1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ BIỂU TRƯNG TRONG CA DAO VIỆT NAM (NHÓM CHẤT LIỆU LÀ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN)

287 2,5K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biểu Trưng Trong Ca Dao Việt Nam (Nhóm Chất Liệu Là Thế Giới Các Hiện Tượng Thiên Nhiên)
Tác giả Nguyễn Thùy Vân
Người hướng dẫn GS.TS Mai Ngọc Chừ, PGS.TS Cẩm Tú Tài
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Lí Luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 287
Dung lượng 4,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang Danh mục các chữ viết tắt 4 Danh mục các bảng biểu, sơ đồ và lược đồ 5 MỞ ĐẦU 6 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 13 1.1. Tổng quan về ca dao Việt Nam 13 1.1.1. Khái niệm ca dao 13 1.1.2. Ngôn ngữ ca dao 14 1.1.3. Kết cấu ca dao 15 1.2. Biểu trưng và những khái niệm liên quan 16 1.2.1. Khái niệm biểu trưng 16 1.2.2 Khái niệm tín hiệu ngôn ngữ 20 1.2.3 Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ 22 1.2.4 Mối quan hệ giữa biểu trưng và tín hiệu thẩm mĩ 23 1.2.5 Quan hệ giữa nghĩa biểu trưng và nghĩa gốc 25 1.3. Quá trình hình thành nghĩa biểu trưng trong ca dao Việt Nam 26 1.4. Các khái niệm "thiên nhiên" và "tự nhiên" 28 Tiểu kết chương 1 30 CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ CHỈ THẾ GIỚI THỰC VẬT TRONG CA DAO VIỆT NAM 31 2.1. Bức tranh tổng quan về từ chỉ thực vật trong ca dao Việt Nam 31 2.2. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa trong ca dao Việt Nam 34 2.2.1. Khái quát về ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa trong ca dao 34 2.2.1.1. Biến thể của biểu trưng hoa trong ca dao 36 2.2.1.2. Mối quan hệ của ý nghĩa biểu trưng hoa trong ca dao Việt Nam 37 2.2.2. Ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ biểu thị một số loài hoa trong ca dao Việt Nam 39 2.2.2.1. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa đào 40 2.2.2.2. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa sen 44 2.2.2.3. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa hồng 47 2.2.2.4. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa lan, hoa huệ 49 2.2.2.5. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa cúc 52 2.2.2.6. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa nhài 53 2.3. Biểu trưng của từ chỉ các loài cây trong ca dao Việt Nam 55 2.3.1. Khái quát về ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ cây trong ca dao Việt Nam 55 2.3.2. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ một số loài cây trong ca dao Việt Nam 57 2.3.2.1. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ trầu- cau 57 2.3.2.2. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ cây tre 59 2.3.2.3. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ cây lúa 60 2.3.2.4. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ trúc, mai 62 2.3.1.5. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ cây đa 63 Tiểu kết chương 2 65 CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ CHỈ THẾ GIỚI ĐỘNG VẬT TRONG CA DAO VIỆT NAM 66 3.1. Tổng quan về biểu trưng của từ chỉ thế giới động vật trong ca dao Việt Nam 66 3.2. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ thế giới côn trùng trong ca dao Việt Nam 76 3.2.1. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ ong, bướm 78 3.2.2. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ con tằm 80 3.3. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ thế giới loài cá trong ca dao Việt Nam 81 3.4. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ thế giới loài chim trong ca dao Việt Nam 85 3.4.1. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ én 88 3.4.2. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ nhạn 90 3.4.3. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ loài cò 93 3.4.4. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ chim loan 101 3.4.5. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ chim phượng 102 3.5. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ các loài thú trong ca dao Việt Nam 106 3.5.1 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ các loài thú nuôi trong ca dao Việt Nam 106 3.5.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ các loài thú hoang trong ca dao Việt Nam 115 Tiểu kết chương 3 118 CHƯƠNG 4:Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ CHỈ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN TRONG CA DAO VIỆT NAM 119 4.1 Bức tranh tổng quan về từ chỉ các hiện tượng tự nhiên trong ca dao Việt Nam 119 4.2. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ nước và các vật thể liên quan đến nước 119 4.3. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ trăng 126 4.4. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ mưa 129 4.5. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ gió 132 4.6. Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ núi 134 Tiểu kết chương 4 136 KẾT LUẬN 137 TÀI LIỆU THAM KHẢO 142 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU 1. Cái biểu đạt: CBĐ 2. Cái được biều đạt: CĐBĐ 3. H,: Hà Nội 4. Nxb: Nhà xuất bản 5. [88, tr.76]: Tài liệu số 88 trên thư mục, trang 76. 6. (1,690): Số 1 là tập 1 Kho tàng ca dao người Việt, 690 là số trang DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ LƯỢC ĐỒ Trang Lược đồ 1: Lược đồ đơn giản ký hiệu học hàm nghĩa 27 Bảng 2.1: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ thực vật trong ca dao Việt Nam 31 Bảng 2.2: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ loài hoa trong ca dao Việt Nam 32 Bảng 2.3: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ loại quả trong ca dao Việt Nam 33 Bảng 2.4: Bảng kết quả thống kê, phân loại 33 Sơ đồ 2.5: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ thực vật trong ca dao Việt Nam 56 Bảng 3.1: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ động vật trong ca dao Việt Nam 67 Bảng 4.1: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên trong ca dao Việt Nam 119 Bảng 4.2: Bảng tần số xuất hiện của các từ chỉ nước và các vật thể liên quan đến nước trong ca dao Việt Nam 120 Bảng 4.3: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ trăng 127 Bảng 4.4: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ mưa 129 Bảng 4.5: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ gió 132 Bảng 4.6: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ núi 134 PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Ca dao là viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian nói riêng và văn hóa dân gian Việt Nam nói chung. Từ xa xưa những câu từ trong các bài ca dao đã ăn sâu vào tâm hồn người Việt. Có thể nói, ca dao là nơi lưu giữ văn hóa và tinh thần dân tộc. Chính vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao Việt Nam. Nghiên cứu ca dao, người ta có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, trong đó đáng chú ý là những nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa dân gian và ngôn ngữ học. Trong phạm vi ngôn ngữ học, việc nghiên cứu ca dao nói riêng và thơ ca nói chung xưa nay thường được xem xét từ mặt cấu trúc ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp). Và những nghiên cứu ấy đã mang lại những thành quả đáng kể trong việc làm sáng tỏ cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ ca dao nói riêng và thơ ca nói chung. Tuy nhiên nếu chỉ xem xét ca dao thuần túy về mặt cấu trúc thì chưa đủ. Nhắc đến ca dao, người ta không thể không nói đến cách nói “bóng gió” mang tính chất liên tưởng. Những hình ảnh như cái cò, cái vạc, cái nông, cây đa, bến nước, rồi trăng sao, mây núi, hoa trái, …xuất hiện rất nhiều. Nói một cách khoa học, biểu trưng của các từ ngữ trong ca dao đã góp phần tạo nên sức sống lâu bền cho những áng ca dao bất hủ của dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ ca dao, chúng ta không thể không chú ý đến các biểu trưng. Việc nghiên cứu biểu trưng của các từ ngữ trong ca dao sẽ góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của thi pháp học nói chung và thi pháp trong ca dao nói riêng. Biểu trưng thực chất là các tín hiệu thẩm mỹ xét từ góc nhìn ngôn ngữ học. Dưới hình thức là một loại thơ dân gian thì ca dao mang đặc điểm của một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, cần được tiếp cận dưới góc độ thẩm mỹ, nhằm khám phá những khía cạnh hình tượng, biểu tượng, các tín hiệu nghệ thuật như các tác phẩm văn chương khác. Vì vậy nghiên cứu biểu trưng trong ca dao cũng sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mỹ. Xuất phát từ những vấn đề như trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn “Một số biểu trưng trong ca dao Việt Nam”(nhóm chất liệu biểu trưng là thế giới các hiện tượng thiên nhiên) làm đối tượng nghiên cứu của mình với mong muốn đưa ra một cách nhìn hoàn thiện hơn về nhóm biểu trưng này trong ca dao người Việt. 1.2. Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm ý nghĩa biểu trưng và giá trị biểu trưng của những từ ngữ được sử dụng trong ca dao Việt Nam (thuộc nhóm chất liệu biểu trưng là thế giới các hiện tượng thiên nhiên). Qua kết quả thống kê, phân tích, miêu tả, luận án sẽ cho được một bức tranh toàn cảnh, toàn diện và hệ thống về ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ thế giới các hiện tượng thiên nhiên trong ca dao Việt Nam. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng trong nhà trường. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ đóng góp nhất định trong việc giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc. 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Biểu trưng, nhất là biểu trưng trong ca dao Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu Ngữ Văn quan tâm. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu biểu trưng và biểu trưng trong ca dao Việt Nam, có thể tạm phân thành hai xu hướng: Xu hướng truyền thống chỉ nghiên cứu các sự vật hiện tượng được dùng để biểu trưng trong ca dao và xu hướng gần đây nghiên cứu sâu hơn về biểu trưng và những khái niệm liên quan. Xem xét biểu trưng trong ca dao, Nguyễn Văn Nở đã có một phát hiện thú vị, đó là việc so sánh thân em với những sự vật, hiện tượng hay loài hoa ít được để ý, ít được tôn trọng, làm nổi bật sự thấp kém của phụ nữ trong xã hội trước đây. Tác giả kết luận "Cùng một đối tượng, người ta có thể so sánh với rất nhiều hình ảnh khác nhau qua sự liên tưởng phát hiện đầy sáng tạo của tác giả dân gian. Đối tượng người phụ nữ, và đặc biệt là thân phận của họ là một trong những ví dụ tiêu biểu. Ở mỗi miền, mỗi vùng “Thân em...” lại hiện lên với những hình ảnh khác nhau, phản ánh một cách nhìn riêng, một tư duy thẩm mỹ riêng góp phần tạo nên sự đa dạng trong cách phô diễn. Sự thống nhất về mặt cấu trúc, sự phong phú đa dạng về hình ảnh liên tưởng đã cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa" [85 , 23]. Bàn về những biểu trưng cụ thể trong văn học dân gian nói chung và ca dao Việt Nam nói riêng còn có hàng loạt bài viết, chẳng hạn Ý nghĩa biểu trưng của hệ biểu tượng con số trong ca dao người Việt của Nguyễn Thị Duyên, Hoa hồng trong ca dao của Nguyễn Phương Châm, Biểu tượng "nước" trong thơ ca dân gian và thơ ca hiện đại các dân tộc ít người của Nguyễn Thị Thanh Lưu, v.v. Trần Văn Nam trong công trình Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ đã nêu được đặc trưng cơ bản của các biểu trưng trong ca dao Nam Bộ đồng thời bước đầu chỉ ra được một số khác biệt so với ca dao Bắc Bộ. Điển hình là khác biệt giữa biểu trưng cầu trong ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ. Ngoài những bài viết giới thiệu những biểu trưng cụ thể, trong những năm gần đây đã có một số luận án tiến sĩ Ngữ Văn thuộc các chuyên ngành văn học dân gian và ngôn ngữ học đề cập đến khái niệm biểu trưng và biểu trưng trong ca dao Việt Nam. Đây là những nghiên cứu sâu và rất có giá trị. Nguyễn Thị Kim Ngân, Trần Thị Diễm Thúy và Đặng thị Diệu Trang đều đề cập đến thiên nhiên trong ca dao. Nếu như Nguyễn Thị Kim Ngân đề cập đến thiên nhiên nói chung thì Trần Thị Diễm Thúy bàn về Thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ còn Đặng thị Diệu Trang thì đề cập đến Thiên nhiên trong ca dao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ. Những công trình này đều đã để lại những dấu ấn riêng và chủ yếu tiếp cận vấn đề từ góc độ văn hóa dân gian. Thế giới động vật trong ca dao cổ truyền người Việt là tên luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Hòa. Tác giả đã miêu tả khá chi tiết các đặc điểm hình thái biểu hiện của thế giới động vật trong ca dao, hệ thống hóa các từ ngữ định danh động vật và các dạng kết cấu, các thủ pháp nghệ thuật chủ yếu của các bài ca dao có hình tượng loài vật. Tác giả cũng đặt ra và tìm hiểu cách ứng xử với môi trường xã hội và tự nhiên được phản ánh vào thế giới động vật trong các bài ca dao có hình tượng loài vật, đồng thời cố gắng phân tích những cơ sở hiện thực tạo nên các giá trị biểu trưng của thế giới động vật trong ca dao cổ truyền của người Việt và giải mã các giá trị biểu trưng của các lớp, các loài vật cụ thể được phản ánh vào ca dao. Trương Thị Nhàn trong luận án phó tiến sĩ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mỹ - không gian trong ca dao tập trung tìm hiểu đặc điểm các tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao từ phương diện ngôn ngữ học. Những đặc điểm và giá trị về biểu trưng cũng được tác giả nghiên cứu và phân loại một cách có hệ thống. Theo đó, mối quan hệ với ngôn ngữ tự nhiên - chất liệu của văn học, tín hiệu thẩm mỹ là tín hiệu chưa chuyển mã, tín hiệu nguyên cấp (primaire). Có thể nhận diện và nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ dưới các đặc trưng tính đẳng cấu, tính tác động, tính tái hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể, tính truyền thống và cách tân, tính hệ thống, tính cấp độ.

