... đây, luận văn góp phần làm sáng tỏ lí thuyết nghi thức nói vòng ca dao Việt Nam sở để tạo kiểu nói vòng ca dao Việt Nam biện pháp nghệ thuật ẩn dụ Đề tài khẳng định nghi thức nói vòng ca dao, ... mà dịu dàng Từ ta thấy rõ mục đích nghi thức nói vòng ca dao Việt Nam Nói vòng sử dụng nhiều ca dao tỏ tình, đôi lứa Không có ca dao mà ca dao sau mục đích nói vòng thể rõ, nhằm thể ý tứ tỏ tình... 20 7.9% Nói vòng nhăm mục đích khác (từ chôi, từ phủ định đến khẳng định ) 2.2 Miêu tả nghi thức nói vòng ca dao Việt Nam 2.2.1 Nói vòng nhằm mục đích tỏ tình Ca dao Việt Nam có nhiều ca dao thể
Trang 1TRƯỜNG ĐAI HOC sư PHAM HÀ NÔI 2
• • • • KHOA NGỮ VĂN
HOÀNG THỊ LƯỢT
NGHI THỨC NÓI VÒNG TRONG
CA DAO VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS ĐỗThị Thu Hương, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoànthành khóa luận này Nhờ cô, tôi đã học hỏi được rất nhiều vềphương pháp nghiên cứu khoa học và biết cách nghiên cứu vấn
đề khoa học một cách nghiêm túc và đúng đắn nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ, tạo điềukiện cho tôi học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã tạo điềukiện cũng như giúp đỡ tôi hoàn thành được khóa luận này
Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên
Hoàng Thị Lượt
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi vàkhông trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả nào đã công bố trướcđây Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được chúthích đầy đủ và ghi rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịutrách nhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2015 Sinh viên
Hoàng Thị Lượt
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chon đề tài 1
■ 2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Nghiên cứu nghi thức nói vòng từ góc độ phong cách học 2
2.2 Nghiên cứu nghi thức nói vòng từ lý thuyết hội thoại 2
2.3 Nghiên cứu nghi thức nói vòng từ góc độ văn hóa 2
3 Mục đích, nhiệm vụ 6
3.1 Mục đích 6
3.2 Nhiệm vụ 7
4 Đối tượng và phạm vinghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp 7
6.1 Đóng góp về lý luận 7
6.2 Đóng góp về thực tiễn 7
7 Bố cục 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Khái quát 9
Trang 51.1.1 Khái niệm 9
1.1.2.Quá trình hình thành nghi thức nói vòng 9
1.1.3.Đặc trưng văn hóa cách thức nói vòng 10
1.1.4.Cơ sở tạo ra các kiểu nói vòng 10
1.1.5.Đặc điểm của cách thức nói vòng 10
1.1.6.Phân biệt nói vòng với uyển ngữ, nhã ngữ 12
1.2 Vài nét về văn hóa giao tiếp của người Việt Nam 13
1.2.1 Các đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt 13
1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam 15
1.2.3 Một vài nét về ca dao Việt Nam 17
Tiểu kết chương 1: 22
CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NÓI VÒNG TRONG CA DAO VIỆT NAM 23
2.1 Kết quả thống kê 23
2.2 Miêu tả nghi thức nói vòng trong ca dao Việt Nam 23
2.2.1.Nói vòng nhằm mục đích tỏ tình 23
2.2.2.Nói vòng nhằm mục đích trách móc 34
2.2.3.Nói vòng nhằm mục đích than thân 41
2.2.4.Nói vòng nhằm mục đích chê bai 47
2.2.5 Nói vòng nhằm mục đích khen ngọi .49
Tiểu kết: 51
Trang 6KẾT LUẬN 52
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
thể hiện Hình tượng nghệ thuật sẽ không sinh ra nếu không có chất liệu.Ngược lại chất liệu sẽ mất đi tính thẩm mĩ khi ta tách rời hình tượng Đặctrưng của mỗi loại hình nghệ thuật sẽ xuất từ đặc điểm của chất liệu tạo nênhình tượng nghệ thuật đó, mà chất liệu của văn học nghệ thuật chính là ngôntừ
Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam xem dồidào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn về những khíacạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao Việt Nam
Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ tiêu biểu cho lối thơ trữ tình, đó chính lànhững bài ca dao viết về tình yêu của những con người lao động, tình yêu nam
nữ, yêu gia đình, tình cảm YỢ chồng thủy chung, gắn bó
Ngoài biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất, ca dao còn phản ánh
ý thức lao động sản xuất của con người Việt Nam Tính tư tưởng của nhân dânViệt Nam biểu lộ ở ca dao không những làm cho con người ta cảm thông màcòn gắn bó thân mật gần gũi nhau hơn
1.2 Điều đặc biệt trong ca dao đó chính là nghi thức nói vòng Nói vòng
trong ca dao xuất phát từ đặc trưng giao tiếp của người Việt, ưa cách nói nhẹnhàng tế nhị, ưánh lối nói trực tiếp khiến mất lòng Chính YÌ thế nói vòngtrong ca dao là một cách nói gián tiếp bày tỏ tâm tư tình cảm của tác giả dângian một cách chân thành qua lời ca dao
Vì thấy được tầm quan trọng của ca dao xuất phát từ hai lý do trên chúng
tôi chọn đề tài: Nghi thức nói vòng trong ca dao Việt Nam.
Trang 72.1 Nghiên cứu nghỉ thức nói vòng từ góc độ phong cách học
Trong bài viết Nói vòng đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, tác giả Nguyễn Hữu
Chương định nghĩa rõ ràng về nói vòng cũng như hiệu quả của nó Tác giảkhẳng định nói vòng là một trong những lối nói độc đáo Nó không phải là mộtlối nói dài dòng mà là một lối nói dựa trên những cơ sở và qui tắc ngữ nghĩa
cú pháp nhất định, đem lại những sắc thái tu từ, sắc thái biểu cảm riêng chocâu văn, cho lời nói
2.2 Nghiên cứu nghi thức nói vòng từ lý thuyết hội thoại.
Ở Việt Nam, một số tác giả như Đỗ Hữu Châu, Hoàng Phê, Nguyễn ĐứcDân khi bàn về các hành vi giao tiếp như trao lời, đáp lời, dẫn ý, thamthoại đều đề cập đến vấn đề lời nói trực tiếp và lời nói gián tiếp Thực chất,
đó là các vấn đề có liên quan đến nói thẳng, nói vòng Tuy nhiên, nói vòng ởđây được nghiên cứu từ góc đọ của lí thuyết hàm ngôn hơn là một hiện tượngngôn ngữ có liên quan mật thiết tới đặc trưng văn hóa và thói quen tư duy dântộc
2.3 Nghiên cứu nghỉ thức nói vòng từ góc độ văn hóa
Trong khóa luận “Văn hóa ứng xử của người Việt qua tục ngữ, ca dao ”
của Nguyễn Huyền Trang - ĐHSP 2, tác giả khẳng định người Việt, nhất là
Trang 8ngưòi Bắc Bộ có cách thể hiện tình cảm vòng vo, bóng gió, ưa triết lý vớingôn ngữ chau chuốt Các chàng trai, cô gái Bắc Bộ thường mượn việc laođộng, mượn việc chăm sóc mẹ già, mượn những đồ vật xung quanh như áo,khăn, yếm để nói chuyện tình yêu Khóa luận cho thấy ca dao Việt Nam ưacách nói vòng để thể hiện tình cảm Cả người nói và người nghe đều rất ý nhị,không thích sự sỗ sàng ttong bày tỏ tình cảm Điều này thuộc văn hóa ứng xửcủa ngưòi Việt và vô hình chung nó đã ảnh hưởng tói ngôn ngữ.
