BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN CAO THỊ BÍCH ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
CAO THỊ BÍCH
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HÓA
CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 8229020
Người hướng dẫn: TS NGUYỄN VĂN LẬP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Lập Các nội dung, những kết luận được trình bày trong luận văn là trung thực và chính xác, không sao chép bất
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu: 2
3 Lịch sử vấn đề: 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài: 5
7 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Khái quát về ca dao người Việt 7
1.1.1 Khái niệm về ca dao người Việt 7
1.1.2 Đặc điểm ca dao người Việt 11
1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa văn hóa trong ca dao người Việt 31
1.2.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 31
1.2.2 Ngữ nghĩa văn hóa trong ca dao 36
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC THÀNH TỐ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 39
2.1 Nhóm từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người 39
2.2 Khảo sát số lượng ca dao có từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người 43
2.2.1 Tài liệu khảo sát: 43
2.2.2 Kết quả khảo sát 43
Trang 42.3 Nhận xét chung 45
2.3.1.Tên bộ phận cơ thể người và tần suất xuất hiện trong ca dao
người Việt 45
2.3.2 Số lượng thành tố chỉ bộ phận cơ thể người xuất hiện trong câu
ca dao 49
Tiểu kết Chương 2 52
CHƯƠNG 3 TÍNH BIỂU TRƯNG CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT 54
3.1 Tính biểu trưng của ca dao 54
3.2 Một số biểu trưng của ca dao có từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người 57
3.2.1 Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người biểu trưng về cái đẹp 57
3.2.2 Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể biểu trưng về cái xấu 60
3.2.3 Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể biểu trưng về thân phận con người 65 3.2.4 Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người biểu trưng về tình cảm, cảm xúc của con người 72
Tiểu kết Chương 3 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Khuôn hình cơ bản của thể thơ lục bát 17 Bảng 1.2: Khuôn hình cơ bản của thể thơ song thất lục bát 19 Bảng 2.1: Số lần xuất hiện và tỉ lệ các thành tố chỉ BPCT trong ca dao
người Việt 44
Trang 7và văn hóa có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau “Ngôn ngữ vừa là điều kiện tồn tại vừa là sản phẩm văn hóa của nhân loại Bởi vậy, trong mọi nghiên cứu về ngôn ngữ nhất thiết cũng phải coi văn hóa là đối tượng của mình” (Vinocua, 1960- dẫn theo Phan Mậu Cảnh (2008), Lí thuyết và thực
hành văn bản tiếng Việt NXB ĐHQG Hà Nội).Tất cả các nhà khoa học đều đồng ý rằng, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện tư duy, là công cụ giao tiếp
mà nó còn phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc bởi sự phân cắt lớp nghĩa hiện thực, nó chính là chủ thể tri nhận, thuyết minh cho những ý nghĩa của văn hóa
xã hội hay nói cách khác muốn hiểu được bản sắc văn hóa dân tộc của mỗi
quốc gia ta phải nắm bắt rõ những khía cạnh về ngôn ngữ của quốc gia đó
Một trong những thể loại mang đậm dấu ấn văn hóa của dân tộc chính
là ca dao Có thể nói, yếu tố văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc được kết tinh rõ nét nhất ở ngôn ngữ dưới dạng ca dao Ca dao là mảnh đất màu mỡ phản ánh nếp văn hóa hơn 4000 năm văn hiến, lối sống, cách tư duy, suy nghĩ, phong tục tập quán của con người Việt Nam Việc đi vào nghiên cứu từ ngữ trong ca dao có thể làm rõ đặc trưng ngôn ngữ văn hóa của người Việt
Chính vì lí do đó, chúng tôi chọn “Đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao người Việt” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 82 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài luận văn này hướng đến những mục đích sau:
- Chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa thông qua việc khảo sát, thống kê các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao người Việt
- Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam qua các từ ngữ chỉ
bộ phận cơ thể người trong ca dao
3 Lịch sử vấn đề:
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa:
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Tiêu biểu, không thể không nhắc đến W.Humbold- một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, là đại diện tiêu biểu xuất sắc của ngôn ngữ học đại cương từ thế kỉ XIX Những tư tưởng về ngôn ngữ và văn hóa của ông đã góp phần không nhỏ ảnh hưởng đến hệ tư tưởng của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học về sau Ông đã nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa với cuốn sách nổi tiếng “Tính đa dạng trong cấu trúc của các ngôn ngữ nhân loại” Ông quan niệm rằng tất cả các từ trong ngôn ngữ đều là phương tiện nối kết các hiện tượng bên ngoài với thế giới bên trong của con người bản sắc riêng của mỗi dân tộc được thể hiện qua tiếng mẹ đẻ Và ngôn ngữ chính là nơi bảo lưu tinh thần, văn hóa dân tộc, sức mạnh liên minh giữa các dân tộc - tất cả để lại dấu ấn tài tình trong mỗi âm thanh
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn liên quan đến vấn
đề khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và văn hóa, trong đó có thể kể đến:
“Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)” của Nguyễn Đức Tồn [34] “Đặc trưng ngôn ngữ- văn hóa giao tiếp tiếng Việt” của Hữu Đạt (2009).[9]
Trang 9“Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” (Nguyễn Văn Chiến) [3]
“Nghiên cứu về cấu trúc 3 chiều : Ngôn ngữ- tư duy bản ngữ- văn hóa” ( Đinh Văn Đức, Đinh Kiều Châu (Tạp chí khoa học ĐHQG Hà Nội, Tập 3, số 5 2015)) [8]
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vấn đề đặc trưng ngôn ngữ- văn hóa trong tiếng Việt
- Nghiên cứu về ca dao:
Ca dao là một trong những sản phẩm trí tuệ, phản ánh tính đa dạng và phong phú về nhận thức của người Việt Đó được xem là nguồn tư liệu quý giá để có thể tìm hiểu những nét đặc trưng cơ bản về văn hóa của người Việt Nam Dựa trên cơ sở đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao Việt Nam, việc đi vào nghiên cứu ca dao Việt góp phần làm sáng về mặt văn hóa như đã nêu trên:
Sớm nhất là cuốn “Nam phong giải trào” (ra đời vào khoảng cuối TK XVIII- đầu TK XIX) Tiếp theo đó, nhiều công trình biên soạn ca dao ra đời bao gồm cả chữ Nôm và chữ Hán Ở chữ Nôm, ta có cuốn “Đại Nam Quốc Túng” của Ngô Giáp Đậu biên soạn năm 1908; cuốn “Quốc phong thi tập hợp thái” (1910); “Việt Nam phong sử” của Nguyễn Văn Mai biên soạn năm 1914,… Còn ở chữ Quốc ngữ, có cuốn “ Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Ngọc biên soạn năm 1928; cuốn “Phong dao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ” của Nguyễn Chiểu biên soạn năm 1934; cuốn “Văn học dân gian” của nhóm tác giả Vũ Ngọc Phan, Tạ Phong Châu, Phạm Ngọc Hi biên soạn năm 1972),…
