ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Hoàng Minh Long ĐÁNH GIÁ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH VIỆT NAM TRONG PISA 2012 Chuyên ngành:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
Hoàng Minh Long
ĐÁNH GIÁ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH VIỆT NAM TRONG PISA 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – Năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Hoàng Minh Long
ĐÁNH GIÁ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỦA HỌC SINH VIỆT NAM TRONG PISA 2012
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Mã số: 60140120 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Hương
Hà Nội – Năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn tới: Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội và các cán bộ, các giảng viên đang công tác tại Viện đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để học viên hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình;
Luận văn sẽ không thể được hoàn thành nếu không có sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thu Hương, giảng viên của Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới người thầy hướng dẫn của mình;
Xin được ghi nhận và bày tỏ sự cảm ơn tới Văn phòng PISA Việt Nam,
TS Lê Thị Mỹ Hà – Giám đốc Văn phòng, và các anh chị em đang công tác tại Văn phòng đã tạo cơ hội cho tôi được tiếp cận bộ số liệu và những tài liệu cần thiết về Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA
Do bản thân cũng có những hạn chế và chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được góp ý, bổ sung ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo và các bạn học viên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Đánh giá khác biệt giới trong năng lực giải quyết vấn đề của ho ̣c sinh Việt Nam trong PISA 2012” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày ……… tháng …… năm 20…
Tác giả luận văn
Trang 5
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 10
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
3.1 Ý nghĩa khoa học 10
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 10
5 Câu hỏi nghiên cứu 10
6 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6.1 Đối tượng nghiên cứu 10
6.2 Khách thể nghiên cứu 11
6.3 Phạm vi nghiên cứu 11
7 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 11
7.1 Phương pháp thu thập thông tin 11
7.2 Phương pháp xử lý số liệu 11
8 Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1 Khái niệm 12
1.1 Năng lực 12
1.2 Năng lực giải quyết vấn đề 15
1.3 Quan niệm về năng lực GQVĐ trong khảo sát PISA 18
Trang 62
2 Khác biệt giới trong kết quả học tập 31
3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan 33
3.1 Khác biệt giới trong kết quả học tập của HS 33
3.2 Đánh giá năng lực GQVĐ 36
CHƯƠNG 2 PHUƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 40
1 Bối cảnh nghiên cứu 40
2 Quy trình khảo sát PISA 41
3 Quy trình chọn mẫu 44
4 Bộ công cụ khảo sát 46
5 Quy trình xử lý, phân tích dữ liệu 47
5.1 Bộ dữ liệu PISA 47
5.2 Điểm Plausible value 48
5.3 Công cụ phân tích PISA 50
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 53
1 Khác biệt giới về năng lực giải quyết vấn đề trong lĩnh vực Toán học 53
1.1 Đánh giá chung về năng lực GQVĐ của học sinh Việt Nam trong lĩnh vực Toán học 53
1.2 Đánh giá khác biệt giới về năng lực GQVĐ trong lĩnh vực Toán học 56
2 Khác biệt giới về năng lực giải quyết vấn đề trong lĩnh vực Đọc hiểu 59
2.1 Đánh giá chung về năng lực GQVĐ của HS Việt Nam trong lĩnh vực Đọc hiểu 59
2.2 Đánh giá khác biệt giới về năng lực GQVĐ trong lĩnh vực Đọc hiểu 61
3 Khác biệt giới về năng lực giải quyết vấn đề trong lĩnh vực Khoa học 64
Trang 73
3.1 Đánh giá chung về năng lực GQVĐ của HS Việt Nam trong lĩnh vực
Khoa học 64
3.2 Đánh giá khác biệt giới về năng lực GQVĐ trong lĩnh vực Khoa học 67 4 Đánh giá chung 71
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 79
Trang 95
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các khía cạnh đánh giá trong lĩnh vực Toán học PISA 20
Bảng 1.2 Các mức độ (Levels) đánh giá năng lực GQVĐ lĩnh vực Toán học trong PISA 21
Bảng 1.3 Các khía cạnh đánh giá trong lĩnh vực Đọc hiểu PISA 23
Bảng 1.4 Các mức độ (Levels) đánh giá năng lực GQVĐ lĩnh vực Đọc hiểu trong PISA 24
Bảng 1.5 Các mức độ (Levels) đánh giá năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học trong PISA 29
Bảng 1.6 Phân biệt giữa Giới và Giới tính 33
Bảng 2.1 Lĩnh vực khảo sát chính tại các kỳ PISA 40
Bảng 2.2 Các nhóm trường sau khi phân tầng 44
Bảng 2.3 Cấu trúc bộ đề thi năm 2012 của Việt Nam 46
Bảng 3.1: Điểm TB HS Nam và Nữ lĩnh vực Toán 55
Bảng 3.2 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ theo Miền 56
Bảng 3.3 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ theo loại hình trường 57
Bảng 3.4 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ theo vị trí trường đóng 58
Bảng 3.5 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Đọc hiểu theo Miền 61 Bảng 3.6 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Đọc hiểu theo
Loại hình trường 63
Bảng 3.7 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ theo Vị trí trường 64
Bảng 3.8 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học theo Miền 67 Bảng 3.9 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học theo Loại hình trường 69
Bảng 3.10 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học theo Vị trí trường 70
Trang 106
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Các thành phần cấu trúc của năng lực 14
Hình 2.1 Quy trình tiến hành khảo sát PISA 42
Hình 2.2 Quy trình chọn mẫu hai giai đoạn 45
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ HS ở 6 mức năng lực GQVĐ lĩnh vực Toán học 53
Hình 3.2 Tỷ lệ HS có năng lực GQVĐ dưới mức 2 và từ mức 5 trở lên trong kì khảo sát PISA 2012 lĩnh vực Toán học 54
Hình 3.3 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Toán học ở 6 mức 55
Hình 3.4 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Toán học ở 6 mức theo Miền 56