Tiếp theo, tác giả Đỗ Thị Bảy vào năm 1999 cũng cho ra mắt công trình
tìm hiếu về “Sự phản ánh quan hệ gia đình, xã hội trong tục ngữ, ca dao người Việt”, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội Qua việc tìm hiểu về mối quan hệ
gia đình, xã hội trong ca dao, tác giả khẳng định người Việt chúng ta có lối nóivòng, thiên về gián tiếp để thể hiện sự tế nhị, tôn trọng người nghe Trongcuộc sống hàng ngày người Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề giao tiếp,ngưòi Việt Nam do thiên về tình hơn về lí nên khi giao tiếp con người luôn đềcao vai trò của việc xử dụng ngôn ngữ đẻ đảm bảo cho sự đoàn kết nhất trí,cho cuộc sống vui vẻ hài hoà Người Việt Nam luôn nhắc nhở nhau khi giaotiếp, nói năng phải cân nhắc lựa chọn, tránh kiểu hành xử khiếm nhã làm mất
lòng người khác Ông cha ta luôn dạy con cháu: Ấn phải nhai nói phải nghĩ.
Hơn nữa người Việt luôn coi trọng nghĩa tình, những lúc khó khăn, có công cóviệc người ta đến với nhau vì tình chứ không phải vì yật chất, nên trong vănhoá ứng xử Người Việt rất coi trọng tinh thần, đặt tinh thần lên hàng đầu
Bên cạnh đó, trong các công trình nghiên cứu về ca dao, nghi thức nói
vòng cũng được đề cập đến Trong công trình nghiên cứu “Thi pháp ca dao”
của Nguyễn Xuân Kính năm 1992, tác giả đã viết về cách thức nói vòng ừong
ca dao qua việc sử dụng biện pháp phú, tỉ và hứng Thể hứng là một loại cadao được mở đầu bằng một hay vài câu tả ngoại cảnh để gợi hứng, sau đó tácgiả mới xúc cảm sinh tình, muốn bộc lộ nỗi lòng của mình Thể phú là là phô
Trang 9bầy, mô tả Phô bầy, mô tả một cách trực tiếp về con người, về cảnh vật thiênnhiên Phú cũng là tự sự, kể chuyện về những sự việc, những biến cố xảy ratrong cuộc đời Thể tỉ là so sánh Tác giả tập trung làm rõ hiệu quả của haibiện pháp này trong ca dao Vì ca dao trữ tình chủ yếu là bộc lộ tình cảm, tâm
sự cá nhân nên cảnh được mô tả, hay chuyện được kể lại (dù thật hay hư cấu)cũng chỉ là cái cớ để tình cảm con người được phát triển, hoặc nương vào đó
mà biểu lộ ra được Ca dao trữ tình thường nói về đề tài tình cảm, thuộc về vấn
đề trừu tượng nên rất khó diễn tả Bởi vậy, ca dao trữ tình rất ưa sử dụng cácthể này Nó là một phương pháp nghệ thuật đặc sắc, giúp cho ý tứ diễn đạtthêm rõ ràng linh động, mà tình cảm bộc lộ cũng có phần bóng bẩy tế nhị.Nghi thức nói vòng không chỉ được thực hiện thông qua biện pháp tỉ vàhứng mà còn thông qua các công thức mang tính truyền thống Năm 1997, bài
viết “Công thức truyền thống và đặc trưng của cẩu trúc ca dao, dân ca trữ tình ” Bùi Mạnh Nhị tiếp tục khẳng định nền móng vững chắc của việc nghiên
cứu nghi thức nói vòng trong ca dao Người Việt thích dùng các công thứctruyền thống để dẫn dắt tới ý định mà mình trinh bày Đôi khi những công thức
ấy khá vòng vo song tự nó đã báo hiệu trước nội dung của bài ca dao Từ cáccông thức truyền thống của ca dao, ta hiểu được ý định, tâm tư mà nhân vật trữtình trình bày Tác giả Đinh Gia Khánh vào năm 1996 cũng khẳng định:
“Nhận xét về đặc điểm của câu mở đầu trong thơ ca dân gian ” (Đại học Tổng
hợp Hà Nội) Bài viết làm rõ hơn tính công thức trong sử dụng câu mở đầu củacác bài ca dao Câu mở đầu không bao giờ đi vào nội dung chính Nó mangtính gợi mở, dẫn dắt để rồi thường câu cuối bài, tâm tư sâu kín của nhân vật trữtình mới bộc lộ Đấy chính là một biểu hiện cụ thể của lối nói vòng trong cadao
Nói vòng còn được thể hiện qua các sử dụng các biểu tượng nghệ thuật
Bài viết “Những yểu tố trùng lặp trong cao dao trữ tình ” tác giả Đặng Văn
Trang 10Lung (1968) đã đề cập đến những hình ảnh trùng lặp con cò, cây tre, trầng, nước như một cách gián tiếp nhấn mạnh cảm xúc của nhân vật trữ tình Cảm
xúc ấy không được diễn tả trực tiếp mà ẩn ý, vòng vo qua việc lặp đi lặp lạicác biểu tượng Ke tiếp ý tưởng từ bài viết đó, các tác giả đi sâu vào tìm hiểubiểu tượng Năm 1988, tác giả Bùi Công Hùng đã phân tích một số biểu tượngtrong ca dao: trăng, con đò, mặt trời, đôi mắt, con chim, lá trầu, sông núi, cỏ,
thuyền, đêm trong “ Biểu tượng thơ ca tác giả Hà Công Tài cũng chú ý đi sâu tìm hiểu “Biểu tượng trăng trong thơ ca dân gian Năm 1998, Phạm Thu Yến viết chuyên luận “Những thế giới nghệ thuật ca dao” một lần nữa nhấn mạnh
hơn vai trò của biểu tượng trong cách nói vòng của nhân dân lao động Trong
đó, ta thấy, tác giả đã làm rõ khái niệm biểu tượng trong sự phân biệt biểutượng và ẩn dụ, phân loại biểu tượng theo tiêu chí đối tượng và tiêu chí cấutrúc, đặc điểm và ý nghĩa của biểu tượng, sự hình thành và phát triển của biểutượng Năm 2001 đến 2005, trong các bài báo, luận văn tiến sỹ của tác giả
Nguyễn Thị Ngân Hoa “Biểu tượng chiếc áo trong đời sổng tinh thần người Việt qua thơ ca, và Biểu tượng đôi giày trong văn hóa và ngôn ngữ thơ ca Việt Nam” và luận án tiến sĩ “Sự phát triển ỷ nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam ” đã nghiên cứu các biểu tượng này ở ca
dao trong tính chỉnh thể, chú ý đến những biến thể, những hình thái cũng như ýnghĩa của biểu tượng đặc biệt là mối quan hệ giữa các biểu tượng làm nổi bậtchiều sâu của đặc trưng văn hóa và cảm xúc thẩm mỹ của biểu tượng Luận án
tiến sỹ “Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống” của tác giả Nguyễn