Trang 1

NGUYỄN THÙY VÂN

MỘT SỐ BIỂU TRƯNG TRONG CA DAO VIỆT NAM

(NHÓM CHẤT LIỆU LÀ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG

THIÊN NHIÊN)

CHUYÊN NGÀNH : LÍ LUẬN NGÔN NGỮ

MÃ SỐ: 62 22 02 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS.TS MAI NGỌC CHỪ

2 PGS.TS CẨM TÚ TÀI

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thống kê, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN THÙY VÂN

Trang 3

1.2.4 Mối quan hệ giữa biểu trưng và tín hiệu thẩm mĩ 23 1.2.5 Quan hệ giữa nghĩa biểu trưng và nghĩa gốc 25

1.3 Quá trình hình thành nghĩa biểu trưng trong ca dao Việt Nam 26 1.4 Các khái niệm "thiên nhiên" và "tự nhiên" 28

CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ CHỈ THẾ GIỚI

THỰC VẬT TRONG CA DAO VIỆT NAM

Nam

37

2.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ biểu thị một số loài hoa trong

ca dao Việt Nam

39

2.2.2.1 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa đào 40 2.2.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa sen 44 2.2.2.3 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa hồng 47 2.2.2.4 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa lan, hoa huệ 49 2.2.2.5 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa cúc 52 2.2.2.6 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ hoa nhài 53

2.3 Biểu trưng của từ chỉ các loài cây trong ca dao Việt Nam 55

2.3.1 Khái quát về ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ cây trong ca dao Việt Nam 55 2.3.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ một số loài cây trong ca dao Việt Nam 57

Trang 4

2.3.2.1 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ trầu- cau 57 2.3.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ cây tre 59 2.3.2.3 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ cây lúa 60 2.3.2.4 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ trúc, mai 62 2.3.1.5 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ cây đa 63

CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ CHỈ THẾ GIỚI

ĐỘNG VẬT TRONG CA DAO VIỆT NAM

66

3.1 Tổng quan về biểu trưng của từ chỉ thế giới động vật trong

ca dao Việt Nam

66

3.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ thế giới côn trùng trong ca dao Việt Nam 76

3.2.1 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ ong, bướm 78

3.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ con tằm 80

3.3 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ thế giới loài cá trong ca dao Việt Nam 81 3.4 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ thế giới loài chim trong ca dao Việt Nam 85

3.4.1 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ én 88 3.4.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ nhạn 90 3.4.3 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ loài cò 93 3.4.4 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ chim loan 101 3.4.5 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ chim phượng 102

3.5 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ các loài thú trong ca dao Việt Nam 106

3.5.1 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ các loài thú nuôi trong ca dao Việt Nam 106 3.5.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ các loài thú hoang trong ca dao Việt Nam 115

CHƯƠNG 4:Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ CHỈ THẾ GIỚI

CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN TRONG CA DAO VIỆT NAM

119

4.1 Bức tranh tổng quan về từ chỉ các hiện tượng tự nhiên trong ca

dao Việt Nam

119

4.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ chỉ nước và các vật thể liên quan

đến nước

119

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

1 Cái biểu đạt: CBĐ

2 Cái được biều đạt: CĐBĐ

3 H,: Hà Nội

4 Nxb: Nhà xuất bản

5 [88, tr.76]: Tài liệu số 88 trên thư mục, trang 76

6 (1,690): Số 1 là tập 1 Kho tàng ca dao người Việt, 690 là số trang

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ VÀ LƯỢC ĐỒ

Trang Lược đồ 1: Lược đồ đơn giản ký hiệu học hàm nghĩa 27 Bảng 2.1: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ thực vật trong ca dao Việt Nam 31 Bảng 2.2: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ loài hoa trong ca dao Việt Nam 32 Bảng 2.3: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ loại quả trong ca dao Việt Nam 33

Sơ đồ 2.5: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ thực vật trong ca dao Việt Nam 56 Bảng 3.1: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ động vật trong ca dao Việt Nam 67 Bảng 4.1: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ các hiện tượng tự

nhiên trong ca dao Việt Nam

119

Bảng 4.2: Bảng tần số xuất hiện của các từ chỉ nước và các vật thể

liên quan đến nước trong ca dao Việt Nam

120

Bảng 4.3: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ trăng 127 Bảng 4.4: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ mưa 129 Bảng 4.5: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ gió 132 Bảng 4.6: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ núi 134

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ca dao là viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian nói riêng và văn hóadân gian Việt Nam nói chung Từ xa xưa những câu từ trong các bài ca dao đã ănsâu vào tâm hồn người Việt Có thể nói, ca dao là nơi lưu giữ văn hóa và tinh thầndân tộc Chính vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao Việt Nam Nghiên cứu ca dao, người ta có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, trong

đó đáng chú ý là những nghiên cứu từ góc nhìn văn hóa dân gian và ngôn ngữ học.Trong phạm vi ngôn ngữ học, việc nghiên cứu ca dao nói riêng và thơ ca nói chungxưa nay thường được xem xét từ mặt cấu trúc ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữpháp) Và những nghiên cứu ấy đã mang lại những thành quả đáng kể trong việclàm sáng tỏ cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ ca dao nói riêng và thơ ca nói chung Tuy nhiên nếu chỉ xem xét ca dao thuần túy về mặt cấu trúc thì chưa đủ Nhắcđến ca dao, người ta không thể không nói đến cách nói “bóng gió” mang tính chấtliên tưởng Những hình ảnh như cái cò, cái vạc, cái nông, cây đa, bến nước, rồitrăng sao, mây núi, hoa trái, …xuất hiện rất nhiều Nói một cách khoa học, biểutrưng của các từ ngữ trong ca dao đã góp phần tạo nên sức sống lâu bền cho nhữngáng ca dao bất hủ của dân tộc Vì vậy, nghiên cứu ngôn ngữ ca dao, chúng ta khôngthể không chú ý đến các biểu trưng

Việc nghiên cứu biểu trưng của các từ ngữ trong ca dao sẽ góp phần làm sáng

tỏ nhiều vấn đề của thi pháp học nói chung và thi pháp trong ca dao nói riêng

Biểu trưng thực chất là các tín hiệu thẩm mỹ xét từ góc nhìn ngôn ngữ học.Dưới hình thức là một loại thơ dân gian thì ca dao mang đặc điểm của một tác phẩmnghệ thuật ngôn từ, cần được tiếp cận dưới góc độ thẩm mỹ, nhằm khám phá nhữngkhía cạnh hình tượng, biểu tượng, các tín hiệu nghệ thuật như các tác phẩm vănchương khác Vì vậy nghiên cứu biểu trưng trong ca dao cũng sẽ góp phần làm sáng

tỏ những vấn đề về tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mỹ

Trang 8

Xuất phát từ những vấn đề như trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn “Một số biểu trưng trong ca dao Việt Nam”(nhóm chất liệu biểu trưng là thế giới các hiện tượng thiên nhiên) làm đối tượng nghiên cứu của mình với mong muốn đưa ra

một cách nhìn hoàn thiện hơn về nhóm biểu trưng này trong ca dao người Việt

1.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm ý nghĩa biểutrưng và giá trị biểu trưng của những từ ngữ được sử dụng trong ca dao Việt Nam(thuộc nhóm chất liệu biểu trưng là thế giới các hiện tượng thiên nhiên)

Qua kết quả thống kê, phân tích, miêu tả, luận án sẽ cho được một bức tranhtoàn cảnh, toàn diện và hệ thống về ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ thế giớicác hiện tượng thiên nhiên trong ca dao Việt Nam

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao chấtlượng giảng dạy văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng trong nhà trường.Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ đóng góp nhất định trong việc giữgìn và phát triển văn hóa dân tộc

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Biểu trưng, nhất là biểu trưng trong ca dao Việt Nam đã được nhiều nhànghiên cứu Ngữ Văn quan tâm

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu biểu trưng và biểu trưng trong ca dao Việt Nam, cóthể tạm phân thành hai xu hướng: Xu hướng truyền thống chỉ nghiên cứu các sự vậthiện tượng được dùng để biểu trưng trong ca dao và xu hướng gần đây nghiên cứusâu hơn về biểu trưng và những khái niệm liên quan

Xem xét biểu trưng trong ca dao, Nguyễn Văn Nở đã có một phát hiện thú vị,

đó là việc so sánh thân em với những sự vật, hiện tượng hay loài hoa ít được để ý, ítđược tôn trọng, làm nổi bật sự thấp kém của phụ nữ trong xã hội trước đây Tác giả

kết luận "Cùng một đối tượng, người ta có thể so sánh với rất nhiều hình ảnh khác

nhau qua sự liên tưởng phát hiện đầy sáng tạo của tác giả dân gian Đối tượng người phụ nữ, và đặc biệt là thân phận của họ là một trong những ví dụ tiêu biểu Ở mỗi miền, mỗi vùng “Thân em ” lại hiện lên với những hình ảnh khác nhau, phản

Trang 9

ánh một cách nhìn riêng, một tư duy thẩm mỹ riêng góp phần tạo nên sự đa dạng trong cách phô diễn Sự thống nhất về mặt cấu trúc, sự phong phú đa dạng về hình ảnh liên tưởng đã cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa" [85 , 23].