Hình 3.6 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Toán học ở 6 mức theo Loại hình trường 57
Hình 3.7 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Toán học ở 6 mức theo Vị trí trường 58
Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ các mức năng lực GQVĐ lĩnh vực Đọc hiểu 59
Hình 3.9 Tỷ lệ HS ở mức năng lực GQVĐ dưới 2 và từ mức 5 trở lên trong kì khảo sát PISA 2012 lĩnh vực Đọc hiểu 60
Hình 3.10 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Đọc hiểu ở 6 mức 61
Hình 3.11 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Đọc hiểu ở 6 mức theo Miền 62
Hình 3.12 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Đọc hiểu ở 6 mức theo Loại hình trường 63
Trang 11kì khảo sát PISA 2012 lĩnh vực Khoa học 66
Hình 3.16 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học ở 6 mức 67 Hình 3.17 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học ở 6 mức
theo Miền 68
Hình 3.18 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học ở 6 mức
theo Loại hình trường 69
Hình 3.19 Khác biệt giới về năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học ở 6 mức
theo vị trí trường 70
Trang 128
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự hình thành
và phát triển của nền kinh tế trí thức luôn đòi hỏi đổi mới và cải cách không ngừng để đáp ứng nhu cầu về nguồn lực cho xã hội Trên thế giới nói chung
và ở Việt Nam nói riêng, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập ngày càng được chú trọng Đánh giá kết quả học tập có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giáo dục và đào tạo Có thể nói đây là một trong những khâu then chốt
của quá trình giáo dục Trong “Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam từ
2011- 2020”, Bộ GD&ĐT có ghi rõ: “Bất kỳ một quá trình giáo dục nào mà
một con người tham gia cũng nhằm tạo ra những biến đổi nhất định trong con người đó Muốn biết những biến đổi đó xảy ra ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất định Việc đánh giá cho phép chúng ta xác định, một là mục tiêu giáo dục được đặt ra có phù hợp hay không và có đạt được hay không, hai là việc giảng dạy có thành công hay không, học viên có tiến bộ hay không”
Trong những năm gần đây, ta có thể thấy Việt Nam đang dần tích cực tham gia vào các chương trình đánh giá quốc tế kết quả học tập của học sinh (HS) như PISA, PASEC, EGRA, Trong đó, đáng quan tâm nhất là Chương trình đánh giá HS quốc tế - Programme for International Student Assessment (viết tắt là PISA) do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) khởi xướng và chỉ đạo Một trong những điểm đặc biệt của Chương trình PISA đó
là các đề thi tập trung vào đánh giá năng lực của HS Đề kiểm tra được xây dựng không gắn liền với chương trình học của bất kì quốc gia nào mà dựa trên năng lực của HS ở độ tuổi 15 – độ tuổi năm cuối của giáo dục bắt buộc,
để chuẩn bị bước vào cuộc sống theo OECD Việt Nam đã tham gia PISA bắt
Trang 139
đầu từ chu kỳ năm 2012 Đây là lần đầu tiên Việt Nam tham gia PISA Là nước có chỉ số GDP và HDI thấp nhất trong các nước tham gia, nhưng Việt Nam đã đạt được kết quả khả quan, đứng thứ 17/65 về lĩnh vực Toán học, đứng thứ 19/65 về Đọc hiểu và đứng thứ 8/65 về Khoa học
Với việc tham gia vào PISA, có thể nói rằng Việt Nam đã có một bước tiến tích cực trong việc hội nhập quốc tế về giáo dục Những dữ liệu thu thập được (ở quy mô lớn, độ tin cậy cao) từ PISA giúp cho chúng ta có cơ sở để so sánh “mặt bằng” giáo dục quốc gia với giáo dục quốc tế, biết được những điểm mạnh, điểm yếu của nền giáo dục nước nhà Dựa trên kết quả PISA, OECD đưa ra những phân tích và đánh giá về chính sách giáo dục quốc gia và
đề xuất những thay đổi về chính sách giáo dục cho các quốc gia Những phân tích, đánh giá, đề xuất này sẽ góp phần chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Mặt khác, kết quả PISA sẽ gợi ý cho chúng ta đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá, đặc biệt là đưa ra cách tiếp cận mới về dạy – học theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ)
PISA tập trung vào đánh giá năng lực của người học, đặc biệt là năng lực GQVĐ của người học Vậy thì, năng lực GQVĐ của HS Việt Nam đang ở mức nào? Theo báo cáo về kết quả khảo sát PISA của OECD, trong tất cả các
kỳ khảo sát, sự khác biệt giới trong lĩnh vực Toán và Đọc hiểu xuất hiện ở đa
số các nước tham gia khảo sát, riêng lĩnh vực khoa học chỉ có rất ít nước có khác biệt giới Như vậy Việt Nam có nằm trong số phần lớn những quốc gia như vậy không? Kết quả của Việt Nam có gì đáng chú ý không?
Nhằm trả lời cho những câu hỏi trên, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá khác biệt giới trong năng lực giải quyết vấn đề của ho ̣c sinh Việt Nam trong PISA 2012” cho nghiên cứu khoa học của mình
Trang 1410
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài dựa trên những dữ liệu thu thập được từ PISA để đánh giá về năng lực GQVĐ và khác biệt giới trong năng lực GQVĐ của HS Việt Nam tại kỳ khảo sát PISA 2012
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài thành công sẽ góp phần vào hệ thống lý luận về năng lực GQVĐ, những khác biệt giữa HS nam và nữ trong năng lực GQVĐ cũng như những phương pháp nhằm phân tích, đánh giá khác biệt đó
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho giáo viên và các nhà quản lý giáo dục có được tài liệu tham khảo hữu ích về khác biệt giới trong năng lực GQVĐ trong quá trình xây dựng, thẩm định, tiến hành kiểm tra, đánh giá cũng như trong việc đưa ra những kiến nghị, đề xuất đối với việc giảng dạy cho HS nam và nữ
4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung phân tích sự khác biệt trong năng lực GQVĐ trong các nội dung thi của câu hỏi thi PISA 2012 giữa HS nam và nữ của Việt Nam
5 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Năng lực GQVĐ của HS Việt Nam trong kỳ khảo sát PISA 2012
đa ̣t được ở mức độ nào?
Câu hỏi 2: Có hay không sự khác biệt về giới trong năng lực GQVĐ của HS
Việt Nam? Sự khác biệt này như thế nào?