Thu Ngọc Điệp 2002 đã khảo sát - thống kê khá hoàn chỉnh về chi tiết các hệthống biểu tượng ừong ca dao; gồm ba hệ thống lớn ừong đó gồm nhiều tiểu hệthống dựa trên tiêu chí đối tượng Tác giả cũng đã thành công khi đưa ra: kháiniệm biểu tượng nghệ thuật ừong ca dao, tìm hiểu nguồn gốc, phân loại miêu
tả, cấu tạo và chức năng của biểu tượng nghệ thuật trong ca dao Nhìn chung,
Trang 11các tác giả đã có những phát hiện mới về đặc điểm, vai trò của biểu tượngtrong thơ ca dân gian tới nghi thức nói vòng của nhân dân ta Biểu tượng trongthơ ca dân gian càng phong phú càng thể hiện rõ cách nói gián tiếp song đầy ý
vị của người dân lao động Từ đó, chúng ta hiểu thêm về mỹ học dân tộc, vềđặc điểm tư duy người Việt: ưa ngụ ý hơn nói thẳng, ưa gợi hơn nói rõ ràng
Trong cuốn “Thi pháp văn học dân gian ”, nhà nghiên cứu Lê Trường
Phát cũng đã tìm hiểu vấn đề ngôn từ nghệ thuật trong ca dao Tác giả khẳngđịnh, cách nói trong ca dao là mang tính ước lệ, mang tính tượng trung, đôi khi
nó chỉ có ừong tưởng tượng của nhân vật trữ tình Nó thường vòng vo, không
đi thẳng vào ý chính cần nói song không mấy ai lại không hiểu Cái hay củacách nói trong ca dao chính là ở đây
Từ những công tình nghiên cứu trên đây, chúng tôi có thể nhận diện rõhơn về nghi thức nói vòng tong ca dao truyền thống Từ đó thấy được sự kếthừa của việc thể hiện cách nói trong thơ ca hiện đại với ca dao truyền thống.Tuy nhiên, qua những công trình giới thiệu ừên đây chúng tôi không thấy côngtrình nghiên cứu riêng về nghi thức nói vòng trong ca dao Phần lớn nhữngnghiên cứu về nghi thức nói vòng được viết chung trong phàn nghiên cứu vềvăn hóa hoặc nghệ thuật của ca dao Việc khảo sát nghi thức nói vòng trong cadao vẫn chưa ừở thành đề tài nghiên cứu trọn vẹn Vì vậy, tong khóa luận này,chúng tôi sẽ khảo sát nghi thức nói vòng trong ca dao một cách có hệ thống, cụthể để thấy được tầm quan trọng của nói vòng trong ca dao Việt Nam
3 Muc đích, nhiêm vu.
Trang 12- Tổng hợp các vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê và phân loại ngữ liệu
- Phân tích một số mục đích của lối nói vòng ttong ca dao
4 Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghi thức nói vòng trong ca dao Việt Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đe phục vụ cho mục đích nghiên cứu, ngữ liệu được khảo sát ttongcuốn:
Ca dao trữ tình Việt Nam, Phan Hách, NXB Hải Phòng, 2006
Tục ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan, NXB Văn học 2013
5 Phương pháp nghiền cứu
- Phương pháp thống kê - phân loại
Trang 13Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo khóa luận của chúng tôi có hai chương:
Chương 1 : Cơ sở lí luận
Chương 2: Các kiểu nói vòng trong ca dao Việt nam
NỘIDUNG CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUÂN 1.1 Khái quát
1.1.1 Khái niêm.
Nói vòng là một lối nói phổ biến trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc Bảnchất của nó là một phép thế danh từ, hay thế đồng sở chỉ, song khác phép thếthông thường ở chỗ, người ta có thể suy ra sở chỉ của cụm từ nói vòng, dựavào ý nghĩa của bản thân cụm từ đó, mà không cần dựa nhiều vào ngữ cảnhnhư phép thế các danh ngữ đồng sở chỉ thông thường Chính vì vậy màR.martin (1976) đã xếp lối nói vòng vào loại câu đồng nghĩa ngữ nghĩa học(parphrase semantique)
Theo tác giả Hữu Đạt, nói vòng là kiểu nói mà người nói (hay người viết)chú ý muốn tạo ra một phát ngôn nhằm hỏi hay thông báo hoặc trả lời một vấn
đề nào đó mà không muốn nói thẳng ra
Trang 14không chỉ làm chức năng đơn thuần là gọi tên sự vật, hiện tượng nữa mà nócòn dùng để phản ánh nhận thức lý tính của con người Ngoài ra, nó còn cóchức năng biểu đạt sự tinh tế của hành vi giao tiếp
Nói vòng là một hiện tượng phổ quát trong các ngôn ngữ và đã được quantâm tò lâu của giới nghiên cứu Ngữ văn ừên thế giới Nhưng với tư cách là đốitượng ngiên cứu của ngôn ngữ học, nói vòng trước hết được chú ý miêu tảttong phong cách học, về sau nó được bàn luận nhiều trong nghiên cứu ngữdụng học, trong lý thuyết hội thoại Tuy nhiên hiện tượng nói vòng lại vô cùng
đa dạng và phong phú, nhưng các tác giả lại chưa có quan niệm thống nhất vớinhau, bởi thế việc phân tích để tìm hiểu một số các đặc trưng cơ bản của nóivòng Nó có ý nghĩa quan trọng đối vói việc nghiên cứu một ngôn ngữ cụ thể,đặc biệt là việc hiểu mối quan hệ giữa văn bản và ngôn ngữ
1.1.3 Đặc trưng văn hóa cách thức nói vòng.
Đặc trưng văn hóa của cách thức nói vòng là dựa trên đặc điểm giao tiếpcủa ngưòi Việt, với lối sống trọng tình cảm, ưa sự tế nhị và đặc biệt là lối giaotiếp vòng vo bóng gió Chính vì yậy lối nói vòng được tạo ra phù hợp với đặcđiểm, mục đích cũng như đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt
1.1.4 Cơ sở tạo ra các kiểu nói vòng.
Muốn tạo ra các kiểu nói vòng, người ta phải giả định rằng, người nghe cócùng với mình những tri thức về nền ngôn ngữ, văn hóa, phong tục Nghĩa làhai bên có thể cùng giải mã được các tín hiệu ngôn ngữ mà người nói thiết lậptrong một bối cảnh giao tiếp cụ thể Điều này quy định, muốn nói vòng thànhcông và có hiệu lực trong giao tiếp người nói cần phải hiểu rõ đối tượng củamình
Từ những điều trên có thể tìm hiểu một số đặc điểm của cách thức nóivòng
1.1.5 Đặc điểm của cách thức nói vòng.
Trang 151.1.5.1 Tính đồng chiếu
Xét đối thoại:
A: Hôm nay thứ mấy hả anh ?