- Nghiên cứu về từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người:
Nghiên cứu về đặc trưng ngôn ngữ- văn hóa các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
“Bình diện văn hoá- ngôn ngữ của nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt” (Như Ý, Văn hoá dân gian 1992) [40]
Trang 10“ Một số nhận xét về thành ngữ có từ chỉ BPCT trong tiếng Nhật” (Đỗ Hoàng Ngân, Ngôn ngữ năm 2002) [24]
“Cấu trúc hai bậc trong ngữ nghĩa của thành ngữ có từ chỉ BPCT” (Trịnh Đức Hiển- Lâm Thu Hương, Văn hóa dân gian 2003) [18]
“Một số thành ngữ có từ “bụng” (Tạ Đức Tú, Ngôn ngữ và đời sống 2005) [35]
“Đặc trưng ngôn ngữ- văn hóa của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong thành ngữ tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) của Nguyễn Thị Phượng (2009) [31]
Luận án tiến sĩ “Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán và tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận” của Liêu Thị Thanh Nhàn (2018) [27]
Qua việc tìm hiểu tổng quan tình hình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề đặc trưng ngôn ngữ- văn hóa các
từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao người Việt Những kết quả nghiên cứu của các tác giả đã công bố sẽ được chúng tôi tiếp thu để thực hiện
đề tài luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao người Việt
- Về phạm vi nghiên cứu, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người khá rộng
Đề tài này chỉ đi vào nghiên cứu chủ yếu là các bộ phận cơ thể người thuộc vị trí bên ngoài và một số bộ phận cơ thể người nằm bên trong mang tính biểu trưng cao như ruột, tim, gan,
5 Phương pháp nghiên cứu
Với nhiệm vụ khoa học của đề tài, ở đây tôi đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 11- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này giúp tìm ra tất cả các thành
tố chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao người Việt Từ đó, thống kê và xác định tần số xuất hiện của từng bộ phận cơ thể người trong ca dao, Việt Nam
- Phương pháp phân tích: Ở phương pháp này, chúng tôi dùng để phân tích ngữ nghĩa, tính biểu trưng của những từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người, chỉ ra mối quan hệ giữa ngôn ngữ- văn hóa Đặc biệt là đặc trưng ngữ nghĩa- văn hoá của các từ ngữ chỉ BPCT trong ca dao người Việt
Những phương pháp này mang tính xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu để đảm bảo việc giải quyết nhiệm vụ, mục tiêu mà đề tài đưa ra
6 Đóng góp của đề tài:
Mỗi đề tài nghiên cứu đều mang trong mình những ý nghĩa lý luận và thực tiễn riêng Việc nghiên cứu đề tài luận văn này nhằm đóng góp ở việc:
- Nhấn mạnh rõ hơn mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
- Hiểu thêm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam thông qua việc tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của ca dao có các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người
- Tạo nên nguồn ngữ liệu về ca dao có các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể
người
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
chính của Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề khái quát
Ở chương này, luận văn tập trung trình bày khái quát những vấn đề chung về ca dao người Việt, chỉ ra đặc điểm và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong ca dao
Chương 2: Khảo sát các thành tố chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao
người Việt
Chương 2 đi vào thống kê các từ ngữ có chứa bộ phận cơ thể người
Trang 12trong ca dao người Việt Bước đầu làm cơ sở để đi vào tìm hiểu tính biểu trưng ở chương 3 Từ đó, thấy rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Chương 3: Tính biểu trưng của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người
trong ca dao người Việt
Từ việc khảo sát, thông kê về các từ ngữ chỉ BPCT người trong ca dao người Việt ở chương 2, chương 3 tập trung chỉ ra tính biểu trưng của các từ ngữ chỉ BPCT người trong ca dao người Việt để làm sáng rõ đặc trưng của ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam thông qua lớp từ ngữ ấy
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái quát về ca dao người Việt
1.1.1 Khái niệm về ca dao người Việt
Có thể kể đến một số định nghĩa về ca dao như:
Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” của Lê Bá Hán- Trần Đình Sử-
Nguyễn Khắc Phi chủ biên : “Ca dao còn gọi là phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca” [30, tr 31]
Trong cuốn “Lịch sử văn học Việt Nam”, tập 1 (NXB GD 1978) của
nhóm tác giả Bùi Văn Nguyên, Lê Trí Viễn, Phan Côn và cộng sự : “Ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” [26 ,tr 3]
Dương Quảng Hàm trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” cho rằng ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân
Ngoài ra còn có định nghĩa : “Ca dao (歌謠 ) là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc Ca dao là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao
là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.” [Nguồn Wikipedia, Ca
dao Việt Nam]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung ca dao là những bài thơ, câu thơ được nâng thành những bài hát, câu hát có nhịp điệu, dễ nhớ
dễ thuộc, phản ánh cuộc sống của con người dựa trên nhiều khía cạnh như
Trang 14sinh hoạt, lao động, tình cảm và dựa trên những khía cạnh ấy mà phân thành những loại ca dao khác nhau, phục vụ cho từng mục đích Thật không quá khi nói ca dao chính là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần và vật chất của người Việt bởi những phương diện mà nó thể hiện là tổng thể nhân sinh quan của cộng đồng, văn hóa Việt Để khẳng định được điều đó, ta xét về quá trình lịch sử ra đời của ca dao Việt Nam Ca dao đã xuất hiện từ rất lâu đời trong đời sống của người Việt dưới hình thức lưu hành khẩu truyền, không rõ tác giả “Ca” ở đây có thể hiểu là giọng (lời) được ngân dài ra, còn “dao” có nghĩa là hát trơn không cần nhạc đệm, vì được lưu truyền trong đời sống dân gian nên thể loại văn chương này mang đậm màu sắc văn hóa quê hương, là câu ca bình dân, ân tình đầy sâu lắng của con người Việt Nam sau lũy tre làng, cây đa, bến nước, sân đình Mặc dù, có mặt từ rất lâu nhưng mãi đến đầu nhà Nguyễn, một số nhà Nho đã tập hợp những câu ca được lưu hành trong dân gian thành sách Phải kể đến cuốn “Nam phong nữ ngạn thi” của Trần Danh Án bao gồm ca dao nửa chữ Nôm, nửa chữ Hán
