1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)

138 402 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích một số báo cáo gần đây về di cư ở Việt Nam cho thấy những đóng góp của phụ nữ di cư cho gia đình là rất lớn và họ cũng chính là người trực tiếp chịu hậu quả của việc di cư nhưn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

(Nghiên cứu trường hợp Hà Nội )

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ THỊ CÚC

VẤN ĐỀ GIỚI TRONG DI CƯ TỰ DO TỪ NÔNG

THÔN ĐẾN THÀNH THỊ HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp Hà Nội )

Trang 3

Lời cảm ơn

Lời đầu tiên, Tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, các Thầy, Cô giáo trong Khoa Xã hội học, các Thầy Cô giáo trong Bộ môn Giới và Gia đình đã giúp đỡ Tôi trong quá trình học tập

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với GS.TS Lê Thị Quý Mặc dù phải đảm trách rất nhiều công việc nhưng Bà luôn dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn, đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình kể từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành bản Luận văn này

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Lãnh đạo Viện Gia đình và Giới, Ths Nguyễn Thanh Tâm đã giúp đỡ và cho phép Tôi sử dụng Bộ số liệu của đề tài

để làm cơ sở dữ liệu viết bài

Cuối cùng tôi xin được gửi lời tri ân đến tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình

Trân trọng

Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2011

Học viên

VŨ THỊ CÚC

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 10

3 Mục tiêu nghiên cứu 10

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Câu hỏi nghiên cứu 15

8 Giả thuyết nghiên cứu 15

9 Khung phân tích: 15

10 Đóng góp của luận văn 16

11 Kết cấu của luận văn 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ GIỚI TRONG DI CƯ TỰ DO 17

1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 17

1.2 Hệ thống khái niệm sử dụng trong luận văn 18

1.3 Các lý thuyêt vận dụng trong nghiên cứu 25

1.4 Tổng quan nghiên cứu về giới trong di cư tự do nông thôn thành thị 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIỚI TRONG DI CƯ TỰ DO TỪ NÔNG THÔN ĐẾN HÀ NỘI HIỆN NAY 43

2.1 Một số phác hoạ ban đầu về người di cư tự do đến Hà Nội hiện nay 43

2.2 Kết quả phân tích về giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị 48

2.3 Phân tích giới trong chính sách đối với người di cư tự do 80

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, HỘP VÀ BIỂU ĐỒ

Danh mục bảng

Bảng 1 Yếu tố tác động đến quan niệm về vai trò kiếm tiền theo giới (%) 50

Hộp 1 Kết quả một cuộc thảo luận nhóm tiến hành tại phường Phúc Xá 55

Bảng 2 Lý do người di cư quyết định đến Hà Nội làm ăn (%) 56

Bảng 3 Lý do di cư theo giới tính người trả lời (%) 57

Bảng 4 Các yếu tố tác động đến di cư do nghèo túng, thu nhập thấp (%) 59

Bảng 5 Lý do chọn Hà Nội là nơi di cư đến của người lao động (%) 63

Bảng 6 Lý do chọn Hà Nội làm nơi di cư theo giới tính (%) 64

Hộp 2 Ý kiến về nguyên nhân đến Hà Nội làm ăn 66

Bảng 7 Nghề nghiệp của người di cư khi đến Hà Nội (%) 69

Bảng 8 Các yếu tố ảnh hưởng đến nghề nghiệp (%) 71

Bảng 9 Thời gian chờ việc của người lao động (%) 73

Bảng 10 Tương quan giữa thời gian chờ việc với giới tính (%) 74

Bảng 11 Người gợi ý di cư và các yếu tố tác động (%) 76

Bảng 12 Quyền quyết định theo giới tính và tình trạng hôn nhân (%) 78

Danh mục hộp Hộp 1 Kết quả một cuộc thảo luận nhóm tiến hành tại phường Phúc Xá: 55

Hộp 2 Ý kiến về nguyên nhân đến Hà Nội làm ăn 66

Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1: Hình thức di cư của người di cư (%) 48

Biểu đồ 2 Người quyết định di cư (%) 77

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị và sự tập trung đông đảo các nhà máy, các khu công nghiệp

đã thu hút hàng loạt các dòng di cư lao động nông thôn vào các thành phố tìm việc làm

Kết quả thống kê cho thấy, trong thời gian giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số năm 1989 và 1999 mức độ di chuyển của dân cư từ nông thôn vào các thành phố tăng lên khoảng một phần ba Năm 1999 số người di cư từ nông thôn ra thành thị khoảng 1,6 triệu người [3, tr.28] Sau đó 10 năm, kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, hiện tượng di cư từ nông thôn đến đô thị diễn ra khá mạnh, biểu hiện ở tỷ lệ dân số thành thị tăng 3,4%, trong khi dân số nông thôn chỉ tăng 0,4% Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu là những vùng có tỷ lệ dân số tăng nhanh, từ 2,9% - 3,5%

Số liệu thống kê cũng chỉ ra rằng quy mô chuyển cư nội địa và cường độ di cư giữa các vùng cũng tăng lên rõ rệt Trong thời kỳ 2004-2009, số người di cư tăng hơn 2,2 triệu người so với thời kỳ 1994-1999 Trong thời gian từ 1999 -2009, dân

số Việt Nam tăng 9,45 triệu người thì thành thị tăng hơn 7 triệu (chiếm tỷ lệ khoảng 70%), nông thôn chỉ tăng hơn 2 triệu (chiếm khoảng 30%) Điều đó cho thấy, các thành phố lớn đang là nơi có sức hút mạnh đối với người di cư từ nông thôn và theo

dự báo của Chính phủ nếu cứ tiếp tục tăng như vậy đến năm 2020 sẽ có khoảng 45% dân số sống ở khu vực đô thị [9, tr.4]

Khuôn mẫu di cư hiện nay cũng đã có nhiều thay đổi so với trước đây, số lượng phụ nữ di cư ngày càng gia tăng, hầu như địa phương nào cũng có lao động

nữ đi làm ăn xa Số liệu các cuộc điều tra lớn cho thấy, quy mô di chuyển lao động nông thôn không chỉ gia tăng mà còn diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau với sự tham gia đông đảo của phụ nữ [4, tr.16] Theo Tổng điều tra dân số 1989, nam giới

Trang 7

chiếm tới 57,2% tổng số người di cư và phụ nữ chỉ chiếm 42,8% Sau đó 10 năm Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999 cho thấy rằng số lượng phụ nữ di cư

đã vượt qua nam giới chiếm 53% (nam 47%) Sau đó 5 năm, đến Điều tra di cư năm

2004 thì tỷ lệ nữ di cư đã tăng lên là 56,9% tổng số người di cư, trong khi nam giới chỉ chiếm 43% (ít hơn 13,9%) Như vậy, năm 2004 tỷ lệ phụ nữ di cư so với tổng số người di cư gần giống như tỷ lệ nam giới di cư cách đây 15 năm [32, 35]

Trong số các thành phố lớn, Hà Nội là địa bàn có số lượng người nhập cư cao thứ hai trong cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2008, Hà Nội hàng năm thu hút 16,5 vạn lao động từ các tỉnh, chiếm

tỷ lệ 10% tổng số lao động phổ thông của Hà Nội [34, tr.29] Trong thời gian từ

2004 - 2009, tỷ lệ số người di cư tự do chiếm tới 8,9% dân số Hà Nội, di cư giữa các quận/huyện cũng chiếm tới 7,07% dân số nội thành Trong số 145 phường của

Hà Nội thì 42 phường có lượng người di cư từ nông thôn chiếm hơn 50% tổng số người nhập cư [9, tr.4, 14]

Lao động nữ di cư ra Hà Nội hầu hết đều xuất thân từ các gia đình nghèo, trình

độ thấp nên nghề nghiệp của họ chủ yếu là lao động chân tay, làm thuê dựa trên thoả thuận cá nhân, không có hợp đồng lao động Phân tích một số báo cáo gần đây

về di cư ở Việt Nam cho thấy những đóng góp của phụ nữ di cư cho gia đình là rất lớn và họ cũng chính là người trực tiếp chịu hậu quả của việc di cư nhưng lại không nhận được một sự quan tâm tương xứng trong các công trình nghiên cứu về di dân [29, tr.42, 14] Xét tương quan giới trong quá trình di cư, phụ nữ gặp nhiều khó khăn hơn so với nam giới khi tìm kiếm việc làm cũng như tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ Do vậy, việc nghiên cứu các chính sách

hỗ trợ thích hợp để người lao động nữ di cư có những đóng góp tích cực cho cả nơi

đi và nơi đến, đảm bảo sự phát triển cân đối nguồn nhân lực đang là những vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay

Bên cạnh di cư nội địa, tình trạng di cư của phụ nữ từ nước nghèo đến nước giàu dưới hình thức hôn nhân đang có chiều hướng gia tăng ở châu Á, trong đó có

Trang 8

Việt Nam Theo số liệu thống kê, hiện nay có khoảng 191 triệu người di cư quốc tế, trong đó 95 triệu người là phụ nữ và trẻ em gái [40] Ở Việt Nam, bên cạnh dòng di

cư tự phát ra nước ngoài do ảnh hưởng của chiến tranh, di cư xuất khẩu lao động và kết hôn với người nước ngoài đang ngày càng gia tăng Kết quả thống kê thu được, theo con đường hợp pháp từ năm 1995-2007 có khoảng 180.000 người Việt Nam kết hôn với người của 60 nước trong đó phụ nữ chiếm tới 80% Trong thời gian

2005 - 2007 có gần 32.000 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan Theo Cục Thống kê Hàn Quốc trong vòng 5 năm từ 2001 đến 2005, tỷ lệ đàn ông Hàn Quốc lấy vợ Việt Nam tăng đến 43 lần, năm 2001 là 134 người đến 2005

đã là 5.822 người [27, tr.17] Kết quả một nghiên cứu khác cũng cho thấy số lượng

cô dâu Việt ở nước ngoài là khá cao, Malaysia có trên 5000 người; Singapore trên 5.000; Trung Quốc trên 20.000 và Đài Loan trên 110.000 Các cô dâu này chủ yếu xuất phát từ các gia đình nghèo ở nông thôn phổ biến nhất là đồng bằng sông Mekong, học vấn thấp, tuổi đời trung bình 21 tuổi [36, tr.97]

Những phụ nữ di cư lấy chồng nước ngoài hầu hết vì mục đích kinh tế vì họ đều xuất thân từ những vùng nông thôn nghèo khó, trình độ học vấn thấp không có nghề nghiệp Kết qủa nghiên cứu cho thấy, phụ nữ di cư quốc tế có nhiều đóng góp đối với gia đình thông qua lượng tiền họ gửi về nhà, đối với nền kinh tế quốc dân, hàng năm họ đóng góp hàng tỷ đô-la bằng tiền và dịch vụ Trong quá trình di cư họ cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn trong hoà nhập xã hội, tiếp cận thông tin, việc làm, chăm sóc sức khoẻ, phúc lợi xã hội và pháp luật do những khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá và lối sống Tuy nhiên, cũng giống như phụ nữ di cư tự do nội địa, sự đóng góp của phụ nữ di cư nước ngoài, cùng với những nguy cơ bị xâm hại họ phải đối mặt trong quá trình di cư còn chưa được sự quan tâm chính đáng từ phía Các nhà hoạch định Chính sách [28, tr.40, 27, tr.19, 47, tr.16 ]