6 Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Năng lực GQVĐ của HS nam và HS nữ Việt Nam trong khảo sát PISA
Trang 1511
6.2 Khách thể nghiên cứu
HS Việt Nam ở độ tuổi 15 trong năm học 2011 - 2012 (Độ tuổi 15 theo PISA là những em HS có tuổi nằm trong khoảng 15 tuổi 3 tháng đến 16 tuổi 2 tháng) Ở Việt Nam, những HS này chủ yếu là các em HS đang học lớp 10
7 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
7.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Nghiên cứu tài liệu từ các nghiên cứu, báo cáo trong và ngoài nước
8 Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc các phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương
Chương 1 : Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 : Phương pháp và thiết kế tổ chức nghiên cứu
Chương 3 : Kết quả nghiên cứu và bàn luận
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 16Khái niệm “Năng lực” đã được tìm hiểu từ lâu trên thế giới Ban đầu, đã
có những quan điểm gần như trái ngược nhau về khái niệm này Nếu như theo quan điểm di truyền học, A Binet (1905) cho rằng: Năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính chất bẩm sinh của di truyền gen, thì theo quan điểm xã hội học,
E Durkheim (1893) lại cho rằng: Năng lực con người được quyết định bởi xã hội Tuy nhiên, những quan điểm này do thiếu đi yếu tố giáo dục, mà chỉ thiên về yếu tố bẩm sinh nên chỉ được coi như là những khái niệm sơ khởi, làm tiền đề để nghiên cứu sâu hơn về “năng lực”
H Gardner (1983) đã đưa ra một quan điểm khá toàn diện về “năng lực” thông qua việc phân tích 8 lĩnh vực trí năng của con người, đó là: ngôn ngữ, lôgic-toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hướng tới thiên nhiên Theo Gardner, sự kết hợp của các trí năng này đã tạo nên năng lực của một cá nhân Tổng hợp các khái niệm của các nhà giáo dục,
ta có thể có một số cách hiểu như sau về “năng lực”:
Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck,1998)
Năng lực: là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay
có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001)
Trang 1713
Năng lực của HS là sự kết hợp hợp lý kiến thức, kỹ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề” (Weinert, 2001)
Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002)
Năng lực: là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Québec- Ministere
de l’Education, 2004);
Năng lực: là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh
sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều
nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” (Tremblay, 2002)
Tại Việt Nam, cũng có không ít các tác giả đã đưa ra những quan điểm, định nghĩa về khái niệm này Theo Từ điển Tiếng Việt, “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó Năng lực của con người là tổng hợp những phẩm chất tâm sinh lí, tạo cơ sở cho khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó ở mức độ cao.” Theo Ngyễn Quang Uẩn (1998): Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả Hay như giáo sư Lâm Quang Thiệp (2012) cho rằng: “… năng lực nào đó của một con người thường là tổng hòa của kiến thức, kỹ năng, tình cảm - thái độ được thể hiện trong một hành động và tình huống cụ thể” Trong khi đó, với cách tiếp cận hành vi (behavioural approach), Lương Việt Thái (2011) coi năng lực là khả năng đơn lẻ của cá nhân, được hình thành dựa trên
sự lắp ghép các mảng kiến thức và kĩ năng cụ thể (Ví dụ: “năng lực toán học” được hình thành qua việc học kiến thức cơ bản về toán và kĩ năng giải các bài
Trang 1814
tập toán, ) Với cách hiểu này, việc đánh giá năng lực người học được dựa trên các kết quả có thể nhìn thấy (chủ yếu là điểm thi và kiểm tra)
PGS.TS Nguyễn Công Khanh (2012) đã đưa ra định nghĩa toàn diện,
tổng quát về năng lực của HS phổ thông: “Năng lực của HS là khả năng làm
chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tượng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng,…
Mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực
tế đang thay đổi của xã hội.”
Về cấu trúc của năng lực GQVĐ, từ thế kỷ XX, các nhà giáo dục Đức
đã thống nhất năng lực GQVĐ là kết hợp của 4 năng lực thành phần sau:
Hình 1.1 Các thành phần cấu trúc của năng lực
Trang 1915
Trong đó:
- Năng lực chuyên môn (Professional competency):
Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác
về mặt chuyên môn Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn
- Năng lực phương pháp (Methodical competency):
Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và năng lực phương pháp chuyên môn Trung tâm của năng lực phương pháp là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức
- Năng lực xã hội (Social competency):
Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác
- Năng lực cá thể (Individual competency):
Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi
1.2 Năng lực giải quyết vấn đề
1.2.1 Khái niệm vấn đề
Theo Lê Ngọc Sơn (2008:25): “Vấn đề là một bài toán, một câu hỏi hay
Trang 2016
một đòi hỏi yêu cầu hành động giải quyết, đòi hỏi một cá nhân hay một nhóm đưa ra cách giải, câu trả lời, các hành động phải tiến hành, mà chưa biết con đường nào dẫn tới kết quả”
Như vậy, vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đử giải quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua Một vấn đề được đặc trưng bởi ba phần:
- Trạng thái xuất phát: không mong muốn;
- Trạng thái đích: trạng thái mong muốn;
- Sự cản trở
Cấu trúc vấn đề
Vấn đề khác với nhiệm vụ thông thường ở chỗ khi giải quyết một nhiệm
vụ thì đã có sẵn trình tự và cách giải quyết, cũng như những kiến thức kỹ năng đã có đử để giải quyết nhiệm vụ đó
Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết cách nào, chưa đủ phương tiện (kỹ năng, tri thức…) để giải quyết