Bàn về những biểu trưng cụ thể trong văn học dân gian nói chung và ca dao

Việt Nam nói riêng còn có hàng loạt bài viết, chẳng hạn Ý nghĩa biểu trưng của hệ

biểu tượng con số trong ca dao người Việt của Nguyễn Thị Duyên, Hoa hồng trong

ca dao của Nguyễn Phương Châm, Biểu tượng "nước" trong thơ ca dân gian và thơ

ca hiện đại các dân tộc ít người của Nguyễn Thị Thanh Lưu, v.v.

Trần Văn Nam trong công trình Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ đã nêu

được đặc trưng cơ bản của các biểu trưng trong ca dao Nam Bộ đồng thời bước đầuchỉ ra được một số khác biệt so với ca dao Bắc Bộ Điển hình là khác biệt giữa biểutrưng cầu trong ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ

Ngoài những bài viết giới thiệu những biểu trưng cụ thể, trong những nămgần đây đã có một số luận án tiến sĩ Ngữ Văn thuộc các chuyên ngành văn học dângian và ngôn ngữ học đề cập đến khái niệm biểu trưng và biểu trưng trong ca daoViệt Nam Đây là những nghiên cứu sâu và rất có giá trị

Nguyễn Thị Kim Ngân, Trần Thị Diễm Thúy và Đặng thị Diệu Trang đều

đề cập đến thiên nhiên trong ca dao Nếu như Nguyễn Thị Kim Ngân đề cập đến

thiên nhiên nói chung thì Trần Thị Diễm Thúy bàn về Thiên nhiên trong ca dao trữ

tình Nam Bộ còn Đặng thị Diệu Trang thì đề cập đến Thiên nhiên trong ca dao trữ tình đồng bằng Bắc Bộ Những công trình này đều đã để lại những dấu ấn riêng và

chủ yếu tiếp cận vấn đề từ góc độ văn hóa dân gian

Thế giới động vật trong ca dao cổ truyền người Việt là tên luận án tiến sĩ của

Đỗ Thị Hòa Tác giả đã miêu tả khá chi tiết các đặc điểm hình thái biểu hiện của

thế giới động vật trong ca dao, hệ thống hóa các từ ngữ định danh động vật và các dạng kết cấu, các thủ pháp nghệ thuật chủ yếu của các bài ca dao có hình tượng loài vật Tác giả cũng đặt ra và tìm hiểu cách ứng xử với môi trường xã hội và tự

nhiên được phản ánh vào thế giới động vật trong các bài ca dao có hình tượng loài

Trang 10

vật, đồng thời cố gắng phân tích những cơ sở hiện thực tạo nên các giá trị biểu trưngcủa thế giới động vật trong ca dao cổ truyền của người Việt và giải mã các giá trịbiểu trưng của các lớp, các loài vật cụ thể được phản ánh vào ca dao.

Trương Thị Nhàn trong luận án phó tiến sĩ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các

tín hiệu thẩm mỹ - không gian trong ca dao tập trung tìm hiểu đặc điểm các tín hiệu

thẩm mỹ trong ca dao từ phương diện ngôn ngữ học Những đặc điểm và giá trị vềbiểu trưng cũng được tác giả nghiên cứu và phân loại một cách có hệ thống Theo

đó, mối quan hệ với ngôn ngữ tự nhiên - chất liệu của văn học, tín hiệu thẩm mỹ làtín hiệu chưa chuyển mã, tín hiệu nguyên cấp (primaire) Có thể nhận diện vànghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ dưới các đặc trưng tính đẳng cấu, tính tác động, tínhtái hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể, tính truyền thống

và cách tân, tính hệ thống, tính cấp độ

Nguyễn Thị Ngọc Điệp trong luận án tiến sĩ ngữ văn Biểu tượng nghệ thuật

trong ca dao truyền thống người Việt đã bước đầu tiến hành phân loại, miêu tả và

tìm hiểu hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao từ nhiều phương diện như:nguồn gốc và con đường hình thành biểu tượng, sự vận động của biểu tượng trongtừng chỉnh thể đơn vị hoặc nhóm đơn vị ca dao Công trình nghiên cứu của tác giả

đã góp phần nghiên cứu sâu sắc hơn về thi pháp ca dao, về đặc trưng của các loại cadao Đây là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc

Tiếp thu thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi thực hiện

đề tài nghiên cứu của mình theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học nghĩa là nghiên cứu ýnghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ hiện tượng thiên nhiên Để tránh trùng lặp vớicác công trình đã công bố, người viết tập trung vào những biểu trưng chưa được cáctác giả đi trước khai thác hoặc mới chỉ nói đến một cách sơ lược Hy vọng kết quảcủa luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cái hay, cái đẹp của ca dao Việt Nam

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích

Thông qua việc thống kê phân loại các từ ngữ biểu thị các hiện tượng thiênnhiên trong kho tàng ca dao người Việt, luận án tìm hiểu ý nghĩa biểu trưng của

Trang 11

chúng Từ đó xây dựng nên một bức tranh toàn cảnh về giá trị biểu trưng của các tínhiệu chỉ các hiện tượng thiên nhiên được sử dụng trong ca dao Việt Nam.

Xác định ý nghĩa, giá trị thẩm mỹ của các từ ngữ biểu trưng trong ca dao,qua đó làm rõ được đặc trưng văn hóa tư duy của người Việt qua hệ thống ý nghĩabiểu trưng

- Miêu tả phân tích các ý nghĩa biểu trưng được thể hiện qua các từ ngữ biểuthị các hiện tượng thiên nhiên trong kho tàng ca dao

- Tập trung nghiên cứu cụ thể, toàn diện (nghiên cứu trường hợp) một số từngữ biểu thị các hiện tượng thiên nhiên thể hiện nhiều ý nghĩa biểu trưng và mangđậm nét đặc trưng văn hóa của người Việt

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nhóm 3: Nhóm từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên

4.2 Phạm vi và tư liệu khảo sát

Ở luận án này, chúng tôi khảo sát biểu trưng của các từ ngữ biểu thị thế giới

thiên nhiên trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt do Nguyễn Xuân Kính và Phan

Đăng Nhật chủ biên

Trang 12

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp thống kê là một trong số những phương pháp nghiên cứu chínhxác Kết quả của việc thống kê cho phép người nghiên cứu đưa ra những kết luận,những khái quát phù hợp với chân lí, hoặc tăng thêm sự thuyết phục cho những giảthiết, suy luận (khi chưa đủ cứ liệu để kết luận)

Việc sử dụng phương pháp thống kê cho phép chúng tôi tính toán được sốlần xuất hiện của các biểu trưng, qua đó nhận biết được vị trí của biểu trưng trongthể loại ca dao, trong tâm thức dân gian, nhận biết đâu là những biểu trưng được ưathích nhất, phổ biến nhất

5.2 Phương pháp miêu tả

Quan sát, miêu tả ngôn ngữ như một hệ thống- cấu trúc ở mọi bình diện, cấp

độ, thuộc tính của các đơn vị ngôn ngữ, những mối liên hệ, quan hệ, cách thức tổchức và trật tự tôn ti của chúng theo quan điểm hoặc trường phái (quan điểmtruyền thống, cấu trúc, cải biến tạo sinh, tầng bậc, chức năng, tri nhận ) trênnguyên tắc:

a) Phân biệt đơn vị ngôn ngữ (khách quan) và đơn vị phân tích (chủ quan dongười nghiên cứu đặt ra)

b) Phân biệt đơn vị ngôn ngữ (chung, khái quát) và các dấu hiệu thuộc tính của nó

5.3 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa

Phương pháp phân tích ngữ nghĩa là tiến hành phân tích mối quan hệ bình diện

hệ thống – cấu trúc và bình diện hoạt động, chỉ ra sự khác nhau giữa nghĩa bản thể

và nghĩa liên hội, nghĩa sự vật – logic và nghĩa biểu trưng, sự biến đổi ý nghĩa theo

cả trục đồng đại và lịch đại Như vậy khi xem xét biểu trưng trong ca dao cần sosánh đối chiếu các yếu tố trên trục hệ hình để thấy rõ hướng nghĩa biểu trưng củatừng yếu tố dựa trên những đặc điểm tương đồng và khác biệt

5.4 Phương pháp tiếp cận kí hiệu học (sémiotique):

Phương pháp tiếp cận kí hiệu học giúp phân tích đặc trưng mối quan hệ giữacái biểu trưng và cái được biểu trưng, các cấp độ của cái được biểu trưng; Phân loại

Trang 13

các ý nghĩa biểu trưng được thể hiện qua các tín hiệu ngôn ngữ biểu thị các hiệntượng tự nhiên trong kho tàng ca dao người Việt, đồng thời phân tích quá trìnhchuyển biến các nghĩa biểu trưng của các tín hiệu ngôn ngữ thể hiện thế giới tựnhiên trong ca dao.

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

6.1 Về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung vào các kết quả nghiên cứu

về ý nghĩa biểu trưng được thể hiện trong ca dao người Việt nói chung, hệ thống ýnghĩa biểu trưng được thể hiện qua các đơn vị từ vựng chỉ các hiện tượng thiênnhiên trong kho tàng ca dao người Việt nói riêng

Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ đặc điểm biểu trưng của các hiệntượng thiên nhiên trong kho tàng ca dao người Việt, qua đó thấy được những đặcthù về văn hóa và tư duy của người Việt

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng vào việc giảng dạy, nghiêncứu văn học dân gian nói chung, ca dao người Việt nói riêng theo cách tiếp cận từhướng ngôn ngữ học

Kết quả nghiên cứu còn có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu, biên soạn từđiển biểu tượng trong kho tàng ca dao Việt Nam

7 BỐ CỤC LUẬN ÁN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 4chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2:Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ thế giới thực vật trong ca dao Việt Nam

Chương 3: Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ thế giới động vật trong ca dao Việt Nam

Chương 4: Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ thế giới các hiện tượng tự nhiên trong ca dao Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan về ca dao Việt Nam

1.1.1 Khái niệm ca dao

Thuật ngữ ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo nghĩa nguyên gốc, ca (歌)làbài hát có chương khúc, giai điệu; dao (謠) là bài hát ngắn, không có giai điệu,

chương khúc, đã từng được dùng với nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau Trong Từ

điển thuật ngữ văn học của Nguyễn Khắc Phi và đồng sự thì ca dao được hiểu như

sau: “Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc

điệu” [91, tr.16] và một thời gian ca dao được hiểu là “danh từ chung chỉ toàn bộ

những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu”[91,

tr.26] Theo cách hiểu từ khái niệm này thì ca dao đồng nghĩa với dân ca

Trong thực tế thì khái niệm ca dao đã dần dần có sự thu hẹp nội hàm Hiện nay

các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam “dùng danh từ ca dao để chỉ riêng

thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm tiếng láy, tiếng đưa hơi)” Với nghĩa này thì ca dao là bộ phận chủ yếu và quan

trọng nhất của thơ dân gian truyền thống

Trong Từ điển Tiếng Việt thì Ca dao được định nghĩa là “Thơ ca dân gian

truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định” Hoặc

có thể hiểu“Thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hình thức giống như

ca dao cổ truyền”[90, tr.16] Ở đây, đối tượng xem xét của chúng tôi là ca dao theocách hiểu thứ nhất

Cách hiểu về ca dao như vừa trình bày được nhiều người chấp nhận Ngay cảtrong các nền văn hóa khác như Anh và Pháp người ta cũng quan niệm tương tự về Ca

dao (petit chanson populaire, Tiếng Pháp; và trong tiếng Anh Proverb hoặc song)“Ca dao là câu hát ngắn thành khúc điệu được phổ thông trong dân gian”