Chính sách đối với vấn đề di cư cũng được Chính phủ quan tâm ngay từ những năm 1980 trong giai đoạn đầu của chiến lược phát triển kinh tế Tuy nhiên phần lớn các chính sách này đều tập trung vào 2 hình thức di cư là di cư đến các khu công nghiệp và di cư đến các vùng nông thôn (đi khai hoang xây dựng kinh tế mới như

Trang 9

Lâm Đồng, Tây Nguyên ) Đối với dòng di cư tự do, họ gần như không nhận được một chương trình hỗ trợ đặc biệt nào tự Chính phủ, thậm chí họ còn phải chịu nhiều

áp lực từ các chính sách cấm đoán hay chạn chế của chính quyền các đô thị [31, tr.40] Có thể thấy rõ ràng nhất là Chính sách quy định giới hạn việc đăng ký hộ khẩu của Chính phủ đã hạn chế sự nhập khẩu của người di cư, tuy nhiên khi áp dụng đã cho thấy sự không thành công và đến nay đã được sửa đổi Các nghiên cứu nhận thấy rằng, trong các chính sách về di cư những nhân tố trước đây hạn chế di cư

từ nông thôn ra thành thị thì nay đã bị loại bỏ hoặc nới lỏng Hệ quả là di cư từ nông thôn ra thành thị, đặc biệt là di cư tự phát từ nông thôn ra các thành phố lớn đang ngày càng tăng và rất có khả năng sẽ tiếp tục tăng mạnh trong 10 năm tới đây [42] Nhìn chung cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề di cư, về cái được cái mất của thực trạng này nhưng dòng chảy di cư nông thôn đô thị vẫn tiếp tục diễn ra với qui mô và tính chất ngày càng phức tạp Đặc biệt sự tham gia của phụ nữ ngày càng nhiều và họ cũng chứng tỏ khả năng và ưu thế của mình trong quá trình di cư so với nam giới Vì thế việc nghiên cứu về di cư hiện nay cần quan tâm nhiều đến đặc điểm giới của dòng di cư này và những hệ quả đối với sự phát triển của xã hội nông thôn [54]

Xuất phát từ quan điểm trên, đề tài nghiên cứu "Vấn đề giới trong di cư tự

do từ nông thôn đến thành thị hiện nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)" sẽ

góp phần phác hoạ bức tranh chung về vai trò của người phụ nữ và nam giới trong

di cư tự do từ nông thôn đến thành thị Qua việc tìm hiểu vấn đề giới trong các chính sách về di cư sẽ giúp bạn đọc, những người quan tâm có được sự nhận diện rõ ràng hơn về sự bảo vệ của pháp luật đối với nhóm xã hội đặc thù này, cũng là tiền

đề cho việc xây dựng các chính sách phát triển kinh tế xã hội sao cho hài hoà về mặt lợi ích giữa các cư dân bản địa và người di cư Việc nghiên cứu di cư dưới góc độ giới sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trong quá trình di

cư, đảm bảo sự bình đẳng và tạo thuận lợi cho phụ nữ khi họ là đối tượng phải di

Trang 10

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này vận dụng Lý thuyết lực hút lực đẩy của Ravenstein và Lý thuyết Giới trong di cư vào nghiên cứu vai trò của phụ nữ và nam giới trong các vấn

đề di cư như nghề nghiệp tại nơi đến, quyền quyết định di cư, trong các chính sách

về di cư Việc thực hiện nghiên cứu là quá trình vận dụng các lý thuyết xã hội học vào lý giải một vấn đề thực tiễn là vấn đề di cư tự do nông thôn thành thị, một vấn

đề được đông đảo các tầng lớp, tổ chức xã hội quan tâm hiện nay

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những phân tích, đánh giá về vai trò của phụ

nữ và nam giới trong di cư tự do từ nông thôn đến Hà Nội Qua việc phân tích vấn

đề giới trong chính sách di cư, phần nào sẽ cung cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách những cơ sở thực tiễn cho việc điều chỉnh, bổ sung kịp thời các chính sách, biện pháp đối với người di cư tự do, góp phần cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới và nâng cao vai trò của phụ nữ trong di cư tự do

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Nghiên cứu sẽ làm rõ vấn đề giới trong di cư tự do, những thông tin này sẽ bổ sung tư liệu cho việc nhận diện một cách thấu đáo các vấn đề liên quan đến phụ nữ

và nam giới di cư tự do từ nông thôn đến thành thị Phân tích vấn đề giới trong các chính sách của Nhà nước về di cư cũng góp phần cung cấp những thông tin là cơ sở

để thiết lập các chính sách về di cư nhằm khai thác tối đa những lợi ích mà dòng di

cư này mang lại cũng như hạn chế, khắc phục những hệ luỵ mà bản thân nó gây ra

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Tìm hiểu quan niệm về vai trò của phụ nữ và nam giới trong di cư tự do

- Phân tích sự khác biệt giới trong nghề nghiệp của người di cư

- Tìm hiểu vai trò của phụ nữ và nam giới trong quyền quyết định di cư

- Phân tích một số vấn đề về giới trong chính sách đối với người di cư tự do

- Đề xuất các giải pháp nâng cao bình đẳng giới và vai trò của người phụ nữ

Trang 11

nông thôn trong quá trình di cư

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị

4.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể chính của nghiên cứu là người lao động di cư tự do trên địa bàn thành phố Hà Nội (chưa mở rộng) Trong nghiên cứu của chúng tôi, người di cư chủ yếu xuất phát từ nông thôn, nghề nghiệp chính là nông dân, có trình độ thấp

4.3 Phạm vi nghiên cứu

4.3.1 Phạm vi nội dung

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề giới trong di cư tự do nông thôn thành thị trên các khía cạnh: khác biệt giới trong nghề nghiệp tại nơi di cư đến; khác biệt giới trong quyền quyết định di cư; vấn đề giới trong chính sách di cư

4.3.2 Phạm vi thời gian

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7/2009 đến tháng 7 năm 2010

4.3.3 Phạm vi không gian

Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi địa bàn Hà Nội (chưa mở rộng)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài vận dụng Lý thuyết lực hút lực đẩy và Lý thuyết giới vào phân tích

Lý thuyết lực hút - lực đẩy của Ravenstines về di cư nhìn nhận việc di cư do

Trang 12

tác động của hai yếu tố đó là các yếu tố lực đẩy nơi di cư như: do điều kiện kinh tế

khó khăn, do thiếu việc làm, thu nhập thấp, điều kiện môi trường không thuận lợi và

các yếu tố lực hút nơi đến như: Dễ tìm được việc làm, có thu nhập cao hơn, môi

trường sống thuận lợi Cả hai yếu tố này đã tác động cùng chiều, thúc đẩy việc di cư của những người lao động ở nông thôn di cư lên thành thị

Lý thuyết Giới nhìn nhận vấn đề di cư thông qua yếu tố giới của nam và nữ trong mối quan hệ với lao động và sự phân công lao động Do vậy, dưới tác động của các yếu tố liên quan đến giới, cả nam và nữ di cư có những đặc điểm thuận lợi

và khó khăn khác nhau Chính từ những yếu tố giới mà nam nữ có sự khác biệt khi

di cư

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu:

- Phân tích tài liệu thứ cấp

+ Tổng quan các nghiên cứu đã có về vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị

+ Các văn bản, chính sách liên quan đến vấn đề di cư

+ Các báo cáo, nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề

di cư nói chung và vấn đề việc làm của người di cư tự do nói riêng

+ Các chính sách, báo cáo và nghiên cứu này có vai trò cung cấp các thông tin ban đầu và định hướng cho việc làm rõ các vấn đề trong nội dung nghiên cứu Đồng thời nguồn số liệu và các kết luận từ trong các báo cáo này sẽ được sử dụng để so sánh và củng cố thêm các kết luận trong luận văn

- Phân tích số liệu thống kê sẵn có:

+ Cơ sở số liệu:

Luận văn chủ yếu sử dụng số liệu của cuộc điều tra “Sự thích ứng của người di

Trang 13

cư tự do từ nông thôn vào đô thị và các vùng phụ cận - nghiên cứu trường hợp Hà Nội” do Viện Gia đình và Giới thực hiện trong năm 2008 - 2009 (chủ nhiệm đề tài Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Tâm) Việc sử dụng dữ liệu từ nghiên cứu này đã được

sự đồng ý của Viện Gia đình và Giới

Nghiên cứu được tiến hành chủ yếu tại bốn phường Ô Chợ Dừa (quận Đống Đa), phường Phúc Xá (quận Ba Đình), phường Phúc Tân và Bạch Đằng (quận Hoàn Kiếm) Ngoài ra, nghiên cứu còn khảo sát một số người di cư một số phường và xã ngoại thành của Hà Nội như Thanh Nhàn, Thanh Xuân Bắc, Sài Đồng, Thịnh Liệt Tại các địa bàn nghiên cứu, nhóm điều tra viên đã tiếp cận với nhiều nam giới làm các nghề bốc vác, xây dựng, thợ tự do, bán hàng rong; và tiếp xúc với một số phụ

nữ làm các nghề nấu ăn, xe đẩy, bán hàng rong, giúp việc gia đình để phỏng vấn họ Tại Gia Lâm, ngoại ô của Hà Nội, các điều tra viên cũng đã đến một khu phòng trọ trên địa bàn huyện, phỏng vấn nhóm công nhân làm hợp đồng theo các thời vụ cho một số nhà máy và công ty tư nhân quanh khu vực huyện Gia Lâm

+ Dữ liệu của đề tài bao gồm:

Dữ liệu định lượng: gồm nội dung của 700 phiếu điều tra xã hội học đối với

người di cư tự do trong đó có 319 nam và 381 nữ Những người di cư tự do là nhóm người đặc thù, chỗ ở không ổn định và rất khó quản lý về mặt hành chính Một số lượng lớn người di cư không đăng ký hộ khẩu tại nơi đến trong khi tên của họ vẫn ở trong danh sách của hộ gia đình tại nơi đi Một số khác ban đầu đăng ký hộ khẩu tạm trú nhưng sau đó không đăng ký lại khi giấy phép hết hạn Vì vậy, những người

di cư tự do không đăng ký tạm trú và không được thống kê nên ngay cấp chính quyền địa phương cũng không quản lý được những người này Do đó, mẫu nghiên cứu được lựa chọn bằng phương pháp quả bóng tuyết để đảm bảo có thể chọn lựa được tương đối đầy đủ các đối tượng người di cư tự do Thông tin định lượng được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi

Dữ liệu định tính: Trong nghiên cứu này tác giả thực hiện phân tích 24 cuộc

(12 nam và 12 nữ) và 4 phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ chốt trong tổng số

Trang 14

100 người tham gia nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm) từ đề tài “Sự thích ứng của người di cư tự do từ nông thôn vào đô thị và các vùng phụ cận

- nghiên cứu trường hợp Hà Nội” Đây là những phỏng vấn có liên quan trực tiếp đến vấn đề khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong di cư tự do Đối tượng của phỏng vấn sâu bao gồm những người di cư tự do và cán bộ phường tại một số địa bàn phường Trong phạm vi nghiên cứu này, dữ liệu định tính có vai trò quan trọng trong việc góp phần làm sáng tỏ những thông tin định lượng thu được Đồng thời, nghiên cứu định tính còn cung cấp những thông tin chi tiết và sâu sắc trong việc lý giải chính xác vấn đề nghiên cứu

- Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Mẫu được chọn theo phương pháp quả bóng tuyết với cơ cấu mẫu như sau:

- Cơ cấu về giới tính: Tỷ lệ nữ giới chiếm 54,4%, nam giới chiếm 45,6%

- Cơ cấu về trình độ học vấn: Tỷ lệ số người có trình độ học vấn bậc tiểu học

là 22,3%; bậc THCS chiếm 67,6%; bậc THPT chiếm 10,1%

5.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu và phân tích thông tin

- Dữ liệu định lượng trong nghiên cứu được rút ra từ số liệu gốc của cuộc điều tra sẽ được xử lý bằng chương trình SPSS 12.0 for Window và được áp dụng một số phép phân tích thống kê mô tả và thống kê suy luận để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cụ thể được trình bày theo 2 hình thức phân tích:

+ Phân tích mô tả (bảng tần suất): cung cấp thông tin chung về người lao động

di cư tự do từ nông thôn đến đô thị cụ thể là Hà Nội và một số vùng phụ cận như đặc trưng nhân khẩu xã hội của người di cư, tình trạng hôn nhân của người di cư, tình trạng di cư

+Phân tích nhị biến (tương quan hai chiều): Kiểm nghiệm mối quan hệ giữa từng yếu tố (giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân )

Trang 15

đến vấn đề giới trong di cư tự do, nhằm xem xét những yếu tố đó có quan hệ thế nào đối với vai trò của phụ nữ và nam giới trong những yếu tố lực hút của nơi di cư đến cũng như lực đẩy của nơi di cư đi, cũng như quyền quyết định di cư và những khó khăn mà gia đình người di gặp phải Kiểm định X2 được sử dụng để xem xét mức độ mối quan hệ giữa các biến số

- Dữ liệu định tính được xử lý bằng NVIVO 7 nhằm cung cấp bằng chứng và minh họa đầy đủ hơn cho nghiên cứu

6 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này hướng đến trả lời câu hỏi thực trạng vấn đề giới trong di cư tự

do nông thôn thành thị hiện nay như thế nào? Các câu hỏi cụ thể như sau:

- Quan niệm về vai trò của phụ nữ và nam giới trong di cư tự do hiện nay như thế nào?

- Sự khác nhau giữa phụ nữ và nam giới trong các cơ hội việc làm tại nơi di cư hiện nay như thế nào?

- Trong gia đình nông thôn ngày nay sự bình đẳng trong quyền quyết định di

cư tự do của vợ và chồng ở mức độ nào?

- Vấn đề giới được đề cập đến trong các chính sách về di cư hiện nay ra sao?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Trong di cư tự do từ nông thôn ra thành thị hiện nay nam giới thường dễ dàng di cư nhiều hơn nữ giới do được coi là người trụ cột trong gia đình

- Trong di cư tự do nam giới thường thuận lợi hơn nữ giới trong các cơ hội về việc làm và thu nhập

- Có sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quyền quyết định việc di cư, nam giới có xu hướng chủ động hơn nữ giới trong quyết định di cư

Trang 16

9 Đóng góp của luận văn

- Bổ sung thêm những thông tin hữu ích cho những khoảng trống trong nghiên cứu đã có về vấn đề giới trong di cư tự do

- Gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho chủ đề này, cung cấp những cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách liên quan đến vấn đề di cư

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích cho việc giảng dạy, nghiên cứu chủ đề này

10 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn được trình bày với cấu trúc gồm các phần: mục lục, danh mục bảng biểu, phần mở đầu, chương 1, chương 2, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục

Vấn đề giới trong di cư tự

do nông thôn thành thị

Quyền quyết định trong

di cư

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ GIỚI TRONG DI CƯ TỰ DO

1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Hà Nội là với vị trí là trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị đồng thời là nơi tập trung về khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, nơi đây được xem như một đô thị cổ với một nghìn năm văn hiến Với bề dày lịch sử cùng với quá trình xây dựng và phát triển kéo dài từ khi năm 1010 khi vua Lý Công Uẩn dời

đô từ Hoa Lư ra Đại La đặt tên là Thăng Long, Hà Nội được hình thành từ đó Cho đến nay Hà Nội đã phải trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử với các tên gọi khác nhau như Đông Đô, Đông Kinh, Thăng Long và đến năm 1831 cái tên Hà Nội mới được vua Minh Mạng chính thức xác nhận Sau khi trả qua bao cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Hà Nội vẫn không ngừng phát triển tập trung đông đúc dân cư và đất đai ngày càng mở rộng

Từ năm 1986 đến nay cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của Hà Nội trong bối cảnh kinh tế xã hội có nhiều biến động trong nước cũng như khu vực và trên toàn thế giới Sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã thay đổi và tạo nên Hà Nội với một diện mạo mới lộng lẫy hơn, to đẹp hơn Sự phát triển

đi đôi với xuất hiện nhiều công việc chỉ đòi hỏi kĩ năng thấp hoặc không cần bằng cấp như người giúp việc nội trợ hay trông trẻ, người phụ việc, thợ xây dựng Những công việc này thường không hấp dẫn đối với những người dân sở tại, vì vậy nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông chấp nhận làm những công việc này khá rộng rãi Theo qui luật phát triển có cung tất sẽ có cầu, lao động di cư từ nông thôn thông qua các mạng lưới quan hệ xã hội khác nhau đã đến Hà Nội với số lượng lớn

Về chất lượng lao động của cư dân dịch chuyển vào Hà Nội chủ yếu là lao động phổ thông, một số ít qua đào tạo, với tỷ lệ (theo số liệu thống kê của Hà Nội): Tỷ lệ số người di cư đến không qua đào tạo: 81,0% Về trình độ học vấn của lao động di cư,

Trang 18

số người có trình độ Trung học chuyên nghiệp: 6,9%; Công nhân kỹ thuật: 5,3%; Đại học trở lên: 6,8% Trên thực tế theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm

2009, dân số Hà Nội sau khi mở rộng đạt xấp xỉ 6,5 triệu người Nếu tốc độ chuyển

cư như hiện nay thì đến năm 2015 dự báo dân số Hà Nội sẽ lên đến khoảng 7,7 triệu người Qua tìm hiểu nghiên cứu chúng tôi nhận thấy số người nhập cư tập trung chủ yếu ở một số phường như Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, phường Phúc Xá quận Ba Đình, phường Phúc Tân và Bạch Đặng quận Hoàn Kiếm, ngoài ra tại môt số quận mới như Thanh Xuân, Thanh Nhàn, Thịnh Liệt và các xã ngoại thành ven Hà Nội cũng là nơi có lượng người nhập cư đông đúc Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn các điểm trên làm địa bàn nghiên cứu

1.2 Hệ thống khái niệm sử dụng trong luận văn

Các khái niệm chính trong luận văn gồm: Di cư, Di cư tự do, Giới, Vai trò giới, Bình đẳng giới Riêng khái niệm Di cư các nhà nghiên cứu thường lưu ý đến quan điểm của nhà bác học Scharping cho rằng “Các nghiên cứu về di dân chưa bao giờ thành công trong việc đưa ra một lý thuyết tổng quan chung về di cư cũng như chưa bao giờ đưa ra được những kết luận có tính chất tổng thể và được chấp nhận” [30, tr.18]

Khái niệm Di cư và Di cư tự do

Todaro cho rằng khó có thể đưa ra một định nghĩa thống nhất về di cư vì rằng trên thực tế di cư từng được phân loại theo những cách khác nhau Từ cách tiếp cận

vĩ mô, di cư được coi là sản phẩm của những chênh lệch khác nhau giữa các khu vực về mức sống và sự chênh lệch này đã tạo nên dòng chảy di cư để tạo sự cân bằng giữa dân số và cơ hội kinh tế (Todaro,1976) Thực tế di cư được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau liên quan đến nguồn gốc và động lực của di cư nên khó có thể đưa ra được một định nghĩa chính xác về vấn đề này Trong nghiên cứu này các khái niệm liên quan đến di cư và di cư tự do căn cứ vào định nghĩa của tác giả Đặng Nguyên Anh trình bày trong “Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở các tỉnh miền núi”, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội, 2006 và định

Trang 19

nghĩa của Liên Hiệp quốc tại Việt Nam trong báo cáo “Di cư trong nước Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam"

Theo Đặng Nguyên Anh, di cư được hiểu theo 2 nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư [5, tr.37]

Khái niệm về Di dân của Liên hiệp Quốc đưa ra năm 1973 dựa vào thời gian

di cư được chia thành hai loại: Di dân dài hạn là người di dân đến nơi ở mới từ 12 tháng trở lên Di dân ngắn hạn là người di dân đến nơi ở mới dưới 12 tháng

Theo E.F.Baranov và B.Đ Breev: Di dân hiểu theo nghĩa rộng là bất kỳ một

sự di chuyển của con người giữa các vùng lãnh thổ có gắn với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động lao động và ngành có sử dụng lao động Theo nghĩa hẹp: di dân được hiểu là sự chuyển dịch của dân cư theo lãnh thổ, sự phân bố lại dân cư Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự chuyển dịch nào của dân cư cũng là di dân mà di dân là

sự di chuyển của dân cư ra khỏi biên giới đất nước hay ra khỏi lãnh thổ hành chính

mà họ đang cư trú, gắn với việc thay đổi chỗ ở của họ

Nhiều tác giả có đồng quan điểm với định nghĩa về di dân theo nghĩa hẹp V.I Perevedensev (1996) coi di dân là tổng hợp sự di chuyển của con người gắn với sự thay đổi chỗ ở Theo V.V Ônhikienkô và V.Popokin (1973): di dân thường được hiểu là sự thay đổi nơi thường trú của con người với tổng thể các nhân tố và nguyên nhân chính