1.2.2 Năng lực giải quyết vấn đề
Quá trình GQVĐ là quá trình HS vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã được học để tìm ra phương hướng GQVĐ đó Mỗi nhà giáo dục lại có một cách phân chia các giai đoạn của việc GQVĐ khác nhau VD: Rohn P De
Trạng thái
xuất phát
Sự cản trở Trạng thái đích
Trang 2117
Cecco chia việc GQVĐ làm 5 giai đoạn, GS Meier chia làm 8 giai đoạn hay
GS Trần Văn Hà chia làm 4 giai đoạn Một trong những cách phân chia được
sử dụng khá nhiều là cách phân chia của Kudriasev, theo đó, GQVĐ được chia ra làm 4 giai đoạn bao gồm:
- Bước 1: Vấn đề xuất hiện;
- Bước 2: Nhận thức vấn đề;
- Bước 3: Tìm kiếm phương án giải quyết;
- Bước 4: Giải quyết vấn đề
Đến cuối thế kỷ XIX, John Dewey đã đề ra một phương thức khoa học mới để GQVĐ đã được nhiều người áp dụng Ông gọi phương thức này là Phương thức Tư duy Toàn diện, gồm 5 bước : Tìm hiểu vấn đề; Xác định vấn đề; Xác định các phương hướng GQVĐ; Đánh giá các phương hướng GQVĐ;
Áp dụng phương hướng tối ưu
Như vậy, ta có thể thấy rằng, dù chia theo cách nào, GQVĐ luôn có 3 bước cơ bản sau:
Sơ đồ cấu trúc quá trình GQVĐ
1 NHẬN BIẾT VẤN ĐỀ
- Đánh giá tình huống
- Nhận biết vấn đề
2 TÌM CÁC PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT
- So sánh với các nhiệm vụ đã giải quyết
- Tìm cách GQVĐ mới
- Hệ thống hóa, sắp xếp các phương án giải quyết
3 QUYẾT ĐỊNH PHƯƠNG ÁN (GQVĐ)
- Phân tích các phương án
- Đánh giá các phương án
- Quyết định
Trang 2218
Bước 1: Nhận biết vấn đề
Trong bước này cần phân tích tình huống đặt ra, nhằm nhận biết được vấn đề Trong dạy học thì đó là cần đặt HS vào tình huống có vấn đề Vấn đề cần được trình bày rõ ràng, còn gọi là phát biểu vấn đề
Bước 2: Tìm các phương án giải quyết
Nhiệm vụ của bước này là tìm các phương án khác nhau để GQVĐ Để tìm các phương án GQVĐ, cần so sánh, liên hệ với những cách GQVĐ tương
tự đã biết cũng như tìm các phương án giải quyết mới Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lý ở giai đoạn tiếp theo Khi có khó khăn hoặc không tìm được phương án giải quyết thì cần trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại việc nhận biết và hiểu vấn đề
Bước 3: Quyết định phương án giải quyết
Trong bước này cần quyết định phương án GQVĐ, tức là cần GQVĐ Các phương án giải quyết đã được tìm ra cần được phân tích, so sánh và đánh giá xem có thực hiện được việc GQVĐ hay không Nếu có phương án có thể giải quyết thì cần so sánh để xác định phương án tối ưu Nếu việc kiểm tra các phương án đã đề xuất đưa đến kết quả là không giải quyết được vấn đề thì cần trở lại giai đoạn tìm kiếm phương án giải quyết mới Khi đã quyết định được phương án thích hợp, giải quyết được vấn đề tức là đã kết thúc việc GQVĐ
Như vậy, chúng ta có thể hiểu Năng lực GQVĐ là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ đuợc đặt ra
1.3 Quan niệm về năng lực GQVĐ trong khảo sát PISA
1.3.1 Năng lực Toán học
Đối với lĩnh vực Toán học, PISA quan tâm tới khả năng toán học có ý nghĩa như thế nào đối với một người tuổi 15, đang học hoặc chuẩn bị theo đuổi ngành đào tạo chuyên sâu trong sự nghiệp hoặc nhập học đại học? Điều
Trang 2319
quan trọng là năng lực toán học thể hiện khả năng cá nhân về lập công thức (formulate), vận dụng (employ) và giải thích (interpret) toán học ở nhiều ngữ cảnh, đồng thời phải mô tả (describe), giải thích (explain) và dự đoán (predict) các hiện tượng Theo định nghĩa PISA, cấu trúc về năng lực toán học đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển năng lực của HS trong việc sử dụng toán học theo ngữ cảnh, và điều quan trọng là các em có trải nghiệm toán học phong phú trên lớp để thực hiện công việc này Đối với hầu hết HS, động lực học toán tăng lên khi các em nhìn thấy mối liên quan giữa nội dung đang học với thế giới bên ngoài lớp học và với các lĩnh vực khác
Theo OECD: “Năng lực toán học là khả năng của cá nhân biết lập công
thức (formulate), vận dụng (employ) và giải thích (explain) toán học trong nhiều ngữ cảnh Nó bao gồm suy luận toán học và sử dụng các khái niệm, phương pháp, sự việc và công cụ để mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng Nó giúp cho con người nhận ra vai trò của toán học trên thế giới và đưa ra phán đoán và quyết định của công dân biết góp ý, tham gia và suy ngẫm”
Đối với PISA, HS cần đạt được Năng lực Toán học phổ thông
(Mathematical literacy) ở độ tuổi 15 Đây là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống; vận dụng và phát triển tư duy toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại
và tương lai một cách linh hoạt; là khả năng phân tích, suy luận, lập luận, khái quát hóa, trao đổi thông tin hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và GQVĐ toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau, trong đó chú trọng quy trình, kiến thức và hoạt động
Năng lực Toán học phổ thông không đồng nhất với khả năng tiếp nhận
nội dung của chương trình toán trong nhà trường phổ thông truyền thống, mà điều cần nhấn mạnh đó là kiến thức toán học được học, vận dụng và phát triển
Trang 2420
như thế nào để tăng cường khả năng phân tích, suy luận, lập luận, khái quát hóa và phát hiện được những tri thức toán học ẩn dấu bên trong các tình huống, các sự kiện
Mỗi câu hỏi thi PISA lĩnh vực Toán học là sự tổng hợp của 3 khía cạnh tương quan với nhau
Bảng 1.1 Các khía cạnh đánh giá trong lĩnh vực Toán học PISA
Khía
cạnh
Quy trình (Processes)
Nội dung (Content)
Ngữ cảnh (Context)
- Đai lượng
- Tính bất định và dữ liệu
để mô tả các hoạt động của HS ở các nước khác nhau, bao gồm cả về mức độ hiệu quả mô tả Với thang đo này, mức độ 2 là mức độ phân cách, HS ở cấp