B: Thứ bảy, (nhưng) anh lại mắc họp
Sở dĩ đối thoại này được coi là đối thoại theo kiểu nói vòng là vì giữa haingười đối thoại có một mối quan hệ đồng chiếu với thứ bảy Chẳng hạn họ cóthói quen, cứ đến thứ bảy là B lại rủ A đi picnic Lần này, không thấy B rủ, A
sốt ruột nhưng tế nhị không hỏi trực tiếp mình có đi chơi không mà nói vòng
thành một câu khác Nếu B không có quan hệ đồng chiếu vói A thì câu trả lời
sẽ là hôm nay thứ bảy Câu trả lời của B chính là kiểu nói vòng nhằm giải thích cho sự tình không rủ A đi chơi.
vẫn cặp đối thoại trên, nếu A và B ra khỏi quan hệ đồng chiếu thì hiệntượng nói vòng không còn tồn tại nữa Lúc đó, hai phát ngôn này sẽ trở thànhcặp thoại hỏi đáp theo nghĩa trực tiếp, tức trong các phát ngôn của A và B chỉchứa các điều này mà không chứa cái điều khác
Trong hoạt động giao tiếp, một số kiểu nói vòng lâm thòi nếu mangnhững đặc trưng văn hóa tiêu biểu cho thời đại sẽ có sự chuyển hóa để chuyểnthành các mã hình tượng đó là những trường họp sáng tạo thơ ca hay văn họcnói chung Tuy nhiên cũng có những kiểu nói vòng mặc dù đã được định hình
và trở thành một thứ mã văn hóa giao tiếp, nhưng do sự phát triển của tư duy
nó dần không được dùng nữa và trở thành một hiện tượng có tính lịch sử
1.1.5.2 Tính lâm thòi Ngoài những kiểu nói vòng được định hình trong
truyền thống ngôn ngữ dân tộc, trong hoạt động giao tiếp cũng thường xuấthiên những kiểu nói vòng do cá nhân những người tham thoại sáng tạo ra Kiểunói vòng này chỉ tồn tại một cách lâm thòi và phụ thuộc vào văn cảnh, nghĩa làừong văn cảnh khác kiểu nói vòng này không còn ý nghĩa như cũ nữa
Trang 161.1.5.3 Tính ổn định và bền vững Trong mọi ngôn ngữ, nói vòng là một
hiện tượng được định hình theo thời gian, tồn tại dưới dạng các mã ngôn ngữ mang tính biểu tượng Các mã
này ăn sâu vào tiềm thức dân tộc trở thành các yếu tố văn hóa mang tínhtruyền thống Nó được ổn định qua thời gian và củng cố trong tư duy của cộngđồng ngôn ngữ Đó là các đơn vị như thành ngữ, ca dao, các hình tượng vănhọc mang tính biểu trưng được hình thành bởi ý thức văn hóa dân tộc
Ví dụ :
Thuyền về có nhớ bển chăng Ben thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
(Ca dao)
Người Việt Nam có câu “Nói vậy mà không phải vậy” chính là muốn
nhấn mạnh đến ý thức tỉnh táo của người nghe khi phải gặp các hiện tượng nóivòng Nói một cách khác nói vòng là một hiện tượng đa nghĩa, trong đó cáinghĩa chính của thông báo bao giờ cũng nằm dưới bề mặt cấu trúc của phátngôn, đòi hỏi người nghe phải có sự liên tưởng thông qua vốn hiểu biết vềngôn ngữ, văn hóa, thói quen tư duy dân tộc
Kiểu nói vòng này do được sử dụng nhiều làn nên nó có tính ổn định vàbền vững cao nó được củng cố trong ý thức dân tộc trở thành thứ di sản vănhóa đặc biệt Đó là các thành ngữ, quán ngữ, ca dao Khi chuyển sang cácngôn ngữ khác, người ta phải căn cứ vào nội dung của cái điều khác để dịchchứ không dựa vào cấu trúc bề mặt từ nội dung của cái điều này
1.1.6 Phân biệt nói vòng vói uyển ngữ, nhã ngữ
Uyển ngữ là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, nó có ý nghĩa là nói cho tốt đẹp Trong tiếng Việt tùy theo phạm vi nghiên cứu mà thuật ngữ này
còn được gọi bằng tên khác như nói giảm, nói tránh, khinh ngữ hay nhã ngữ.Uyển ngữ được các nhà nghiên cứu định nghĩa như là một sự thay thếmột từ ngữ không được ưa thích nhằm giữ được thể diện, tránh sự mất thể diện
Trang 17của người nói hoặc người nghe thông qua việc làm chạm tự ái của họ, hoặc giữthể diện cho một người, hay phe thứ ba nào đó, biểu thị một tình huống, conngười dưới ánh sáng dễ chịu, hơn là dưới ánh sáng mạnh mẽ của thực tại, hoặc
dưới sự định nghĩa trực tiếp, thô sơ ban đầu hay để che dấu một sự thật khó
chịu, một xúc phạm làm giảm nhẹ việc vi phạm khuôn phép
Từ đó ta có thể khái quát một cách chung nhất uyển ngữ là những từ ngữđược cấu tạo lại, biểu đạt lại một ý nghĩa đã có một cách tế nhị và đảm bảonguyên tắc lịch sự trong giao tiếp
Trong nghiên cứu phong cách học, uyển ngữ, nhã ngữ là một hiện tượngđược quan tâm từ rất sớm, uyển ngữ nhã ngữ cũng có nét giống nói vòng là ởchỗ thông tin chính không được nói trực tiếp thẳng tuột mà được diễn đạt quamột hình ảnh hay một phát ngôn khác
Tuy nhiên xét về bản chất thì chúng lại có sự khác nhau, uyển ngữ haynhã ngữ là kiểu nói nhằm thể hiện thái độ tế nhị của người nói vói lý do lịch
sự, còn nói vòng lại là khái niệm rộng hơn rất nhiêu bao gồm cả uyển ngữ vànhã ngữ Nói vòng không chỉ diễn đạt sắc thái tế nhị mà có khi còn biểu thị sựbực bội, phê phán, hoặc với các đích khác như đắn đo, thăm dò, củng cố lậpluận Đây là những mục đích giao tiếp hết sức phong phú của lối nói vòng
Đó chính là những hiện tượng tương đồng, khác biệt giữa nói vòng vớiuyển ngữ, nhã ngữ
1.2 Vài nét về văn hóa giao tiếp của người Việt Nam
1.2.1Các đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt
Theo Trần Ngọc Thêm trong cơ sở văn hóa Việt Nam thì trong giao tiếpcủa người Việt có 6 đặc trưng cơ bản:
Đặc trưng thứ nhất xét về thái độ của người Việt Nam đối vói giao tiếp cóthể thấy được đặc điểm của người Việt Nam thích giao tiếp nhưng lại rụt rè
Trang 18Người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc vào nhau và luôn coi trọngmối quan hệ của các thành viên trong cộng đồng Đó là nguyên tắc dẫn đếnđặc trưng cơ bản trong giao tiếp của người Việt Nam Đây cũng là tiêu chuẩndẫn đến việc đánh giá con người Nhưng khi tiếp xúc vói lạ thì ngưòi ViệtNam lại ttở nên rụt rè Hai tính cách trái ngược nhau trong cùng một bản chấtnhưng không mâu thuẫn nhau, chỉ cùng sự thể hiện sự linh hoạt ttong giao tiếpcủa người Việt Nam.
