Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát và quản lý tốt chi phí là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý, hiệu quả nhằm tối đa hóa lợi nhuận, tăng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Người hướng dẫn: TS ĐỖ HUYỀN TRANG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 4
TRANG PHỤ BÌA 4
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao) 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ 8
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 6
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 6
Chương 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 7
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí 7
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí 8
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 10
1.1.4 Những nghiệp vụ cơ bản trong kế toán quản trị chi phí 12
1.1.5 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp 13
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ TOÁN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP 14
1.2.1 Đặc điểm sản phẩm xây lắp 14
1.2.2 Đặc điểm chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 17
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 18
1.3.1 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 18
1.3.2 Lập dự toán chi phí xây lắp 23
1.3.3 Phân tích chi phí xây lắp để ra quyết định kinh doanh 28
1.3.4 Kiểm soát biến động chi phí xây lắp 31
1.3.5 Tổ chức mô hình kế toán phục vụ kế toán quản trị chi phí xây lắp 36 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
Trang 5THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH
TRẦN TRÍ VŨ 39
2.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY TNHH TRẦN TRÍ VŨ 39
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty TNHH Trần Trí Vũ 39
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 40
2.1.3 Quy trình hoạt động xây lắp của công ty 41
2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Trần Trí Vũ 42
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY TNHH TRẦN TRÍ VŨ 46
2.2.1 Phân loại chi phí xây lắp 46
2.2.2 Lập dự toán chi phí xây lắp 48
2.2.3 Phân tích chi phí xây lắp để ra quyết định kinh doanh 54
2.2.4 Kiểm soát biến động chi phí xây lắp 65
2.2.5 Tổ chức mô hình kế toán phục vụ kế toán quản trị chi phí xây lắp 66 2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY TNHH TRẦN TRÍ VŨ 68
2.3.1 Những kết quả đạt được 68
2.3.2 Tồn tại 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
Chương 3 72
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY TNHH TRẦN TRÍ VŨ 72
3.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG YÊU CẦU PHẢI HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY TNHH TRẦN TRÍ VŨ 72
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TẠI CÔNG TY TNHH TRẦN TRÍ VŨ 72
3.2.1 Hoàn thiện phân loại chi phí xây lắp 72
3.2.2 Hoàn thiện về lập dự toán chi phí xây lắp 75
3.2.3 Hoàn thiện phân tích chi phí xây lắp để ra quyết định kinh doanh 76 3.2.4 Hoàn thiện kiểm soát biến động chi phí xây lắp 76
3.2.5 Hoàn thiện mô hình kế toán phục vụ kế toán quản trị chi phí xây lắp 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN CHUNG 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 6STT Ký hiệu Diễn giải
Trang 7Số hiệu bảng Tên bảng, biểu Trang
Bảng 2.2 Bảng giá trị sản xuất kinh doanh qua các năm
Bảng 2.4 Bảng dự toán chi phí nhân công Công trình Nhà
Bảng 2.5
Bảng dự toán chi phí máy thi công công Công trình Nhà làm việc Ban Chỉ huy quân sự xã Hoài Hảo
51
Bảng 2.7 Bảng chênh lệch giá nhân công Công trình Nhà
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp dự toán kinh phí Công trình Nhà
Bảng 2.9 Bảng tập hợp chi phí sản xuất chung Công trình
Nhà làm việc Ban Chỉ huy quân sự xã Hoài Hảo 63
Bảng 2.10 Bảng tổng hợp chi phí theo khoản mục Công trình
Nhà làm việc Ban Chỉ huy quân sự xã Hoài Hảo 74
Bảng 2.11 Bảng tổng hợp so sánh chi phí Công trình Nhà
Bảng 3.1 Bảng phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí
Trang 8Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ các chức năng cơ bản của kế toán quản trị
chi phí trong doanh nghiệp
14
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ cách xây dựng định mức chi phí sản xuất 27
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tóm tắt quy trình hoạt động xây lắp của công
ty từ khâu đấu thầu, thi công, hoàn thành công trình
42
Sơ đồ 2.4 Sơ đồ quy trình lập kế hoạch chi phí sản xuất tại
công ty
50
Sơ đồ 2.6 Sơ đồ quản lý việc hoàn thành chứng từ chi phí
của các đội thi công xây dựng
76
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị
chi phí
92
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế các doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển phải có hệ thống thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác phục vụ cho việc điều hành, quản lý và ra quyết định sản xuất kinh doanh Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra của doanh nghiệp, có ý nghĩa quan trọng cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin theo các mục đích khác nhau Tính chất và yêu cầu của thông tin kế toán được chia thành thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị, thông tin kế toán tài chính chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài đơn vị sử dụng để ra các quyết định hữu ích theo từng đối tượng còn thông tin kế toán quản trị chỉ cung cấp cho các nhà quản trị nội bộ đơn vị để ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Bởi vậy, kế toán quản trị đã thực sự trở thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản lý điều hành hoạt động kinh doanh tại đơn vị
