai và phát triển lên cao trào trong thập niên

60 của thể kỉ XX Đại diện tiêu biểu nhất của giai đoạn này là Simone de

Beauvoir (1908 - 1986) nữ nhà văn Pháp trong cuốn Giới tính thứ hai (The Second Sex) Theo nhận xét của các dịch giả tiếng Anh, Giới tính thứ hai là

một chuyên luận triết học và “là một trong những tác phẩm quan trọng của thể

kỉ XX làm cơ sở lí luận cho phong trào nữ quyền” Beauvoir cho rằng “nữ tính” (femininity) được dùng với nghĩa là tập hợp những đặc trưng về xã hội của nữ giới (không phải là những đặc trưng tâm sinh lí) Theo bà những đặc trưng xã hội này không phải là cái vốn có của phụ nữ, mà chỉ là tư tưởng của nam giới gán cho phụ nữ nhằm mục đích chứng minh rằng phụ nữ không có

khả năng bình đẳng với nam giới “Là phụ nữ thì phải tỏ ra, mình là người

yếu đuối, vô tích sự, thụ động, ngoan ngoãn”[31, tr50] Trong tác phẩm này

bà đã có một tuyên ngôn khuấy động tri thức nhân loại “Người ta sinh ra

không phải là đàn bà, mà trở thành đàn bà” “Trở thành” là kết quả giáo huấn từ gia đình, xã hội, văn hóa, đạo đức…và còn được hiểu là sự phụ thuộc vào đàn ông.” [15, tr50]

Các nhà Nữ quyền luận sau này chủ trương thực hiện một chiến lược diễn ngôn mới cho phụ nữ trong hệ ý thức đối lập diễn ngôn phụ quyền Chiến lược này bắt đầu bằng giải nhị nguyên phạm trù đối lập: nam/ nữ Nữ không phải là cái khác, cái phụ thuộc như quan niệm truyền thống rằng, “đàn

bà là đàn bà bởi một sự thiếu thốn nhất định về những phẩm chất” (Aristotle);

đàn bà là cái sườn của đàn ông (Kinh thánh), là dương vật bị lộn vào trong

hay người đàn ông bất toàn (imperfect men)

Trang 21

Bước chuyển mình qua ba giai đoạn phát triển căn cốt đã đưa lí thuyết phương Tây tiếp cận vấn đề giới ngày càng sâu sắc, đa chiều với hàng loạt các nhánh rẽ phong phú, táo bạo Ngày nay, vấn đề nữ quyền đã thực sự xuyên thấm vào mọi lĩnh vực, đời sống rồi tiếp tục phân nhánh mạnh mẽ sang các vấn đề khác trong mối tương liên với những ngành khoa học khác như: phân tâm học, xã hội học, nhân chủng học, văn học v.v…

Như vậy cốt lõi của nữ quyền chính là xác lập bản thể nữ đối với thế giới, đó là việc dịch chuyển cái nhìn thế giới bằng nhãn quan nữ, là việc nghi ngờ, kiến tạo lại bằng giải huyền thoại đàn ông là trung tâm Lâu nay những giá trị nữ đều do xã hội nam quyền kiến tạo Xã hội nam quyền đã trùm lên phụ nữ những chuẩn mực chỉ để có lợi cho nam giới Những bản tính nữ được xem là vẻ đẹp vĩnh cửu của nữ giới như giàu đức hy sinh, vị tha, đảm đang, tiết hạnh… đã trở thành xiềng xích ngọt ngào, giam hãm nữ giới bao thế hệ

Nữ quyền luận đã chỉ ra rằng cái bóng của những giá trị truyền thống ấy thực chất như những “vòng kim cô” cầm tù và làm mòn bản ngã, biến người phụ

nữ trở thành công cụ trong tay nam giới

1.2 GIỚI NHƯ MỘT HIỆN TƯỢNG VĂN HÓA – XÃ HỘI

1.2.1 Giống và giới

Các nhà nữ quyền luận, rộng hơn là các nhà khoa học về giới, trong đó

có khoa học chuyển giới, khi nói đến sự phân biệt nam và nữ, trước hết cần phân biệt phạm trù: cái thuộc tự nhiên và cái thuộc kiến tạo xã hội

Năm 1968, trong cuốn Sex and Gender: On the Development of

Masculinity and Femininity, Robert Stoller đưa ra hai thuật ngữ để phân biệt

hai phạm trù: Gender và Sex Trong khi khái niệm Sex thường dùng lâu nay, theo Stoller, chủ yếu dựa vào đặc điểm sinh lý (gồm cấu tạo thân xác, hoạt động tính dục), còn Gender là những thuộc tính xã hội (gồm những kiến tạo

về chức năng xã hội như lối sống, ứng xử văn hoá, ngôn ngữ, kinh nghiệm

Trang 22

sống, sự phân công và chia sẻ sản phẩm lao động, quyền thừa kế…) Sự chuyển ngữ hai thuật ngữ này khá phức tạp, thậm chí bị rối loạn Có người chuyển ngữ Gender là giống, Sex là giới đúng như cách dịch thuật phổ thông Nhưng một số chuyên gia văn học lại đảo ngược, Gender là giới hoặc giới tính, còn Sex là giống Nhưng rốt cuộc, khi nghiên cứu về giới và để có một chuyển ngữ tương đương, khái niệm Sex với tư cách là giới vẫn được dùng phổ thông hơn