Theo nghiên cứu của Nguyễn Mộng Khôi trong bài viết “Đôi điều về
ca dao tục ngữ” cho rằng:
Mãi đến cuối thế kỉ XIX, khi nước ta bị đô hộ mới bắt đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa người Pháp, người phương Tây, mà nghiên cứu, phê bình loại văn chương bình dân này theo lối Tây phương Ông Edmond Nordeman sưu tập, trích lục văn Nôm xưa mà làm sách “Quảng tập viêm văn” (Chrestomatie annamite), xuất bản 1898 tại Hà Nội Giaos sư G.Cordier người Pháp soạn quyển “Việt Nam thi văn hợp tuyển” (Litterature annamite, extraits des poetes et des prosateurs annamites) đầu tiên, tiếp theo là những quyển như “Góp nhặt những câu ca dao” ( Recueil de chansons populaires) của Paulus Cuar Ông Julien với quyển “Lớp tiếng Việt” (Cours de langue annamite) Ông Đặng Lễ Nghi cho xuất bản quyển “Câu hát huê tình” năm
Trang 151917 Đến năm 1928, ông Nguyễn Văn Ngọc ấn hành quyển “Tục ngữ phong dao” Tiếp theo là những sưu tập của giáo sư Dương Quảng Hàm, Thanh Lãng… Từ đó đến nay đã có hàng trăm tác giả thâu góp và giải thích tục ngữ
ca dao…’’
Từ đó, ta có thể thấy, ca dao giống như tấm gương phản chiếu cho mỗi thời kì, giai đoạn lịch sử của nước nhà Đó không chỉ là tiếng hát ân tình, xoa dịu, cổ vũ con người mà đó còn như cuốn nhật kí mà mỗi câu ca dao chính là từng trang văn hóa cho mỗi thời kì của dân tộc Chính vì thế, muốn đi vào tìm hiểu giá trị cội nguồn văn hóa của dân tộc Việt ta chỉ cần đào sâu vào ca dao
Thật vậy, trong thời kì phong kiến xưa, thời kì mang nhiều định kiến khắc nghiệt về thân phận người phụ nữ hay số phận đầy oan trái của người dân lao động phải sống trong cảnh bòn rút sức lực của giai cấp địa chủ phong kiến :
Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
Thương thay hạc lánh đường mây Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi
Thương thay thân phận con tằm Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ Thương thay lũ kiến li ti Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi
Ca dao đã làm đúng nhiệm vụ của mình, cất lên tiếng hát trữ tình than thân, thương cảm cho từng thân phận, từng kiếp người trong xã hội bấy giờ
Ca dao trữ tình như liều thuốc xoa dịu từng cơn đơn quặn thắt của số phận
từng giai cấp người
Trang 16Từ bao đời nay, người nông dân Việt Nam phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, ca dao từ đó như tiếng hát cổ vũ tinh thần người dân lao động hăng say, miệt mài với công việc :
Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công, Bao giờ cây lúa còn bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Tre già anh để pha nan,
Lớn đan nong né, bé đan giần sàng.
Gốc thì anh để kê bàn, Ngọn ngành anh để cắm giàn trầu, dưa.
Những người đi biển làm nghề, Thấy dòng nước nóng thì về đừng đi.
Sóng lừng, bụng biển ầm ì, Bão mưa ta tránh chớ hề ra khơi
Như ta đã biết, Nho giáo chính là hệ tư tưởng ảnh hưởng lâu dài và sâu rộng ở Việt Nam, nó định hình về lối sống, sinh hoạt, đạo đức hay cách đối nhân
xử thế của người Việt Tuy hệ tư tưởng Nho giáo đã sụp đổ từ sau Cách mạng tháng Tám nhưng nó vẫn tồn tại trong tiềm thức của người Việt ở cách đối xử người với người, hay trong các lễ nghi, phong tục, tập quán Nét văn hóa này đã được mảnh đất ca dao màu mỡ tận dụng một cách triệt để, trở thành loại ca dao nghi lễ, phong tục phản ánh bề dày lịch sử, văn hóa của người Việt:
Trang 17Đi đâu mặc kệ đi đâu Đến ngày giỗ tết phải mau mà về
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ, Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh
Mồng một chơi cửa, chơi nhà Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình
Mông bốn chơi chợ Quả Linh Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi
Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng Chợ Viềng năm có một phiên Cái nón em đội cũng tiền anh mua
Ca dao còn phản ánh nhiều khía cạnh khác trong cuộc sống, dù ở những phương diện khác nhau ca dao đều bộc lộ tình cảm thắm thiết, mãnh liệt của con người bình dân, bởi đó chính là tiếng nói đại diện cho cộng đồng người Việt, mang âm hưởng của quang cảnh làng mạc Việt Nam Nó không phải là những câu từ trau chuốt, đầy hoa mĩ mà được hun đúc từ chính nét chất phác, nồng hậu, thuần Việt của bao khối óc người bình dân truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.1.2 Đặc điểm ca dao người Việt
Ca dao là những tác phẩm trữ tình, được sáng tác tạo thành tác phẩm nghệ thuật bằng ngôn từ Mỗi bài ca dao đều thể hiện tình cảm, cảm xúc của con người trong cuộc sống Tìm hiểu đặc điểm ca dao người Việt, ta chú ý đến đặc điểm về phần nội dung và hình thức
Trang 181.1.2.1 Về nội dung:
Nội dung mà ca dao thể hiện trải dài ở nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống, làm cho hiện thực của cuộc sống hay đời sống tình cảm, tư tưởng, tâm trạng con người được hiện lên một cách đa dạng và phong phú Ca dao chính là tấm gương phản ánh cuộc sống muôn hình vạn trạng của con người và hiện thực đời sống được phản ánh trong ca dao là những điều gần gũi, chân thực
Ta có thể chia nội dung mà ca dao thể hiện thành 2 phương diện lớn: nội dung trữ tình và nội dung thế sự
mà ca dao khai thác, phản ánh những mối quan hệ của các thành viên trong gia đình Và nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong nội dung này đó chính là hình ảnh của người phụ nữ lao động, là hình ảnh của người bà, người mẹ, của người vợ thân thương Đặc biệt, đề tài về thân phận mỗi lớp người trong xã hội phong kiến chính là mảnh đất đầy màu mỡ để ca dao phát huy hết khả năng trữ tình của mình Với đề tài này, ca dao đã phản ánh những tâm trạng đầy đau khổ, phẫn uất cho thân phận đầy hẩm hiu của người phụ nữ, hay sự dồn nén, tiếng khóc đau thương của tầng lớp nhân dân lao động bị đè nặng
Trang 19dưới ách thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến, ca dao cất lên tiếng khóc đầy xót thương, đồng cảm, xoa dịu nỗi đau cho từng lớp người ấy
Trong cuốn Tục ngữ - ca dao Việt Nam, Mã Giang Lân đã nhận định rằng:
“Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian Những tác phẩm này nói lên mối quan hệ của con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động… thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả khách quan những hiện tượng, những vấn đề Cho nên ở ca dao, cái tôi trữ tình được nổi lên rõ nét.” [20; tr.9]
b Nội dung thế sự
Nội dung thế sự là một trong những nội dung chủ chốt, đem lại giá trị
về mặt chất lượng Nội dung này chiếm một số lượng đáng kể và đề tài chủ yếu được nói đến là lịch sử Khác với văn xuôi, khi đề cập đến vấn đề lịch sử,