Folks-Theo Vũ Ngọc Phan thì “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được

như những thể loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca” [88, tr.76]

Trang 15

Nguyễn Xuân Kính cho rằng “ca dao không có nghĩa là toàn bộ những câu

hát của một loại dân ca nào đó (như hát trống quân, hát quan họ, hát ghẹo…) khi tước đi tiếng đệm tiếng láy, tiếng đưa hơi” mà “Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách” [54, tr.79]

Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ và các mối quan hệ giađình, xã hội Ngoài ra, ca dao còn đề cập đến các hiện tượng thiên nhiên, nhữngkinh nghiệm sản xuất và đấu tranh, …

1.1.2 Ngôn ngữ ca dao

Ngôn ngữ ca dao mang đậm tính chất ngôn ngữ dân tộc Nhờ biết dựa vàongôn ngữ dân tộc, khai thác sử dụng ngôn ngữ dân tộc mà ca dao dân gian ViệtNam rất giàu bản sắc Thêm nữa, chính ca dao lại tác động ngược trở lại ngôn ngữdân tộc, để củng cố và phát triển ngôn ngữ dân tộc Văn học dân gian vốn có tínhdân tộc, tính tập thể, và tính truyền miệng nên vừa thống nhất, vừa đa dạng Vì vậy

mà hai khuynh hướng dân tộc hóa và địa phương hóa luôn diễn ra song song và tácđộng lẫn nhau Ngôn ngữ ca dao cũng vậy, vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa mangsắc thái địa phương Chúng ta nhận thấy dấu ấn văn hóa vùng miền nhờ vào ngônngữ địa phương Ca dao Bắc Bộ thì nhẹ nhàng tình tứ

Thí dụ:

Người về em chẳng cho về,

Em nâng vạt áo, em đề câu thơ.

Ca dao Nam Bộ thì bộc lộ một cách rõ ràng, bộc trực, dứt khoát

Thí dụ:

Anh về em nắm vạt áo em la làng, Anh bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em…

Khi sáng tác ca dao, nhân dân lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ theo yêu cầu củanghệ thuật thơ ca để bộc lộ tâm tình và những cảm xúc thẩm mỹ mà ngôn ngữ giaotiếp thông thường không thể nào diễn đạt được Ngôn ngữ ca dao là một thứ ngônngữ giàu sắc thái biểu cảm, tính chất biểu tượng, ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ…

Trang 16

1.1.3 Kết cấu của ca dao

- Kết cấu một vế đơn giản: Đây là dạng kết cấu nội dung của lời vốn là một ý

lớn do các phán đoán tạo thành Thí dụ:

Dốc bồ thương kẻ ăn đong, Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình

(1, 699) A: Dốc bồ thương kẻ ăn đong.

B: Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình.

Cả hai phán đoán A, B đều nhằm diễn đạt cái ý đồng cảm với những ngườicùng cảnh ngộ với mình

- Kết cấu hai vế tương hợp: Dạng này thường xuất hiện trong hát đối đáp Nội

dung gồm hai ý lớn có thể tương hợp Thí dụ:

Bây giờ mận mới hỏi đào, Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa, Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

(1, 255)

Người con trai ướm hỏi cô gái và cô gái trả lời Dạng kết cấu này chiếm hầuhết trong kho tàng ca dao, dân ca nhất là mảng đề tài về tình yêu đôi lứa và tình cảmgia đình

- Kết cấu nhiều vế nối tiếp: Kết cấu nhiều vế nối tiếp nhau là nội dung của lời

gồm nhiều ý nối tiếp nhau Thuộc dạng này có hai loại Một loại thì giữa các ýkhông có mối liên hệ mạch lạc Một loại giữa các vế không chỉ gắn bó về vần màcòn được liên hệ chặt chẽ về nội dung

Trang 17

1.2 Biểu trưng và những khái niệm liên quan

1.2.1 Khái niệm biểu trưng

Biểu trưng, biểu tượng, tượng trưng là những thuật ngữ thuộc về nhiều

ngành khoa học khác nhau như tâm lí học, văn hóa học, tín hiệu học, ngôn ngữ học

Hệ thống khái niệm này được dùng với nội hàm như sau:

Biểu tượng văn hóa: Vật thể, hình ảnh, ý niệm, hành động v.v mang tính chất

tiêu biểu, đặc thù cho mọi nền văn hóa, có thể chuyển hóa qua nhiều bình diện khácnhau: tín ngưỡng, phong tục tập quán, sinh hoạt, giao tiếp, sáng tạo nghệ thuật

Trong phạm vi văn hóa Việt thì trống đồng là một biểu tượng văn hóa, rồng, tiên

vừa là hình ảnh, vừa là ý niệm, một cặp biểu tượng văn hóa đặc thù trong tâm thứcngười Việt

Biểu tượng ngôn ngữ: Biến thể của biểu tượng văn hóa trong phạm vi đời sống

ngôn ngữ, bao gồm ngôn ngữ văn học Chẳng hạn các từ ngữ như cá, chim, cá nước

chim trời, bóng chim tăm cá chính là các yếu tố ngôn ngữ mang tính biểu trưng

trong tiếng Việt

Biểu trưng, tượng trưng: Biểu trưng là cách lấy một sự vật, hiện tượng nào đó

để biểu hiện có tính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó khác mang tính trừutượng Đó là hiện tượng khá phổ biến và quen thuộc đối với các dân tộc và phản ánhquan niệm ngây thơ dân gian của mỗi tộc người đôi khi được cố định hóa trongngôn ngữ Khi một sự vật, hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó sẽ gợi lên trong ýthức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững [106, tr 145]

Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm“Biều trưng”, biểu trưng tồn tại

rộng khắp trong các nền văn hóa và đời sống tinh thần

Nguyễn Văn Nở giải thích về hai chữ “Biểu trưng” trong cuốn “Biểu trưng

trong tục ngữ Người Việt” như sau, “Biểu trưng (symbole: tiếng Pháp; symbol: tiếng Anh) là một khái niệm rất quen thuộc và được sử dụng trong nhiều ngành khoa học Nó có nguồn gốc từ tiếng Latin (symbolus) nghĩa là dấu hiệu Ở Việt Nam thuật ngữ này được dịch là biểu trưng hoặc biểu tượng Theo chúng tôi biểu trưng và biểu tượng không đồng nhất Nghĩa biểu trưng mang tính lâm thời, nghĩa

Trang 18

là ở những ngữ cảnh khác nhau nó có thể có nghĩa khác nhau; còn biểu tượng có tính cố định” [86, tr 41].

Về thuật ngữ biểu trưng, tác giả “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” cho biết lịch sử của nó như sau: “Khởi nguyên, biểu tượng (symbole) là một vật được

cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại Hai người mỗi bên giữ một phần, chủ và khách, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương, hai kẻ sắp chia tay lâu dài…Sau này ráp hai mảnh lại với nhau, họ sẽ nhận ra mối thân tình xưa, món nợ

cũ, tình bạn ngày trước Ở người Hi Lạp thời cổ đại, biểu tượng còn là những dấu hiệu để cha mẹ nhận ra con cái bị lưu lạc Bằng lối loại suy, từ được mở rộng nghĩa, chỉ các tấm thẻ, cầm chúng thì có thể lĩnh lương, phụ cấp hay thực phẩm; chỉ mọi dấu hiệu tập hợp, chỉ các điềm triệu hay quy ước Biểu tượng chia ra và kết hợp lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp; nó gợi lên ý một cộng đồng, đã bị chia cắt và có thể tái hình thành Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra” [52, tr.23].

Với tư cách là một hệ thống kí hiệu, ngôn ngữ cũng là những biểu trưng Chấtliệu biểu trưng là cái nằm bên ngoài; vật mà nó biểu trưng lại nằm sâu trong nộitâm Ngôn ngữ biểu trưng là ngôn ngữ dùng để diễn đạt kinh nghiệm nội tại; nó hầunhư là sự thể nghiệm cảm quan đó; nó là một vật nào đó do ảnh hưởng của thế giớivật lí tác động đến chúng ta Ngôn ngữ biểu trưng là ngôn ngữ như sau: thế giới bênngoài là biểu trưng cho thế giới nội tại; là biểu trưng cho linh hồn và tâm linh

Theo Erich Fromm [37, tr.24] “biểu trưng có ba loại (dịch giả dùng chữ “biểu

trưng”): Biểu trưng mang tính chất tập quán; biểu trưng mang tính chất ngẫu nhiên

và biểu trưng phổ biến Theo đó, biểu trưng mang tính chất tập quán là ngôn ngữ sửdụng hằng ngày Giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của loại biểu trưng nàykhông có mối quan hệ nội tại Biểu trưng mang tính chất ngẫu nhiên cũng thế.Nhưng nếu với biểu trưng mang tính chất tập quán ai cũng có thể hiểu được (đối vớicộng đồng ngôn ngữ đó) thì biểu trưng mang tính chất ngẫu nhiên chỉ có người nào

đã tham gia vào sự việc có liên quan với vật biểu trưng mới có thể hiểu được còn

Trang 19

người khác thì không Trong khi đó, với biểu trưng mang tính chất phổ biến thì giữacái biểu trưng và cái mà nó đại diện có mối quan hệ nội tại Biểu trưng phổ biến làloại biểu trưng mà quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt nhất trí với nhautrong nội tại chứ không phải ngoại tại Biểu trưng phổ biến bám rễ sâu trong thânthể, ý thức và tâm linh của mỗi người; nó không giới hạn trong một cá nhân haymột nhóm người nào Tuy nhiên có điều cần phải thấy rằng, trong các nền văn hóakhác nhau, một số biểu trưng có ý nghĩa hiện thực khách quan vì vậy chúng có ýnghĩa khác nhau Về mặt biện chứng, biểu trưng phổ biến chịu sự quyết định của sựkhác nhau về điều kiện tự nhiên Nét khác nhau này tạo nên hiện tượng: tại các khuvực khác nhau trên trái đất, một biểu trưng nào đó có ý nghĩa khác nhau Có mộttình hình rất khác với phép biện chứng của biểu trưng nói trên, rất nhiều vật biểutrưng, mỗi cái có nhiều ý nghĩa khác nhau; bởi vì, mỗi cái lại có nhiều kinh nghiệmgắn liền với một hiện tượng tự nhiên nào đó, hoặc gắn liền với một hiện tượng tựnhiên tương tự Ý nghĩa biểu trưng trong bất kì tình huống được xác định nào, cũngchỉ có thể được quyết định bởi toàn bộ bối cảnh khi xuất hiện vật biểu trưng, cũng

có nghĩa, chịu sự quyết định của kinh nghiệm mang tính chất chi phối của ngườivận dụng vật biểu trưng

Trong quyển “Ý nghĩa và cấu trúc ngôn ngữ” Wallace L Chafe cho rằng:

“Biểu trưng là khi một cái gì đó trong thế giới tư tưởng và khái niệm biến thành một cái gì đó có khả năng trở thành cái cầu bắc các vực ngăn cách vật phát và vật thu” [118, tr.28].