Điều này cũng hợp lẽ, bởi thực chất, trong các cuộc tranh luận của các chuyên gia thuộc đại học tại Hoa Kỳ và Canada, người ta đã chỉ ra sự phân biệt Gender và Sex chỉ là tương đối Các nhà nghiên cứu về giới, cuối cùng đã chỉ ra, tất cả những kiến tạo xã hội đều dựa trên tự nhiên, mặc dù có thể kiến tạo đó là sai lầm Chẳng hạn, ngay trong hoạt động sinh lý, tình dục, người phụ nữ ngồi tiểu hay phải nằm dưới không chỉ là một căn cứ tự nhiên được cho là phù hợp với cấu trúc thân xác mà đó còn là một kiến tạo xã hội về văn hoá, ứng xử Sự sai lầm chỉ khi lợi dụng tự nhiên, người ta đã áp đặt lên thân phận thấp hèn của phụ nữ Tương tự, việc xác lập phái mạnh cho người nam, phái yếu cho người nữ dẫn đến phân công lao động: người nam chiến đấu, săn bắn, và các lao động nặng khác, người nữ hái lượm, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái và chăm lo gia đình, kể cả quyền phân phối cái ăn dẫn đến phân phối tài sản hoàn toàn dựa vào đặc tính tự nhiên Việc một số bộ tộc cho đến nay vẫn còn duy trì quyền thừa kế thuộc người nữ cũng là những kiến tạo xã hội trên nền kiến tạo tự nhiên Các sai lầm bắt đầu từ các diễn ngôn: một tư tưởng hệ cùng sự chi phối của quyền lực (bao gồm kỷ luật và hình phạt) đã xuyên tạc tính phù hợp giữa chức năng tự nhiên và chức năng xã hội Huyền thoại Cựu Ước là một diễn ngôn đánh tráo vai trò sinh sản cho đàn ông, từ Thượng Đế đến Adam đều là những đấng sinh thành, Eva chỉ là cái khác, cái phụ thuộc sinh ra từ đàn ông, Đến mức, sự hành kinh và sự sinh sản của đàn bà là hậu

Trang 23

quả của một tội lỗi, tội ăn Trái cấm Hệ quả, phương Tây thống trị dai dẳng tư tưởng: đàn bà chỉ là cái túi rỗng để đàn ông cấy sự sống vào đó Âm Dương luận của phương Đông khi khúc xạ qua Nho giáo, vai trò Nam thuộc dương tốt, Nữ thuộc Âm xấu, bề ngoài có vẻ căn cứ vào tự nhiên, nhưng bên trong là một kiến tạo giành hết ưu thế cho nam giới để củng cố thể chế phụ quyền: đàn ông, từ quân, sư, phụ, tử (con trai) đóng vai trò thống trị tuyệt đối Điều đó đã dẫn đến hiện tượng khó phân biệt đâu là tự nhiên, đâu là kiến tạo xã hội Cả hai thế hệ, từ những tư tưởng giải phóng phụ nữ đầu tiên ra đời ở Pháp rồi lan sang thế hệ thứ hai ở Mỹ, Canada, các nhà giới học tranh luận không hồi kết

về sự phân biệt giống và giới, kết quả là chấp nhận tính tương đối trong mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên và xã hội, giữa sự thật và tính nguỵ biện Điều quan trọng của học thuật là tính khách quan khoa học, bằng cách nào đó, khoa học phải vươn đến một hệ giá trị cho thời đại giải phóng phụ nữ: phụ nữ

và cả nam giới biết mình là ai để đi đến đối xử bình đẳng và thực hiện đúng thiên chức tạo hoá ban cho

Từ cuối thập niên 1980, dưới ảnh hưởng của hậu cấu trúc luận và chủ nghĩa hậu hiện đại, các nhà nữ quyền thuộc thế hệ thứ ba xác định dứt khoát rằng, cả Gender hay Sex đều chỉ là vấn đề thể hiện (representation), sự thể hiện đó thông qua một hệ thống các ký hiệu - biểu trưng (sign – symbolic) Với tư cách là các ký hiệu – biểu trưng, dù là giống hay giới cũng đều là sản phẩm văn hoá, tức kiến tạo xã hội Barbara Johnson cho rằng, vấn đề giới tính thực chất là vấn đề ngôn ngữ Dale Spender vạch trần cái ngôn ngữ chúng ta đang sử dụng hiện nay vốn là ngôn ngữ của nam giới mà phụ nữ là kẻ ăn theo nói leo Bằng chứng, các ký hiệu – biểu trưng đều là nguỵ trang sự thật do tất

cả những sự thật về phụ nữ đều bị cấm, bao gồm cấm tục, cấm dục Judith Butler tổng kết: cả giống lẫn giới tính đều có tính chất trình diễn (performance), và với sự trình diễn ấy, đàn ông đóng vai trò như là đạo diễn

Trang 24

cho một vở kịch mà nhân vật trung tâm chi phối tất cả chính là đàn ông Các nhà nữ quyền hậu hiện đại gọi mỉa mai đó là một thứ “trung tâm luận thần ngôn” (logocentrism), một chủ nghĩa duy dương vật (phallocentrism), đến lúc phải bị hoài nghi và xem xét lại

Sự quy về giới như một diễn ngôn với các đặc điểm 1) xã hội hoá đặc điểm tự nhiên về giới theo trật tự tôn ti của chế độ phụ quyền, 2) lấy ngôn ngữ làm trung tâm, cụ thể là ngôn ngữ đàn ông, để xây dựng các ký hiệu – biểu trưng như một thứ sức mạnh điều hành cơ chế của trật tự tôn ti, bao gồm cấm

kỵ và nguỵ trang dục vọng, phê bình nữ quyền đã có ứng dụng sâu sắc vào việc nghiên cứu văn học nghệ thuật Bản chất đặc trưng của phê bình nữ quyền là tinh thần phản biện các kiến tạo văn hoá, tìm thấy bên dưới các ký hiệu - biểu trưng bề mặt là những dấu tích bị che đậy về dục vọng quyền lực của đàn ông và những ham muốn bản năng của phụ nữ Các ký hiệu-biểu trưng ấy, theo nhà phân tâm học cấu trúc J Lacan luôn chứa đựng các phức cảm như một động lực tâm lý bên trong Văn học nghệ thuật là nơi nguỵ trang kín đáo nhưng cũng là nơi hé lộ nhiều sự thật nhất của bản chất người trong vấn đề về giới

Ở Việt Nam, trong Dự thảo Luật bình đẳng giới của Hội liên hiệp phụ

nữ Việt Nam năm 2006 “Giới chỉ đặc điểm, tính cách, vai trò, trách nhiệm, quyền lợi của giới nữ và giới nam do xã hội quy định.”

Trong Luật bình đẳng giới 2007 “Giới chỉ đặc điểm, vị trí vai trò của

nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.”