ca dao không đi vào diễn tả một cách cụ thể, chi tiết từng sự việc mà mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử ấy để thể hiện quan điểm, thái độ của quần chúng
Qua từng biến động của xã hội Việt Nam, ca dao như tiếng nói ghi lại từng giai đoạn lịch sử, mặc dù chỉ là những những nét chấm phá đơn giản nhưng đã tạc nên một bức tranh lịch sử Việt Nam đầy oai hùng trải dài từ thời lập quốc, hình thành lãnh thổ, đến công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước của từng triều đại vua, hay của thời kì kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ,…
Để gợi nhắc đến sự kiện lịch sử nhà Nguyễn Tây Sơn dân gian ghi lại qua những câu ca dao:
An Khê nổi tiếng Hòn Bình, Khi xưa Nguyễn Huệ ẩn danh nơi này
Đây là những địa danh gắn với ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa của ba anh
em Tây Sơn ở vùng đất Tây Sơn thượng đạo
Hay việc Nguyễn Huệ lật đổ chúa Trịnh, trao quyền lại cho nhà Lê
Trang 20cũng được ghi nhớ trong ký ức dân gian qua câu ca dao:
Nguyễn ra thì Nguyễn lại về Chúa Trịnh mất đất, vua Lê hãy còn
Khi nói về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh dân gian có câu ca dao:
Xuân xưa vang tiếng Hà Hồi Oai danh Nguyễn Huệ muôn đời còn ghi
Một trời khí phách uy nghi Đón xuân không thẹn tu mi Lạc Hồng
Trong phong trào Cần Vương chống Pháp, Đinh Công Tráng là một trong những lãnh tụ của phong trào này đã được dân gian có thơ ca dao khen ngợi:
Có chàng Công Tráng họ Đinh, Dựng lũy Ba Đình chống đánh giặc Tây
Cơ mưu dũng lược ai tày, Chẳng quản đêm ngày vì nước lo toan
Dù cho vận nước chẳng còn
Danh nghĩa vẹn toàn, muôn thuở không phai
Ca dao lịch sử còn là thể hiện một cách đa dạng và phong phú về phong
tục, tập quán của nhân dân ta Với quan niệm của người Việt “ Miếng trầu là đầu câu chuyện”, khi cặp trai gái đã quen thuộc gặp nhau, họ mời nhau miếng
trầu, điếu thuốc:
Mẹ em hằng vẫn khuyên răn, Làm thân con gái chớ ăn trầu người
Trầu này trầu ái, trầu ân, Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình, trầu ta
Trầu này nhuộm thắm duyên ta,
Trang 21Đầu xanh cho tới tuổi già không phai
Tư tưởng Nho gia luôn đề cao vai trò của người đàn ông, chính vì thế
đã làm cho đàn ông có đặc quyền to lớn, độc tôn trong gia đình Bổn phận người phụ nữ là phải “tòng phu” chiều chồng nuôi con, và phục tùng hết thảy mọi điều ý người chồng trong gia đình:
Con quốc kêu khắc khoải mùa hè, Làm thân con gái phải nghe lời chồng
Sách có chữ rằng: “Phu xướng phụ tòng.”
Làm thân con gái lấy chồng xuất gia
1.1.2.2 Về nghệ thuật:
Ngôn ngữ nghệ thuật của ca dao biểu hiện một cách chính xác và tinh tế
về cuộc sống, hơn nữa còn biểu hiện một cách sinh động và giàu hình tượng, tâm
tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân trong cuộc sống Ngôn ngữ nghệ thuật của ca dao đã vận dụng hết khả năng của mình tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc và đường nét đa dạng về đất nước, con người Việt Nam
Đặc điểm về nghệ thuật của ca dao được thể hiện trên nhiều phương diện:
Trang 22tiết) thường ngắt nhịp 2/2 cũng tương tự như bài ca dao theo vãn hai (câu thơ
có hai âm tiết) Ngược lại ở những bài ca dao theo thể vãn hai nếu như đọc nối tiếp, không ngừng nghỉ lâu giữa các câu thơ thì cũng sẽ giống như bài ca dao theo vãn bốn Chẳng hạn:
Chi chi chành chành Cái đanh nổi lửa Con ngựa chết trương
Ba vương thượng đế Cấp kế đi tìm
Ú tim ù ập…
Còn về phần vần, trong thể vãn bốn vần được gieo ở tiếng bằng lẫn tiếng trắc, gieo ở cả câu cuối (vần cuối - cước vận) lẫn giữa câu (vần lưng - yêu vận), vì thế rất dễ dàng để chuyển sang thể vãn hai Thể vãn ba rất hiếm gặp, khó lẫn với các thể khác:
Xỉa cá mè
Đè cá chép Chân nào đẹp
Đi buôn men…
Thể vãn năm trong ca dao thường kết hợp xen kẽ với thể vãn tư, thường được dùng cho mục đích kể chuyện hoặc than thân:
Hỡi trời cao đất dày Thuế sao nặng thế này Làng xóm đành bóp bụng Bán đìa nộp thuế Tây
Lục bát
Ở thể lục bát (và lục bát biến thể), song thất lục bát (và song thất lục
bát biến thể), hai thể này cũng thường được dùng trong ca dao
Trang 23Thể thơ lục bát là công trình sáng tạo vĩ đại mang đậm nét văn hóa của người Việt ta, xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ XV Cặp câu trên sáu dưới tám là hình thức cơ bản của một câu thơ lục bát Ở lục bát chính thể, mỗi câu gồm hai vế, vế trên sáu âm tiết, vế dưới tám âm tiết (số tiếng của mỗi dòng là không thay đổi), cách gieo vần hầu hết đều là vần bằng.Nhịp ở mỗi bài ca dao đôi lúc sẽ khác nhau nhưng chủ yếu là nhịp chẵn (2/2/2) , nhịp 3/3 hoặc 4/4 nhưng trường hợp này hiếm Phan Ngọc cho rằng trong hàng nghìn câu mới có một câu ngắt nhịp 3/3
Bảng 1.1: Khuôn hình cơ bản của thể thơ lục bát
Lục bát biến thể
Lục bát biến thể xuất hiện nhằm thể hiện những trạng thái cảm xúc, nội dung của lời ca như chì chiết, đay nghiến, bộc lộ khó khăn và lòng quyết tâm vượt qua trở ngại, châm biếm và trào phúng… Theo cách hiểu của Mai Ngọc Chừ thì lục bát biến thể là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không theo kiểu nguyên mẫu trên sáu dưới tám mà có sự thay đổi nhất định
về số lượng âm tiết Có nghĩa là số âm tiết trong một vế câu có thể tăng hoặc giảm
Ở ca dao, dân ca có một số lời lục bát biến thể trong đó khuôn hình về
Trang 24vần vẫn được giữ, còn số tiếng trong dòng thơ có thể thay đổi Đúng như sự phân loại của Mai Ngọc Chừ, lục bát biến thể có ba loại:
a) Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên
+ Tưởng giếng sâu, nối sợi dây dài
Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây (7/8 tiếng )
+ Chàng trẩy đi nước mắt thiếp tôi chảy quanh
Chân đi thất thểu lời anh dặn dò (9/8 tiếng )
b) Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi:
+ Bao giờ rừng quế hết cây
Dừa Tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình (6/11 tiếng )
+ Lời nguyền trước cũng như sau
Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta” ( 6/ 12 tiếng )
c) Cả dòng lục và dòng bát thay đổi:
Cậu cô chú bác đòi đậu bè thả trôi (7/9)
+ Anh xa em ra vì thiên hạ hay thúc bá tới xui
Đó băn khoăn, đó nhớ, đây bùi ngùi đây thương ( 13/ 10 tiếng ) [ 19, tr.224, 225]
Song thất lục bát
Thể thơ này có quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử dân tộc Xuất hiện từ cuối thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII, những giai đoạn sau này thể thơ này tiếp tục định hình và phát triển, xuất hiện trong những tác phẩm nghệ thuật mẫu mực Đến giai đoạn 1932 cho đến nay, thể thơ này đã dẫn ít được
Trang 25Con chàng còn trứng nước thơ ngây
Có hay chàng ở đâu đây Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng
Bảng 1.2: Khuôn hình cơ bản của thể thơ song thất lục bát
Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay!