Đặc trưng thứ 2 đó là lấy tình cảm làm nguyên tắc ửng xử
Nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với đặc trưng trọng tình đã dẫn đếnngưòi Việt lấy tình cảm lấy sự yêu ghét làm nguyên tắc ứng xử
Đặc trưng thứ 3 ừong đặc trưng cơ bản của giao tiếp đó là đối tượng giaotiếp ưa tìm hiểu quan sát đánh giá
Người Việt Nam thích tìm hiểu về tuổi tác, gia đình, nghề nghiệp, trình
độ học vấn của đối tượng giao tiếp Đặc tính này chẳng qua cũng chính làsản phẩm của tính cộng đồng làng xã mà ra
Do tính cộng đồng người Việt thấy mình tự có trách nhiệm quan tâm vớingười khác nhưng mối quan tâm hay thể hiện sự quan tâm đúng mực thì phảibiết rõ hoàn cảnh Ngoài ra, do các mối quan hệ xã hội người ta cần tìm hiểu
để có cách ứng xử cho thỏa đáng Biết tính cách biết người để lựa chọn đốitượng giao tiếp cho phù họp
Một đặc trưng nữa trong giao tiếp cơ bản của người Việt đó là chủ thểgiao tiếp trọng danh dự Danh dự được người Việt gắn với năng lực giao tiếplời nói ra để lại dấu vết, thành tiếng tăm, để lưu truyền đến tai nhiều người, tạonên tai tiếng Vì thế, người Việt Nam rất trọng danh dự của cá nhân, cũng nhưdanh dự gia đỉnh, danh dự đất nước
Đặc trưng thứ 5 trong giao tiếp cơ bản của người Việt đó là cách thứcgiao tiếp ưa tế nhị, ý tứ trong sự hòa thuận
Trang 19Để giao tiếp tế nhị khiến ngưòi Việt có thói “vòng vo tam quốc ” không
đi thẳng trực tiếp vào vấn đề như người Phương Tây Chính lối giao tiếp ưa tếnhị này mà người Việt rất đắn đo, cân nhắc trong ứng xử, và rồi cũng chính sựđắn đo cân nhắc này mà ngưòi Việt trở nên thiếu quyết đoán trong công việc
Đe tránh nhược điểm này, và không muốn để mất lòng ai thì người Việt đãthay thế bằng nụ cười
Đặc trưng cuối cùng trong các đặc trưng giao tiếp cơ bản của người Việt
đó là nghi thức lời nói, hệ thống cách xưng hô và cách nói lịch sử rất phongphú Hệ thống xưng hô thứ nhất có tính thân mật hóa trong tình cảm Thứ hai
có tính xã hội hóa, cộng đồng hóa cao người Việt xưng hô theo nguyên tắcxưng hô khiêm tốn, thậm chí cách nói của người Việt cũng rất phong phúkhông chung chung như Phương Tây
Các đặc trưng nêu trên là những đặc trưng cơ bản trong giao tiếp củangưòi Việt Nam phù họp với cách giao tiếp trọng tình cảm ưa lối nói nhẹnhàng, bóng bẩy của người Việt
1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam.
Trước hết nghệ thuật ngôn từ Viêt Nam có tính biểu trưng cao Tính biểutrưng thể hiện ở xu thế khái quát hóa, ước lệ hóa với những cấu trúc cân đốihài hòa
Xu thế ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích những cách diễn đạt bằng con
số biểu trưng Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ổn định có quan hệ tốtvới mọi người, dẫn đến xu hướng trong sự cân đối hài hòa trong ngôn từ - mộtbiểu hiện khác của tính biểu trưng
Tính cân xứng là một đặc tính rất điển hình của tiếng Việt Theo nguyên
lý cấu trúc loại hình tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn kết xong nó chứađựng khối lượng không nhỏ các từ song kết cho nên thực chất trong ngôn từ
Trang 20lời nói Việt cấu trúc song kết lại là chủ đạo Ví dụ: “Già kén kẹn hom ”, “Tai bay vạ gió
Tiếng Việt rất phát triển hình thức câu đối là một sản phẩm văn chươngđặc biệt vừa công phu tỉ mỉ lại vừa cô đọng ngắn gọn
Đặc điểm thứ hai của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam là rất giàu tính chấtbiểu cảm - sản phẩm tất yếu của nền văn học ttọng tình cảm
về mặt từ ngữ chất biểu cảm thể hiện ở chỗ: bên cạnh yếu tố gốc mangsắc thái nghĩa trung hòa, thường có rất nhiều biến thể vói những sắc thái nghĩabiểu cảm, như các từ ngữ chỉ màu sắc Chúng ít sử dụng từ mang sắc trung
hòa, nhưng lại sử dụng các từ có sắc thái biểu cảm rõ nét Ví dụ : béo ú, trắng xóa, xanh lè v.v
về mặt ngữ Pháp tiếng Việt sử dụng rất nhiều các hư từ có sắc thái biểu
cảm: à, ư, nhỉ, nhé.v.v.
Cấu trúc iểc hóa mang sắc thái đánh giá cũng góp phàn quan trọng trong
việc tăng cường hình thành các phương tiện biểu cảm cho tiếng việt
Nghệ thuật ngôn từ Việt Nam còn có đặc điểm thứ ba là: tỉnh động và tính linh hoạt.
Tính động, tính linh hoạt, trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp Trongkhi ngữ pháp biến hình của các ngôn ngữ châu Âu là một thủ pháp chặt chẽ tớimức máy móc thì ngữ pháp tiếng Việt tổ chức chủ yếu theo lối dùng các từ hỏi
để biểu hiện các ý nghĩa quan hệ ngữ pháp khiến người sử dụng được quyềnlinh hoạt một cách tối đa
Ngữ pháp của các ngôn ngữ phương Tây là ngữ pháp hình thức còn ngữpháp Việt Nam là ngữ pháp ngữ nghĩa Tính động, linh hoạt của ngôn từ ViệtNam còn bộc lộ ở chỗ lòi nói của người Việt Nam thích dùng cấu trúc động từtrong một câu có bao nhiêu hành động thì có bấy nhiêu động từ Trong khi đóphương Tây có xu hướng ngược lại thích dùng danh từ
Trang 21Tính linh hoạt năng động còn là nguyên nhân người Việt thích dùng cấutrúc chủ động mà ít dùng cấu trúc bị động.
Như vậy có thể nói rằng trong giao tiếp của người Việt Nam có thiên
hướng nói đến những hành động tĩnh (tâm lý, tình cảm) dẫn đến nghệ thuật thơ
ca và phương pháp biểu trưng bằng hình thức động (cấu trúc động từ, ngữ pháp ngữ nghĩa linh hoạt) trong khi đó người phương Tây nói riêng lại thiên
về nói nội dung động bằng hình thức tĩnh.