Theo V.I Xtaroverop (1975) Di dân được hiểu là sự thay đổi vị trí của con người về mặt địa lý, do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ một cộng đồng kinh tế này sang một cộng đồng kinh tế khác, trởe về hoặc có sự thay đổi

vị trí không gian của toàn bộ cộng đồng nói chung

Trang 20

Về phân loại, có nhiều loại hình di cư khác nhau như: Di cư nông thôn - đô thị,

di cư nông thôn - nông thôn hoặc di cư đô thị -nông thôn, loại hình di cư này được phân tích dựa vào hướng di cư di và nơi đến; Dựa trên khoảng thời gian có Di cư tạm thời (gồm cả di cư theo mùa vụ) và Di cư vĩnh viễn

Di cư hôn nhân: là một loại hình di cư truyền thống và thường xảy ra trong các nước vẫn còn duy trì chế độ gia trưởng Phần đông phụ nữ trong các nước này sau khi kết hôn thường di chuyển về gia đình của người chồng để sinh sống, đặc biệt là phụ nữ ở những vùng nông thôn Có một sự thật cần phải nêu rõ là một số nam giới

ở thành thị, tuy không nhiều, có thể không từ chối kết hôn vơí các cô gái nông thôn

có địa vị xã hội thấp hơn (Thadani and Todaro, dẫn theo Jones, 1985), vì thế kết hôn

có thể là một trong những phương tiện để các cô gái nông thôn có địa vị xã hội thấp

có thể thoát ly được cuộc sống nghèo khổ của họ nơi làng quê

Đa số các nhà Xã hội học đều cho rằng di dân là một quá trình dân số, xã hội quan trọng và phức tạp dến mức chúng ta không thể bằng lòng chỉ có một mô hình tổng quát hoá chuẩn mực về mặt lý thuyết và phương pháp luận Do đặc điểm di dân nên mỗi kiểu loại có những đặc trưng khác nhau

Trong nghiên cứu này Di cư được hiểu là khái niệm chỉ sự thay đổi về nơi cư trú từ nơi này đến nơi khác của con người Di cư là một quá trình xã hội có liên quan cả đến bộ phận dân cư và cộng đồng dân cư nơi các cá nhân di cư đi và đến vì vậy nó mang tính xã hội to lớn và sâu sắc Nghiên cứu này đề cập đến loại hình di dân tự do từ nông thôn tới đô thị

Khái niệm di cư tự do:

Di cư tự do được hiểu là là việc người dân di cư một cách tự phát, không phụ thuộc vào một chính sách, quy định của cơ quan nhà nước Người di cư tự do có thể thay đổi chỗ ở đi đến bất cứ nơi nào mà họ cảm thấy tốt hơn, thích hợp và phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư

Định nghĩa của Đặng Nguyên Anh về Di dân tự do: là di dân không có tổ chức, nó mang tính cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình

Trang 21

quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của Nhà nước

và các cấp chính quyền Di dân tự do phản ánh tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân và hộ gia đình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm [5, tr.41]

Khái niệm người di cư tự do:

Người di cư tự do: Là người di cư không có tổ chức, không phân biệt thành phần dân tộc, đặc biệt chú trọng đến loại hình di cư từ nông thôn đến đô thị không tuân theo kế hoạch, tự phát Nói cách khác đó là những người di cư nằm ngoài các chương trình di cư của chính phủ [5, tr.4]

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung vào người lao động

di cư tự do kể cả phụ nữ và nam giới từ nông thôn đến Hà Nội Nhóm đối tượng này khá đa dạng nhiều thành phần đến từ nhiều vùng khác nhau bao gồm những người lao động di cư tự phát không tuân theo kế hoạch, đây cũng là nhóm xã hội thường bị

bỏ sót trong các cuộc khảo sát trên phạm vi quốc gia

Khái niệm Giới, Vai trò giới, Bình đẳng giới

Trong nghiên cứu này các khái niệm giới, vai trò giới, bình đẳng giới được sử dụng dựa trên định nghĩa của GS.TS Lê Thị Quý trong cuốn "Giáo trình Xã hội học giới", Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 2010

Khái niệm Giới

Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn Nhân loại học nghiên cứu

về vai trò trách nhiệm và quyền lợi và xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân

Vậy Giới được định nghĩa một cách ngắn gọn là khái niệm chỉ mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây dựng nên trong xã hội Như vậy, giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc nữ giới với tư cách cá nhân

mà nói tới mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ (tính tập thể) Quan hệ này thay đổi

Trang 22

theo thời gian theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội [27, tr.34]

Các biểu hiện của giới: Giới biểu hiện bởi tính lịch sử và tính xã hội Vấn đề giới hiện diện một cách khách quan trong xã hội và vận động, biến đổi cùng với sự vận động biến đổi của lịch sử Sự hiện diện của giới trong cuộc sống cũng đa dạng

và phức tạp như chính sự đa dạng và phức tạp của cuộc sống con người, biểu hiện chính của giới ở một số mặt như biểu hiện ở tính cách và phẩm chất, biểu hiện bằng

tư tưởng và biểu hiện bằng phân công lao động

Khái niệm Vai trò giới

Vai trò giới: Là các công việc phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam

hay nữ Nam và nữ đều tham gia thực hiện cả 3 vai trò gồm vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất (sinh sản và nuôi dưỡng) và vai trò cộng đồng Việc thực hiện 3 vai trò này có sự khác biệt giữa nam và nữ cả về tính chất cũng như mức độ tham gia [27, tr,43]

Vai trò sản xuất bao gồm các công việc tạo ra thu nhập bẳng tiền hoặc hiện vật

để tiêu dùng hoặc trao đổi

Vai trò tái sản xuất (sinh sản và buôi dưỡng): Bao đồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức lao động (Không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học mà còn có cả chăm lo duy trì lực lượng lao động hiện tại và lực lượng lao động tương lai)

Vai trò cộng đồng: bao gồm các công việc thực hiện ở ngoài cộng đồng nhằm phục vụ cho cuộc sống chung của mọi người Ví dụ như tham gia Hội đồng nhân dân, tham gia bầu cử

Sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong việc thực hiện 3 vai trò này không giống nhau Tính chất và sự tham gia của phụ nữ và nam giới không như nhau trong mọi công việc Nếu phụ nữ làm hầu hết công việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, nội trợ thì nam giới lại không được trông đợi làm các công việc đó họ cho rằng mình chỉ trợ giúp phụ nữ

Trang 23

Vai trò giới hiện nay không bình đẳng do quá trình dạy và học trong xã hội bất bình đẳng nam giới mà có, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá, thể chế chính trị Vai trò giới đã và đang có nhiều thay đổi, nhưng khi thay đổi người ta còn chịu ảnh hưởng của các định kiến giới, điều này lý giải vì sao nhiều người không dám công khai thực hiện thay đổi vai trò giới, mặc dù đây là những việc rất đáng khích lệ [27, tr,44]

Khái niệm Bình đẳng giới:

Bình đẳng giới: Là một tình trạng lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy khả năng của mình được đánh giá khác nhau dựa trên cơ sở giới tính để họ đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả của quá trình đó.[27, tr,50]

Bình đẳng giới được xem xét trên hai quan điểm: Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức về giới và Quan điểm bình đằng khi có nhận thức giới

- Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức về giới: Bình đẳng là sự được đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, không phân biệt thành phần

và địa vị xã hội, cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật Theo đó bình đẳng giới sẽ được hiểu là sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi phương diện, không phân biệt, hạn chế, loại trừ quyền của bất cứ nam hay nữ Theo cách hiểu này thì người ta tin rằng chỉ cần cung cấp cho phụ nữ các cơ hội bình đẳng và mong đợi phụ nữ sẽ tiếp cận các cơ hội này, thực hiện và hưởng lợi theo các nguyen tắc và tiêu chuẩn như nam giới Điều này đặt ra sức ép lớn đối với phụ nữ trong khi thu hẹp sự tiếp cận của họ tới các kỹ năng và nguồn cần thiết để có thể tận dụng các cơ hội bình đẳng Bình đẳng về cơ hội về sự lựa chọn và đối xử là cơ hội cần thiết nhưng không phải cơ hội quan trọng để hỗ trợ cho sự phát triển của phụ nữ Nhiều nhà nghiên cứu về giới cho rằng quan điểm này là một loại "bình đẳng giới mà không tôn trọng

sự khác biệt về giới tính

Trang 24

điểm này cho rằng khi đã thừa nhận phụ nữ có những khác biệt cả về tự nhiên và xã hội so với nam giới thì đối xử như nhau sẽ không đạt được bình đẳng Bình đẳng không chỉ là việc thực hiện đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực xã hội mà bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ

Theo đó cần phải duy trì những đối xử tác động đến khác biệt tự nhiên giữa nam và nữ, hạn chế những thiệt thòi của phụ nữ Khi phụ nữ và nam giới có cùng một thành tích thì nên đánh giá phụ nữ cao hơn Mặt khác cần phải duy trì các đối

xử đặc biệt tác động làm thay đổi vị thế của phụ nữ do lịch sử để lại Điều kiện để đạt tới sự bình đẳng chính là cần phải có các đối xử đặc biệt, thậm chí là các điều kiện ưu tiên dành cho các nhóm xã hội yếu thế Trong một môi trường mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới thì để có cơ hội bình đẳng giới thực sự, cách đối xử đặc biệt với phụ nữ như trên là điều kiện cần thiết phải có

Như vậy quan điểm bình đẳng có nhận thức về giới đưa ra sự tiếp cận đúng đắn, công nhận sự khác biệt thực tế là phụ nữ đang ở vị trí bất bình đảng do sự phân biệt đối xử trong qúa khư và hiện tại Quan điểm này quan tâm đến cả cơ hội và kết qủa của sự bình đẳng, đối xử bình đẳng, tiếp cận bình đẳng và lợi ích bình đẳng

Bình đẳng giới khác với bình đẳng thông thường, bình đẳng giới không có nghĩa là phụ nữ và nam giới có cùng điều kiện như nhau thì được hưởng lợi như nhau Bình đẳng giới có nghĩa là những khác biệt giữa phụ nữ và nam giới đều được công nhận, và có giá trị như nhau Nó còn có nghĩa là phụ nữ và nam giới cùng có quyền ngang nhau, cùng có cơ hội, điều kiện tiếp cận một cách bình đẳng các nguồn lực và cùng được hưởng lợi như nhau từ các phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước Giới theo quan điểm dựa vào yếu tố sinh học của cá nhân là “Sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả năng không thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ” (Goldberg, 1973, trang 133, từ điển

Trang 25

bách khoa toàn thư mở, http://vi.wikipedia.org/wiki/ binh dang gioi)