Kế toán quản trị còn khá mới mẻ ở Việt Nam, để triển khai ứng dụng của nó trong các doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức Về mặt luật pháp, Nhà nước mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy, chế độ hướng dẫn
về hệ thống kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanh nghiệp, còn kế toán quản trị chỉ mới được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối với các doanh nghiệp trong thời gian mới đây Mặc dù vậy, kế toán quản trị vẫn được coi là một hoạt động thiết yếu trong một tổ chức để giúp lãnh đạo đánh giá, xem xét các hoạt động của tổ chức để đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả nhất Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát và quản
lý tốt chi phí là cơ sở để nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý, hiệu quả nhằm tối đa hóa lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Vì thế, việc tổ chức kế toán quản trị chi phí là rất cần thiết đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững trên thương trường
Trang 10Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất vô cùng quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc, có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính chất đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài Do đó, việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công) Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, việc xác định giá
dự thầu trong xây dựng cũng dựa vào dự toán chi phí Chính vì vậy thông tin
về chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị kiểm soát chi phí, từ đó có thể đưa ra giá dự thầu hợp lý vừa có thể thắng thầu và vừa đem lại lợi nhuận
Thực tế hiện nay tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ chỉ mới hướng vào kế toán tài chính và sản phẩm chính là báo cáo tài chính chủ yếu phục vụ cho công tác báo cáo thuế, các thông tin cung cấp cho nhà quản trị chưa kịp thời, chưa phù hợp và độ tin cậy chưa cao bởi những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, bộ máy kế toán tại Công ty chỉ có hệ thống kế toán tài chính,
chưa có hệ thống kế toán quản trị
Thứ hai, việc tổ chức phân loại và tập hợp chi phí mới chỉ hướng tới việc
tính giá thành cho từng công trình, hạng mục công trình Chưa phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí, chưa tập hợp chi phí theo định phí và biến phí
Thứ ba, việc phân tích, kiểm soát chi phí chưa được thực hiện
Để khắc phục những nguyên nhân nêu trên, Tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ”
để nghiên cứu và sẽ giúp cho công tác hạch toán kế toán, phân tích, kiểm soát nhằm cắt giảm chi phí có hiệu quả hơn góp phần cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn, kịp thời hơn và độ tin cậy cao hơn
Trang 112 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Quá trình đổi mới sâu sắc của cơ chế quản lý ở nước ta trong những năm qua đã làm thay đổi toàn diện về yêu cầu quản lý kinh tế nói chung và quản trị doanh nghiệp nói riêng Hàng loạt các chính sách mới được ban hành nhằm điều hành và kiểm soát kinh tế bằng luật pháp, các biện pháp và các công cụ quản lý kinh tế Kế toán là công cụ quản lý kinh tế, tất yếu có sự đổi mới không chỉ ở phương diện ghi chép phản ánh, lưu trữ mà quan trọng hơn
là đã thiết lập được một hệ thống thông tin nhằm cung cấp quá trình ra quyết định quản lý Trong đó kế toán quản trị chi phí là công việc không thể thiếu trong doanh nghiệp Vì vậy, các nghiên cứu trước đây đã có những tác giả nghiên cứu về công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí và hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp như:
Năm 1997, tác giả Phạm Văn Dược với “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào doanh nghiệp Việt Nam” đã trình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu này còn mang tính chất chung chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt của kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngành
Năm 2002, tác giả Phạm Thị Kim Vân nghiên cứu về “Tổ chức kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh du lịch”; Năm 2004, tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm nghiên cứu “xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt Nam”; Năm 2007, tác giả Phạm Thị Thủy nghiên cứu “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam” Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị và đề
Trang 12xuất phương hướng ứng dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm
vi nghiên cứu của các đề tài