Đó chính là những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ trong giaotiếp của người Việt, trong lối sống, cũng như văn hóa
1.2.3 Một vài nét về ca dao Việt Nam.
Làng quê Việt Nam ở đâu cũng vậy, ẩn chứa trong nó bao điều gần gũi
và thân thương Mỗi một miền quê đều có những câu hò, điệu hát rất chung
mà lại rất riêng, mang âm hưởng của từng vùng, miền Tất cả cùng hòa vàocâu thơ, giọng hát của những làn điệu, tạo thành dòng ca dao dân ca Việt Namrất đa dạng và phong phú
Nghiên cứu về ca dao dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóacủa người Việt mà còn làm nổi bật lên tính thần lạc quan, yêu đời, yêu ngưòiđầy tình cảm thiết tha Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dântộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam Với cội nguồn lịch sử và chữviết rất phong phú đa dạng nên ca dao và dân ca có mặt ở Việt Nam từ rấtsớm Các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian, cũng như các nhà khoahọc có liên quan, đã khẳng định những dấu tích của ca dao cách chúng ta
khoảng trên dưới 2.500 năm Đặng Văn Lung, phát biểu: ‘Tái cả các dân tộc trên thế giới suốt mấy nghìn năm chỗ nào cũng có dân ca và ca dao Vì thế nói
về ca dao dân ca của một dân tộc hay ca dao dân ca nói chung là vấn đề rất lớn Nó tồn tại rất lâu, từ hàng ngàn năm trước và như các nhà khoa học
Trang 22nghiên cứu trước đây, các học giả đã nói ca dao ra đời khi trong lòng mình có những điều muốn thể hiện ra, muốn nói lên Những điều đó được gọi là ca dao "
Câu nói, làn điệu, giọng hát là những đòi hỏi bức thiết nảy sinh trong đờisống xã hội, qua thời gian, những câu nói hay, những làn điệu hấp dẫn đã đượcnhân dân sưu tập và gìn giữ Cùng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của đời sống
xã hội và trí tuệ của nhân dân đã đúc kết nên Qua lời ca, câu hát, ca dao vàdân ca Việt Nam là những câu nói đúc kết những kinh nghiệm sống, nhữngquan niệm về nhân cách, nhân đức ở mỗi con người Càng đi sâu vào tìm hiểu
ca dao dân ca, chúng ta sẽ thấy được những nét tài hoa, óc sáng tạo đầy tinhthần thẩm mỹ Tuy nhiên ở mỗi loại hình lại có những đặc điểm riêng biệt
Ca dao dân ca là loại hình văn nghệ truyền miệng, là một hình thức vănhóa dân gian đã có từ rất lâu Nó có thể là một câu nói triết lý bao hàm một nộidung giáo dục của ai đó Trải qua thời gian, mọi người thấy đúng và nghe theo,thậm chí họ có thể thêm vào hoặc bớt đi để đúng với từng hoàn cảnh cụ thể Vìvậy, có thể nói ca dao dân ca là của quàn chúng nhân dân sáng tác nên và họ
có thể sáng tác trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong lễ hội, trong lao động sảnxuất
Chất trí tuệ, giàu tư tưởng tình cảm trong ca dao dân ca là những nguồnnhựa sống bổ sung cho văn hóa dân gian thêm phong phú và đậm đà bản sắc.Tuy cũng là câu nói, giọng điệu cùng với một cái nôi xuất phát như nhaunhưng không phải câu ca dao nào cũng có thể trở thành dân ca và ngược lại, ởmỗi thể loại lại có thêm những ưu thế bổ sung ứng dụng trong từng hoàn cảnhcủa thực tế đời sống Theo cách hiểu thông thường, ca dao là lời của các bàidân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại là những câuthơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca Như vậy giữa ca dao và dân cakhông có ranh giói rõ ràng Ca dao là những câu nói phổ thông trong dân gian
Trang 23Ca dao người Việt thường được cấu tạo bằng hai câu lục bát, một thể thơ rất
âm điệu tiếng Việt Khi có nhiều câu kết thành một đoạn ngắn thì gọi là dân
ca, vì vậy ranh giới giữa ca dao và dân ca là một sợi chỉ rất mỏng manh Cadao là lối văn truyền khẩu, trước tiên là do một người YÌ xúc cảm mà pháthiện ra, rồi vì lời hay, ý đẹp mà lan truyền trong dân gian và truyền mãi từ đờinày qua đời khác Tuy ca dao xuất phát trong giới bình dân nhưng nhiều câurất nên thơ và ý nghĩa đậm đà, dễ xúc cảm người nghe nên được nhiều người
ca dao dân ca những hình ảnh của miền quê như ừở nên gàn gũi hơn, lung lỉnhhơn nhờ những ca tò đày hình ảnh Khi nói đến dân ca, chúng ta không thểquên những lời ru con thiết tha trìu mến, qua tiếng ầu ơ mẹ ru con, những hìnhảnh của miền quê yêu dấu của biển rộng non cao, của gió Lào cát cháy, nhữngngười mẹ năm tháng tảo tần một nắng hai sương nuôi dậy con khôn lớn.Những lời hát ru của mẹ đã hòa đồng với tâm hồn trẻ thơ, vừa đằm thắm nhẹnhàng nhưng cũng không kém phần trầm tư sâu lắng Trong câu hát của mẹ cóánh ừăng soi rọi như đưa con vào giấc ngủ êm đềm, có áng mây trôi bồng bềnhtrên đỉnh núi, có dòng sông bên lở bên bồi, có mặt biển long lanh ánh bạc vànhững con thuyền thấp thoáng ngoài khơi xa Nghe lòi ru của mẹ, trẻ thơ nhưđược tiếp thêm nguồn dự trữ lớn lao về lòng yêu quê hương, đất nước, chắpcánh cho tuổi thơ của con thêm vững bước và sáng ngời niềm tin
Trang 24Lấy nguồn cảm hứng từ thực tế cuộc sống, ca dao dân ca được sáng tạonên, đó là lời ăn, tiếng nói của ông cha ta tích lũy từ ngàn đời Đó là những câunói đúc kết từ những kinh nghiệm sản xuất răn dậy con cháu, bao hàm nhữngnội dung mang ý nghĩa triết lý dạy bảo rất sâu sa Đó là những câu hát đượctruyền tải bằng âm thanh giọng điệu ngôn ngữ với nội dung nghệ thuật phongphú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Bởi vậy, ca dao dân ca là sản phẩm vănhoá tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, con người.
Từ thực tế cuộc sống những câu hát dân gian, những lối nói chân thànhchất phác nhưng cũng không kém phần triết lý sâu sắc, thực tế là những cáihay, cái tinh tuý của dân tộc được kết tinh từ cuộc sống hàng ngày Trong ứng
xử giao tiếp ông cha ta đã có vô vàn những câu nói đúc kết về những lối nói,những hành vi ứng xử khéo léo, lịch sự và duyên dáng
Mai Ngọc Chừ, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia phát biểu: “Trước hết tôi xin nói về lời chào, người Việt Nam rất coi trọng lời chào Người ta thường nói: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ” Trong ca dao thì tiếng chào không chỉ nói lên phép lịch sự của con người Việt Nam mà tiếng chào còn là cái cớ để những đôi trai gái làm quen với nhau, đó là những lời chào bắt duyên trong văn học dân gian ”
Trang 25Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ, kính cha Cho
tròn chữ hiểu mới là đạo con.