Theo qui định của Luật bình đẳng giới thì Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho

sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của

sự phát triển đó

Tóm lại trong nghiên cứu này vấn đề Giới được hiểu là khái niệm chỉ vai trò giới trong việc di cư từ nông thôn lên thành thị theo một số quan điểm của các lý thuyết về Giới, trong đó quan tâm tới quan niệm về xã hội về vai trò của phụ nữ và nam giới trong quá trình di cư tác động đến việc di cư của cả hai giới Chú trọng xem xét vai trò, vị thế, năng lực của nam và nữ trong quyền quyết định di cư; những thuận lợi, khó khăn và cơ hội tiếp cận với nghề nghiệp tại nơi di cư đến của người

di cư; Phân tích chính sách dành cho người di cư theo quan điểm giới Qua đó có cái nhìn toàn diện về vấn đề giới trong di cư của người lao động ở nông thôn hiện nay, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tạo điều kiện cho người lao động di

cư được hưởng các quyền lợi cơ bản của mình, bình đẳng với những người không di

cư và tạo điệu kiện cho họ thích ứng với điều kiện sống mới ở thành thị Đồng thời

đề tài cũng đưa ra những kiến nghị riêng nhằm tăng cường vị thế, vai trò của nữ giới trong quá trình di cư

1.3 Các lý thuyêt vận dụng trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, nền tảng lý thuyết cơ bản tác giả lựa chọn để sử dụng là

Lý thuyết xã hội học, cụ thể gồm: Lý thuyết về lực hút - lực đẩy của Ravenstein và

Lý thuyết giới trong di cư

Lý thuyết về lực hút - lực đẩy của Ravenstein

Lý thuyết của Ravestein là một trong những lý thuyết về di dân sớm nhất trong trường phái cổ điển, được đưa ra vào cuối thế kỉ XIX Theo ông, di cư xảy ra sớm bởi sự khác biệt về trình độ phát triển, bởi tiến trình công nghiệp hoá và phát triển thương mại giữa các khu vực của một quốc gia Mặt khác, sự di cư bị chi phối bởi

Trang 26

khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn Những người sống ở khu vực kém phát triển hay nghèo khổ thường có xu hướng chuyển đến những khu vực phát triển hơn Theo Ravestein, tỉ lệ người tham gia di cư có quan hệ thuận với khoảng cách giữa hai khu vực nơi họ xuất phát và nơi họ đến

Quan điểm của Ravenstein về động cơ di cư Khi phân tích các dòng di dân ở nước Anh đã cho rằng, các yếu tố “lực hút” quan trọng hơn yếu tố “lực đẩy”: “Các luật lệ tồi hoặc ngột ngạt, thuế khóa nặng nề, khí hậu không thuận hòa, môi trường

xã hội xung quanh không cởi mở, thậm chí có sự cưỡng bức (trong buôn bán, vận chuyển nô lệ), tất cả những điều đó đã và đang tạo ra các hình thức di dân Tuy nhiên, không có loại hình di dân nào có thể so sánh với khát vọng tiềm ẩn trong mỗi người đàn ông vươn lên “làm tốt hơn” cuộc sống của chính họ về phương diện vật chất” Rõ ràng, Ravenstien cho rằng khát vọng vươn lên phía trước, tới điều kiện sống tốt hơn, mạnh mẽ hơn, mong muốn trốn tránh hoàn cảnh không thuận lợi là động cơ di dân của phần lớn dân cư

Theo quan điểm của Ravenstein thì các lực hút tại các vùng có dân chuyển đến bao gồm:

- Đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, khí hậu ôn hòa, môi trường sống

thuận lợi hơn

- Cơ hội sống thuận tiện, dễ kiếm việc làm, thu nhập cao, điều kiện sinh hoạt

ổn định, có triển vọng cải thiện đời sống hơn

- Môi trường văn hóa xã hội tốt hơn nơi ở cũ

Các lực đẩy tại những vùng dân chuyển đi có thể là do:

- Điều kiện sống quá khó khăn, thu nhập thấp, khó kiếm việc làm

- Đất canh tác ít, bạc màu, không có vốn và kỹ thuật để chuyển đổi ngành

nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống

- Mong muốn tìm đến vùng đất “hứa” có khả năng kiếm việc làm, tăng thu

nhập, học hành của con cái, muốn cải thiện đời sống

- Do nơi ở cũ bị giải tỏa, di dời, xây dựng đường xá hay các công trình công

cộng

Trang 27

Ngoài ra còn có những nguyên nhân mang tính bản chất xã hội nhưng tồn tại

ở cấp cá nhân như:

- Muốn gần gũi, liên hệ với thân nhân, đoàn tụ gia đình

- Bị mặc cảm, định kiến của xã hội không muốn ở lại cộng đồng nơi cư trú, mong muốn đến nơi ở mới nhằm thay đổi môi trường xã hội và xây dựng các mối

quan hệ xã hội tốt đẹp hơn

- Tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp,

mức thu nhập quyết định tính chất tuyển chọn của di dân

Lý thuyết về lực hút và lực đẩy của di cư từ mô hình nghiên cứu của Ravenstein nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến động lực quyết định di cư củ a nam và nữ Di cư bị quyết định bởi những ước muốn của con người về một đời sống tốt vật chất tốt đẹp hơn Tuy nhiên, Lý thuyết này của Ravestein đã bị một số học giả phê phán vì nó không tính đến các yếu tố văn hoá, lịch sử và tâm lí - những yếu

tố con người có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình di cư (Lagecrantz, Mah mound, 2000)

Trong nghiên cứu này việc áp dụng lý thuyết của Ravenstein nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan tới lực hút và lực đẩy của nơi di cư đến đối với người di cư dưới góc độ giới

Yếu tố lực đẩy trong nghiên cứu này được hiểu như tình trạng thất nghiệp, thu nhập thấp, thiếu đất đai canh tác nông nghiệp, không có đất, nghèo túng, có người

rủ đi

Yếu tố lực hút di cư đến như dễ kiếm tiền, nhiều việc làm, có người giới thiệu, con cái đang đi học hoặc sinh sống tại đó, có nhiều người làng đang làm việc Một thức tế là cuộc sống của dân cư đô thị văn minh hơn rất nhiều so với nông thôn nhưng cuộc sống của người di cư thì lại tồi tệ hơn rất nhiều Người dân lao động tự

do phải cư trú trong những căn nhà cho thuê tồi tàn hơn và cũng không có ai là người bảo hộ và chịu trách nhiệm đối với những nguy cơ mà họ gặp phải khi sống trong những khu ổ chuột thành phố Thế nhưng với động lực khi di cư của mình là phải kiếm tiền bẳng mọi giá nên người di cư vẫn phải chấp nhận cuộc sống thiếu

Trang 28

thốn khổ cực để kiếm tiền gửi về quê

Trong nghiên cứu này việc tiếp cận theo quan điểm giới nhằm làm rõ vai trò của phụ nữ và nam giới trong các yếu tố được xác định ở lực hút và lực đẩy (nguyên nhân dẫn đến di cư tại nơi đi và nơi đến), xem xét sự khác biệt giữa nam và nữ trong những yếu tố này Bên cạnh đó xem xét vai trò của phụ nữ và nam giới trong việc quyết định di cư và quá trình di cư, trên cơ sở đó đánh giá được thực trạng vấn đề giới trong di cư tự do nông thôn đô thị hiện nay

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ thực trạng giới trong di cư hiện nay và khẳng định được vai trò của phụ nữ trong quá trình di cư và đi xa hơn nữa là hy vọng làm thay đổi quan điểm xã hội về sự thụ động của phụ nữ trong di

Lý thuyết giới trong nghiên cứu về di cư:

Tiếp cận giới trong nghiên cứu di cư tự do là một trong những điều cốt lõi để tìm câu trả lời cho vấn đề "Vì sao và như thế nào" mà phụ nữ và nam giới ở nông thôn lại quyết định dấn thân vào thị trường lao động ở các đô thị Nghiên cứu về di

cư theo quan điểm giới sẽ là cơ sở để hiểu và đánh giá được một cách khách quan

về nguyên nhân và ảnh hưởng của người nữ di cư đến sự phát triển cộng đồng Quan trọng hơn, nghiên cứu di cư theo quan điểm giới sẽ góp phần xoá bỏ những thành kiến và hành vi phân biệt đối với phụ nữ di cư Theo Chant và Radcliffe (1992), có hai mô hình đã sử dụng cách tiếp cận giới để phân tích vấn đề di cư là Lý thuyết Hành vi Lý thuyết về Chiến lược hộ gia đình [29]

Quan điểm của Lý thuyết hành vi: Yếu tố chính trong hành vi di cư của người

phụ nữ là các quan niệm văn hoá xã hội về hôn nhân, về quyền làm mẹ cũng như vai trò làm mẹ Người phụ nữ vì sự sinh tồn của gia đình mình mà họ sẵn sàng di

cư, dấn thân vào môi trường lao động thành phố đầy thách thức Hành vi di cư của nam giớ i cũng không nằm ngoài lý do kinh tế , bở i nghĩa vu ̣ „kiếm tiền tru ̣ cô ̣t” Thuyết hành vi cũng sẽ giúp cho ta hiểu được sự tương tác của con người với các hoàn cảnh xung quanh và khi phải sống trong môi trường mới , làm thế nào mà phụ

Trang 29

nữ và nam giới thích ứng và đương đầu với những khó khăn mới

Quan điểm của Lý thuyết về Chiến lược hộ gia đình: Mô hình “chiến lược gia

đình” dựa trên quan điểm cho rằng các hộ gia đình sẽ khuyến khích người nam hay

nữ di cư khi họ nhận thấy rằng di cư của người nào sẽ có khả năng mang lại thu nhập cao hơn cho hộ gia đình, bao gồm cho cả thu nhập của những người ở lại Hộ gia đình sẽ đầu tư cho người đi bằng cách cung cấp tiền bạc cho đi lại và lồng vào việc ra đi của người đó bằng các hy vọng nhận được tiền gửi về để đầu tư trở lại

[29] Cũng theo Simmons, mô hình “Chiến lược hộ gia đình” hoàn toàn có thể là lí

thuyết ứng dụng tốt nhất cho các nước kém phát triển bởi vì nó đã tiên đoán đến sự trở về của người di cư, di cư theo mùa, vấn đề quan hệ cộng đồng và tiền gửi về để đầu tư

Vận dụng lý thuyết hành vi và lý thuyết chiến lược tiếp cận trên quan điểm

giới vào nghiên cứu Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị giúp ta

hiểu sâu hơn về thực trạng sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong các nguyên nhân di cư cũng như những yếu tố thu hút họ tại nơi họ di cư đến trên cơ sở đi sâu tìm hiểu sự tiếp cận với công việc mới tại môi trường di cư đến của phụ nữ và nam giới Ai trong gia đình những lao động di cư người phụ nữ hay nam giới sẽ là người

có vai trò quyết định chính việc di cư của họ trước, trong quá trình di cư cũng như sau khi di cư Liệu rằng mô hình nam giới là người chủ quyết định mọi công việc trong gia đình nông thôn cũng sẽ là người quyết định chính việc di cư có còn tồn tại trong xã hội ngày nay hay không