Có hay thì nhất đánh nhì đày Hai lẽ mà thôi Thủy chung em giữ trọn mấy lời
Chết em chịu chết, lìa đôi em không lìa
Trang 26b Kết cấu
Kết cấu là cách thức tổ chức, sắp xếp các yếu tố trong một chỉnh thể
sự vật, hiện tượng Kết cấu trong ca dao người Việt rất phong phú và đa dạng tuy nhiên nó không phức tạp, bởi bản thân ca dao là thể loại văn học được dùng rộng rãi trong dân gian, hết sức ngắn gọn, cô đọng Nếu kết cấu phức tạp thì cũng nhằm diễn đạt nội dung mang ý nghĩa sâu sắc trong tình cảm của con người
Để phân chia các dạng kết cấu trong ca dao ta căn cứ vào sự tổ chức các phán đoán (phán đoán là nội dung mà toàn bộ câu ca dao toát lên thông qua từ ngữ, lời Khi tổ chức trật tự các từ trong câu khác nhau sẽ dẫn đến những phán đoán về nội dung khác nhau):
Kết cấu một vế đơn giản :
Trong lời ca dao ở dạng này chỉ có một ý lớn do các phán đoán tạo thành:
Thóc bồ thương kẻ ăn đong
Có chồng thương kẻ nằm không một mình
Hai phán đoán a, b đều diễn đạt niềm thương cảm, xót xa của kẻ đã từng “dư thừa”bắt đầu thấm thía hoàn cảnh của người “thiếu thốn”để từ đó biết đến sự thương cảm và chia sẻ
Kết cấu một vế có phần vần
Dạng kết cấu này được chia làm 2 phần: Phần đầu tả ngoại cảnh ( sự vật, hiện tượng,…) còn được gọi là phần gợi hứng, phần thứ hai là phần chính của lời Hai phần này liên hệ với nhau thể hiện nhiều mối quan hệ khác nhau
Trong cuốn “ Thi pháp ca dao” Nguyễn Xuân Kính, đã chỉ rõ từng mối liên hệ khi hai phần của dạng kết cấu này hợp lại:
Có trường hợp hai phần này có mối quan hệ hồi tưởng:
“ Quả câu nho nhỏ
Trang 27Cái vỏ vân vân Nay anh học gần Mai anh học xa.”
“ Lấy anh từ thuở mười ba Đến năm mười tám thiếp đà năm con
Ra đường người nghĩ còn son
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng”
Đúng như Chu Xuân Diên đã nhận xét, quả cau là hình tượng gợi
hứng, người phụ nữ là hình ảnh chính Giữa hai phần ca dao có mối quan hệ
hồi tưởng quả cau -> ngày cưới -> cuộc sống hiện tại làm vợ
Có trường hợp quan hệ giữa hai phần có sự liên tưởng gián tiếp:
“ Một đàn cò trắng bay tung Đôi bên nam nữ ta cùng hát lên”
Nhiều khi hai phần này chỉ có mối liên hệ về mặt ngữ âm, về mặt vần thuần túy:
“ Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng
Hỡi em đi dép quai ngang Trông anh ngoài đàng em cũng muốn trông
Đất bồi mà bỏ xuống sông Tiếc cho anh ấy có công đợi chờ.’’…
[ 19, tr 279]
Kết cấu hai vế tương hợp
Dạng này thường xuất hiện trong hát đối đáp, là dạng kết cấu phổ biến
Áo vắt vai đi đâu hăm hở?
Em có chồng rồi mắc cỡ lêu lêu…
Áo vắt vai anh đi thăm ruộng
Trang 28Anh cũng có vợ rồi, chẳng chuộng bậu đâu
Mỗi lời thuộc dạng ca dao này kết cấu gồm hai vế Vế trên có thể tách biệt với vế dưới vì nội dung của mỗi vế diễn đạt trọn vẹn một nội dung mà
người sáng tác mong muốn
Kết cấu hai vế đối lập
Hay còn gọi là kết cấu tương phản Kiểu kết cấu này gồm hai ý lớn mang nghĩa trái ngược nhau (thông thường là hiện tượng, sự việc, tính chất, ý kiến,…) :
Thương chồng nấu cháo củ tre Nấu canh vỏ đỗ, nấu chè nhân ngôn Ghét chồng nấu cháo le le Nấu canh đậu đãi, nấu chè mật do
Kết cấu nhiều vế nối tiếp
Nhiều dòng nối tiếp có nội dung tương tự nhau:
Tập tầm vông Chị lấy chồng, em ở góa Chị ăn cá, em mút xương Chị nằm giường, em nằm đất Chị hút mật, em liếm ve Chị ăn chè, em liếm bát Chị coi hát, em vỗ tay Chị ăn mày, em xách bị Chị xe chỉ, em xỏ tiền Chị đi thuyền, em đi bộ Chị kéo gỗ, em lợp nhà Chị trồng cà, em trồng bí Chị tuổi tí, em tuổi thân
Trang 29Chị tuổi dần, em tuổi mẹo Chị ăn kẹo, em mút cây… (kem)
Ngoài ra, kết cấu trong ca dao người Việt còn biểu hiện ở mặt tổ chức nghệ thuật của một lời ca dao hình thành nên một số công thức nhất định, làm kiểu mẫu diễn đạt ổn định, điển hình khác nhau của truyền thống thẩm
mỹ dân gian, đó được gọi là công thức truyền thống
Ca dao cổ truyền có nhiều kiểu công thức truyền thống Xét trên phương diện ngôn ngữ thì chỉ có thể là một từ, một nhóm từ, dòng thơ hoặc nhóm dòng thơ và đề hiểu một cách chính xác ta phải xem xét cả câu trong một hệ thống câu cùng loại, có nghĩa là cùng chất Những kiểu công thức trong ca dao dùng để “mã hóa” những biểu hiện đa dạng, sinh động của đời sống hiện thực
Chẳng hạn, ở phần mở đầu ta sẽ có típ công thức, một số kiểu câu nhất định xuất hiện với tần số khá nhiều trong các bài ca dao Ví dụ: thông thường
ở dạng ca dao đối đáp tâm tình, đầu tiên là một lời gọi, tiếp đến là một câu hỏi, hoặc một lời trách, lời xin,…
- Mình ơi ta hỏi thật mình
- Mình ơi, có nhớ ta chăng
- Tằm ơi, say đắm nơi đâu
- Chàng ơi, phụ thiếp làm chi
Ta còn có một số kiểu công thức khác như công thức địa danh phong cảnh, công thức địa danh – sản vật, công thức địa danh – con người, công thức xếp hạng, bình giá,…
* Công thức địa danh, phong cảnh:
“ Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng”
Trang 30* Công thức địa danh, sản vật:
Nghe anh đi đó, đi đây, Cho em hỏi hỏi vặn câu này, Bánh phồng, bánh tráng đất này đâu ngon?