Ở Việt Nam, khi đề cập đến biểu trưng, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra

nhiều cách hiểu về thuật ngữ này Chẳng hạn Bùi Khắc Việt , trong bài“Về tính

biểu trưng của thành ngữ trong Tiếng Việt” cho biểu trưng thể hiện ở chỗ từ “hình ảnh hoặc sự việc, sự vật cụ thể được miêu tả trong tự nhiên là nhằm nói về ý niệm khái quát” [116, tr.28] và ông hiểu “tính biểu trưng khác với tính hình ảnh”, tuy vậy

hình ảnh cũng có vai trò gợi cho ta ý niệm về nội dung Hà Công Tài thì cho rằng:

“Nói đến biểu trưng tức là nói đến hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan Đó

là hình ảnh sao chép lại nguyên sơ các hiện tượng do cảm giác khác nhau như thị

Trang 20

giác, thính giác góp phần tạo nên Khác với cảm giác đem lại cho ta từng đặc điểm

cụ thể riêng biệt của hiện thực, biểu trưng cho ta đặc điểm chung nhất” [98, tr.65].

Trong “Từ kí hiệu học đến thư pháp học” Hoàng Trinh cũng nêu lên quan niệm của mình về biểu trưng như sau: “Biểu trưng là một vật mang tính chất thông

điệp được dùng để chỉ ra một cái ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ, tức võ đoán (không tất yếu) giữa sự vật trong thông điệp và sự vật bên ngoài” [111, tr.84-85].

Đỗ Hữu Châu thì đề cập đến biểu trưng ở tầng sâu hơn, đó là biểu trưng nghệ

thuật: “Nguồn gốc của ngôn ngữ không có gì khác chính là sự sử dụng những yếu

tố, những chi tiết của đời sống hiện thực vào mục đích thẩm mỹ Khi đi vào tác phẩm (câu nói) dưới dạng ngôn từ những yếu tố, những chi tiết ấy sẽ không còn là bản thân nó như trong thực tại, mà trở thành hình thức do một nội dung ý nghĩa mang tính khái quát, vượt ra ngoài phạm vi ngữ nghĩa thông thường của những yếu

tố ngôn từ được sử dụng Ta gọi đó là ý nghĩa biểu trưng nghệ thuật” [13, tr.12].

Khi tìm hiểu khái niệm của biểu trưng, chúng ta không thể hạn hẹp nó trongmột cách hiểu được: biểu trưng được diễn tả bằng từ ngữ, nhưng từ ngữ chỉ diễn tảnhững hình ảnh, không diễn đạt được tất cả ý nghĩa của biểu trưng Chẳng hạn như

hình ảnh hoa sen: hoa thơm, không gì đẹp bằng sen, lá xanh, bông trắng, nhị vàng v.v… Còn biểu trưng hoa sen: biểu trưng của Phật giáo, tòa sen: bản thể đức Phật, giác ngộ (hoa sen nghìn cánh), thanh khiết như sen trắng, sen xanh.

Biểu trưng bao giờ cũng gắn với văn hóa tộc người và vùng đất bởi quá trìnhbiểu trưng hóa (quá trình liên tưởng so sánh giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt)

bị sự chi phối của môi trường tự nhiên và hoàn cảnh xã hội

Trong ca dao Việt Nam, biểu trưng nói một cách đơn giản là dùng cái A để nói

cái B Chẳng hạn, cặp biểu trưng "cá chậu - chim lồng" biểu trưng cho cảnh tù túng của một ai đó, trong ca dao kết cấu cá chậu- chim lồng thường biểu trưng cho người

con gái có chồng mà không hạnh phúc

Tiếp thu những ý kiến nêu trên, để có căn cứ làm việc, chúng tôi tạm thời nêu

ra cách hiểu về biểu trưng trong ca dao như sau:

Trang 21

Biểu trưng là từ hoặc cụm từ trong câu ca dao có khả năng khái quát hóa cho một sự vật, hiện tượng nhất định và nó được xác định, có giá trị trong ý thức hệ của mỗi không gian lịch sử văn hóa ngôn ngữ xác định.

Theo cách hiểu nêu trên, đối tượng được đề cập đến là từ và các cụm từ, nhưngkhông phải từ hoặc cụm từ nào cũng được coi là biểu trưng, mà chỉ là từ hoặc cụm

từ phải có tính khái quát hóa, nói lên hàm nghĩa sâu xa của đối tượng đang được đềcập Ý nghĩa biểu trưng, bản chất chỉ tồn tại trong nhận thức của con người, nhờ cơchế liên tưởng mà tìm ra những đặc điểm, thuộc tính tương đồng giữa các sự vật,hiện tượng thuộc các phạm trù khác nhau

Như vậy biểu trưng trong ca dao phải là những từ hoặc cụm từ được sử dụngnhiều lần trong những tình huống khác nhau nhưng lại là những từ hoặc cụm từ dễhiểu, dễ liên tưởng và đôi khi có gắn với điển tích văn học nào đó Biểu trưng trong

ca dao có tính lâm thời, tức là ở các thời điểm và ngữ cảnh khác nhau thì sẽ cónhững cách hiểu khác nhau Biểu trưng trong ca dao có thể hiểu là một thực thể có

sự đồng hóa và dị hóa, nó không phải là sự cố định hoặc một nguyên mẫu chuẩnmực nào đó

Biểu trưng mang đặc trưng văn hóa và tư duy của một dân tộc Mỗi dân tộc cóthói quen, tập quán riêng trong việc biểu trưng hóa các sự vật, hiện tượng của thếgiới hiện thực Cùng biểu trưng cho niềm kiêu hãnh, lòng tự hào dân tộc, người Ngachọn hình ảnh cây sồi với sức sống và khả năng chịu đựng tốt, trong khi đó ngườiCampuchia lại mặc định hình ảnh cây thốt nốt Và cùng một hình ảnh được xâythành biểu trưng nhưng các dân tộc khác nhau có thể mang những nghĩa biểu trưnghoàn toàn khác nhau Ở Nhật Bản, lá dương xỉ biểu trưng cho sự mong muốn cónhiều thành đạt trong năm mới, nhưng ở Nga dương xỉ lại được liên tưởng đến cáichết và sự không may mắn

1.2.2 Khái niệm tín hiệu ngôn ngữ

Cũng giống các loại tín hiệu nói chung, tín hiệu ngôn ngữ là những dạng vậtchất tác động vào giác quan của con người để con người nhận thức và lĩnh hội mộtnội dung ý nghĩa cần thiết về tư tưởng, hiểu biết, tình cảm, hành động hay cảm xúc

Trang 22

Tín hiệu ngôn ngữ ngoài những điểm tương đồng với mọi tín hiệu khác, còn có một

c) Tín hiệu ngôn ngữ cũng giống các tín hiệu khác luôn có hai mặt: Cái biểu đạt(hình thức) và cái được biểu đạt (nội dung) Nhưng tín hiệu ngôn ngữ có quan hệ võđoán cao giữa hai mặt đó, tức là quan hệ không có lí do và không giải thích được.d) Tín hiệu ngôn ngữ có tính hình tuyến, nghĩa là các tín hiệu phải lần lượtđược tạo ra và lần lượt được tiếp nhận, lĩnh hội chứ không thể ở trong tình trạngxuất hiện đồng thời

Chính tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ dẫn đến một hệ quả quan trọng:trong ngôn ngữ không phải chỉ có bản thân các tín hiệu, mà cả thứ tự các tín hiệucũng đóng vai trò cần yếu trong việc thể hiện nội dung ý nghĩa như thay đổi nghĩa,thêm nghĩa, làm mất nghĩa, biểu cảm, nhấn mạnh ý khi thứ tự các tín hiệu thayđổi, tuy vẫn từ ngữ ấy

e) Tín hiệu ngôn ngữ mang tính đa trị, nghĩa là cùng một hình thức âm thanh

có thể có nhiều giá trị biểu đạt Tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ còn thể hiện ởnhiều tín hiệu (từ) đồng thời thực hiện nhiều chức năng khác nhau trong hoạt độnggiao tiếp

g) Tín hiệu ngôn ngữ có tính biểu cảm, tức là tín hiệu ngôn ngữ không chỉ biểuhiện những nội dung hay lí do, kết quả của nhận thức, mà còn thể hiện cảm xúc,

Trang 23

tình cảm của con người Nhờ tính biểu cảm mà tín hiệu ngôn ngữ trở thành mộtnhân tố quan trọng khi sử dụng ngôn ngữ để sáng tạo văn chương.

h) Tín hiệu ngôn ngữ có đặc điểm lượng chất, là tính hệ thống, tạo thành mộtchỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố và các yếu tố có quan hệ tương tác, chế định lẫn nhau.Tín hiệu ngôn ngữ là chất liệu để tạo nên tín hiệu thẩm mỹ trong văn chương

Để làm được điều đó cần có quá trình chuyển hóa nhờ sự sáng tạo và sự lĩnh hội,cảm thụ của độc giả Theo L.Hjelmslev “Khi cấu tạo tín hiệu thẩm mỹ, tổng thể haimặt của tín hiệu ngôn ngữ đóng vai trò cái biểu đạt cho tín hiệu thẩm mỹ, còn cáiđược biểu đạt của tín hiệu thẩm mỹ lại là một ý nghĩa thẩm mỹ được chuyển hóa từtác dụng qua lại của nhiều nhân tố: từ ý nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ, từ ngữ cảnh, từ

sự cảm thụ của độc giả” Như vậy, từ tín hiệu ngôn ngữ thành tín hiệu thẩm mỹ đã

có sự thay đổi về chất Có thể chia sẻ với ý kiến của L.Hjelmslev mà Đỗ Hữu Châucũng đồng quan điểm “Trong tác phẩm văn học, cả cái hợp thể cái biểu hiện và cáiđược biểu hiện của ngôn ngữ thường trở thành (đóng vai trò) cái biểu hiện cho mộtcái được biểu hiện mới” [16, tr.15]

1.2.3 Khái niệm tín hiệu thẩm mỹ

Tín hiệu thẩm mỹ là loại tín hiệu có chức năng thẩm mỹ: biểu hiện cái đẹp,truyền đạt cảm xúc về cái đẹp Nó cũng cần có hai mặt: cái biểu đạt và cái đượcbiểu đạt, nhưng cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mỹ Trong nghệ thuật vănchương, chất liệu là ngôn ngữ hàng ngày của con người, là các tín hiệu ngôn ngữ.Nhưng khi sáng tác người nghệ sĩ đã dùng chất liệu ngôn ngữ để tạo ra các tín hiệuthẩm mỹ trong văn chương Một tín hiệu thẩm mỹ trong văn chương cũng có ýnghĩa và chức năng thẩm mỹ của nó Chẳng hạn câu ca dao:

Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

đều dùng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường mà mọi người Việt Nam đều biết.Nhưng mọi người Việt Nam trưởng thành đều hiểu: câu ca dao này không chỉ nóichuyện thuyền bến, sông nước, mà cao đẹp hơn nó thể hiện tình thủy chung giữa

Trang 24

một người con gái và một người con trai Đó chính là ý nghĩa thẩm mỹ cao đẹplàm cho thuyền bến trong câu ca dao trở thành tín hiệu thẩm mỹ.

Theo Đỗ Hữu Châu, "Với tư cách là thể chất của tác phẩm văn học, ngôn ngữ

văn học có thể được coi là một hệ thống tín hiệu bao gồm các tín hiệu thông thường

và các tín hiệu thẩm mỹ Tín hiệu thẩm mỹ phân biệt với các tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên ở chỗ ý nghĩa của nó không bao giờ chỉ dừng lại ở phạm vi tái tạo hiện thực

mà phải là một tư tưởng, một ý nghĩ nào đó của người nghệ sĩ." [16, tr.12].