1.4 Tổng quan nghiên cứu về giới trong di cư tự do nông thôn thành thị

Di cư là một qui luật tất yếu trong sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam và cũng là vấn đề được đông đảo các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Xuất cư khỏi nông thôn là hoạt động mưu cầu lợi ích của cá nhân người di cư cho gia đình và cộng đồng nơi

họ ra đi Di cư có chức năng duy trì cuộc sống của làng quê nhờ tiền của người di

Trang 30

số đối với nguồn đất đai hạn hẹp [5,6,4,18] Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài như Henry Rempel, 1997 Ronald Skeldon, 1997,1998 Lim, Oishi, Nana, 1996 nhận định về lợi ích của di cư cho rằng di cư nông thôn thành thị vừa là nguồn cung cấp nhân lực cho khu vực kinh tế phi chính thức vừa góp phần giảm tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn Một xu hướng nối bật trong dòng người di cư (cả di cư trong nước và quốc tế) ở châu Á, Thái Bình Dương là sự gia tăng của phụ nữ trong dòng chảy này [17, tr.37] Tuy thế trong các nghiên cứu về di cư thì phụ nữ lại là đối tượng chưa được đề cập đến một cách tương xứng cho dù họ đang phải đối mặt với luật lệ và các cản trở xã hội Các tác giả cũng nhấn mạnh vấn đề quản lý việc di cư một cách hiệu quả cần xem xét đồng đều vai trò của cả phụ nữ và nam giới vì bình đẳng giới

là điều kiện tiên quyết cơ bản cho mọi khung chính sách

* Trong các nghiên cứu về di cư phổ biến quan điểm bất bình đẳng coi nhẹ vai trò

của phụ nữ, sự vô hình của phụ nữ trong nghiên cứu về di cư còn vẫn tồn tại

Thật vậy, cho đến nay bên cạnh các cuộc điều tra lớn cũng đã có khá nhiều nghiên cứu tập trung vào phân tích các vấn đề liên quan đến giới trong di cư tự do

Có thể thấy phân tích giới là việc làm quan trọng khi nghiên cứu di cư vì quá trình

di cư có sự lựa chọn về giới cũng như sự tác động của di cư có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ [53] Nhiều nghiên cứu đã có về di cư cùng quan điểm cho rằng, trong lịch sử nghiên cứu di cư các khía cạnh về giới rất quan trọng song thường bị

bỏ qua, thậm chí bị phủ nhận trong một số chính sách [54, tr.289, 55, 4, tr.15] Việc

bỏ qua vấn đề giới trong nghiên cứu về di cư không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn là tình trạng chung trong nghiên cứu cũng như các chương trình, chính sách của nhiều nước Sự vô hình của phụ nữ trong nghiên cứu di cư ở nhiều quốc gia xuất phát từ quan niệm về vai trò “người ăn theo” tức là nếu phụ nữ đi cùng chồng hay cha mẹ ra thành phố họ thường bị cho là đi theo một cách thu động Thậm chí ngay

cả khi họ đi một mình vẫn bị coi là "di dân đồng hành", người ta lý giải rằng ngay

cả ở trường hợp này thì người phụ nữ đi vẫn với mong muốn là theo chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình đã ở thành phố [29, tr.45, 30, tr.12, 40, 17, tr.37] Phải chăng do xuất phát từ quan điểm nhìn nhận như vậy nên phụ nữ thường thiệt

Trang 31

thòi hơn nam giới trong quá trình di cư cho dù những công việc họ làm không hề nhẹ nhàng hay đơn giản hơn so với nam giới Các nghiên cứu này cũng mới chỉ dừng lại ở việc xem xét vị thế của phụ nữ trong quá trình di cư, sự phân tích còn chưa đi sâu vào các mối quan hệ trong sự đan xen với các yếu tố giới, chưa chỉ ra được những quan niệm về mặt xã hội giữa phụ nữ và nam giới trong việc di cư Tiếp nối quan điểm này, Mô hình lý thuyết Trường phái Tân cổ điển (model của neo-clasical theorists) cho rằng nam giới là tác giả của di cư và của những thay đổi trong xã hội Các nhà nghiên cứu thuộc trường phái này cũng nhận ra rằng, vai trò của phụ nữ di cư thường bị che khuất không được công nhận hoặc bị gán cho vai trò là người trợ giúp nam giới mặc dù đóng góp của họ đã đem đến nhiều thay đổi cho bộ mặt kinh tế xã hội cả nơi đi và nơi đến Thật vậy, trong thời gian cuối thế kỷ

20, tại các nước đang phát triển phụ nữ chiếm gần một nửa trong dòng chảy di dân nông thôn đô thị và di dân quốc tế, nhưng họ vẫn không phải là đối tượng nghiên cứu độc lập trong nhiều đề tài nghiên cứu Nhiều chuyên gia, các nhà lập chính sách

và các nhà nghiên cứu vẫn luôn nhìn nhận phụ nữ ra thành phố như là người đi theo nam giới, còn ở nhà thì họ lại ở vị thế là nhận tiền người chồng gửi về [55,56] Quan điểm của các nhà nghiên cứu trong nước chỉ ra rằng khía cạnh giới trong di cư không chỉ bị bỏ qua trong các nghiên cứu và chính sách mà ngay cả các số liệu thống kê cũng thường không được phân tách theo chiều cạnh giới, vì vậy việc xác định qui mô di chuyển của phụ nữ di cư còn gặp nhiều khó khăn [3, tr.37, 1, 17, tr 38]

Thực tế cho thấy trong một thời gian dài vấn đề phụ nữ di cư bị coi nhẹ ngay

cả trong các chương trình chính sách quốc tế nói chung và ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng số phụ nữ di cư và sự đóng góp đáng kể của họ đối với xã hội đã dần thay đổi quan niệm trên thể hiện ở nhiều quan điểm nghiên cứu, tranh luận về vấn đề này

Ngược lại với quan điểm về vai trò thụ động của phụ nữ trong di cư, Pryor (1997) đã khẳng định quan điểm nam giới thống trị các dòng chảy di cư chưa từng

Trang 32

đúng và cũng đã thay đổi từ những năm cuối của thập kỷ 60 Nghiên cứu của Guest chứng minh rằng tại khu vực Đông Nam Á, phụ nữ chiếm đa số trong luồng di dân nông thôn đô thị với động lực chính là kinh tế và việc làm Nghiên cứu của Findley

và William cũng cho thấy ở khu vực này, tỷ lệ phụ nữ di chuyển vì lý do kinh tế cao hơn các khu vực khác và cao hơn nhiều so với tỷ lệ di chuyển vì lý do gia đình [29,

tr 49]

Cùng chung quan điểm đó, Thuyết cấu trúc lịch sử (the historical-structural theory) cho rằng cần phải lấy bối cảnh lịch sử, các điều kiện chính trị cụ thể để giải thích vấn đề di cư trong xã hội Phong trào di cư phản ánh một sự tái cấu trúc xã hội, sự cấu trúc lại các giai tầng trong xã hội và các quyết định di cư của cả nam và

nữ đều được giải thích bằng “dòng chảy chủ đạo và những biến đổi về các giai tầng trong xã hội” Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng các nhà lý thuyết thuộc trường phái này đã đồng nhất các động lực di cư của cả nam và nữ vào một khuôn mẫu chung và họ cũng đã bỏ qua những khác biệt giới của vấn đề di cư

Các chuyên gia làm việc về dân số trong các tổ chức phát triển quốc tế cũng có chung nhận định rằng, trong một thời gian dài vấn đề phụ nữ di cư bị coi nhẹ trong các chương trình, chính sách quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng Và cũng chỉ gần đây các nhà hoạch định chính sách mới nhận ra những thách thức và rủi ro cụ thể mà phụ nữ gặp phải khi phiêu lưu đến đất khách quê người Từ đó họ đưa ra thông điệp chung cho rằng, việc công khai quyền con người của phụ nữ và nhu cầu bình đẳng giới là điều kiện tiên quyết, cơ bản cho mọi khung chính sách lành mạnh, công bằng và hiệu quả nhằm quản lý việc di cư một cách có trật tự và nhân đạo [38, tr.13]

Phân tích vấn đề di cư từ góc độ giới có thể thấy, hành vi của cả nam và nữ đều chịu sự chi phối của những quy tắc và chuẩn mực của xã hội, mà những quy tắc này quy định vai trò, trách nhiệm khác biệt giữa họ Trước đây ảnh hưởng quan điểm truyền thống đặt lên vai người phụ nữ trách nhiệm chăm sóc cha mẹ và con cái trong gia đình nên việc thoát ly khỏi quê hương đi làm ăn xa vẫn luôn được coi là

Trang 33

của nam giới Ngay cả khi nữ giới có tham gia vào việc di cư thì khoảng cách và thời gian di cư của họ cũng rất ngắn mang tính thời vụ vì họ vẫn phải đảm trách công việc nhà Hiện nay khuôn mẫu này đã có nhiều thay đổi, phụ nữ di cư ngày càng đông và họ cũng chứng tỏ được ưu thế của mình trong quá trình di cư Từ góc

độ giới lao động nam và nữ thường chịu những tác động khác nhau do vị thế di cư của họ, một điều dễ nhận thấy là ở cả hai khu vực nông thôn và thành thị tiền công lao động mà lao động nữ được hưởng thường thấp hơn so với nam giới do hạn chế

về trình độ và sức khoẻ [4, tr.15] Chính điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến những khó khăn và việc quyết định di cư giữa nam và nữ

Một thực tế các nghiên cứu về phát triển đều công nhận đó là cho dù khó khăn

và đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro cũng như chịu thiệt thòi về mặt chính sách nhưng phụ nữ vẫn tiếp tục di cư, nhu cầu của họ là cấp thiết và đáng được ưu tiên bởi vì họ là đối tượng dễ bị lạm quyền con người nhất Bà Thoraya Ahmed Obaid, Giám đốc Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, UNFPA khẳng định rằng việc quản lý di cư một cách công bằng thì các biện pháp triển khai sẽ không tiếp tục đánh vào những

ai dễ bị tổn thương nhất, những người vốn phải đối mặt với sự bất bình đẳng mang tính hệ thống mà chủ yếu trong nhóm này là phụ nữ di cư có thu nhập thấp [38] Các quan điểm chưa đúng về vai trò của phụ nữ trong di cư cũng bộc lộ những hạn chế nhất định đó là chưa đi sâu phân tích trong mối tương quan với các yếu tố văn hoá cũng như hoàn cảnh di cư mang sắc thái giới Vì lẽ đó trong đề tài nghiên cứu của mình tác giả sẽ đi sâu phân tích vai trò giới trong các nguyên nhân di cư, quan niệm của chính bản thân người di cư về vai trò của họ, quyền quyết định di cư của phụ nữ và nam giới trong gia đình các vấn đề nghiên cứu được đặt trong bối cảnh sự liên hệ, tác động qua lại giữa phụ nữ và nam giới, nhằm khắc phục sự nhìn nhận phiến diện về vai trò của phụ nữ trong di cư hiện nay Tất cả những điều này

sẽ góp phần bổ sung những thiếu hụt về sự phân tích giới trong các nghiên cứu đã

có về di cư

* Bên cạnh sự thiệt thòi trong vị thế khi di cư, ngay cả trong các cơ hội việc làm