- Bánh tráng Mỹ Lồng, Bánh phồng Sơn Đốc, Măng cụt Hàm Luông,
Vỏ ngoài nâu trong trắng như bông gòn, Anh đây nói thiệt sao em còn so đo
* Công thức địa danh – con người:
Bến Tre trai lịch gái thanh Nói năng duyên dáng, ai nhìn cũng ưa
* Công thức xếp hạng, bình giá cảnh vật con người: “đẹp nhất”,
“đẹp bằng”,…
Khi xét về cấp độ ngôn ngữ và hình tượng, ta có loại công thức mẫu
đề Công thức mẫu đề,biểu tượng là loại công thức quan trọng nhất để ca dao
“mã hóa” thực tại khách quan đa dạng, phong phú Những công thức nói trên đều được chứa trong loại công thức này Hay nói cách khác “Mỗi công thức mẫu đề có một tập hợp các công thức chi tiết thuộc các loại công thức khác nhau về dung lượng, nội dung, hình thức”
Một số từ, cụm từ thường được dùng trong ca dao đã trở thành công thức như:
+ Cụm từ “ Thân em” đã trở thành mô típ mở đầu quen thuộc trong ca dao than thân để nói về thân phận, cuộc đời của người phụ nữ xưa “Thân em”- người phụ nữa phong kiến xưa đã trở thành chủ thể trữ tình trong câu hát than thân, thương cảm đầy chua xót
+ Những đại từ nhân xưng: chàng, nàng, thiếp, anh, em Mô típ này
Trang 31thích hợp với phương thức diễn xướng trong ca dao đối đáp của cặp trai gái (hát lề lối hay hát lẻ):
Thấy anh em cũng muốn theo
Em sợ anh nghèo bán vợ anh ăn
Vì ai cho thiếp võ vàng
Vì chàng, tư lự hoa tàn nhị rơi Cực lòng thiếp lắm chàng ơi
Biết rằng lên ngược xuống xuôi đằng nào?
+ Một số danh từ chỉ sự vật trong tự nhiên đã được ẩn dụ Ví dụ: đào – mận, bến – thuyền, đào đông – liễu tây, cá nước – chim trời, trúc – mai,…
Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng có lối ai vào hay chưa
Hôm nay lan huệ sánh bày Đào đông ướm hỏi liễu tây một lời
Lạ lùng ướm hỏi nhau chơi
Một mai cá nước chim trời gặp nhau
Đêm qua nguyệt lặn về tây
Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài…
Trúc với mai, mai về, trúc nhớ Trúc trở về, mai nhớ trúc không?
Bây giờ kẻ Bắc người Đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư!
+ Những từ, cụm từ mở đầu thường gặp ở nhiều câu ca dao khác nhau
Ví dụ: hôm qua, chiều chiều, chiều nay, chiều hôm,…
Trang 32Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
+ Một số cụm từ chuyên dùng để miêu tả chân dung và y phục, trang phục thể hiện rõ truyền thống văn hóa, phong tục, tập quan của người Việt như: “ răng lánh hạt huyền”, “áo tứ thân”, “dải yếm đào”,
Những kết cấu, công thức truyền thống nói trên góp phần truyền tải thị hiếu, quy luật thẩm mỹ của một cộng đồng người sử dụng ca dao để bày tỏ đời sống cảm xúc, tinh thần, phản ánh hiện thực khách quan phong phú và đa dạng
c Các biện pháp nghệ thuật
Ca dao thường sử dụng một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu như ẩn
dụ, so sánh, nhân hóa, chơi chữ,…Những biện pháp nghệ thuật này khiến nội dung của câu ca dao trở nên đặc sắc, mang đầy ý nghĩa Bên cạnh đó, việc sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trên còn nhằm ẩn đi đối tượng muốn đề cập đến, làm cho câu ca dao trở nên tinh tế hơn, lúc này bắt buộc người đọc phải đi vào đào sâu trong cả hệ thống để tìm được ý nghĩa của nó
ca dao mang tính chất ngắn gọn, kiệm lời cho nên khi sử dụng biện pháp này
đã giúp nội dung của ca dao được xây dựng thành nhiều tầng ý nghĩa, mang
Trang 33tính biểu tượng cho các hình tượng “Ẩn dụ là một trong những con đường chính mà theo đó sự trừu tượng thấm vào đầu óc con người” (Lapharg)
Mang khái niệm khá tương đồng với phép so sánh cho nên ta còn gọi
ẩn dụ là phép so sánh tương đồng “Cái được biểu đạt” được nói gián tiếp thông qua “cái biểu đạt”, chính là lối nói bóng gió nhưng mang đậm tính thẩm mỹ về nghệ thuật văn chương, gióp người đọc, người nghe phát huy khả năng suy luận của mình Những hình ảnh vốn đã quen thuộc, qua phép ẩn
dụ khiến khả năng liên tưởng của mỗi người được phát huy:
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Ẩn dụ bao gồm hai lớp nghĩa: lớp nghĩa bề mặt và lớp nghĩa ẩn sâu Trong câu ca dao này, nếu ta chỉ dựa vào lớp nghĩa bề mặt thì ta chỉ thấy được
sự rời rạc giữa hai đối tượng “thuyền” và “bến” Nhưng từ nhận thức về mối liên hệ về ý nghĩa của từng sự vật này soi chiếu với các đối tượng trong cuộc sống, chúng ta có mới thể hiểu lớp nghĩa ẩn dụ trong câu ca dao Ẩn dụ thuyền nhớ bến, bến nhớ thuyền khiến hai đối tượng này mang tình người, mà cụ thể
là tình yêu đôi lứa chàng và nàng hay tình vợ chồng trong cảnh ngộ li biệt đầy
bi kịch Thuyền “có nhớ bến chăng”, còn bến thì vẫn nhớ, vẫn thương thuyền đang lênh đênh ở nơi xa xăm vô định và chẳng biết bao giờ mới quay trở lại? Cũng như thuyền và bến, vợ - chồng có gắn bó với nhau, có yêu thương nhau tha thiết sâu nặng thì mới có nỗi thương nhớ da diết ấy Đây là hai hình ảnh ẩn
dụ giao kết với nhau bằng những tình cảm sâu nặng Thuyền nhớ bến, bến đợi thuyền, một tình cảm không hề phai nhạt theo thời gian Thuyền và bến tượng trưng cho tình nghĩa sắt son, chung thuỷ của lứa đôi trong cuộc đời Ẩn dụ trong ca dao đã mang ý nghĩa nhận thức sâu sắc
Ẩn dụ trong ca dao còn mang tính thẩm mĩ cao, giúp cho nhân vật trữ tình diễn tả những trạng thái cảm xúc khác nhau và những cảm xúc ấy được