Hệ thống tín hiệu được nhà văn, nhà thơ dùng để tạo nên hình thức cho tácphẩm của mình Với văn học, mã là ngôn ngữ Ngôn ngữ đích thực của văn học làtín hiệu thẩm mỹ

Nhìn chung một tín hiệu thẩm mỹ bao gồm những đặc điểm sau:

Thứ nhất, tín hiệu đó mang một giá trị biểu trưng hay ý đồ sáng tạo của ngườinghệ sĩ

Thứ hai, tín hiệu đó phải tồn tại trong một hệ thống, chẳng hạn những "chữ

rỗng" một mình nó không có giá trị tồn tại nhưng nếu nó đứng trong một bài thơ có

chủ đích dùng một hệ thống các chữ "rỗng nghĩa" tương tác với nhau để tạo ra một

âm giai nhất định thì nó sẽ trở thành một tín hiệu thẩm mỹ

Thứ ba, tín hiệu đó chứa đựng cái nhìn chủ quan có tính khám phá về bản chấtđời sống

1.2.4 Mối quan hệ giữa biểu trưng và tín hiệu thẩm mỹ

Trong ca dao, biểu trưng và tín hiệu thẩm mỹ là hai mặt biểu hiện tồn tại trongcùng một tác phẩm - thuộc phạm trù nghệ thuật Chúng có mối tương quan và gắn

bó khá chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành nên tác phẩm nghệ thuật Haikhái niệm này trong thực tế vẫn tồn tại và thường được dùng lẫn lộn với nhau, mặc

dù bản chất của chúng là khác nhau Biểu trưng và tín hiệu thẩm mỹ nói lên phươngthức nhận thức và sáng tạo lại hiện thực theo cách riêng biệt, độc đáo và chỉ có ở cadao Bất cứ một sự vật, hiện tượng khách quan nào có trong đời sống hiện thực, nếuđược mô phỏng lại một cách sáng tạo trong ca dao đều trở thành hình tượng nghệthuật Nhìn chung, biểu trưng thường được hình thành trong mối quan hệ giữa thế

Trang 25

giới hiện thực khách quan với nhận thức chủ quan của con người Song, biểu trưngkhông là bản sao chép máy móc theo đúng nguyên mẫu của thế giới hiện thực, bởi

vì nó thuộc về thế giới của tinh thần - thế giới của sự sáng tạo Biểu trưng không chỉphản ánh hiện thực mà còn khái quát hóa, điển hình hóa toàn bộ thế giới hiện thực,nhằm tìm ra được những yếu tố cốt lõi nhất của hiện thực vào trong ca dao

Giữa sự vật và ý nghĩa biểu trưng của nó luôn có một mối quan hệ nhất định.Bản thân sự vật tự nó chưa mang ý nghĩa biểu trưng Ý nghĩa này chỉ có khi conngười khoác lên cho nó dựa trên những mối liên hệ mật thiết với tên gọi, hình dáng,thuộc tính, phẩm chất nào đó của sự vật Điều này cũng có nghĩa là ở một sự vật cóthể tồn tại nhiều khía cạnh, phương diện có khả năng khơi gợi những liên tưởng thơ

ca Khi xây dựng biểu trưng, nghệ nhân dân gian đã qua sự chọn lựa, sàng lọc từ sựvật một hoặc một số khả năng gợi liên tưởng nào đó, tạo ra cho sự vật những ýnghĩa mới Những nét nghĩa này được sử dụng nhiều lần, được tập thể công nhận vàtrở thành nghĩa biểu trưng Khi ấy, người ta hiểu ý nghĩa của biểu trưng theo mộtthứ phản xạ được xây dựng bằng thói quen, bằng quy ước văn hóa của cộng đồng.Muốn hiểu được đầy đủ, trọn vẹn ý nghĩa của biểu trưng, cần có vốn sống, vốn vănhóa, vì mỗi biểu trưng đều có một tầng nền lịch sử - xã hội - văn hóa riêng của nó

Từ những sự vật, hiện tượng cụ thể trong đời sống cho đến những biểu trưngtrong ca dao là cả một quá trình quan sát, trải nghiệm, tích lũy … lâu dài của dângian Sự vật ở đây đã được đặt trong nhiều mối dây liên hệ phức tạp như chính bảnthân chúng khi tồn tại trong đời sống tự nhiên Từ cách làm này, dân gian đã tinh tếphát hiện ra những nét tương đồng giữa thế giới thiên nhiên và thế giới con người

Ví dụ như các biểu trưng do từ hoa đóng vai trò là những mô-típ thành tố hợp

Trang 26

- Sen xa hồ, sen khô hồ cạn

Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng.

Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền, Phiền người bội nghĩa, biết mấy niên cho hết sầu

1.2.5 Quan hệ giữa nghĩa biểu trưng và nghĩa gốc

Quá trình chuyển nghĩa là quá trình biểu trưng hóa của tín hiệu, một quá trìnhvốn có nguồn gốc tâm lí của nó trong đời sống xã hội và được ghi lại một cách tếnhị, độc đáo trong ngôn ngữ Theo Pierce biểu trưng có quan hệ với đối tượng của

nó chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một hoàncảnh nào đó Nghĩa đó là do con người trong cộng đồng xã hội đặt ra mà thôi Tínhchất ước lệ này chỉ ra những lí do về mặt lịch sử xã hội trong việc sử dụng của biểutrưng, chỉ ra việc lựa chọn chất liệu - cái biểu hiện nào làm biểu trưng đều có lí do

Vì thế, ở một mặt nào đó, biểu trưng có tính cụ thể

Để tạo nên nghĩa biểu trưng hay nghĩa chuyển người nghe phải dựa vào quan

hệ liên tưởng, có thể là liên tưởng tương đồng ẩn dụ hay liên tưởng tương cận hoán dụ phát ra từ người nói Cái biểu hiện của biểu trưng phải là một đối tượng nào

-đó được quy chiếu từ hiện thực nhưng ý nghĩa xã hội của biểu trưng -đó phải được

Trang 27

cả cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận Điều này lí giải vì sao, người Việt chọn tín hiệu

thuyền làm vật quy chiếu cho biểu trưng chỉ người ra đi (chàng trai) , còn bến làm

vật quy chiếu biểu trưng cho người ở lại (cô gái ) trong kho tàng ca dao người Việt

là vì:

- Ý nghĩa vốn có trong ngôn ngữ tự nhiên của các từ thuyền và bến thể hiện

hai sự vật nơi sông nước, gắn bó tương hỗ và có thể ở trạng thái tách rời nhau,

nhưng có ngày thuyền sẽ cập bến.

- Ngữ cảnh văn hóa: vốn hiểu biết chung cuả người Việt về thuyền và bến Vì

quan hệ của chúng, vì tình trạng xa rời cả về sự cập bến của thuyền sau nhữngchuyến ra đi

- Sự hiện diện hai từ thuyền, bến trong câu ca dao cùng các từ ngữ khác vốn thuộc trường nghĩa con người như về, nhớ, dạ, khăng khăng, đợi.

- Với toàn bộ vốn văn hóa và ngôn ngữ chung, người đọc đã liên tưởng , tưởngtượng để cảm nhận, giải mã các tín hiệu trong câu ca dao không chỉ với ý nghĩangôn ngữ vốn có của chúng mà với ý nghĩa biểu trưng, các phương thức thể hiệnnghĩa biểu trưng

1.3 Quá trình hình thành nghĩa biểu trưng trong ca dao Việt Nam.

Mỗi biểu trưng là hiện tượng được nẩy sinh bằng mối quan hệ giữa "sự biểu

đạt" còn gọi là cái biểu đạt (CBĐ) như các sự kiện, hiện tượng, những cái dùng để

biểu thị (một đồ vật, hay một hình ảnh v.v ) và "nội dung được biểu đạt" còn gọi làcái được biểu đạt (CĐBĐ) Đó là những giá trị, chuẩn mực, ý nghĩa v.v Hệ thống

ký hiệu thông thường là hệ thống ký hiệu biểu thị Còn hệ thống ký hiệu hàm nghĩa

là một hệ thống ký hiệu mà bình diện biểu đạt (hình thức) của nó cũng là một hệthống ký hiệu biểu thị

* Có thể tóm tắt quá trình biểu trưng hóa trong ca dao như sau:

Một là, hệ thống "Ký hiệu học biểu thị" [A] ( ký hiệu - thông thường )

Hai là hệ thống "Ký hiệu học hàm nghĩa" [B] (Biểu trưng – Siêu ký hiệu)

Hai hệ thống ký hiệu này lồng ghép với nhau tạo thành "hệ thống trong hệ

thống" - hệ thống biểu trưng

Trang 28

Như vậy, biểu trưng luôn có hai mặt: "Cái tượng trưng" và "cái được tượng

trưng" Hai mặt này được kết hợp theo tư duy liên tưởng và theo một quan hệ mang

tính ước lệ

Lược đồ 1: Lược đồ đơn giản ký hiệu học hàm nghĩa[ 82, tr.326]

Giải thích:

 (a): Thế giới hình tượng; (a'): Ký hiệu - biểu thị

 (b): Thế giới ý niệm; (b'): Ký hiệu - ẩn dụ

Biểu trưng có hai mặt: "cái biểu đạt" và "cái được biểu đạt" Hai mặt này đượckết hợp theo sự liên tưởng và theo một quan hệ ước lệ nào đó Biểu trưng bao giờcũng có:

 Tính chất biểu hiện một cái gì bằng sự vật có hình ảnh

 Đại diện cho một cái gì đó, nhằm gợi lên một cái gì theo liên tưởng

 Tính ước lệ

 Mã (ký hiệu)

 Biểu hiện những “giá trị” mang tính nhân văn

Về mặt chức năng, biểu trưng còn mang tính thay thế (vật môi giới) Biểutrưng không những thay thế cho các đối tượng hiện thực, mà còn thay thế tất cả cácquá trình, cả hình tượng, ý niệm của con người Chức năng thay thế là một trong

Trang 29

những đặc điểm của biểu trưng Bên cạnh đó, nó còn có những thuộc tính và chứcnăng khác như: chức năng giáo dục, liên kết, dự báo, giao tiếp, thông tin v.v Quá trình thay thế trong ca dao Việt Nam thường diễn ra một cách ước lệ và

ẩn dụ, để nói lên một giá trị, một tư tưởng nào đó của con người Cũng như tín hiệuthẩm mỹ, biểu trưng cũng mang tính khái quát cao về các hiện tượng của đời sống.Điều đó đã dẫn đến sự gần gũi giữa biểu trưng với tín hiệu thẩm mỹ trong ca dao.Xét bên ngoài, hình tượng và biểu trưng ít có sự khác biệt Nhưng chúng có một

ranh giới hết sức quan trọng Một bên là sự "điển hình hoá" còn một bên là "tượng

trưng hoá".