độ dưới 2 được gọi là mức yếu, đây là mức HS chưa nắm vững được kiến thức, còn HS ở mức độ 2 định nghĩa là một mức độ thông thạo cơ sở và là mức độ HS bắt đầu để chứng minh có khả năng GQVĐ tình huống, những HS
Trang 256 669 Ở trình độ 6, HS biết cách khái niệm hóa, khái quát hóa và
sử dụng thông tin dựa vào việc các em tìm hiểu và mô phỏng những tình huống phức tạp Các em biết kết nối nhiều nguồn thông tin, trình bày và diễn giải linh hoạt thông tin Ở trình độ này, HS có khả năng suy nghĩ và suy luận toán học cao cấp Các em có khả năng áp dụng nhận thức và hiểu biết việc am hiểu các kí hiệu, công thức và mối quan hệ toán học để xây dựng nhiều phương pháp tiếp cận và chiến lược mới trong việc giải quyết nhiều tình huống lạ
5 607 Ở trình độ 5, HS biết phát triển và làm việc với các mô
hình tình huống phức tạp, xác định khó khăn và nêu phương án giải quyết Các em có thể chọn lựa, so sánh và đánh giá các chiến lược phù hợp GQVĐ để xử lí nhiều vấn
đề phức tạp liên quan tới các mô hình này Ở trình độ này,
HS biết làm việc có kế hoạch sử dụng suy nghĩ tư duy phát triển và kĩ năng suy luận tốt, trình bày có sự liên kết phù hợp, các đặc điểm biểu trưng và chính thức, có tư duy sâu sắc đối với những tình huống này Các em biết suy ngẫm
về hành động, xây dựng thuyết trình và giải thích lí luận
4 545 Ở trình độ 4, HS biết làm việc hiệu quả với các mô hình cụ
thể về những tình huống phức tạp cụ thể có thể liên quan
Trang 263 482 Ở trình độ 3, HS biết thực hành các phương pháp quy định
rõ ràng, gồm có việc yêu cầu quyết định tuần tự Các em biết chọn lựa và áp dụng nhiều kế hoạch giải quyết tình huống đơn giản Ở trình độ này, HS biết diễn giải và trình bày dựa vào nhiều nguồn thông tin và lí lẽ của chính mình Các em biết xây dựng các đoạn thông tin ngắn báo cáo phần trình bày, kết quả và lí do
2 420 Ở trình độ 2, HS biết diễn giải và nhận biết tình huống
trong bối cảnh mà không cần kết luận trực tiếp Các em biết trích dẫn thông tin liên quan từ một nguồn thông tin và chỉ sử dụng một cách trình bày Ở trình độ này, HS biết sử dụng các thuật toán cơ bản, công thức, phương pháp, hoặc quy ước Các em có khả năng biện luận trực tiếp và giải thích ý nghĩa kết quả
1 358 Ở trình độ 1, HS biết trả lời câu hỏi về bối cảnh quen thuộc
trong đó có các thông tin liên quan và câu hỏi được nêu rõ Các em có khả năng xác định thông tin và thực hiện các thủ tục thường lệ theo hướng dẫn trực tiếp trong các tình huống
cụ thể Các em biết thực hiện hành động cụ thể theo những tác động nhất định
Trang 2723
1.3.2 Năng lực Đọc hiểu
Theo OECD, năng lực đọc hiểu PISA được định nghĩa như sau: Năng
lực đọc hiểu là hiểu, sử dụng, phản ánh và liên kết vào các văn bản viết, nhằm đạt được các mục tiêu cá nhân, phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, và tham gia vào xã hội
Năng lực đọc hiểu bao gồm một loạt các năng lực nhận thức, từ giải mã
cơ bản đến kiến thức về từ ngữ - ngữ pháp và các cấu trúc lớn hơn về ngôn ngữ và văn bản, đến kiến thức về thế giới
Trong nghiên cứu PISA, “năng lực đọc hiểu” có mục đích thể hiện ứng dụng về đọc hiểu mang tính hoạt động, có mục đích và chức năng trong một loạt các tình huống và nhiều ngữ cảnh khác nhau
Các kỹ năng đọc hiểu không chỉ quan trọng đối với cá nhân mà còn cả các nền kinh tế nói chung Các nhà hoạch định chính sách và xã hội đang nhận ra rằng trong xã hội hiện đại, vốn con người (human capital) - tổng thể những cá nhân trong một nền kinh tế biết và có thể làm được - là hình thức vốn quan trọng nhất Nhiều năm qua, các nhà kinh tế đã xây dựng các mô hình cho thấy rằng nhìn chung là trình độ giáo dục của một quốc gia là một yếu tố dự báo tiềm năng tăng trưởng kinh tế (Coulombe và cộng sự, 2004) Cũng giống như lĩnh vực Toán học, đánh giá về năng lực Đọc hiểu PISA được xây dựng trên ba khía cạnh chính sau:
Bảng 1.3 Các khía cạnh đánh giá trong lĩnh vực Đọc hiểu PISA
Khía cạnh (Aspect) Phân
Trang 28Khả năng thực hiện của HS
6 698 Các nhiệm vụ ở mức độ này thường yêu cầu người
đọc thực hiện nhiều suy luận, so sánh và đối chiếu một cách chi tiết và chính xác Các nhiệm vụ yêu cầu thể hiện sự hiểu biết đầy đủ và chi tiết về một hoặc nhiều văn bản, có thể cần phải tích hợp thông tin từ nhiều văn bản Với các thông tin gây nhiễu nổi bật, các nhiệm vụ yêu cầu người đọc xử lý với các ý tưởng không quen thuộc, tạo ra các dạng trừu tượng yêu cầu cần phải diễn giải Các nhiệm vụ
phản ánh và đánh giá có thể yêu cầu người đọc đưa
ra giả thuyết hoặc phê bình đánh giá một văn bản phức hợp thuộc một chủ đề không quen thuộc, chú trọng tới các tiêu chí và khía cạnh phức tạp, áp dụng sự hiểu biết tinh tường ngoài văn bản Một
điều kiện nổi bật của các nhiệm vụ tiếp cận và truy
xuất ở mức độ này là tính chính xác của phân tích
và lưu ý tới những tiểu tiết ẩn khuất trong các văn bản
5 626 Các nhiệm vụ ở mức độ này liên quan tới việc truy
xuất thông tin yêu cầu người đọc phải xác định vị trí và sắp xếp các mẩu thông tin quan trọng kèm theo, suy luận xem thông tin nào trong văn bản có liên quan Các nhiệm vụ phản ánh yêu cầu người
Trang 294 553 Các nhiệm vụ ở mức độ này liên quan tới việc truy
xuất thông tin yêu cầu người đọc phải xác định vị trí và sắp xếp nhiều mẩu thông tin kèm theo Một
số nhiệm vụ ở mức độ này yêu cầu diễn giải ý nghĩa của sắc thái ngôn ngữ trong một phần của văn bản bằng cách xem xét toàn bộ văn bản Các nhiệm vụ diễn giải khác yêu cầu người đọc có sự
hiểu biết và áp dụng các dạng vào ngữ cảnh không quen thuộc Các nhiệm vụ phản ánh ở mức độ này
yêu cầu người đọc sử dụng kiến thức quy chuẩn và phổ thông nhằm đưa ra giả thuyết hoặc phê bình
đánh giá về văn bản Người đọc cần phải thể hiện