Trang 34hiện lên một cách riêng tư, kín đáo, tăng thêm phần tình tứ, duyên dáng:
Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng có lối ai vào hay chưa Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Lời ca dao trên là cách tỏ tình kín đáo, dò hỏi ý tứ của đối tượng Mận, đào, vườn hồng là những hình ảnh ẩn dụ – những biểu tượng cho những người lao động ngày xưa, trong bài ca dao này, chúng được dùng để chỉ người con trai và người con gái trong tình yêu Cách nói bóng gió phù hợp với sự kín đáo, tế nhị trong tình yêu
Khác với ẩn dụ của tục ngữ hay câu đố (mang tính nhận thức là chủ yếu) Ẩn dụ trong ca dao còn mang tính biểu cảm Những cung bậc cảm xúc của con người đều biểu hiện trong ca dao, những cảm xúc nhiều khi bị dồn nén nhưng chính vì thế mà càng sâu sắc, càng ý tứ:
Thương thay thân phận con tằm Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi
Hình ảnh “con tằm” và “con kiến” là những hình ảnh ẩn dụ cho những thân phận “thấp cổ bé họng” trong xã hội cũ, họ là những người có địa vị thấp kém phải lam lũ làm ăn và chịu sự đàn áp của những kẻ có địa vị trong xã hội Hình ảnh con tằm nhả tơ là đại diện cho những người lao động trong xã hội cũ
bị bóc lột sức lao động, khi sức lao động yếu đi họ cũng sẽ bị sa thải hoặc bị đối xử tệ bạc và tàn ác Hình ảnh con kiến li ti khiến người ta có cảm giác thật
bé nhỏ cứ mải miết ngược xuôi để tìm mồi Những chú kiến ấy cũng giống như những người nông dân ngày ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, đi sớm về khuya nhưng cuộc sống vẫn khó khăn vất vả
Trang 35Biện pháp so sánh
So sánh là đối chiếu sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác, giữa chúng phải có nét tương đồng So sánh trong ca dao dựa trên sự liên tưởng của con người Trong ca dao, tác giả dân gian dùng những tín hiệu,
những từ chỉ quan hệ so sánh: như, bằng, tựa, như là, như thể, là, hơn, bằng… nhưng cũng có khi lược bỏ các từ đó với chức năng như dấu bằng
trong toán học
Cấu trúc so sánh của ca dao có mô hình chung như sau:
A + từ so sánh + B
Mô hình của cấu trúc so sánh được diễn đạt như sau:
- A thường là cái trừu tượng
- B thường là cụ thể
So sánh trong ca dao gồm hai loại: so sánh trực tiếp và so sánh song hành So sánh giúp ta nhận thức sâu sắc hơn phương tiện nào đó của sự vật, hiện tượng, những khái niệm, đặc điểm, thuộc tính trừu tượng trở nên rõ ràng, dễ hiểu Ngoài ra, còn khiến cho bài ca dao mang tính hình tượng cao
Thân em như trái bần trôi Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
Thiếp như con hạc đầu đình Muốn bay không cất nổi mình mà bay
Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao
Biểu tượng là hình ảnh thế giới khách quan của con người, được con người vận dụng trí óc cung cấp cho nó một ý nghĩa, một thông tin giúp ta tri giác cái
Trang 36không thể tri giác… Những hình ảnh được dùng làm biểu tượng thường được cả cộng đồng chấp nhận và sử dụng rộng rãi
Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao sử dụng những kí hiệu ngôn ngữ, chúng được lặp đi lặp lại nhiều lần để bộc lộ những ý nghĩa sâu xa Ý nghĩa của một biểu tượng gồm hai nét nghĩa, nghĩa bóng và nghĩa hàm ẩn nên nghĩa của chúng rất phong phú, nhiều tầng bậc và ẩn sâu bên trong Thường thì những hình ảnh tượng trưng trong ca dao đều được chọn lọc và sử dụng phổ biến rộng rãi, mang đậm nét đặc trưng của folkore Đồng thời, chúng thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của con người qua từng thời đại, từng dân tộc, từng khu vực… Thế giới của các hình ảnh biểu tượng rất phong phú và đa dạng, có thể
là từ giới tự nhiên hay thế giới các vật nhân tạo (đồ dùng, dụng cụ sinh hoạt, công cụ sản xuất, công trình kiến trúc,…) Tuy nhiên không phải bất cứ trường hợp nào, hình ảnh nào cũng mang tính biểu tượng Ta thường dựa vào những khía cạnh, sắc thái khác nhau ở cái biểu đạt, từ đó dẫn đến sự khác nhau ở các được biểu đạt, hoặc dựa vào kết cấu sóng hợp của các sự vật, hiện tượng để phân biệt từng nhóm biểu tượng
Ca dao thường sử dụng những hình ảnh ẩn dụ để làm mô tuýp biểu tượng nghệ thuật, trong đó gồm có biểu tượng đơn và biểu tượng sóng đôi Biểu tượng đơn như chim, sông, cá, trăng, các loại thực vật mà nổi bật nhất là hoa Các cặp biểu tượng sóng đôi như: trúc – mai, rồng – mây, loan - phượng, thuyền - bến, trầu – cau, cá – nước,… Chẳng hạn, nói đến hoa, mỗi loại hoa đều mang những ý nghĩa cụ thể khác nhau:
Hoa nhài thường tượng trưng cho sự tao nhã, quý phái, thanh lịch của con người, nhất là nếp sống của con người Tràng An:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An
Không thể không nói đến hoa sen – loài hoa được mệnh danh là quốc hồn dân tộc Việt Nam Hoa sen là biểu tượng tượng trưng cho vẻ đẹp cao
Trang 37quý, đài các, cho sự thuần khiết, thánh thiện, không bị vấy bẩn dù sống nơi bùn lầy nhơ nhớp:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Hay trúc – mai biểu tượng cho tình cảm lứa đôi thắm thiết:
Trúc với mai, mai về, trúc nhớ Trúc trở về mai nhớ trúc không Bây giờ kẻ Bắc người Đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư.