Trang 34

cũng như thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội phụ nữ luôn là đối tượng yếu thế hơn so với nam giới

Cho đến nay nhiều những nghiên cứu về di cư có cùng quan điểm cho rằng người di cư tự do khá đa dạng và phức tạp gồm nhiều lứa tuổi, thành phần và nghề nghiệp khác nhau Trong dòng di cư nông thôn đô thị, nam giới thường chiếm đa số

và có xu hướng di chuyển trên bình diện không gian rộng lớn hơn so với nữ giới Lao động nữ di cư là nhóm người dễ bị tổn thương nhất vì họ vừa là người di cư vừa là phụ nữ phải chịu những ràng buộc gia đình và những định kiến truyền thống trong xã hội [1, 17, tr.37, 33, tr.74]

Các công việc của người di cư cũng được phân loại theo nhóm, chủ yếu phù hợp với giới tính, nam giới thường làm các nhóm nghề như xây dựng và sản xuất thủ công, đạp xích lô, làm thuê họ thường tập trung thành nhóm lao động chờ việc

ở các tụ điểm được gọi là chợ lao động, nữ giới thường làm các công việc như thu gom phế liệu, bới rác, các dịch vụ giúp việc gia đình, bán rau, hoa quả Về trình độ chuyên môn tay nghề, kết quả nghiên cứu thấy rằng chỉ có 6,03% lao động di cư vào thành phố có kỹ năng nghề nghiệp, thế nên mặc dù phần lớn trong số họ có thể tìm được việc làm nhưng công việc thường là làm thuê không ổn định Phụ nữ di cư

tự do cũng là đối tượng ít được bảo vệ nhất trong môi trường làm việc mới, công việc của họ thường là làm thuê theo thoả thuận với chủ, không đúng theo qui định của pháp luật nên họ rất ít khả năng bảo vệ mình Cùng với việc làm, sự tiếp cận với các dịch vụ xã hội của người di cư cũng là vấn đề các nhà nghiên cứu bức xúc hiện nay [26, tr.31, 28, 30, 25, tr.52, 23, tr.55]

Về việc làm của người di cư tự do, các nghiên cứu cùng chung quan điểm cho rằng, các sự kiện trong cuộc sống là những yếu tố gắn liền với quá trình di cư và bản thân nó phản ánh vị thế bất lợi của phụ nữ di cư trên thị trường lao động hiện nay Nam giới có xu hướng tìm được việc làm đầu tiên cũng như có khả năng thay đổi công việc nhìêu hơn so với nữ giới, ngược lại dù công việc khó khăn nhiều khi

nữ giới vẫn phải chấp nhận Phụ nữ di cư luôn là nhóm chịu tổn thất trong giai đoạn

Trang 35

suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, họ luôn phải đối mặt với nguy cơ thiếu và mất việc làm [41, tr.4, 43, tr.6]

Về thu nhập tiền công thấy rằng mặc dù tính chất công việc của phụ nữ di cư thường là những công việc vất vả hơn nam giới nhưng tiền công thì lại không cao

bằng và họ cũng thường được nghĩ là đối tượng dễ bảo hơn nam giới [53] Kết quả

nghiên cứu về nghề nghiệp của phụ nữ và nam giới di cư tại Hà Nội cho thấy họ thường làm những nghề tương tự nhau, chủ yếu là lao động đơn giản và sử dụng cơ bắp là chính Nam giới thường chọn những công việc nặng nhọc, phải đi xa còn nữ giới thường làm những việc nhẹ nhàng hơn Phân tích theo tương quan giới thấy rằng, phụ nữ di cư tự do thường phải làm việc trong điều kiện cường độ cao, thời gian lao động trong ngày trung bình từ 9-10 giờ nhưng thu nhập lại thấp hơn nam giới dù họ cùng làm trong một nhóm nghề [11, tr.42].Tuy vậy trên thực tế bản thân những người phụ nữ mặc dù yếu thế hơn về công việc so với nam giới tại nơi nhập

cư nhưng thu nhập của họ lại có vai trò quan trọng đối với các gia đình cũng như đóng góp vào nền kinh tế nông thôn [4, tr.16] Vậy thực trạng sự bất bình đẳng trong nghề nghiệp của người di cư tự do ở Hà Nội hiện nay như thế nào? Nguyên nhân yếu tố nào dẫn đến sự bất công trong nghề nghiệp và thu nhập của lao động nữ

di cư tự do sẽ là những vấn đề được đi sâu phân tích trong nội dung của đề tài nghiên cứu này

Không chỉ thiệt thòi về tiền công, phụ nữ di cư tự do còn chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội Họ gần như không tiếp cận được với các chương trình chăm sóc sức khoẻ và sức khoẻ sinh sản kể cả về dịch vụ cũng như thông tin, nên họ thường có hiểu biết không đầy đủ về các biện pháp phòng tránh thai, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS [4, 1] Thực tế tại các địa bàn có nhiều lao động nữ di cư tự

do chính quyền và những chủ thuê mướn nhân công thường không quan tâm đến vấn đề này, đây cũng là một thách thức lớn trong việc đạt được những mục tiêu phát triển bền vững và bình đẳng giới

Trang 36

Về dịch vụ xã hội các nghiên cứu đều nhận thấy, không riêng gì phụ nữ mà phần lớn người di cư đều gặp khó khăn trong chăm sóc sức khoẻ vì giá thuốc quá cao và họ ít có cơ hội tiếp cận với hệ thống chăm sóc y tế của nhà nước bằng thẻ bảo hiểm y tế Vì vậy, giải pháp về quay trở về quê khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế tuyến dưới để được sử dụng bảo hiểm không mất tiền hoặc sử dụng dịch vụ hợp với túi tiền là lựa chọn của phần lớn người di cư tự do [23, tr.56, 8, tr.10] Cuộc khảo sát về Di dân và Sức khoẻ do Viện xã hội học hợp tác với Quỹ Dân số Liên hợp quốc và Đại học tổng hợp Brown Hoa Kỳ thực hiện năm 2007 trên phạm vi 3 miền Bắc, Trung, Nam cũng thu được kết quả tương tự, nhóm phụ nữ di cư hầu như chưa được tiếp cận với hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại địa bàn nơi di cư đến Có đến 85% phụ nữ di cư tham gia nghiên cứu trả lời khi ốm đau tự mua thuốc điều trị lấy Đối với vấn đề sức khoẻ sinh sản, trong các nguyên nhân của việc thay đổi biện pháp tránh thai hầu như không có người nào cho rằng họ thay đổi biện pháp tránh thai vì lý do dễ tiếp cận và tính sẵn có trong khi chính sách của Bộ y tế có phát miễn phí thuốc tránh thai ideal [22, tr.47]

Kết quả các nghiên cứu đã có về di cư cùng chung nhận định, số lượng lao động nữ nhập cư ngày càng tăng nhanh, họ chủ yếu là những người ở độ tuổi còn trẻ, nhiều người cũng đã có gia đình, trình độ học vấn thấp, nhiều người trong số họ vẫn còn mù chữ Năng lực duy nhất của họ là sức lao động, họ nhận làm bất cứ việc

gì, không nề hà vất vả, tuy nhiên công việc của họ thường không ổn định như thu gom phế liệu, bán hàng rong, giúp việc gia đình Các nhà nghiên cứu cũng lên tiếng cảnh báo rằng phụ nữ di cư là nhóm người dễ bị lạm quyền con người nhất vì

họ vừa là người di cư vừa là phụ nữ Bên cạnh đó, công việc nặng nhọc của phụ nữ

di cư cũng cần được công nhận và quyền con người của họ cũng cần được bảo vệ, tiếng nói của họ cần được lắng nghe [39, tr.50, 19, tr.48, 11] Tuy vậy, các nghiên cứu phân tích nghề nghiệp của người di cư thường tách vấn đề nghiên cứu nhóm nam giới và phụ nữ riêng biệt chứ không phân tích trong mối tương quan với các vấn đề về giới, những phân tích trong nội dung nghiên cứu của luận văn sẽ bổ sung

sự thiếu hụt này

Trang 37

*Quyền quyết định trong di cư tự do cũng là yếu tố phản ánh rõ mối quan hệ giới, hiện nay nam giới vẫn có sự chủ động hơn phụ nữ trong các quyết định di cư

Nguyên nhân di cư là yếu tố đặc biệt quan trọng trong các quyết định di cư và

nó phản ánh trực tiếp mối quan hệ giới trong di cư tự do Thực tiễn cho thấy nguyên nhân và bối cảnh khiến phụ nữ di cư không phải lúc nào cũng giống như nam giới, mặc dù xét về hình thức, phần lớn cả nam lẫn nữ đều trả lời họ di cư vì lí do kinh tế Một số các học giả nước ngoài nghiên cứu về di cư đã từng cho rằng những điều kiện xung quanh phụ nữ dẫn đến sự di cư của họ trên thực tế thường phức tạp hơn nam giới Những kinh nghiệm và thách thức mà họ gặp phải cũng không giống nam giới bởi nó có liên quan đến vai trò giới, môi trường nơi phụ nữ chuyển đến và tính linh động nghề nghiệp của bản thân họ [52, 56] Sự ràng buộc gia đình cùng với trách nhiệm phải đảm nhận gánh nặng chăm sóc con cái, cha mẹ già, trình độ học vấn thấp, tay nghề hạn chế đã thực sự là cái vòng luẩn quẩn ràng buộc người phụ

nữ khiến họ khó có thể quyết định việc di cư dễ dàng như nam giới [1,4]

Qua các quan điểm nghiên cứu còn nhận thấy, đối với các gia đình nông thôn,

di cư được coi là một chiến lược để thoát khỏi đói nghèo nên việc quyết định di cư đều được bàn bạc giữa các thành viên Có sự khác biệt giới trong việc quyết định di

cư, nam giới có xu hướng chủ động hơn so với nữ giới trong việc này phần lớn phụ

nữ di cư đều có sự tham gia bàn bạc, quyết định chung của cả gia đình và của người chồng (chiếm 80%) Sở dĩ có sự khác biệt này vì, trước khi quyết định di cư người phụ nữ còn phải sắp xếp việc nhà và thu xếp người sẽ chăm sóc con cái với những thành viên ở lại, trong khi nam giới di cư chỉ phải thực hiện một trách nhiệm duy nhất là kiếm tiền mang về [19, tr.48, 32, tr.4, 31, tr.30] Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như, quan niệm về vai trò quyền lực truyền thống trong gia đình và sực đồng thuận với việc di cư của nam giới trong dư luận xã hội nên nam giới di cự tự thấy họ có khả năng quyết định di cư của mình nhiều hơn nữ giới Sự di cư của nam giới thường nhẹ nhàng hơn, nhanh hơn do không bị ràng buộc nhiều vào vai trò chăm sóc gia đình như phụ nữ [30, 25, tr.44]