sự hiểu biết chính xác đối với các văn bản dài hoặc phức hợp có nội dung hoặc hình thức không quen thuộc
3 480 Các nhiệm vụ ở mức độ này yêu cầu người đọc
phải xác định vị trí, và trong một số trường hợp, người đọc phải nhận ra được mối quan hệ giữa một
số thông tin phải đáp ứng được các điều kiện phức
Trang 3026
tạp Các nhiệm vụ diễn giải ở mức độ này yêu cầu người đọc tích hợp nhiều phần của văn bản nhằm xác định ý chính, hiểu mối quan hệ hoặc phân tích
ý nghĩa của từ hoặc cụm từ Người đọc cần phải chú ý tới nhiều đặc tính để so sánh, phản ánh hoặc phân loại Thông thường, thông tin yêu cầu sẽ không nổi bật hoặc không có nhiều thông tin gây nhiễu; hoặc có nhiều trở ngại khác trong văn bản,
ví dụ như các ý tưởng trái ngược với dự tính mong đợi hoặc diễn đạt phủ định Các nhiệm vụ phản ánh
ở mức độ này yêu cầu cần có sự liên kết, so sánh và diễn giải, hoặc có thể yêu cầu người đọc đánh giá một đặc điểm của văn bản Một số nhiệm vụ phản ánh yêu cầu người đọc thể hiện sự hiểu biết đầy đủ
về văn bản trong mối liên hệ với các kiến thức quen thuộc hàng ngày Các nhiệm vụ khác không yêu cầu người đọc phải hiểu chi tiết về văn bản nhưng yêu cầu phải rút ra được kiến thức chung
2 407 Một số nhiệm vụ ở mức độ này yêu cầu người đọc
phải xác định vị trí một hoặc nhiều mẩu thông tin
có thể cần phải suy luận và phải đáp ứng một số điều kiện Một số khác yêu cầu nhận ra ý chính trong văn bản, hiểu được các mối quan hệ, hoặc phân tích ý nghĩa trong một phần giới hạn của văn bản khi thông tin không nổi bật và người đọc phải đưa ra những suy luận ở mức thấp Các nhiệm vụ ở mức độ này có thể liên quan tới việc so sánh hoặc
Trang 3127
đối chiếu dựa trên một đặc điểm trong văn bản Thông thường, các nhiệm vụ phản ánh ở mức độ này yêu cầu người đọc làm phép so sánh hoặc kết nối giữa các văn bản và kiến thức bên ngoài dựa trên kinh nghiệm và thái độ cá nhân
1a 335 Các nhiệm vụ ở mức độ này yêu cầu người đọc xác
định vị trí của một hoặc nhiều mẩu thông tin được thể hiện rõ ràng; nhận ra chủ đề chính hoặc mục đích của tác giả trong văn bản về một chủ đề quen thuộc, hoặc tạo ra mối liên kết đơn giản giữa thông tin trong văn bản và với kiến thức chung hằng ngày Thông thường, thông tin yêu cầu trong văn bản đều nổi bật và có rất ít thông tin gây nhiễu Người đọc được định hướng một cách rõ ràng để xem xét các yếu tố có liên quan trong nhiệm vụ và trong văn bản
1b 262 Các nhiệm vụ ở mức độ này yêu cầu người đọc xác
định vị trí của một mẩu thông tin được thể hiện rõ ràng ở một vị trí nổi bật trong một văn bản ngắn,
có cú pháp đơn giản với ngữ cảnh quen thuộc và dạng văn bản, ví dụ như tường thuật hoặc một danh sách đơn giản Các văn bản thường cung cấp thông tin hỗ trợ cho người đọc, ví dụ như nhắc lại thông tin, hình ảnh hoặc biểu tượng quen thuộc Có rất ít thông tin gây nhiễu Ở các nhiệm vụ yêu cầu
sự diễn giải, người đọc có thể cần phải liên kết đơn giản giữa các thông tin lân cận nhau
Trang 3228
1.3.3 Năng lực Khoa học
Sự hiểu biết về khoa học và công nghệ là trọng tâm trong sự chuẩn bị của một người trẻ tuổi cho cuộc sống trong xã hội hiện đại, cho phép cá nhân tham gia đầy đủ vào xã hội mà ở đó khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng Sự hiểu biết này cũng trao quyền cho cá nhân tham gia thích đáng vào việc xác định chính sách công, nơi mà những vấn đề khoa học và công nghệ
có tác động tới cuộc sống của họ Sự hiểu biết về khoa học và công nghệ góp phần quan trọng vào cuộc sống cá nhân, xã hội, nghề nghiệp và văn hóa của tất cả mọi người
Phần lớn những tình huống và vấn đề mà con người gặp phải trong cuộc sống hàng ngày sẽ yêu cầu cần phải có một số hiểu biết về khoa học và công nghệ trước khi hiểu rõ hoặc giải quyết chúng Những vấn đề liên quan tới khoa học và công nghệ đối diện với con người ở cấp cá nhân, cộng đồng, quốc gia và thậm chí là toàn cầu
Lĩnh vực Khoa học của PISA yêu cầu HS:
Khác với lĩnh vực Toán học và Đọc hiểu, đối với các mục đích đánh giá, lĩnh vực Khoa học bao gồm 4 khía cạnh tương quan với nhau:
(1) Ngữ cảnh (Context): nhận ra các tình huống liên quan đến khoa học
Trang 3329
và công nghệ;
(2) Kiến thức (Knowledge): hiểu biết về thế giới tự nhiên trên cơ sở kiến
thức khoa học trong đó bao gồm kiến thức về thế giới tự nhiên và kiến thức về
chính khoa học;
(3) Năng lực (competencies): thể hiện năng lực khoa học trong đó bao
gồm xác định các vấn đề khoa học, giải thích các hiện tượng theo khoa học
và sử dụng bằng chứng khoa học;
(4) Thái độ (attitude): thể hiện sự quan tâm đến khoa học, hỗ trợ tìm hiểu khoa học và động lực để hành động có trách nhiệm, ví dụ, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Đánh giá lĩnh vực khoa học PISA không phải là đánh giá các ngữ cảnh (context), mà đánh giá về các năng lực (competencies), kiến thức (knowledge)
và thái độ (attitude) khi đưa vào hoặc có liên quan đến các ngữ cảnh Khi lựa chọn ngữ cảnh, cần phải nhớ mục đích của kì đánh giá là nhằm đánh giá năng lực, sự hiểu biết và thái độ về khoa học mà HS đạt được
Bảng 1.5 Các mức độ (Levels) đánh giá năng lực GQVĐ lĩnh vực Khoa học
trong PISA Mức
độ
Điểm
6 708 Ở Mức 6, HS luôn biết xác định, giải thích và áp dụng kiến
thức khoa học và kiến thức về các ngành khoa học trong nhiều tình huống phức tạp của cuộc sống HS biết liên kết những phần giải thích và nhiều nguồn thông tin khác nhau,
sử dụng bằng chứng từ những nguồn này để biện luận cho quyết định đưa ra HS thể hiện tư duy và lập luận khoa học tiến bộ một cách rõ ràng và nhất quán, HS sử dụng sự hiểu biết khoa học để hỗ trợ cho các phép giải của những tình
Trang 3430
huống khoa học và công nghệ không quen thuộc Ở mức này, HS biết sử dụng kiến thức khoa học và xây dựng những cơ sở lý luận để hỗ trợ cho các quyết định và đề xuất xung quanh các tình huống con người, xã hội và toàn cầu