1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa văn hóa trong ca dao người Việt
1.2.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Văn hóa và ngôn ngữ từ lâu đã có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng lẫn nhau Việc đi vào tìm hiểu khái niệm của từng thuật ngữ sẽ giúp ta thấy rõ về
mối quan hệ này
Văn hóa là một thuật ngữ vốn được hiểu theo 2 nghĩa cơ bản, nghĩa rộng và nghĩa hẹp Nghĩa hẹp ở đây, văn hóa được hiểu theo cách thông dụng
là chỉ trình độ học thức, chỉ lối sống (nếp sống văn hóa) hay chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn nào đó Theo góc độ nghiên cứu ngôn ngữ học thì văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng Và ở nghĩa rộng này lại có nhiều định nghĩa
khác nhau Trước tiên, cụm từ văn hóa xuất phát từ tiếng Latin Cultus Trong
cuốn “ Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt ( trong sự so sánh với dân tộc khác)”, Nguyễn Đức Tồn đã nhận định
rằng: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.” [34, tr 34]
Trang 38Theo UNESCO : “Văn hóa là tổng thể các sống động hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Định nghĩa này đi vào nhấn
mạnh quá trình hoạt động của con người cả trong quá khứ và hiện tại, tức là
cả tiến trình lịch sử của mỗi dân tộc Mà tiến trình lịch sử ấy của mỗi dân tộc
là không giống nhau, chính điều ấy tạo nên nét đặc trưng, đặc thù và bản sắc riêng cho mỗi dân tộc
Hay theo định nghĩa của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới phát minh và sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Cũng mang nét tương đồng
so với định nghĩa trên là nhấn mạnh vào quá trình hoạt động của con người , nhưng ở định nghĩa về văn hóa của Hồ Chí Minh lại mở rộng ở ý “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, tức những hoạt động này đều phục vụ cho mục đích chủ yếu của cuộc sống, cơ bản là để sống, mỗi cá thể người đều phát triển một cách toàn diện Và để đạt được điều ấy, những hoạt động sống
đó phải có sự đúc kết kinh nghiệm trở thành chuẩn mực để con người áp dụng phục vụ cho cuộc sống, nghĩa là phải được lặp đi lặp lại, điều chỉnh sao cho thật phù hợp với điều kiện sống của từng thời kì, lựa chọn và chắt lọc tạo nên những giá trị về vật chất và tinh thần Cứ như thế, tích lũy dần trở thành thói quen, tập quán được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác tạo nên bản sắc riêng của dân tộc
Có hàng trăm định nghĩa về văn hóa khác nhau nhưng chung quy ta có thể hiểu văn hóa được con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và phát triển với sản phẩm là tổng thể những giá trị về vật chất và tinh thần, bao gồm
Trang 39văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Đã nói đến văn hóa thì phải có giá trị, những giá trị ấy phải do con người sáng tạo ra trong cả một quá trình lịch sử liên tục tạo thành một hệ thống chặt chẽ Từ đó, văn hóa mang trong mình những đặc trưng riêng biệt là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử
Ở tính hệ thống, những sự kiện, hiện tượng của một nền văn hóa đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau thể hiện dấu ấn của từng thời kì, từng giai đoạn lịch sử Khi nghiên cứu văn hóa với tư cách là một khoa học lí luận ta không chỉ trả lời được câu hỏi “Cái gì?” mà còn có thể trả lời cho những câu hỏi “Tại sao?”, “Như thế nào?” Nhờ việc đào sâu trong tính hệ thống, văn hóa đã thực hiện được chức năng tổ chức xã hội, vừa làm tăng độ ổn định ,vừa cung cấp những phương tiện, tư liệu cần thiết để phục vụ cho từng mục đích của xã hội Dẫn theo Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” :
“Nhờ đi vào bề sâu, tìm những mối liên hệ có tính bản chất giữa các sự kiện, văn hóa học sẽ cho phép ta, chẳng hạn, nếu biết được một dân tộc sống
ở đâu, ăn như thế nào, có thể nói được rằng dân tộc đó mặc và ở ra sao, suy nghĩ và ứng xử như thế nào… Từ đó, người đọc có thể suy ngẫm và lí giải các
tư liệu văn hóa mà anh ta bắt gặp” [38, tr 22]
Tiếp theo, đặc trưng quan trọng thứ hai đó chính là tính giá trị Giá trị ở đây tức là thước đo cho chuẩn mực của xã hội, con người, bao gồm giá trị tinh thần và giá trị vật chất Xét về mặt thời gian, văn hóa sẽ mang giá trị vĩnh cửu
và giá trị nhất thời Giá trị văn hóa ở mỗi thời kì, mỗi giai đoạn sẽ khác nhau
Ta chia thành hai khía cạnh: đồng đại và lịch đại
Về mặt đồng đại, những hiện tượng không mang lợi ích lâu dài cho con người, cộng đồng thì không thể xem là văn hóa (phi giá trị) Và muốn biết hiện tượng, sự vật ấy có thuộc phạm trù văn hóa hay không ta dựa vào mối tương quan giữa mức độ giá trị và phi giá trị của chúng
Trang 40Về mặt lịch đại, vào những thời điểm lịch sử khác nhau dù cùng một hiện tượng nhưng vẫn có thể có hoặc không có giá trị Giá trị ấy phụ thuộc vào chuẩn mực văn hóa của từng giai đoạn khác nhau Từ đó, biến giá trị văn hóa có chức năng điều chỉnh xã hội tạo trạng thái cân bằng để tồn tại và phát triển Đồng thời, văn hóa mang tính định hướng các chuẩn mực, điều chỉnh các ứng xử của con người
Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh Đặc trưng này thể hiện
rõ nét dấu ấn sáng tạo của con người, trở thành công cụ giao tiếp quan trọng
Sự tác động ấy có thể mang tính vật chất hoặc mang tính tinh thần Hay ta nói văn hóa lúc này mang chức năng giao tiếp, nếu ngôn ngữ là hình thức giao tiếp thì văn hóa chính là nội dung giao tiếp
Đặc trưng cuối cùng của văn hóa đó chính là tính lịch sử Có thể nói tính lịch sử thể hiện rõ truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, bởi nó hình thành trong một quá trình và tích lũy qua nhiều thế hệ, tạo nên một bề dày văn hóa mang chiều sâu cả về không gian và thời gian
“Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống ( truyền= chuyển giao, thống= nối tiếp) là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng động Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…” [38, tr 26]
Lúc này, văn hóa mang chức năng giáo dục Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục bằng những giá trị ổn định, tức là những truyền thống đã sẵn có
từ lâu, bên cạnh đó văn hóa còn thực hiện chức năng này bằng những giá trị đang hình thành để tạo thành hệ thống chuẩn mực mà con người muốn hướng tới Giá trị văn hóa được xem là chuẩn mực nếu biết kế thừa và phát huy