Năm 2015, tác giả Nguyễn Anh Tuấn nghiên cứu “Kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty TNHH đồ gỗ Viễn Thông”; Tác giả Đặng Văn Hưng nghiên cứu “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Đông lạnh Quy Nhơn”; Tác giả Vũ Hoàng Yến nghiên cứu “ Kế toán quản trị chi phí tại Công
ty TNHH Nhật Minh” Các tác giả đã hệ thống hoá được cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp và đã phân tích, đánh giá được thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại doanh nghiệp Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp, trong khi xây lắp là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, là ngành đang rất cần những thông tin kế toán quản trị chi phí phục vụ cho công tác ra quyết định của nhà quản trị
Chính vì vậy, các vấn đề mà luận văn tập trung nghiên cứu là hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp mà cụ thể ở đây là tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ trên cơ sở nghiên cứu về bản chất, vai trò và nội dung của kế toán quản trị chi phí xây lắp qua đó đề tài góp phần giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp nói chung và nhà quản trị Công ty TNHH Trần Trí Vũ nói riêng nhận thức đúng hơn về cách tổ chức kế toán tại đơn vị mình
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chung: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ theo hướng hệ thống kế toán quản trị chi phí xây lắp hiện đại để có thể cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị tại đơn vị trong việc ra các quyết định kinh doanh trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt
Trang 13Để đạt được mục tiêu chung, tác giả xác định phải đạt được mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ
- Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp của Công ty TNHH Trần Trí Vũ hướng đến mục tiêu quản trị chi phí xây lắp
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về kế
toán quản trị chi phí cả về lý luận và thực tiễn tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ nhằm đạt mục tiêu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho hoạt động xây lắp của công ty Mặc dù ngoài hoạt động xây lắp còn có hoạt động tư vấn thiết kế, cắt tạo dáng và hoàn thiện đá (Chế biến đá Granite, đá bazal ) Tuy nhiên hiện nay, giá trị sản xuất hoạt động xây lắp vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, khoảng 90%
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu hoàn thiện kế toán
quản trị chi phí xây lắp tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ trong năm 2018
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện theo phương pháp:
- Phương pháp tổng hợp – phân tích: tìm hiểu, tổng hợp các giáo trình,
các tài liệu, và các công trình của các tác giả đã nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài Từ đó có cái nhìn tổng quan về lịch sử phát triển, cơ sở lý luận và thực trạng tổ chức kế toán quản trị chi phí cho hoạt động xây lắp của công ty
- Phương pháp so sánh đối chiếu: luận văn chủ yếu phỏng vấn và sử
dụng cơ sở dữ liệu thu thập được tại công ty, tác giả sẽ đối chiếu với lý thuyết
Trang 14nhằm mục đích đưa ra các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp cho Công ty TNHH Trần Trí Vũ
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Về mặt lý luận: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán
quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
- Về mặt thực tiễn: Phân tích thực trạng kế toán chi phí xây lắp tại Công
ty TNHH Trần Trí Vũ từ đó đánh giá về thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp tại công ty
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí xây lắp trong doanh nghiệp xây lắp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty TNHH Trần Trí Vũ
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí
Kế toán là một bộ phận cấu thành cơ bản trong hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vi mô, nó có vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự nghiệp, là công việc ghi chép, thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về tình hình hoạt động tài chính, có ý nghĩa cho mọi đối tượng tùy theo các lợi ích khác nhau Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, kế toán giữ một vai trò quan trọng trong bất cứ loại hình doanh nghiệp nào Chức năng của kế toán là cung cấp các thông tin và kiểm tra tài chính doanh nghiệp Thông tin của kế toán không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng ở bên ngoài như chủ đầu tư, chủ nợ, nhà nước, ngân hàng hay nhà cung cấp để tìm kiếm lợi ích từ doanh nghiệp
Theo Thư viện pháp luật, tại điều 3 Luật kế toán, Luật số: 88/2015/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2015: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.[12, tr1] Như vậy, kế toán quản trị chi phí là một bộ phận cơ bản và quan trọng của kế toán quản trị doanh nghiệp Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin
cụ thể về chi phí và là phương tiện để thực hiện kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp Nhiệm vụ quan trọng của kế toán quản trị chi phí là giúp nhà quản lý
có những giải pháp tác động lên các chi phí, kế toán quản trị chi phí phải nhận biết nắm bắt được chi phí một cách đúng đắn, xác định nguyên nhân gây ra nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá và ra các quyết định hợp lý