5 633 Ở Mức 5, HS biết cách xác định các cấu phần khoa học của
nhiều tình huống phức tạp trong cuộc sống, áp dụng những khái niệm khoa học và kiến thức về khoa học vào các tình huống này, biết so sánh, chọn lựa và đánh giá bằng chứng khoa học thích hợp đáp ứng những tình huống trong cuộc sống Ở mức này, HS biết sử dụng khả năng nghiên cứu phát triển tốt, liên kết kiến thức một cách phù hợp và đưa
ra những hiểu biết sâu sắc đối với các tình huống HS biết cách xây dựng phần giải thích dựa trên bằng chứng và phần lập luận dựa trên phân tích sâu sắc
4 559 Ở Mức 4, HS biết cách làm việc có hiệu quả với các tình
huống và vấn đề có liên quan tới các hiện tượng rõ ràng yêu cầu HS phải suy luận về vai trò của khoa học hoặc công nghệ HS biết lựa chọn và tích hợp các phần giải thích
từ nhiều nguyên tắc khoa học và công nghệ khac nhau, liên kết những phần phải thích đó tới các khía cạnh của những tình huống trong cuộc sống Ở mức này, HS biết suy ngẫm
về những hành động bản thân và biết kết nối những quyết định sử dụng kiến thức và bằng chứng khoa học
3 484 Ở Mức 3, HS biết cách xác định các vấn đề khoa học được
mô tả rõ ràng ở nhiều bối cảnh HS biết lựa chọn các sự thật và kiến thức để giải thích các hiện tượng và áp dụng các mô hình hoặc kế hoạch nghiên cứu Ở mức này, HS
Trang 3531
biết diễn giải và sử dụng các khái niệm khoa học từ những cách tư duy khác nhau và biết áp dụng trực tiếp HS biết xây dựng kết luận ngăn có sử dụng các sự thật và đưa ra suy luận dựa trên kiến thức khoa học
2 409 Ở Mức 2, HS có kiến thức khoa học thông thường để đưa
ra những giải thích phù hợp với các bối cảnh quen thuộc hoặc rút ra kết luận dựa trên những nghiên cứu đơn giản
HS có khả năng lập luận trực tiếp và đưa ra những diễn giải theo nghĩa đen về những kết quả của nghiên cứu khoa học hoặc GQVĐ công nghệ
1 335 Ở Mức 1, HS có kiến thức khoa học hạn chế, chỉ áp dụng
được kiến thức đó vào một số ít các tình huống quen thuộc
HS biết trình bày phần giải thích khoa học được thể hiện rõ ràng và làm theo hướng cho sẵn từ bằng chứng đã cho
2 Khác biệt giới trong kết quả học tập
Giới tính (sex) và giới (gender) là hai thuật ngữ rất quen thuộc trong xã hội Tuy nhiên, trong thực tế, không có nhiều người vẫn đánh đồng hai thuật ngữ này, cho rằng cả hai không có gì khác biệt hoặc chỉ muốn nói đến hai nhóm người: phụ nữ và nam giới Sự không rõ ràng này thường dẫn đến những quan niệm không đúng về sự khác biệt giới dẫn đến bỏ qua sự đa dạng của vấn đề giới trong xã hội Do đó, đã có rất nhiều nghiên cứu để chỉ ra sự khác biệt giữa giới và giới tính
Theo SEAGEP (2001), giới và giới tính được định nghĩa như sau:
Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ không
thể thay đổi được Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam và nữ về
Trang 3632
mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính Ví dụ như việc mang thai, sinh nở
và sự khác biệt về sinh lý có thể là do các đặc điểm giới tính
Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò,
thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới có thể thay đổi được Ví dụ: nữ thường để tóc dài, nam thường để tóc ngắn
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học
và sinh lí học giúp phân biệt được đàn ông và phụ nữ” Trong khi đó, giới chỉ các vai trò, hành vi, các hoạt động và các thuộc tính do quan niệm xã hội hình thành nên được coi là chẩn mực của nam giới và nữ giới Giới chỉ các quan niệm, mong đợi và các chuẩn mực được công nhận rộng rãi liên quan đến nam và nữ Chúng bao gồm cả những quan niệm về những đặc điểm và khả năng “điển hình” cho nữ giới và nam giới cũng như các mong đợi được chấp nhận rộng rãi về việc phụ nữ và đàn ông nên ứng xử như thế nào trong nhiều tình huống khác nhau Những quan niệm và mong đợi này được truyền tải hằng ngày trong gia đình, giữa bạn bè, theo ý kiến các nhà lãnh đạo, theo các thể chế tôn giáo và văn hóa, trường học, nơi làm việc, quảng cáo và các phương tiện truyền thông Chúng phản ánh và tác động lên các vai trò khác nhau mà phụ nữ và nam giới có thể thực hiện trong xã hội, cũng như vị trí, sức mạnh kinh tế, chính trị mà họ có thể có
Như vậy, nếu như giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và
nữ, đây là đặc điểm bẩm sinh, không thay đổi, thì giới là phạm trù mang đặc trưng xã hội, khác biệt giới do các nhóm xã hội con người tạo ra Xã hội tạo
ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Những quan niệm về giới luôn nảy sinh từ tính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hội khác nhau (Nguyễn Đức
Trang 3733
Truyến và Nguyễn Thị Nguyệt Minh, 2000) Bản chất xã hội của giới được thể hiện rõ trong sự khác nhau giữa các đặc tính và các hoạt động được coi là của nam giới và nữ giới khi thực hiện so sánh trong các nền văn hoá, giữa các tầng lớp xã hội và các nhóm dân tộc trong cùng một nền văn hoá, hoặc thay đổi theo thời gian (Nguyễn Thị Nghĩa và Bùi Thị An, 2002) Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được
Bảng 1.6 Phân biệt giữa Giới và Giới tính
Giới mô tả việc một người có biểu
hiện nam tính hoặc nữ tính
Giới tính mô tả việc một người là
nam hay nữ
- Sự khác biệt về mặt xã hội - Sự khác biệt về mặt sinh học
- Do dạy và học mà có; do mong đợi
của xã hội
- Bẩm sinh
- Mang tính đa dạng - Mang tính đồng nhất
3 Tổng quan các nghiên cứu liên quan
3.1 Khác biệt giới trong kết quả học tập của HS
Ngay từ khi bắt đầu nghiên cứu về đánh giá trong giáo dục, các nhà nghiên cứu cũng đã hướng tới các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả học tập của