Bên cạnh ý nghĩa là công nuôi dưỡng, sinh thành như trời bể của cha mẹ,câu ca dao này còn được hiểu rộng ra với những nét nghĩa rất phong phú
Ca dao dân ca là sản phẩm được sáng tạo bởi quần chúng nhân dân, nộidung mang tính chất chung cũng lại rất riêng, gàn gũi với tập quán sinh hoạtcủa con người Ngay từ thủa lọt lòng, ca dao dân ca đã giành cho trẻ những bàihát đơn sơ, mộc mạc nhưng du dương, ngọt ngào để đưa ừẻ vào giấc ngủ êmđềm Chuyển sang tuổi ấu thơ, các em lại được cất lên nhưng bài hát đồng dao
để vui chơi giải trí, luyện cho trẻ quen với tiếng nói, tiếp cận vói thiên nhiên,tìm hiểu những vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống hàng ngày Khi trưởngthành, trai gái lại tụ họp nhau lại thi hát đố, hát giao duyên và các bài hát vuichơi trong đời sống Đó là những tập tục rất phong phú, làm nảy nở thêm tinhthần lạc quan, yêu đời, yêu người thiết tha
Với nội dung truyền tải rất đa dạng và phong phú đời sống xã hội cho nên
ở mỗi chủ đề, mỗi một lĩnh vực chúng ta có thể thấy vô vàn những câu nói, lốinói rất mộc mạc, dễ hiểu Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã nhận xét rằng: Ca daoViệt Nam bắt nguồn từ tinh thần lạc quan yêu đời, ham đấu tranh, vui vẻ, tếnhị, có duyên nhưng cũng không kém phần dồi dào tình cảm, mạnh mẽ sứclực, nảy nở tự do để đón ánh sáng trời hòa hợp với cỏ cây, hoa lá Nó như mộtnguồn nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, chắp cánh cho thế hệ tươnglai những hoài bão lớn lao về cuộc sống, thiên nhiên và con người Như vậy cóthể nói ca dao và dân ca Việt Nam là kho tàng văn hóa, tri thức dân gian, phảnánh những phong tục, tạp quán, tâm tư nguyện vọng của con người Việt Nam,tạo thành một hệ thống hình ảnh thiên nhiên, con người và lao động cùng hoàquyện vào nhau, tạo dựng nên cách nghĩ, cách cảm về cuộc sống, thiên nhiên
và con người rất Việt Nam
Trang 26Tiểu kết chương 1:
Trong chương này chứng tôi đã trình bày một số vẫn đề lí thuyết làm cơ
sở cho đề tài đó là những vấn đề khái niệm về nghi thức nói vòng, quá trìnhhình thành nghi thức nói vòng, đặc trưng văn hóa cách thức nói vòng, phânbiệt nói vòng với uyển ngữ, nhã ngữ, vài nét về văn hóa giao tiếp của ngườiViệt Nam
CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU NÓI VÒNG TRONG CA DAO VIỆT NAM.
2.1 Kết quả thống kê
Đe tài đã khảo sát 978 bài ca dao, trong đó có 251 bài sử dụng nghi thứcnói vòng Dựa vào mục đích giao tiếp chúng tôi phân loại nghi thức nói vòngthành các kiểu nhỏ như sau:
Bảng thống kê số lượng ca dao sử dụng nghi thúc nói vòng với các muc đích khác nhau.
Trang 27mảnh đất của người lao động gian lao vất vả, nhưng lãng mạn, thủy chung vàgiàu tình nghĩa Những chàng trai cô gái, tỏ tình với nhau bằng những bài cadao vừa ý nhị, vừa dạt dào tình cảm.
Những bài ca dao tỏ tình đầy ý tứ, với cách nói vòng đầy ẩn ý, trongkhuôn phép của xã hội xưa, và mang lại cho người nghe nhiều cung bậc cảmxúc khác nhau, bài ca dao sau đây là một ví dụ:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng
Đan sàng thiếp cũng xỉn vâng Tre non đủ lá nên chăng hỡi chàng ?
Mặc dù khi hát đối đáp thường có nhiều người nhưng chàng trai vẫn
tưởng tượng ra khung cảnh chỉ có hai ngưòi Vậy là anh đã chọn đêm trăng thanh để ngỏ lời cùng cô gái Quả thật, câu hỏi của chàng trai mang đầy ẩn ý
cũng như tình cảm của chàng trai dành cho cô gái Ở đây cũng là lối giaoduyên mượn hình ảnh của những trái cây, cành lá thân quen của làng quê nông
thôn Việt Nam như tre để làm danh từ xưng hô Điều đó thể hiện Yẻ đẹp mộc
mạc và thi vị của nhân dân ta hay chính sự mộc mạc trong tình yêu lứa đôi củahọ
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng ?.
Tình yêu gắn liền vói những hình ảnh thanh bình của đêm trăng thanh.Trăng sáng, gió mát, khung cảnh êm đềm đầy thơ mộng của làng quê, thời gian
nghệ thuật đêm Không gian nghệ thuật Trăng thanh gợi cho ta nhiều thơ
mộng, Đó là nơi tình yêu mang lại cho chàng trai và cô gái những cung bậccảm xúc riêng Đêm trăng thanh rất đẹp, rất ma mị ấy như minh chứng chotình cảm của chàng trai Chàng đã sử dụng nghi thức nói vòng đi từ gián tiếp
đến trực tiếp, mượn hình ảnh tre non đủ lá, đan sàng thực chất là để nói về
chuyện tình cảm của mình, chàng trai dùng những hình ảnh đó để ướm hỏi côgái Trước những khó khăn và vất vả của cuộc sống thì cảnh đẹp của đêm ừăngthanh luôn là nơi đôi lứa hò hẹn nhau
Trang 28Hình ảnh cây tre mang một vẻ đẹp về lòng trung kiên trong truyền thốngbất khuất của ông cha ta, trong đấu tranh, thế mà ở đây nó lại xuất hiện trong
tình yêu đôi lứa Tre đi liền với Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín (Thép Mới) Nhưng ở đây lại là tre non trong chính tình yêu của
đôi nam nữ Hình ảnh tre non với câu hỏi:
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng ?.
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng ? là câu hỏi được thể hiện bằng hai hình ảnh ẩn dụ Tre non đủ lá nói về vẻ đẹp ttẻ trung, xinh tươi của cô gái đang đối diện tâm tình Ẩn dụ thứ hai đan sàng nên chăng ? là sự ướm duyên, tỏ
tình kín đáo
Chữ thanh bắt vần vói chữ anh, chữ nàng bắt vần với chữ sàng đã làm
cho nhạc điệu câu thơ nhẹ nhàng, êm ái, đọc lên nghe rất thú vị Thiếu nữ lầnđầu nghe được lời tỏ tình ý nhị ấy sao mà chẳng thấy vui sướng
Cách tỏ tình ý tứ tế nhị bằng lối nói vòng, vừa bóng bẩy, vừa biểu cảm YÌ
đó là ngôn ngữ của con tim, của tâm hồn mà không hề thô lỗ, sống sượng nhưanh chàng thợ cày này:
Gặp đây anh nẳm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không ?
Cho dù có thân mật đến đâu nhưng cái cử chỉ đường đột nẳm cổ tay và hỏi một câu sỗ sàng có lấy anh không thì thật vô duyên.
Bằng lối nói vòng, đầy ẩn ý, ta thấy được chàng trai trong cuộc là mộtngưòi phong nhã, lịch sự, tế nhị Câu hỏi của chàng trai thì mặn mà đầy ẩn ý.Còn câu trả lời của cô gái vừa thông minh sắc sảo, lại vừa có duyên Một nửacâu xác nhận và một nửa câu hỏi lại:
Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre non đủ lá non chăng hỡi chàng ?