Theo Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam thì giới “là phạm trù chỉ quan niệm,

vai trò và mối quan hệ xã hội giữa giới nam và giới nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và giới nam các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được”

Hoàng Bá Thịnh trong “Xã hội học về giới” định nghĩa giới như sau:

Trang 25

“Khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới Những quy định/ mong đợi xã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh

tế, xã hội và tôn giáo; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có

sự khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội.”

Trong luận văn này, chúng tôi theo quy ước phổ thông Rằng nếu giống thuộc bản thể tự nhiên, thì giới lại là sự sắp đặt, sự kiến tạo của xã hội đã hình thành những nếp suy nghĩ, định kiến khác nhau về giới Sự ấn định này có cả trước khi họ được sinh ra Nhắc đến giới nữ ta nghĩ ngay đến phẩm chất, nét tính cách nhẹ nhàng, cả tin, lệ thuộc, không gian sống của họ chủ yếu là bếp núc, chợ búa… Còn giới nam là khả năng làm chủ, mạnh mẽ, quyết đoán…

và trong hai giới này nữ giới chịu thân phận lệ thuộc như một luật bất thành văn Đó chính là những khuôn mẫu về giới hoàn toàn do kiến tạo xã hội áp

đặt nên Theo Beauvoir: “thân phận người nữ dưới hai vai trò chủ đạo mà về

tự nhiên họ luôn là đối tượng thực hiện: làm vợ và làm mẹ Theo đấy hôn nhân là địa hạt truyền thống là địa hạt thiết lập uy quyền tuyệt đối của nam giới Phụ nữ trong hôn nhân trở thành thứ kí sinh: một thân phận bị định đoạt, một tài sản tượng trưng truyền đời của những người đàn ông, bị chuyền

từ tay người cha sang người chồng… Dù người ta có gán cho nó những “tấm áo” mẫu tính thiêng liêng và hạnh phúc, thì chính cái ảo tưởng lấp lánh ấy lại cho thấy sự yếm thế và giới hạn của phụ nữ” [31, tr50]

Còn với Bordieu, “ở trường nhận thức chung trong đời sống người ta

tạo lập những phân biệt về giới dựa trên các đặc điểm sinh học khác nhau Những yếu tố tự nhiên cho thấy tính riêng biệt của mỗi giới đã bị sử dụng để biện minh cho quá trình kiến thiết xã hội thành từng thang bậc, từng hệ quy chiếu, từng lĩnh vực, từng vị thế để theo đó đặt hai giới vào” [3, tr50]

Trang 26

Việt Nam là đất nước nằm trong vùng ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa phong kiến phương Bắc, nhất là ảnh hưởng Nho giáo đã ấn định nên vị trí hai giới cụ thể trong xã hội, và còn để lại dư âm cho tới ngày hôm nay

1.2.2 Giới trong xã hội Việt Nam

Trong những buổi bình minh của lịch sử, hầu như đất nước nào, dân tộc nào cũng kinh qua một thời kì mẫu hệ Theo các nhà khảo cổ, ở Việt Nam đã tồn tại thời kì mẫu hệ khá dài, với vai trò hết sức quan trọng của phụ nữ trong gia đình và xã hội Thời nguyên thủy, phụ nữ đảm đương vai trò hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi sơ khai và phân phát thức ăn cho cả thị tộc Giã từ thời kì

đồ đá, xã hội khoác lên mình tấm áo mới, nền nông nghiệp lúa nước ra đời, hơn ai hết phụ nữ giữ vai trò hết sức quan trọng Vai trò của phụ nữ đi vào lịch sử như một chứng tích rất đỗi hào hùng Minh chứng rõ nét đó chính là tục thờ nữ thần Tục thờ nữ thần của người Việt đã xuất hiện từ lâu đời và phát triển trải qua các thời kỳ lịch sử trên cơ sở truyền thống coi trọng vai trò của người phụ nữ Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam được xây dựng và lưu truyền từ huyền mẹ Âu Cơ, bố Lạc Long Quân đến việc thờ các nữ thần nông nghiệp như bà Dâu (Chùa Dâu), bà Đậu (chùa Bà Đậu); thờ các Mẫu Tam Phủ (Trời- Đất- Nước), Mẫu tứ phủ (Trời- Núi- Nước-Đất), Mẫu Tứ pháp (Mây-Mưa-Sấm-Chớp) đến các nghi lễ thờ cúng “Mẹ Lúa” của nhiều dân tộc

ở Việt Nam Điều đó đã phản ánh vai trò quan trọng của người phụ nữ trong nghề nông từ thời cổ đại và xuyên suốt tiến trình lịch sử cho đến ngày nay Như vậy, ngay từ những ngày đầu sơ khai, phụ nữ hết sức được coi trọng Dần dà, đời sống nông nghiệp mỗi ngày một phát triển, người đàn bà một phần vì sức khỏe kém, phần vì trở ngại việc sinh sản nên đàn ông tiến đến vai trò chính trong canh tác cùng chiến đấu với bộ lạc khác Đồng thời với sự tăng gia sản xuất, địa vị của đàn ông cũng thay đổi theo Địa vị này, đưa dần

xã hội vào chế độ phụ hệ mà có lẽ đến đầu kỷ nguyên Tây Lịch, xã hội Việt

Trang 27

Nam mới thực sự thống trị và ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa

Thời Tây Hán, Nho giáo đã được du nhập vào xã hội Âu Lạc cũ để làm công cụ nô dịch và đồng hóa nhân dân ta về tư tưởng và tinh thần Như một vị vua bị truất ngôi, giới nữ trước đó được coi trọng, thì bấy giờ bị đẩy ra rìa của

xã hội với sự lên ngôi của nam giới Chế độ phụ quyền thay thế cho mẫu hệ kiến tạo nên một xã hội bất bình đẳng giới, trong mọi mặt, trong mọi lĩnh vực của đời sống Những định nghĩa, những ám chỉ, những quan niệm thiên kiến

đã phủ bóng xuống người phụ nữ trong một thời gian dài đằng đẵng

Trong cái bóng văn hoá phong kiến cổ hủ từ phương Bắc chụp xuống theo sau các đội quân xâm lược, thân phận người phụ nữ khổ nhục vì hủ Nho: trọng nam khinh nữ; truyền khẩu tục ngữ như: “nữ sinh ngoại tộc” tức con sinh ra là gái thì kể như bị đặt ra ngoài dòng họ, hay hôn nhân sinh con thì

“nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”, sinh đến 10 con gái cũng kể như không sinh Cũng vì tư duy áp đặt này đã tạo nên cảnh làm trai thì “năm thê bảy thiếp”, phận đàn bà thì “chí quyết một bề nuôi con” Hủ Nho cũng đề ra án lệ

“tứ đức, tam tòng” để khống chế người phụ nữ, phải có tứ đức là “công, dung, ngôn, hạnh” và tam tòng là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Tòng phụ là cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, tòng phu là phu xướng phụ tùy những tưởng thân phận phụ nữ sẽ cam chịu trước những giáo điều vô lí

ấy, uất hận trào dâng trong họ dần nhen nhóm tiếng nói phản kháng

Trước khi phong trào nữ quyền cất tiếng nói chính thức, tư tưởng nữ quyền đã manh nha trong những làn điệu ca dao, dân ca:

Ba đồng một mớ đàn ông Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha

Ba trăm một mụ đàn bà, Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi

Một chế độ nô dịch người phụ nữ, họ là bề tôi, thấp hèn thì bài ca dao trên

Trang 28

hoàn toàn đi ngược lại với nhãn quan của xã hội phong kiến Ở đó nam giới mất đi địa vị thống trị, nữ giới vốn thân bèo bọt bỗng chốc được đề cao, trở nên có giá trị Đó chính là tiếng nói phản kháng đòi trả lại sự công bằng cho

nữ giới

Hay trong vở kịch Quan âm Thị Kính, Thị Mầu đảm vai phản diện

với sự lẳng lơ, đĩ thõa, nhưng xét cho cùng Thị đã bứt phá khỏi sự ràng buộc của cương thường để được sống và tồn tại với bản ngã Giáo lí phong kiến không cho phép nữ giới chủ động tìm đến tình yêu, tình dục càng khắt khe hơn thế Nhưng Thị Mầu cả gan chống chế cả xã hội để tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình mặc xã hội bêu rếu Sự nổi loạn ấy nhà thơ Anh Ngọc từng đánh giá:

Những xiềng xích phết màu sơn đạo đức Mấy trăm năm không khóa nổi Thị Màu

(Thị Mầu, Anh Ngọc)

Đặc biệt cuối thể kỉ XVIII đầu thể kỉ XIX, tiếng nói nữ quyền đã cất lên công khai trong những áng thơ Nôm qua những sáng tác của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du Nói đến nữ sĩ Hồ Xuân Hương người ta nghĩ ngay đến tứ thơ táo bạo, đanh thép Bà không ngần ngại ném thẳng vào lễ giáo những tiếng chửi đầy chua ngoa, đanh đá:

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,

Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

(Lấy chồng chung, Hồ Xuân Hương)

Ngôi nhà một chồng, nhiều vợ thì hạnh phúc như chiếc chăn quá chật, người ấm kẻ không Thảm cảnh làm lẽ uất nghẹn trong lòng nữ sĩ và lâu dần bộc phát thành tiếng chửi thề vào một xã hội bất công Tiếng nói nữ quyền manh nha và bộc lộ rõ rệt cùng với sự báo hiệu chế độ phong kiến suy tàn

Cho đến tận bấy giờ, người đọc vẫn không thể quên một nàng Kiều vốn

Trang 29

thuộc dòng Nho gia, nhưng Thúy Kiều quay lưng với đạo lí trốn song thân để

tìm đến tình yêu:

Cửa ngoài vội rủ rèm the Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình

(Truyện Kiều, Nguyễn Du)

Điểm qua một vài sáng tác ở bộ phận văn học dân gian và văn học viết mới thấy rằng tư tưởng nữ quyền đã hé lộ và dần trở nên mạnh mẽ

Bước sang thể kỷ XX, hệ tư tưởng phong kiến suy tàn, cùng với sự du nhập của văn hóa phương Tây đã kéo theo sự thay đổi trên nhiều bình diện

Sự nhìn nhận và đánh giá về vai trò và vị thế của nữ giới bước đầu được quan

tâm Ngay từ năm 1907, trên Đăng Cổ tùng báo, một tờ báo tiếng Việt hiếm

hoi lúc bấy giờ đã xuất hiện mục “Nhời đàn bà” như một diễn đàn của phụ nữ

Ra đời trong bối cảnh của phong trào Duy tân và Đông Kinh nghĩa thục,

những vấn đề phụ nữ trên Đăng cổ tùng báo do đó chủ yếu nhằm phê phán hủ

tục trong tang ma, cưới xin tục đa thê và những quan niệm không đúng về việc phụ nữ đi học

Năm 1913, trên Đông Dương tạp chí, mục Nhời đàn bà lại xuất hiện

Lần này, trong xu hướng “dung hòa văn hóa Đông Tây”, những vấn đề phụ

nữ được mở rộng hơn, không chỉ nhằm phê phán phong tục, tập quán cũ mà còn bao hàm cả việc truyền bá khoa học và văn minh phương Tây

Nhìn chung, mục Nhời đàn bà trên Đăng cổ tùng báo và Đông Dương

tạp chí chủ yếu đều do Nguyễn Văn Vĩnh viết dưới tên phụ nữ Đào Thị Loan

Nguyễn Văn Vĩnh là người Tây học, chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa phương Tây, vì vậy, những vấn đề phụ nữ mà ông nêu ra phản ánh những thay đổi do điều kiện kinh tế xã hội mang lại, cũng như báo động về một lối sống mới, lối sống thị dân tư sản mới bắt đầu biểu hiện qua sinh hoạt của phụ

nữ đô thị Việc nhìn nhận vai trò và vị trí của phụ nữ tuy có tiến bộ khi đánh

Trang 30

giá vai trò của phụ nữ trong gia đình, nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó Sự bình đẳng nam nữ chỉ được hiểu là sự bình đẳng trong vấn đề giáo dục để phụ nữ làm tròn bổn phận của mình đối với gia đình Những quan niệm về vị trí của phụ nữ vẫn là những quan niệm của lễ giáo phong kiến nhằm ràng buộc phụ

nữ vào gia đình, chồng con như quan niệm người phụ nữ phải: “coi mình như một vật mọn trong cuộc đời người đàn ông”, “lấy việc hi sinh cho chồng con làm đạo sung sướng của đàn bà, dùng tài đức của mình để đảm đang việc nhà, giúp chồng con gây dựng việc lớn lao”