HS Một trong những yếu tố được đánh giá nhiều nhất là giới tính của HS Không có một nghiên cứu nào về yếu tố tác động tới kết quả của HS mà lại phủ nhận sự tác động của yếu tố giới tính
Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng, trung bình, HS nữ có kết quả tốt hơn
HS nam HS nữ đạt được kết quả cao hơn và có tỷ lệ hoàn thành cấp học cao hơn so với HS nam (Jacobs, 2002) Theo nghiên cứu của Cục thống kê giáo
Trang 3834
dục của Mỹ (2003) khi cho HS làm các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa, kết quả cho thấy HS nữ đạt kết quả tốt hơn đối với các bài kiểm tra về chính tả, đọc hiểu, viết và kiến thức tổng quát Rộng hơn, Hiệp hội quốc tế về đánh giá kết quả học tập đã tiến hành một khảo sát đối với kết quả của chương trình TIMSS và PIRLS của OECD Một bài kiểm tra năng khiếu và cho tiến hành đối với HS lớp 4 ở 35 quốc gia và tiếp tục đánh giá lại sau 4 năm ở 3 lĩnh vực: Toán, Khoa học và Đọc hiểu Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng HS nữ có kết quả vượt xa HS nam trong lĩnh vực đọc hiểu ở cả 35 quốc gia Đối với lĩnh vực Toán học, không có sự khác biệt quá lớn về kết quả giữa hai nhóm HS nam và nữ Sau 4 năm học, những HS nữ vẫn thể hiện năng lực cao hơn về lĩnh vực đọc hiểu trong suốt các năm học phổ thông, nhưng kết quả trong lĩnh vực Toán học và Khoa học của các em lại dần thấp hơn HS nam Những khác biệt giới tính trong toán học và khoa học này rất có ý nghĩa đối với việc định hướng nghề nghiệp trong tương lai của các em và là mối quan tâm lớn đối với các nhà giáo dục trên thế giới
Một trong các lý do cho sự khác biệt giới là do khả năng nhận thức của
HS trung học Hedges và Nowell (1995) đã chỉ ra rằng từ những năm cuối tiểu học, HS nữ có thiên hướng đạt kết quả tốt hơn HS nam trong một số kỹ năng liên quan tới lập luận, diễn đạt nói, đọc hiểu Còn HS nam lại tốt hơn trong các vấn đề liên quan tới nhận thức không gian (Voyer, Voyer, & Bryden, 1995) và tính toán, lý luận toán học và hình học (Fennema, Sowder,
& Carpenter, 1999)
Một trong những nghiên cứu gây được sự chú ý của các nhà giáo dục là nghiên cứu “Gender differences in factors affecting academic performance of high school students” của Sayid (2011) Tác giả đã tiến hành một loạt nghiên cứu xem xét sự khác biệt giới tồn tại trong nhiều biến động lực nhận thức và
Trang 3935
kết quả học tập đạt được của HS lĩnh vực Ngữ Văn và Toán học của 363 HS trung học lớp 6, 7, 8 Kết quả cho thấy có sự tồn tại về khác biệt giới trong các biến được xem xét HS nữ tốt hơn trong các nhiệm vụ tập trung kiểm soát nội bộ, quản lý thời gian, xây dựng chiến lược, đặc biệt là trong lĩnh vực Ngữ Văn HS nam tốt hơn trong các lĩnh vực tập trung kiểm soát bên ngoài, tự khái niệm Kết quả cũng cho thấy những khác biệt tồn tại trong các chức năng nhận thức, động lức học tập trong môi trường học thuật Tuy nhiên ảnh hưởng của môi trường bên ngoài đã không được xét đến, vì vậy, nghiên cứu này cần được mở rộng hơn, để có thể đánh giá được của những yếu tố bên ngoài Tháng 3/2015, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã công
bố một báo cáo về bất bình đẳng giới trong giáo dục, dựa trên Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) chu kỳ năm 2012, trong đó đối tượng dự thi là các em HS 15 tuổi trên toàn thế giới Báo cáo này chỉ ra rằng khoảng cách chênh lệch về giới trong lĩnh vực toán vẫn tiếp diễn Các HS nam đạt kết quả cao nhất có số điểm lĩnh vực Toán cao hơn nhóm nữ HS giỏi nhất tại 61 trên tổng số 63 quốc gia mà các kỳ thi này được tổ chức, bao gồm Hoa Kỳ Điểm thi lĩnh vực khoa học cũng theo hướng tương tự, dù có bớt chênh lệch hơn phần nào Và trong nghề nghiệp chuyên môn, nữ giới vẫn ít lựa chọn các ngành khoa học: cụ thể, tại tất cả các nước thuộc OECD, trong số các phụ nữ trẻ bước vào đại học lần đầu, chỉ có 14% chọn ngành liên quan đến khoa học,
so với 39% nam giới Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là những sự mất cân bằng đáng lo ngại nhất, thay vào đó, số liệu thống kê trong báo cáo của OECD chỉ
ra kết quả thi ảm đạm của các HS nam có trình độ học thức kém hơn, và các
em này đang tụt hậu khá xa so với các bạn nữ 6 trên 10 các HS đạt điểm thi thấp dưới mức chuẩn sàn về độ thành thạo trong các lĩnh vực toán, đọc và khoa học là các em nam Con số này bao gồm 15% HS nam ở Mỹ, so với tỉ lệ chỉ 9% ở các em nữ Ngoại trừ Lúc-xăm-bua và Lich-ten-stai, ở tất cả các
Trang 4036
nước còn lại, tỉ lệ các HS nam đạt kết quả thấp đều cao hơn nữ Trong bảng thống kê, các HS nữ có xu hướng đạt điểm cao hơn các HS nam ở lĩnh vực đọc, mà đây lại được OECD coi là kỹ năng quan trọng nhất, thiết yếu cho việc học tập trong tương lai Ở phần đáy, mức độ chênh lệch là rất lớn Các HS nữ
ở Mỹ đạt kết quả thấp nhất – đạt điểm thấp hơn về lĩnh vực đọc so với 94% bạn cùng lứa – vẫn đạt được cao hơn 49 điểm so với các HS nam bị xếp ở dưới đáy, khoảng cách chênh lệch ở đây là 15% Và sự khác biệt trong khắp các nước OECD còn lớn hơn nữa Những con số trong báo cáo đã đặt ra một vấn đề rất đáng quan tâm nhưng từ lâu lại bị coi nhẹ đó là làm sao để giảm
thiểu được chênh lệch năng lực giữa HS nam và nữ
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nghiên cứu về giới, khác biệt giới hoặc bình đẳng giới Tuy nhiên, trong số các nghiên cứu đó, chủ yếu là các nghiên cứu xã hội học, không có nghiên cứu cụ thể nào về khác biệt giới trong kết quả học tập Các nghiên cứu thường chỉ xét tới giới tính như một yếu tố cá nhân tác động tới kết quả học tập
2012 Results: What students know and can do – Volume I” ( Kết quả PISA 2012: HS biết và có thể làm những gì – Quyển I) của tổ chức OECD Trong tài liệu này, ta có thể tìm thấy những thống kê về kết quả làm bài của HS của