Ngoài ra, một nét khác biệt quan trọng không kém giữa biểu trưng trong ca

dao với tín hiệu thẩm mỹ thì biểu trưng bao giờ cũng có tính chất “ước lệ” mang tính biến động, trong khi tín hiệu thẩm mỹ mang tính “đại diện” với tính ổn định

của nó

Nhìn chung, các biểu trưng trong ca dao luôn mang giá trị thẩm mỹ rõ rệt Bêncạnh những lần xuất hiện với lớp nghĩa đen thuần túy, trong nhiều trường hợp, cácloài hoa còn được dân gian khoác cho lớp nghĩa biểu trưng Với tư cách là những

mô – típ, những công thức truyền thống trong văn bản văn học dân gian, các biểutrưng cũng có những tác động nhất định đến các thành tố khác của thi pháp ca daonhư: ngôn ngữ, đề tài, chủ đề, kết cấu, cấu tứ, nhân vật

1.4 Các khái niệm “thiên nhiên” và “tự nhiên”

"Thiên nhiên", là một từ Hán Việt với thiên là “trời” và nhiên có nghĩa là “tự

Chúng ta phân biệt về thiên nhiên và tự nhiên để tránh sự lầm lẫn về đối

tượng cần xem xét sau này Theo các nhà nghiên cứu triết học, ngôn ngữ học đi

Trang 30

trước thì thiên nhiên mang hàm ý hình ảnh xung quanh con người, không xét quá

sâu vào bản chất của hiện tượng mà chỉ là những gì trực quan phản ánh đến tri

giác của con người Còn Tự nhiên lại mang hàm ý sâu xa hơn, giải thích cơ chế

và mang tính khoa học về kết quả mà ta quan sát thấy Nó phải tuân theo mộtnguyên tắc nào đó

Vậy thiên nhiên là lớp đối tượng được con người đặt tên và không thuộc hệ

thống xã hội của loài người Những từ ngữ biểu thị thiên nhiên xuất hiện trong cadao với các vai trò, chức năng khác nhau như gió, mưa, sấm chớp, chim muông,

cá, thú

Còn tự nhiên là những thực thể vật chất tồn tại khách quan ngoài ý muốn của

con người, độc lập với xã hội loài người, không phải do có con người mới có

Như vậy giữa thiên nhiên và tự nhiên cũng có những điểm chung Trongluận án, chúng tôi khảo sát một số biểu trưng trong ca dao Việt Nam với nhómchất liệu biểu trưng là thế giới các hiện tượng thiên nhiên theo nghĩa vừa đượctrình bày ở trên

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Chương 1 dành cho việc nghiên cứu, xác lập cơ sở lí luận của luận án Theo

đó một số khái niệm và vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được đề cập đến nhưkhái niệm ca dao, khái niệm biểu trưng, tín hiệu thẩm mỹ, tín hiệu ngôn ngữ, mốiquan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mỹ cũng như cơ chế hình thànhnghĩa biểu trưng của các tín hiệu ngôn ngữ trong ca dao

Ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ ca dân gian truyền thống

Ca dao là những sáng tác văn chương, được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền quanhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách

Tìm hiểu nghĩa biểu trưng trong thơ ca nói chung, trong ca dao nói riêng làmột hướng nghiên cứu thú vị Để làm sáng tỏ ý nghĩa biểu trưng thể hiện qua các từngữ trong ca dao, cần phải hiểu rõ cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng, mối quan hệgiữa nghĩa gốc của tín hiệu ngôn ngữ với nghĩa biểu trưng được hình thành trongquá trình hoạt động của tín hiệu ngôn ngữ Vì vậy, ngữ cảnh hoạt động, khả năngkết hợp của tín hiệu ngôn ngữ trên trục tuyến tính và trục liên tưởng có vai trò rấtquan trọng trong việc xác định các ý nghĩa biểu trưng

Trang 32

CHƯƠNG 2

Ý NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG CA DAO VIỆT NAM

2.1 Bức tranh tổng quan về từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao Việt Nam

Khảo sát tư liệu Kho tàng ca dao người Việt (do Nguyễn Xuân Kính và Phan

Đăng Nhật chủ biên), trong số 11.825 lời ca được khảo sát thì có 2875 lời ca về thếgiới thực vật chiếm 24% Cụ thể có 325 loài thực vật xuất hiện trong 2785 lời ca

dao (như tùng, cúc, trúc, mai, tre, lúa, cây đa, rau cải, rau muống ) chiếm 49% với

2226 từ ngữ nói về cây và rau Trong đó có 7 loài cây có tần số xuất hiện cao nhất:

Bảng 2.1: Tỉ l tần số xuất hi n các từ chỉ thực v t trong ca dao Vi t Nam ật trong ca dao Việt Nam

Trong các loài cây, trầu và cau có tỉ lệ xuất hiện nhiều nhất Trong văn hóa

Việt Nam nói riêng và văn hóa Đông Nam Á nói chung, tục ăn trầu rất phổ biến.Văn hóa trầu cau là một nét rất điển hình của khu vực văn hóa mang bản sắc nôngnghiệp – nông thôn Trầu đi vào thế giới tâm linh của người dân Đông Nam Á, vìvậy trong đám cưới, đám tang, lễ hội, v.v đều có trầu cau Đây chính là lí do giảithích vì sao trong ca dao Việt Nam, trầu và cau lại xuất hiện với tần số cao nhấttrong thế giới thực vật

Kế đến, trúc, đa, lúa và tre là những loài cây gắn liền với xóm làng, nơi nảy

sinh và nuôi dưỡng văn hóa nông nghiệp – nông thôn Đó là những loài cây gắn

chặt với đời sống của người nông dân – chủ thể của văn hóa làng Vì vậy, sau trầu

Trang 33

và cau, bốn loại cây trên xuất hiện nhiều trong ca dao Việt Nam cũng là điều dễ

hiểu

Các từ ngữ nói về hoa xuất hiện trong 754 lời ca chiếm 26% (trong tổng số

2875 lời ca về thực vật) với 1395 đơn vị (chiếm 29%) như : hoa đào, hoa hồng, hoa

sen, hoa lan, hoa huệ, hoa gạo v.v Trong đó có các loài sau đây xuất hiện nhiều

Trong Kho tàng ca dao Việt Nam có 559 lời ca nói về quả (trái) với 942 từngữ trên tổng số 4563 từ ngữ chỉ thế giới thực vật (chiếm 21%): quả cam, quảchuối, quả lê, quả mít v.v Trong đó các loại quả sau đây xuất hiện với tần số cao:

Bảng 2.3: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ quả trong ca dao Việt Nam

Trang 34

Quả bí 32 lần 3%

Trong số các loại quả, chuối “có mặt” ở mọi miền đất nước, từ miền núiđến đồng bằng, ven biển; từ Bắc vào Nam; từ trên đồi cao, khe suối đến gócvườn, bờ ao, v.v Chuối vừa rẻ, vừa bổ, vừa thơm ngon,… Chuối lại dễ trồng,nhanh có trái Loại quả quá quen thuộc này, vì thế, đã “đi vào” ca dao với tần sốxuất hiện cao nhất

Bảng 2.4: Bảng kết quả thống kê, phân loại:

Chưa có điều kiện khảo sát tất cả những từ ngữ biểu thị thế giới thực vậttrong ca dao Việt Nam, dưới đây, trong khuôn khổ của một luận án, chúng tôi chỉtập trung xem xét biểu trưng của những từ ngữ chỉ một số loài hoa và cây

Trang 35

2.2 Biểu trưng của các từ ngữ chỉ hoa trong ca dao Việt Nam

2.2.1 Khái quát về ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ hoa trong ca dao

Ý nghĩa biểu trưng có mối quan hệ chặt chẽ với đặc điểm bản thể Từ những

đặc điểm bản thể được phản ánh vào bình diện ngôn từ “các từ ngữ trở thành các

tín hiệu thẩm mỹ có vai trò biểu đạt đời sống tinh thần của chủ thể văn hóa, phản ánh những nội dung tinh thần mà con người đã phóng chiếu, dự đoán, kí tích từ sự trải ngiệm tự nhiên và xã hội của chính mình”[45, tr 125]

Hình thức của các loài thực vật được tri nhận qua vẻ đẹp của dáng cây, màuhoa, sắc lá Thân cây cao, thẳng hay thấp bé cũng trở thành đặc điểm quan trọng cho

sự biểu trưng Những cây có dáng đẹp như tùng, trúc, thông; tượng trưng cho vẻ đẹp của người quân tử Thân mềm mại, lá dài mảnh mai như liễu là biểu trưng cho

vẻ yếu đuối, mỏng mảnh của người phụ nữ Bèo biểu trưng cho thân phận nhỏ nhoi, hèn kém của thân phận con người, Màu hồng của hoa đào biểu trưng cho vẻ đẹp mơn mởn thanh tân của thiếu nữ Sắc trắng thanh khiết và hương dịu nhẹ của hoa

nhài biểu trưng cho vẻ đẹp giản dị, duyên dáng của người thiếu nữ.

Môi trường sống của các loài thực vật cũng được tri nhận thành những biểu

trưng tương ứng Môi trường sống của sen trong ao, đầm gắn với bùn lầy lại tỏa hương thơm ngát trở thành vẻ đẹp cao quý của người bình dân Cây quế, cây hồi

sống giữa rừng tỏa hương ngát lừng ai biết ai hay biểu trưng cho vẻ đẹp của ngườibình dân vốn mộc mạc, thô tháp mà có tấm lòng thơm thảo

Tập quán sinh sống của mỗi loài cũng thể hiện nghĩa biểu trưng Lối sống

thành bụi của loài tre được tri nhận qua sự gắn bó, đoàn kết Sự tồn tại lâu đời của

cây đa cổ thụ với tán lá sum suê, rễ chìm rễ nổi, trở thành biểu trưng của sự linh

thiêng, sự chung thủy Dây trầu quấn quýt bên cây cau là biểu trưng cho sự gắn bó

chồng vợ, trở thành dấu hiệu của hôn nhân

Đặc điểm về mùi vị của các loài thực vật cũng được tri nhận để trở thành

biểu trưng Mùi thơm tinh tế của hoa nhài, hoa lí biểu trưng cho nét duyên thầm của người phụ nữ Vị cay nồng của gừng biểu trưng cho tình nghĩa vợ chồng Cam ngọt,

Trang 36

chanh chua, ớt cay biểu trưng cho đặc điểm nào đó của con người trong những hoàn

cảnh cụ thể

Đặc điểm về quá trình sinh trưởng của thực vật cũng được tri nhận để trởthành biểu trưng Dáng cây thon thả, mềm mại, sắc lá non tơ đầy sức sống làmngười ta liên tưởng đến sự tươi trẻ, xinh xắn, dịu dàng của con người Đó chính là

lúc cây lúa “đang thì con gái”, thời đẹp nhất của đời lúa, đời người Trái đào non,

đào tơ gợi vẻ đẹp thanh tân của thiếu nữ

Như vậy, giữa đặc điểm bản thể của loài thực vật và giá trị biểu trưng của

chúng có mối quan hệ với nhau.“Là biểu tượng của sự sống trong tiến hóa liên tục,

trong sự vươn lên về phía mặt trời, cây gợi nhớ toàn bộ hàm nghĩa biểu trưng của chiều thẳng đứng Mặt khác, nó cũng được dùng để biểu thị tính tuần hoàn của sự biến hóa vũ trụ; sự chết và tái sinh; đặc biệt là cây gợi ý niệm về sự tuần hoàn: cây cối hàng năm trút lá rồi lại mọc lá mới" [52, tr 125]

Trong tiếng Việt hoa có nhiều nghĩa khác nhau, trong đó nghĩa cơ bản, nghĩa gốc của nó là “cơ quan sinh sản hữu tính của cây hạt kín, thường có màu sắc và

hương thơm ” [ 104, tr.552].