Vấn đề nữ quyền bắt đầu được đề cập trên Đông Dương tạp chí trong bài Về thói trọng nam khinh nữ của ta năm 1914 và bài Sự giáo dục đàn bà

con gái của Phạm Quỳnh năm 1916 Cả hai bài đều đánh giá cao vai trò của

phụ nữ trong gia đình, nhưng cho rằng phụ nữ vốn bị đánh giá thấp suy cho cùng “chỉ vì không có học thức mà thôi” và quyền bình đẳng nam nữ được hiểu là “phải lưu tâm đến việc giáo dục đàn bà” Cuộc đấu tranh đòi nữ quyền

là cuộc đấu tranh “sao cho nữ quyền chúng ta ngày càng nhớn và làm thiên hạ kinh hồn bạt vía chẳng dám khinh chi đến lũ má hồng quần lĩnh chúng ta”

Sự biến động cùng những va chạm với văn hóa phương Tây về quyền con người làn sóng đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho nữ giới ngày càng mạnh mẽ có hệ thống ở Việt Nam Là một nhà ngôn luận Phan Khôi được xem là người cất tiếng nói nữ quyền mạnh mẽ nhất đầu thể kỉ XX Thời gian

cộng tác cho Phụ nữ nhân văn (1929 – 1932) và là chủ bút tờ Phụ nữ thời

đàm (1933- 1934) đã viết nên hàng trăm bài báo họa lại đời sống của người

phụ nữ mặc dù có vai trò đặc biệt nhưng vẫn bị ngược đãi Bên cạnh viết báo

Phan Khôi còn viết tiểu thuyết với tác phẩm nổi tiếng Trở vỏ lửa ra in trên Phổ thông bán nguyệt san, số 4 (1939) Tác phẩm mang tính luận đề rõ

nét khi ông viết những người phụ nữ tân thời chống lại hủ tục lạc hậu thời phong kiến Mục đích chung trong những nghiên cứu của ông nhằm đấu tranh

Trang 31

giành bình quyền cho phụ nữ, giải phóng phụ nữ khỏi những quan điểm phụ quyền, đưa xã hội thoát khỏi thời trung cổ lạc hậu

Như vậy sự vận động đi lên của xã hội đã làm cho người phụ nữ thay đổi về vị thế lẫn những cảm xúc riêng tư Những quan niệm mới về giới nữ được thiết lập đã tạo ra sự va đập với các chuẩn mực truyền thống Giới nữ ngày nay có phần rời xa những thuần phong mỹ tục đã được đặt ra trước đó Mẫu hình nữ nhi truyền thống không còn là thước đo chuẩn mực cho người phụ nữ hiện đại Nếu như trước đây, toàn bộ diện mạo, thân phận, bản tính, địa vị… của nữ giới như thế nào là do diễn ngôn nam giới tạo ra và quyết định thì giờ đây – khi bừng tỉnh phát hiện tất cả chỉ là trò chơi ngụy tạo, ngụy tạo của diễn ngôn lẫn văn hóa, thì nữ giới đã tiến hành kiến tạo những biểu tượng thiên kiến về giới nữ, họ chống lại sự xuyên tạc, sự áp chế của nam giới

và đòi hỏi định nghĩa lại về phụ nữ Người phụ nữ không phải sống một cuộc sống do các thiết chế của người đàn ông dựng nên Họ xây dựng những diễn ngôn cho riêng mình, không nhằm hạ thấp nam giới mà khẳng định giá trị mình trong cuộc sống

Tất cả những làn sóng đấu tranh để giành lại bình quyền cho giới nữ đều bước đầu mang lại những hiệu quả đáng ghi nhận Quyền uy tuyệt đối thuộc về nam giới có vẻ như đã được lật ngược, xóa mờ, phản biện tuy nhiên đó dường như là ảo tưởng bề ngoài Theo Bourdieu nhận định:

“Thực chất địa vị đàn ông vẫn thường trực đảm bảo và khắc ghi thông qua sự truyền dạy liên tục, lặng lẽ, vô hình của các kênh giáo dục, truyền thông, xuất bản,v.v Tại đó, tôn ti trật tự của nam giới và nữ giới tiếp tục được duy trì một cách ngầm ẩn, một sự tự nguyện từ vô thức” [31, tr52]

Đơn giản ngay trong việc chọn lựa đồ chơi cho con trẻ vẫn cho thấy vị thế của từng giới Bé trai thường được cha mẹ khuyến khích sử dụng những món đồ chơi nam tính, quyền làm chủ, mang tính chất mạnh mẽ như súng,

Trang 32

kiếm, xe hơi… Ngược lại bé gái lại gắn với những đồ chơi mong manh, yếu mềm thể hiện sắc thái lui về gia đình như những dụng cụ nhà bếp, khâu vá… Hay tất cả các hành vi cử chỉ đều được ngấm ngầm quy định, giới nam thường gắn với những hành vi, cử chỉ mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt Trong khi đó nữ giới lại e ấp, dịu dàng, đi nhẹ nói khẽ cười duyên Trang phục của nữ giới cũng phải toát lên vẻ nữ tính từ màu sắc cho tới kiểu dáng Như vậy trải qua hàng trăm năm đấu tranh cho một xã hội công bằng giữa hai giới đã đem đến những hiệu quả đáng ghi nhận nhưng để xóa bỏ hẳn định kiến hằn sâu trong vô thức là một bài toán không hề đơn giản