Trang 38

Đồng quan điểm với các kết quả nghiên cứu trên thấy rằng, quyền ra quyết định việc di cư chịu ảnh hưởng bởi chiến lược lựa chọn tối ưu của các hộ gia đình, mặc dù nhiều người di cư khẳng định vai trò cá nhân của họ trong việc này khá cao nhưng trên thực tế việc quyết định ai sẽ là người di cư trong hộ gia đình vẫn thường được quyết định bởi chính sách chung, chiến lược chung của hộ gia đình và luôn có

sự tham gia của các thành viên trong gia đình [31, tr.30, 37, tr.44] Vậy trong việc quyết định này của hộ thì vai trò giới được thể hiện như thế nào, giữa phụ nữ và nam giới ai là người có quyền quyết định nhiều hơn việc di cư Phụ nữ và nam giới

di cư tự do chịu ảnh hưởng tác động bởi quyền quyết định di cư như thế nào, nó phản ánh điều gì? sẽ là những nội dung được nghiên cứu làm sáng tỏ trong luận văn

*Vấn đề giới trong các chính sách di cư tự do hiện nay

Trong các văn bản chính sách của Chính phủ Việt Nam đã xác định, di cư tự

do là hình thái di cư không có sự tổ chức của Nhà nước, hình thái này được thừa nhận nhưng không được khuyến khích, hỗ trợ, thậm chí còn không cho phép Người

di cư phải chịu chi phí tái định cư và tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn nơi đến [3, tr.49]

Cho đến nay, vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách nào về vấn đề di cư cũng như người di cư Các Bộ ngành khác nhau có hoạt động liên quan đến những chiều cạnh khách nhau của quá trình này Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm tổ chức di dân có tổ chức, Bộ Công an chịu trách nhiệm về công tác đăng ký hộ khẩu và trật tự xã hội, Bộ Công nghiệp và Bộ Xây dựng ban hành các chính sách liên quan đến sử dụng lao động ngoại tỉnh Riêng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì chưa có một chính sách nào thoả đáng đáp ứng những nhu cầu trực tiếp liên quan đến lao động di cư [3, tr.49]

Chính sách di cư là một mảng đề tài quan trọng và được đề cập nhiều trong nhiều nghiên cứu của TS Đặng Nguyên Anh, đã khẳng định rằng, hiện nay vấn đề

di cư vẫn còn đang bị hệ thống pháp luật về khai báo cư trú ngăn cản, khiến cho

Trang 39

người di cư gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội Điều này làm gia tăng nhóm người nghèo đô thị vì một bộ phận người nghèo ở đô thị chính là nhóm người di cư từ nông thôn tới Đến nay chính sách khai báo hộ khẩu, cư trú đã được thay đổi thuận lợi hơn cho người di cư, tuy nhiên các cách quản lý của các cơ quan nhà nước vẫn còn nhiều bất cập và gây khó khăn cho lao động di cư [3, 5,7] Cùng chung quan điểm này, Nguyễn Thanh Tâm trong nghiên cứư về Sự thích ứng của người di cư tự do nông thôn thành thị và các vùng phụ cận, đã chỉ ra rằng các chính sách hướng đến quản lý người lao động di cư đến Hà Nội trong những năm qua chủ yếu tập trung ở 2 lĩnh vực quản lý hộ khẩu và trật tự đô thị Tuy nhiên thực tế đã cho thấy những sự không hiệu quả của các chính sách này trong việc hạn chế di cư, thậm chí là phản tác dụng cho sự phát triển của xã hội và có thể có những tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo của đất nước nên các chính sách này đã được sửa đổi và bổ sung Thật vậy, Luật cư trú mới được ban hành và có hiệu lực từ 1/7/2007 đã đem lại sự thông thoáng đối với vấn đề nhập hộ khẩu vào các thành phố lớn, người di cư tự do thuận lợi hơn trong việc đăng ký tạm trú nhưng để có được hộ khẩu tại thành phố không phải là việc dễ Theo đó, sự phân biệt dân cư thành các đối tượng (KT1, KT2, KT3, KT4)* trong quản lý hộ khẩu một mặt giúp việc quản lý dân cư thuận lợi hơn, mặt khác lại tạo ra những rào cản xã hội đối với người di cư tự do vì vị thế pháp lý [32]

Điểm lại các chính sách của Nhà nước thấy rằng các chính sách chủ yếu nhằm vào dòng di cư có tổ chức, đối với dòng di cư tự do đến nay cũng có một số ít chính sách được ban hành nhằm kiểm soát việc di cư tự phát và đảm bảo sự công bằng trong quá trình di cư Trong giai đoạn mới tiến hành đổi mới Thủ tướng Chính phủ

đã ra Chỉ thị số 660/TTg ngày 17 tháng 10 năm 1995 của "Về giải quyết tình trạng dân di cư tự do đến Tây Nguyên và một số tỉnh khác" chính sách này tập trung vào dòng di cư tự do nảy sinh theo chính sách di dân đi khai hoang các vùng kinh tế mới

Ngày 12 - 11 - 2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số

Trang 40

39/2004/CT-TTg “Về một số chủ trương giải pháp tiếp tục giải quyết tình trạng dân di cư tự

do”, tuy nhiên, sau khi chỉ thị này được ban hành tình hình di cư tự do đến Tây

Nguyên vẫn tiếp diễn và gia tăng Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, từ năm 2005 đến 2008, tổng số hộ di cư tự do vào Tây Nguyên là 9.551

hộ với 40.782 nhân khẩu, số hộ di cư bình quân đến đây một năm là 2.413 hộ với 10.195 nhân khẩu Cũng theo báo cáo này so với 2006, di cư tự do vào Tây Nguyên giảm mạnh so với năm 2005 nhưng lại tăng trở lại vào các năm 2007, 2008 và cho đến nay vẫn chưa dừng Nhằm mục đích phấn đấu đến năm 2010 cơ bản chấm dứt tình trạng dân di cư tự do, ổn định và nâng cao đời sống đối với những hộ dân di cư theo kế hoạch Ngày 16 tháng 9 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 190/2003/QĐ-TTg về chính sách di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư giai đoạn 2003 - 2010

Đối với các chính sách của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, nơi trực tiếp tiếp nhận dòng di cư tự do thì quan điểm chung của các nhà nghiên cứu cho rằng hầu hết các chính sách còn bộc lộ hạn chế và có xu hướng cấm đoán và trừng trị nhiều hơn là tuyên truyền hướng dẫn và tạo điều kiện cho họ tiếp cận với dịch vụ xã hội [30] Nhìn nhận khách quan thì lực lượng lao động tự do ra thành phố đã góp phần hình thành hàng loạt điểm buôn bán hàng rong trên lòng, hè đường phố cùng với các chợ lao động, nhóm lang thang đánh giầy thuê, bán sách báo dạo đã gây ra nhiều vấn đề về môi trường và trật tự giao thông Nhằm thực hiện chính sách xây dựng thủ đô văn minh, sạch đẹp, kiềm chế ùn tắc và tai nạn giao thông, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều văn bản, chính sách quản lý lực

lượng lao động này Quyết định 02/2008 của UBND thành phố Hà Nội “Quy định

về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn thành phố Hà Nội” quy định rõ 62

tuyến phố không được bán hàng rong Tiếp đó là Quyết định 20 về quản lý, sử dụng

hè phố, lòng đường trên địa bàn thành phố Theo qui định, bắt đầu từ 1/7/2008, tất

cả các trường hợp cố tình bán hàng rong trên các tuyến phố đã treo biển cấm sẽ bị

xử phạt nghiêm khắc, mọi hành vi vi phạm lòng đường, hè phố sẽ bị xử lý dứt điểm

Về mục đích thì các quy định này có mục đích tốt đẹp, tuy nhiên việc thực hiện

Ngày đăng: 19/02/2016, 08:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu đồ 2.1: Hình thức di cư của người di cư (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
i ểu đồ 2.1: Hình thức di cư của người di cư (%) (Trang 48)
Bảng 2.1. Tương quan giữa quan niệm vai trò kiếm tiền với các yếu tố  (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.1. Tương quan giữa quan niệm vai trò kiếm tiền với các yếu tố (%) (Trang 50)
Bảng 2.2. Lý do người di cư quyết định đến Hà Nội làm ăn (%). - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.2. Lý do người di cư quyết định đến Hà Nội làm ăn (%) (Trang 56)
Bảng 2.3. Lý do di cư theo giới tính người trả lời (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.3. Lý do di cư theo giới tính người trả lời (%) (Trang 57)
Bảng 2.4. Các yếu tố tác động đến di cư do nghèo túng, thu nhập thấp (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.4. Các yếu tố tác động đến di cư do nghèo túng, thu nhập thấp (%) (Trang 59)
Bảng 2.5. Lý do chọn Hà Nội là nơi di cư đến của người lao động (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.5. Lý do chọn Hà Nội là nơi di cư đến của người lao động (%) (Trang 63)
Bảng 2.6. Tương quan lý do chọn Hà Nội làm nơi di cư theo giới tính (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.6. Tương quan lý do chọn Hà Nội làm nơi di cư theo giới tính (%) (Trang 64)
Bảng 2.8. Tương quan giữa nghề nghiệp của người di cư với các yếu tố (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.8. Tương quan giữa nghề nghiệp của người di cư với các yếu tố (%) (Trang 71)
Bảng 2.9. Thời gian chờ việc của người lao động (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.9. Thời gian chờ việc của người lao động (%) (Trang 73)
Bảng 2.10. Tương quan giữa thời gian chờ việc với giới tính (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.10. Tương quan giữa thời gian chờ việc với giới tính (%) (Trang 74)
Bảng 2.11. Người gợi ý di cư và các yếu tố tác động (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.11. Người gợi ý di cư và các yếu tố tác động (%) (Trang 76)
Bảng 2.12. Quyền quyết định theo giới tính và tình trạng hôn nhân (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.12. Quyền quyết định theo giới tính và tình trạng hôn nhân (%) (Trang 78)
Bảng 2.14. Tương quan giữa hiểu biết về các chương trình   giúp đỡ của phường với giới tính người trả lời (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.14. Tương quan giữa hiểu biết về các chương trình giúp đỡ của phường với giới tính người trả lời (%) (Trang 86)
Bảng 2.15. Ý  kiến đề xuất tương quan với giới tính người trả lời (%) - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng 2.15. Ý kiến đề xuất tương quan với giới tính người trả lời (%) (Trang 88)
Bảng hỏi - Vấn đề giới trong di cư tự do từ nông thôn đến thành thị hiên nay (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Bảng h ỏi (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w