Cô gái nhắc lại hai hình ảnh ẩn dụ đan sàng và tre non đủ lá có ngữ điệu
nhẹ nhàng, lễ phép, biểu lộ sự hài lòng, đồng ý, chấp nhận, lời tỏ tình củachàng trai, vừa thể hiện sự dịu dàng của cô gái cùng tình cảm cô dành cho
Trang 29chàng trai Đây là lối đáp vừa kín đáo vừa tế nhị, nhưng không kém phần mãnhliệt của cô gái trong tình yêu của mình.
Bài ca giao duyên trên có lời đẹp, hình đẹp, dạt dào chất phong tình Mộtphong cảnh tỏ tình tong nhã, bằng nghi thức nói vòng mà thể hiện được sự tếnhị, duyên dáng xứng đôi hỏi tế nhị mà ttả lời cũng tế nhị nhưng vẫn thể hiện
rõ tình cảm cũng như ẩn ý mà chàng trai, cũng như cô gái thể hiện Nghệ thuật
sử dụng ẩn dụ với bóng trăng thanh thơ mộng đã làm nổi bật trong tâm hồn traigái làng quê
Trong ca dao, hiệu quả, mục đích của nghi thức nói vòng được khai tháctriệt để đặc biệt là nghệ thuật ẩn dụ đặc sắc được sử dụng ttong bài ca dao
Bằng những hình ảnh tre non đủ lá, đan sàng để gợi mở, tỏ tình, và để rồi cô
gái chấp nhận lòi tỏ tình của chàng ừai cũng đày ý tứ, tế nhị mà dịu dàng Từ
đó ta có thể thấy rõ mục đích của nghi thức nói vòng trong ca dao Việt Nam.Nói vòng được sử dụng rất nhiều trong các bài ca dao tỏ tình, đôi lứa.Không chỉ có bài ca dao trên mà bài ca dao sau mục đích của nói vòng cũngđược thể hiện rất rõ, nhằm thể hiện ý tứ tỏ tình của chàng trai với cô gái mộtcách đầy ẩn ý, trang nhã Ví dụ như bài ca dao dưới đây :
Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng có lối ai vào hay chưa ?
Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào ?
Mận và Đào đó chính là những trái cây vào mùa xuân, mùa của tình yêu,của sức sống và của tuổi trẻ Mận, đào hai loại trái cây thân thuộc ừong vườnquê đã ừở thành một cặp danh tính thay thế cho các cặp từ nhân xưng anh -
em, mình - ta, chàng - thiếp, trong kho tàng ca dao về tình yêu
Hai câu ca dao đầu là lời của mận dành cho đào, tác giả dân gian mượn hai loại quả này biểu tượng cho chàng trai và cô gái trong tình yêu Mận đại diện cho chàng trai còn đào ở đây chính là cô gái Cách hỏi đầy ẩn ý, như bâng
Trang 30quơ nhưng lại mang một hàm ý sâu xa nhất định, vòng vo ý tứ, đó là sự tỏ tình
tế nhị, nhưng cũng không kém sự hài hước của chàng trai
Bây giờ mận mới hỏi đào.
Vườn hồng có loi ai vào hay chưa ?
Chàng trai đang tìm hiểu về cô gái, hỏi như vậy để biết rằng cô đã cóngười thương, người nhớ chưa, đồng thời cũng là để ngỏ ý của mình Bởilẽ,nếu chàng trai không thích, không thương, không nhớ cô gái thì sẽ khônghỏi ngưòi ta làm gì ? Bằng lối giao tiếp vòng vo, ý nhị như thế câu chuyện
mận - đào cứ hiện lên sinh động, đẹp đẽ.
Bây giờ là thời gian hiện tại mận mới gặp lại đào tại nơi cây đa, giếng
nước, sân đình, của làng quê Việt Nam Một dịp may hiếm có, anh chàng chắc
hẳn đã để ý cô gái từ nhiều ngày tháng qua nhưng mãi cho đến hôm nay, bây giờ chàng mới dám thổ lộ.
Hai chữ bây giờ ý vị hơn, vì nó đã thể hiện được nỗi lòng băn khoăn
mong đợi của chàng trai Cô thôn nữ đã lọt vào mắt xanh của chàng từ lâunhưng nay chàng mới dám mạnh hỏi
Chàng trai không hỏi cô gái về tuổi, không hỏi về “bác mẹ sình thành ra
Đào là biểu tượng là cô gái trong cuộc giao tiếp này, nhưng sau tác giả lại nói là vườn hồng? Ở đây vườn hồng không phải là vườn cây hồng hay vườn
ưái hồng mà là khu vườn của trái tim ngập tràn màu hồng hạnh phúc, yêu
Trang 31thương Khi yêu, màu hồng được lên ngôi và nó tượng trưng cho tình yêu cũngnhư vẻ đẹp của người con gái Trái tim cô gái như một khu vườn ngập trànmàu hồng ấy khiến cho chàng ttai muốn được bước chân vào đó, muốn sayđắm ưong vẻ đẹp đó.
Qua ẩn dụ vườn hồng chàng trai đã kín đáo ngợi ca vẻ đẹp của cô gái đang đứng trước mặt anh bây giờ Năm tiếng đã có ai vào hay chưa ? nhẹ
nhàng tế nhị như một tiếng hỏi khẽ khàng về tình duyên cô gái Câu hỏi làm
cho ngưòi nghe cảm thấy ngọt ngào Ải đại từ phiếm chỉ, cách ướm hỏi của mận tế nhị, bóng gió đầy ẩn ý, đó là mục đích mà nghi thức nói vòng đem lại.
Ngôn ngữ là tiếng lòng, là hơi thở, gương mặt của mỗi người, nhất là đốivới chàng trai cô gái trong tỏ tình Câu hỏi của mận cho thấy cánh ứng xử tế
nhị của một chàng ừai đang muốn vào vườn hồng.
Thiếu nữ cũng không tầm thường hóa không nói mình đã có người yêuhay chưa mà trái lại là cách ứng xử thông minh, tế nhị:
Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.
Chuỗi từ ngữ thì đào xỉn thưa, nhưng chưa ai vào nằm ở vị trí cuối câu
lục bát, gồm những thanh bằng liên tiếp đã diễn tả giọng nói, lòi nói dịu dàng
lễ phép của cô gái nhắc lại ẩn dụ hình ảnh Vườn hồng của chàng trai cô gái kín đáo biểu lộ sự tự hào bản thân mình Câu trả lòi vườn hồng có lối nhưng chưa
ai vào là câu trả lời sắc sảo, tinh tế, mà duyên dáng Qua tín hiệu ấy chàng trai
sẽ vô cùng sung sướng cảm thấy mình đã tìm ra lối vào Vườn hồng, mở cánh
cửa tình yêu của cô gái
Như vậy ta thấy rằng cả chàng trai và cô gái rõ ràng là rất thích nhau,
nhưng họ vẫn thẹn thùng không giám nói đành mượn hình ảnh đào, mận để nói lên nỗi niềm tâm sự của bản thân Đào - mận, chàng trai - cô gái chỉ có mận hỏi đào thưa không hề có câu nào thể hiện tình cảm nhưng chỉ càn có thế