TIỂU KẾT

Con người vốn là những thực thể sinh học mang những đặc điểm nhất định về giống loài Có thể khẳng định không có giới nào hơn giới nào trong công cuộc xây dựng, kiến thiết cuộc sống Người đàn ông có thể chăm sóc những đứa con, dạy con sự khéo léo; người mẹ cũng có thể dạy cho con sự khôn ngoan, trí tuệ Người đàn ông gánh vác việc nhà thì người vợ cũng có thể “gánh vác cả giang san nhà chồng” Bình sinh con người vốn bình đẳng, nhưng kiến tạo xã hội đã đẩy phụ nữ vào vòng luẩn quẩn mà ở đó đau khổ thường trực Huyền thoại, tôn giáo chính là mầm mống, căn nguyên cho những đau khổ ấy Đưa nam giới lên vị trí thống trị, nữ giới phải sống kiếp tôi đòi, bấp bênh, vô định Khi nghiên cứu về giới Kamla Bhashin từng có phát biểu hết sức thuyết phục rằng: "Những người đàn ông trong gia đình như mặt trời, họ luôn có ánh sáng, ánh sáng ấy đang toả ra bao bọc họ (họ sở hữu các nguồn, họ có tài chính, họ năng động, họ có quyền đưa ra những quyết định ) Còn người phụ nữ như là những vệ tinh mà xung quanh chỉ có bóng tối Họ chỉ có thể có được ánh sáng khi mặt trời rọi xuống họ Đó là lí do tại sao người phụ nữ phải cạnh tranh với nhau không ngừng nghỉ để có được sự chia sẻ ánh sáng nhiều hơn Bởi nếu không có ánh sáng thì không có cuộc

Trang 33

sống, chỉ còn đêm tối lạnh lẽo" [31, tr 66]

Tuy nhiên, “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh” câu nói của Karl Marx trở thành kim chỉ nam cho mọi thời đại Bị đọa đày về thể xác lẫn tinh thần, tiếng nói phản kháng nhen nhóm và dần trở thành phong trào có quy mô, có

hệ thống Ngược dòng lịch sử, khi chữ viết chưa hình thành phụ nữ trút nỗi thở than vào những vần ca dao Là tiếng nói bập bẹ trẻ thơ của nhân dân, ca dao là nơi lưu giữ nhiều những giá trị tinh thần của nhân dân Ta bắt gặp trong ca dao “tiếng tơ đàn” ngân lên những giai điệu về tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, lời than thân trách phận, khúc hát bi thương của thân phận

nữ giới trước thân phận tầm gửi của mình Nhưng đó chỉ là những tiếng nói yếu ớt, không đủ sức chống lại cả một hệ tư tưởng Nho giáo, cả một thể chế chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hoá có bề dày hàng ngàn năm lịch sử của giai cấp thống trị đầy quyền năng Ở chương II, chúng tôi tập trung làm rõ các chủ

đề về giới, nhất là thân phận phụ nữ và những khát khao bình dị trong cuộc sống

Trang 34

Chương 2: HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ VỀ GIỚI TRONG

CA DAO VIỆT

2.1 GIỚI TRONG QUAN HỆ TÌNH YÊU, TÌNH DỤC

2.1.1 Giới trong quan hệ tình yêu

Là tiếng nói của tâm hồn, tình yêu đi vào ca dao như một lẽ tự nhiên

Cũng là những cung bậc, những thanh âm của tình yêu, song những giai điệu

ấy lại khác nhau ở nam và nữ Có thể nói tình yêu không tồn tại một nghĩa

giữa giới nam và giới nữ Chế độ phụ quyền phủ bóng mọi mặt trong đời sống

xã hội đến tình yêu vốn là thứ tình cảm muôn đời vẫn ý vị, vậy mà vẫn không

tránh khỏi những rào cản của luân lí

Tình yêu nảy nở trong những buổi bình minh, khi ánh mặt trời bắt đầu

ló rạng, khi cỏ cây còn ướt đẫm sương mai, khi chim muông còn ngái ngủ,

hay trong những buổi chiều tà khi mặt trời đã gác non đoài… Nói tới tình yêu

không thể không nhắc đến lời tỏ tình, bởi một lẽ lời tỏ tình là tiếng đàn đầu

tiên ngân lên trong giai điệu bản nhạc tình Có thể thấy rằng trong quan hệ

tình yêu, cất lên lời tỏ tình thường là các chàng trai, hoặc thẳng thắn, hoặc là

ỡm ờ “mượn gió bẻ măng”

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

Áo anh sứt chỉ đã lâu Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng

Đầu đình, nơi hò hẹn tình duyên của bao đôi lứa, chốn hội tụ đông vui của trai

Trang 35

thanh gái lịch Khung cảnh trữ tình ấy, tín hiệu giao duyên cất lên tình tứ “Bỏ

quên cái áo trên cành hoa sen” thời gian, không gian xác định, đến cái áo bỏ

quên kia cũng xác định Nhưng trong cái bối cảnh mà ta tin rằng không hề ngụy tạo kia lại đong đưa một cành hoa sen đã khiến ta phải nghi ngờ Sen vốn dĩ đâu có cành, hoa sen vốn mảnh mai, mềm yếu, có ai lại vắt áo lên đó bao giờ Hóa ra đó là cái cớ để chàng trai thộ lộ tâm tư Nhưng cũng có những lời tỏ không vòng vo, không lắt léo ta vẫn thường thấy trong ca dao:

Cô kia cắt cỏ một mình Cho anh cắt với chung tình làm đôi

Cô còn cắt nữa hay thôi Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng

vị, tinh tế và sâu sắc, lời thổ lộ cũng đầy dịu dàng, nữ tính:

Anh đà có vợ hay chưa

Mà anh ăn nói ngọt ngào có duyên

Mẹ già anh ở nơi nao

Để em tìm vào hầu hạ thay anh

Trong tình yêu của cả hai giới, nữ giới thường buộc phải thủy chung bởi luật lệ phụ quyền “trai năm thế bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”, cho nên lời thề hẹn thường nguyện một lòng một dạ với người mình yêu Khi yêu người con gái thường hay nhạy cảm, tình yêu của họ mãnh liệt đến vô

Trang 36

cùng Cho nên nhu cầu gắn kết hoặc mong muốn một tình yêu bất diệt luôn thường trực trong họ:

Trót lời đã bén duyên chàng

Dù cho nát đá phai vàng mới thôi Hòn đá cách Hàn xếp đổ lò nôi Cạn lòng con sông cái Thì tôi mới quên nghĩa chàng”

Hay:

Một lời thề không duyên thì nợ Hai lời thề không vợ thì chồng

Ba lời thề khơi núi lấp sông

Em quyết theo anh đi cho trọn đạo Kẻo luống công anh chờ

Có khi thề nguyền một cách quyết liệt dứt khoát như một sự kiên định

về tình yêu chung thuỷ suốt đời không đổi thay

Chừng nào núi Bụt hết cây Lại Giang hết nước, dạ này hết thương

Lấy cái vô tận để nói cái vô cùng cây núi Bụt, nước sông Giang thì không thể nào hết và không thể xác định hay cân, đo, đong, đếm được Và như thế, đem tình cảm của chính mình ra mà thề nguyền là một minh chứng rõ nhất, đáng quý của người con gái Vì thế:

Trăm năm lòng gắn dạ ghi

Dù ai đem bạc đổi chì cũng không Trăm năm quyết chí một chồng Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai Dầu cho đá nát vàng phai Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào

Trang 37

Trăm năm không bỏ người chồng Vải thưa nhuộm lấy màu đen Vải thưa mặc vải màu xinh khen màu Trăm năm tạc một chữ đồng Dầu ai thêu phụng vẽ rồng cũng không Trăm năm trăm tuổi một chồng Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai…

Thủy chung là thế, son sắt là thế nhưng trong tình yêu nữ giới giữ thế

bị động nên thường chịu thiệt thòi, và thường nhận về nhiều những nhiều ngang trái, khổ đau

Chàng ơi phụ thiếp làm chi Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng

Câu ca dao vang lên như một sự van vỉ, xen lẫn sự bẽ bàng chua xót Họ ví mình tạm bợ như “cơm ngội đỡ khi đói lòng” của nam giới Chua chát là thế nhưng vẫn chứa đựng một sự cam chịu, một sự nhẫn nhịn, không phán kháng

Họ bị mất tiếng nói trong địa hạt tình yêu Người phụ nữ trong tình yêu đôi khi là sự khước từ mình Hạ thấp những giá trị của bản thân, bởi lẽ dầu họ có

là tuyệt sắc giai nhân đi chăng nữa cũng là thân phận lệ thuộc

Trong lối sống của người con gái xưa, không hẳn ai cũng đoan chính,

không hẳn ai cũng thủy chung, son sắt Những lời trách móc đối với “nửa

kia” của người con trai không hề hiếm:

“Công anh chăm nghé đã lâu

Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày”

Hay như

“Công anh đắp đập be bờ

Để ai tháo nước để lờ anh trôi”

Tuy nhiên, sự phụ bạc ấy xuất hiện không nhiều, có chăng là một mầm

Trang 38

phản kháng khi chính đàn ông là kẻ bội bạc Triết lý của tục ngữ “Ông ăn chả,

bà ăn nem” đầu têu vẫn là do “Ông ăn chả” và cũng hàm chứa ở đó sự phản kháng cực đoan của sự đòi hỏi bình đẳng Và như một mặc định, người con gái trong xã hội xưa nếu trải qua nhiều mối tình, không cần biết lí do chấm dứt những mối tình xuất phát từ nam hay nữ, nhưng cuối cùng điều tiếng vẫn nằm ở người con gái, rằng lẳng lơ, rằng không thủy chung Họ thậm chí rất

khó lập gia đình, vì quan niệm hà khắc của lễ giáo phong kiến đôi khi “giết

chết” tương lai của họ Khi lập gia đình, ngỡ yên bề gia thất nhưng người con

gái, nếu lỡ trải qua dăm ba mối tình trong quá khứ vẫn bị hiện tại lục lọi đem

Khi những cuộc tình “đứt gánh giữa đường” dòng nước mắt xót xa cứ nối tiếp chảy mãi trong ca dao, những giọt nước mắt ấy nhỏ sâu xuống tận tâm hồn người phụ nữ và lắng lại trong ca dao những xúc cảm trào dâng, mãnh liệt như tiếng vỡ òa trong đau đớn:

Anh nói với em như rìu chém xuống đá

Như rạ chém xuống đất Như mật rót vào tai Bây giờ anh đã nghe ai

Bỏ em ở chốn non Đoài bơ vơ

Rõ ràng xã hội thêu dệt và áp đặt nên mẫu hình lý tưởng về nữ giới với những đức tính thủy chung, giàu lòng hy sinh, sự vị tha… nên đã kéo theo nhiều hệ lụy Coi tình yêu là tất cả song họ thường bị bỏ rơi, bị phụ bạc, còn

Trang 39

đàn ông đó chỉ là một giá trị bên cạnh những giá trị khác

2.1.2 Giới trong quan hệ tình dục

Theo Từ điển bách khoa y học do Nguyễn Ngọc Lanh chủ biên thì

“Tình dục (sexual appetite) là thuật ngữ chung để chỉ năng lực, kiểu hành vi, xung lực, cảm xúc và các cảm giác gắn liền với việc sinh nở và sử dụng cơ quan sinh dục”

Đó chính là hoạt động của mọi sinh thể sống, nằm trong tứ khoái của người bình dân Hoạt động tính giao được mặc nhận như một nhu cầu phổ biến, thiết yếu của một con người bất kể sang - hèn, quý - tiện:

Cơm Phiếu Mẫu, gối Trần Đoàn

Ngửa nghiêng gối phượng, nhẹ nhàng nương long

Thời viễn cổ, con người cũng như động vật, sinh hoạt tình dục bầy đàn bất luận cùng huyết thống hay khác huyết thống, gọi là quần hôn tạp hôn Khi kiến tạo trật tự xã hội, bắt đầu từ luật ngoại hôn (hôn nhân ngoài huyết thống), hoạt động tình dục không còn bừa bãi như trước nữa Vốn là nhu cầu sinh lí

tự nhiên của con người nhưng tình dục hoàn toàn là sản phẩm của sự kiến tạo

xã hội Có thể thấy rằng trong khía cạnh nào của đời sống tất cả quy định thành văn, hay bất thành văn đều có lợi cho nam giới, còn nữ giới luôn nhận

về những thiệt thòi, trái ngang Ngay trong một khía cạnh đời sống những tưởng thuộc về bản năng, vẫn không thoát khỏi vòng cương tỏa của xã hội – hoạt động tình dục