Hoa có những nét chung phổ biến như:

- Hoa là hiện thân của sự sống (dấu hiệu của thực vật đến thời kỳ sinh trưởngdồi dào);

- Hoa là biểu tượng của phút giây thoáng qua (mau nở, chóng tàn);

- Hoa là thực thể thụ động(yếu đuối, phụ thuộc)

Trên cơ sở nét nghĩa chung ấy, mối biến thể kết hợp của hoa lại gợi ra những

ý nghĩa riêng, thể hiện những sắc thái trong thế giới nội tâm phong phú và tinh thầncủa con người

Cũng cần chú ý là mỗi loài hoa khi mang nghĩa biểu trưng nhiều khi không chỉ

có một nghĩa Trong quá trình sử dụng, dân gian không ngừng mở rộng đối tượngnhận thức qua các biểu trưng vì vậy chúng thường mang tính đa nghĩa

Biểu trưng hoa sen chỉ người con gái đẹp:

Trang 37

- Búp hoa sen lai láng giữa hồ, Giơ tay muốn bẻ sợ trong chùa có sư

(1, 304)

- Có sư thì mặc có sư, Giơ tay anh bẻ có hư anh đền.

(1, 304)

Nhưng cũng được dùng để biểu thị những con người cao quý nói chung:

- Hoa sen hoa khéo giữ màu,

Nắng nồng không nhạt, mưa dầu không phai

(2, 1095) 2.2.1.1 Biến thể của biểu trưng hoa trong ca dao

Mỗi biểu trưng trong ca dao lại có nhiều biến thể khác nhau Trong từng văncảnh cụ thể, cấu trúc ngôn ngữ của biểu tượng có thể biến đổi nhưng ý nghĩa biểuđạt thì không đổi, mà được bổ sung bằng các nét nghĩa phụ làm phong phú thêmcho nét nghĩa cơ bản

- Biểu trưng hoa tàn có các biến thể: hoa úa, hoa dàu nhị úa, hoa gãy cành …

- Biểu trưng hoa thơm mất nhị có các biến thể: hoa thơm mất tuyết, hoa đã hếtnhụy…

- Biểu trưng hoa - bướm có các biến thể: bướm chờ hoa, bướm say hoa, bướmlượn vườn hoa, bướm chào hoa, bướm phụ bạc hoa …

Nhờ vào các biến thể này, biểu trưng không bị khô cứng, sáo mòn mà luônđược biến đổi một cách linh hoạt Nói khác đi, ở mỗi biểu trưng vừa có những yếu

tố bất biến, vừa có những yếu tố khả biến Các yếu tố bất biến khiến biểu trưngmang giá trị của công thức Các yếu tố khả biến đem lại cho biểu trưng sự tươi mới,

đa dạng Công thức biểu trưng tồn tại được là nhờ vào sự kết hợp chặt chẽ giữa haiyếu tố trên

Giữa sự vật và ý nghĩa biểu trưng của nó luôn có một mối quan hệ nhất định.Bản thân sự vật tự nó chưa mang ý nghĩa biểu trưng Ý nghĩa này chỉ có khi conngười khoác lên cho nó dựa trên những mối liên hệ mật thiết với tên gọi, hình dáng,

Trang 38

thuộc tính, phẩm chất nào đó của sự vật Điều này cũng có nghĩa là ở một sự vật cóthể tồn tại nhiều khía cạnh, phương diện có khả năng khơi gợi những liên tưởng thơ

ca Khi xây dựng biểu trưng, nghệ nhân dân gian đã qua sự chọn lựa, sàng lọc từ sựvật một hoặc một số khả năng gợi liên tưởng nào đó, tạo ra cho sự vật những ýnghĩa mới Những nét nghĩa này được sử dụng nhiều lần, được tập thể công nhận vàtrở thành nghĩa biểu trưng Khi ấy, người ta hiểu ý nghĩa của biểu trưng theo mộtthứ phản xạ được xây dựng bằng thói quen, bằng quy ước văn hóa của cộng đồng.Muốn hiểu được đầy đủ, trọn vẹn ý nghĩa của biểu trưng, cần có vốn sống, vốn vănhóa, vì mỗi biểu trưng đều có một tầng nền lịch sử - xã hội - văn hóa riêng của nó.Như vậy, biểu trưng ca dao không phải là cái biểu đạt (CBĐ) cũng không phải

là cái được biểu đạt (CĐBĐ) Thực chất biểu trưng là mối quan hệ giữa CBĐ vàCĐBĐ Mối quan hệ này được tạo thành bằng các liên tưởng thơ ca Các liên tưởngthơ ca làm nhiệm vụ bắc cầu, gắn kết CBĐ và CĐBĐ lại với nhau thành một thểthống nhất Nền tảng của những liên tưởng này lại chính là các phạm trù tồn tại ởCBĐ và CĐBĐ

Ví dụ: - Hoa thơm -> Người tốt (phạm trù phẩm chất)

- Sông sâu -> Lòng người khó hiểu (phạm trù kích thước)

Các phạm trù này thường có gốc từ CBĐ Cơ sở, chất liệu của các liên tưởngthơ ca phần nhiều là các phạm trù ở CBĐ vì CBĐ là hữu hình, là tác nhân khơi gợinhững suy nghĩ, những xúc cảm của con người

2.2.1.2 Mối quan hệ của ý nghĩa biểu trưng hoa trong ca dao Việt Nam

Từ những bông hoa cụ thể trong đời sống cho đến những bông hoa mangnghĩa biểu trưng trong ca dao là cả một quá trình quan sát, trải nghiệm, tích lũy …

lâu dài của dân gian Để thể hiện nghĩa biểu trưng,các từ ngữ chỉ hoa được đặt

trong nhiều mối quan hệ với các đơn vị từ ngữ khác nhau nhờ đó nảy sinh các ýnghĩa biểu trưng khác nhau:

Hoa trong quan hệ với con người: hoa người cầm, hoa người lượm, hoa

-người đi đường, hoa - -người trồng, hoa - -người hái, hoa - -người bán, hoa - -người mua, hoa - người tìm hoa, hoa - người đeo hoa …

Trang 39

Hoa trong quan hệ với môi trường tự nhiên: hoa đất, hoa nơi trồng, hoa

-sương, hoa - nắng, hoa - mưa, hoa - trăng …

- Hoa trong quan hệ với vật chứa đựng: hoa - lá gói, hoa - chậu, hoa - bình…

Hoa trong quan hệ với các bộ phận khác của cây: hoa cây, hoa cội, hoa

-trái, hoa - gai…

- Hoa với những giai đoạn sinh trưởng và héo tàn: hoa búp, hoa nở, hoa đang

thì, hoa tàn, hoa hết nhụy, hoa rơi …

- Hoa với ong, bướm: hoa - ong, hoa - bướm

Cùng với các biểu trưng khác trong ca dao, nhóm biểu trưng hoa cũng manggiá trị thẩm mỹ rõ rệt Qua các đơn vị ca dao được khảo sát, chúng tôi nhận thấyrằng dù là ở kết cấu đối thoại một vế:

- Anh đừng ham bông quế, bỏ phế bông lài, Mai sau quế rụng bông lài thơm lâu

(1,118) Hoa thơm, thơm lửng thơm lừng,

Dặn con ong kia đừng chơi nhởi, Dặn con bướm đừng xôn xao

(2,1099)

Hay ở kết cấu đối thoại hai vế:

Chiều chiều bướm đậu vườn hoa,

Có cho bướm đậu hay lùa bướm đi?

- Bướm đậu ai dám lùa đi, Vườn hoa thêm đẹp, người thì có đôi.

(1,593)

Thôi thôi buông áo em ra

Để em đi bán kẻo hoa em tàn

- Hoa tàn vì bởi mẹ cha,

Khi búp không bán để tàn ai mua?

(3, 2075)

Trang 40

Nhóm biểu trưng hoa đã trở thành những tiểu đề tài để lứa đôi trò chuyện vớilối diễn đạt kín đáo, tao nhã, cô đọng, súc tích như:

- Dầu cho quá lứa em cũng chẳng hứa cànPhải duyên em đổi lòng vàng

Không phải duyên kim cải, để hoa tàn nhụy phai

có điều kiện để tham gia vào nhiều đơn vị ca dao trong quá trình sáng tác củangười bình dân xưa

Tóm lại,các từ ngữ chỉ các loài hoa trong ca dao biểu trưng cho phẩm chất caoquý, thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ Đồng thời, nó còn có giá trị giáodục rất lớn đối với thế hệ trẻ hôm nay, đừng bị dòng chảy cuộc sống hiện đại lôicuốn mà hãy tìm cách điều hòa lòng mình, thả hồn mình vào trong thiên nhiên,trong khu vườn đầy hương sắc

2.2.2 Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ một số loài hoa trong ca dao Việt Nam

Trong ca dao, hoa không chỉ xuất hiện với lớp nghĩa đen thuần túy mà cònđược tác giả dân gian khoác cho lớp nghĩa biểu trưng Hoa là cái đẹp, là người yêu,

là hiện thân cho những giá trị thiêng liêng cao đẹp, là biểu trưng cho lối sống củangười Việt Nam Đặc biệt, hoa trong ca dao biểu trưng cho vẻ đẹp của người phụ

nữ, thân phận người phụ nữ Nhìn chung, các từ ngữ chỉ tên các loài hoa trong cadao đã có sự chuyển nghĩa giống như vừa kể trên

Ngày đăng: 02/06/2014, 16:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ quả trong ca dao Việt Nam - MỘT SỐ BIỂU TRƯNG TRONG CA DAO VIỆT NAM (NHÓM CHẤT LIỆU LÀ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN)
Bảng 2.3 Tỉ lệ tần số xuất hiện các từ chỉ quả trong ca dao Việt Nam (Trang 33)
Bảng 2.4: Bảng kết quả thống kê, phân loại: - MỘT SỐ BIỂU TRƯNG TRONG CA DAO VIỆT NAM (NHÓM CHẤT LIỆU LÀ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN)
Bảng 2.4 Bảng kết quả thống kê, phân loại: (Trang 34)
Bảng 4.1: Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên trong ca dao Việt Nam - MỘT SỐ BIỂU TRƯNG TRONG CA DAO VIỆT NAM (NHÓM CHẤT LIỆU LÀ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN)
Bảng 4.1 Bảng tần số xuất hiện của các từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên trong ca dao Việt Nam (Trang 118)
Bảng 4.6: Bảng tần số xuất hiện của từ chỉ núi - MỘT SỐ BIỂU TRƯNG TRONG CA DAO VIỆT NAM (NHÓM CHẤT LIỆU LÀ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN)
Bảng 4.6 Bảng tần số xuất hiện của từ chỉ núi (Trang 133)
Hình như Kim Trọng đến nhà Kiều, Vân 280-Tl vườn hoa 1 71 Bóng đèn là bóng đèn hoa - MỘT SỐ BIỂU TRƯNG TRONG CA DAO VIỆT NAM (NHÓM CHẤT LIỆU LÀ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN)
Hình nh ư Kim Trọng đến nhà Kiều, Vân 280-Tl vườn hoa 1 71 Bóng đèn là bóng đèn hoa (Trang 153)
Hình như ong bướm dạo chơi vườn đào * 710 vườn đào 1 - MỘT SỐ BIỂU TRƯNG TRONG CA DAO VIỆT NAM (NHÓM CHẤT LIỆU LÀ THẾ GIỚI CÁC HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN)
Hình nh ư ong bướm dạo chơi vườn đào * 710 vườn đào 1 (Trang 162)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w