Nhiều nghiên cứu cho rằng nhu cầu tình dục ở nam và nữ ngang bằng nhau, thậm chí ở nữ giới có nhu cầu lấn lướt nam giới Tuy nhiên trong xã hội phong kiến, nữ giới sống trong vỏ bọc không phải của chính mình mà bởi xã hội thiết kế nên Xã hội bạc đãi, trói buộc người phụ nữ, ngay cả những bản năng xác thịt Chỉ là một cái màng mỏng hình bán nguyệt, nhưng người phụ

nữ phải trả giá quá đắt nếu như có những phút chốc “Khôn ba năm, dại một

Trang 40

giờ” Quan hệ tiền hôn nhân bị cấm cản Nhưng nếu hệ quả của sự vụng trộm

ấy bại lộ bằng một bào thai thì đó ắt hẳn là nỗi nhục của cả dòng tộc Họ bị bêu rếu, bị lăng mạ, kết cục bi ai ấy là tấm gương mà nữ giới nhìn vào để lánh

xa Xã hội răn dạy đàn bà lấy chữ trinh làm trọng Nên cả cuộc đời họ quan hệ xác thịt chỉ dành cho người chồng của mình Âu cũng là một luân lí đẹp đẽ trong các quy chuẩn xã hội Tuy nhiên sẽ không có gì đáng nói nếu như người chồng của họ mất đi, cái phẩm giá ấy vẫn phải gìn giữ suốt cuộc đời Họ phải thủ tiết, nuôi con, hoạt động tình dục từ đó khép lại

Trái với nữ giới xã hội chỉ áp đặt chữ trinh lên thân phận người phụ nữ còn nam giới hành vi tình dục không bị gò ép trong khuôn mẫu Tục ngữ có

câu: "Vợ không bằng thiếp, thiếp không bằng lén lút vụng trộm" Chế độ đa

thê cho phép họ có trên một người vợ, cho nên hoạt động tình dục ở nam giới

có phần cởi mở hơn rất nhiều Chính những áp đặt ấy đã điều khiển các hành

vi tình dục từ cách thể hiện cho đến tư thế tình dục đều cho thấy sự chủ động đều thiên về nam giới

Những câu ca dao sau đây rõ ràng là lời của một nam nhân chòng ghẹo gái:

Sáng trăng vằng vặc, Vác cặc đi chơi Gặp con vịt trời, Giương cung định bắn, Gặp cô yếm thắm Đội gạo lên chùa Giơ tay bóp vú, Khoan khoan tay chú, Đừng bóp vú tôi Hôm nay ba mươi, Ngày mai mồng một,

Ngày đăng: 11/08/2021, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Châu Minh Hùng (2019), “Giải huyền thoại, lý thuyết và ứng dụng”. Mã số: T2018.595.44, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp trường, tr 119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải huyền thoại, lý thuyết và ứng dụng”. "Mã số": T2018.595.44, "Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp trường
Tác giả: Châu Minh Hùng
Năm: 2019
[2]. Châu Minh Hùng (2017) “Phân tâm học Freud và văn hóa nghệ thuật”, Tạp chí Khoa học – Trường ĐH Quy Nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học Freud và văn hóa nghệ thuật”, "Tạp chí Khoa học
[3]. S. Freud, C.Jung, G. Bachelard, G. Tucci, V. Dundes (Đỗ Lai Thúy biên soạn) (2000), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật
Tác giả: S. Freud, C.Jung, G. Bachelard, G. Tucci, V. Dundes (Đỗ Lai Thúy biên soạn)
Năm: 2000
[5]. Kinh Thánh, “Cựu ước và Tân ước”, Nxb Thuận Hoá, 1995, tr.2, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Thánh, “Cựu ước và Tân ước”
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
[6]. Lại Nguyên Ân, 2018, Phan Khôi - Vấn đề phụ nữ ở nước ta, Nxb Phụ nữ [7]. Lê Thị Nguyệt, 2008, Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyềnngười Việt, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ Văn trường Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Khôi - Vấn đề phụ nữ ở nước ta
Nhà XB: Nxb Phụ nữ [7]. Lê Thị Nguyệt
[9]. Nam Phong Tùng Thư, 2020, Khảo vè tiểu thuyết tục ngữ - ca dao, Nxb Văn hóa Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo vè tiểu thuyết tục ngữ - ca dao
Nhà XB: Nxb Văn hóa Văn nghệ
[10]. Nguyễn Đức Tồn (2002), “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ và tư duy ở người Việt”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ và tư duy ở người Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Tồn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
[12]. Nguyễn Thị Thịnh,(2008) “Định kiến giới trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội [13]. Nguyễn Văn Nở (2009), “So sánh biểu trưng tục ngữ với ca dao”, Vănhọc, (2), tr.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định kiến giới trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội [13]. Nguyễn Văn Nở (2009), “So sánh biểu trưng tục ngữ với ca dao
Tác giả: Nguyễn Thị Thịnh,(2008) “Định kiến giới trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội [13]. Nguyễn Văn Nở
Năm: 2009
[14]. Nguyễn Văn Nở (2009), “Biểu trưng trong tục ngữ người Việt”, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu trưng trong tục ngữ người Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Nở
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2009
[15]. Nguyễn Xuân Kính, 2017, Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia [16]. Nhiều tác giả, Giáo trình văn học dân gian, Nxb Giáo dục Việt Nam [17] Nhiều tác giả, 2013, Quốc triều hình luật, Nxb Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học dân gian
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia [16]. Nhiều tác giả
[22]. Vũ Thị Thuyết, Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ trong ca dao tình yêu người Việt, “Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học”, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học
[29] Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, (1977) Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[8]. Lê Thị Nhâm Tuyết, Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973 Khác
[11]. Nguyễn Thị Nga, 2017, Triết học nữ quyền Lý thuyết triết học về công bằng xã hội cho phụ nữ, NXB Chính trị quốc gia sự thật Khác
[23]Vai trò giới tính và nhận biết giới tính: Nghiên cứu về sự phát triển của con người, tác giả Judith Lober. Jonh C. Cavanaugh, Robert V. Kail, Nguyễn Kiên Trường dịch,(2006) Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội Khác
[28]. Jean Cheralier Alain Greerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, Đà Nẵng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w