Trang 16Nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh tế của một tổ chức
1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Các tổ chức trong xã hội dù thuộc nhóm nào cũng đều cần thông tin kế toán để tồn tại, hoạt động và phát triển Tổ chức doanh nghiệp cần thông tin kế toán để theo dõi chi phí và kết quả kinh doanh trong từng kỳ hạch toán; Tổ chức Nhà nước cần thông tin kế toán để đánh giá mức độ cung cấp các dịch vụ phục
vụ cộng đồng; Tổ chức phi lợi nhuận cần thông tin kế toán để theo dõi hoạt động của tổ chức, xác định mức độ phục vụ xã hội Đối với bất cứ một tổ chức nào thì thông tin kế toán đều có vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với hoạt động của tổ chức đó và chính thông tin kế toán lại có ảnh hưởng quyết định đến mức
độ đạt được của các mục tiêu
Bản chất kế toán quản trị nói chung là:
tin quản lý doanh nghiệp Hệ thống là một tổng thể bao gồm nhiều bộ phận khác nhau có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, được sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm tạo thành một chỉnh thể thống nhất, có khả năng thực hiện một số chức năng hoặc mục tiêu nhất định Với ý nghĩa đó, doanh nghiệp
là một hệ thống nếu xem xét theo chức năng hoạt động Nó bao gồm: hệ thống quyết định, hệ thống tác nghiệp và hệ thống thông tin, trong đó hệ thống thông tin thực hiện mối liên hệ giữ hệ thống tác nghiệp và hệ thống quyết định, bảo đảm chúng vận hành một cách thuận tiện để đạt được các mục tiêu đề ra Bên cạnh đó hệ thống thông tin của doanh nghiệp còn có chức năng thu thập và trao đổi thông tin nội bộ với môi trường bên ngoài” [6, tr.2] “Kế toán quản trị - hệ thống con của hệ thống kế toán Kế toán quản trị là bộ phận
kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý tại doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ Khái niệm về kế toán quản trị được Hiệp hội kế
Trang 17toán Mỹ định nghĩa: là quá trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các tài liệu tài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội
bộ doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này” [6, tr.4]
Theo thông tư số 53/2006/TT- BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ tài chính: “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh; nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế” [1, tr.1]
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí phát sinh ở tất cả các giai đoạn hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy, thông tin chi phí giữ vai trò quan trọng trong
hệ thống thông tin hoạt động của doanh nghiệp Dưới góc độ kế toán tài chính,
bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá trị thành phẩm, giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên các báo cáo kế toán Dưới góc độ kế toán quản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ; Các hoạt động và các bộ phận của tổ chức phục vụ cho các quyết định quản trị sản xuất, định hướng kinh doanh, thương lượng với khách hàng, điều chỉnh tình hình sản xuất theo thị trường; Phục vụ tốt hơn quá trình kiểm soát chi phí, đảm bảo tính tiết kiệm, hiệu quả và gia tăng năng lực cạnh tranh
Trang 18Theo tác giả, kế toán chi phí vừa có trong hệ thống kế toán tài chính vừa có trong hệ thống kế toán quản trị, trong đó bộ phận kế toán chi phí trong
hệ thống kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chi phí Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậy, xét một cách tổng quát, kế toán quản trị chi phí có bản chất là một bộ phận của hoạt động quản lý
và nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trình định dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh tế của một tổ chức Với các quan điểm trên, tác giả cho rằng bản chất của kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiện việc xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp
Nhiệm vụ cụ thể của kế toán quản trị chi phí xây lắp trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm:
a Thu thập, xử lý thông tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị chi phí của đơn vị xác định theo từng thời kỳ
Đối tượng nhận thông tin kế toán quản trị chi phí là ban lãnh đạo và những người trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp thì doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về kế toán quản trị chi phí Phạm vi kế toán quản trị chi phí không bị giới hạn và được quyết định bởi nhu cầu thông tin về kế toán quản trị chi phí của doanh nghiệp trong tất cả
Trang 19các khâu của quá trình tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch, kiểm tra, điều hành, ra quyết định,… Kỳ kế toán quản trị chi phí thường là tháng, quý, năm như kỳ kế toán tài chính Theo yêu cầu của mình doanh nghiệp được quyết định kỳ kế toán quản trị chi phí khác có thể là ngày, tuần hoặc bất
kỳ thời gian nào
b Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán
Kế toán quản trị chi phí là phương tiện để ban giám đốc kiểm soát một cách có hiệu quả về chi phí nói riêng và hoạt động của doanh nghiệp nói chung Vì vậy, kế toán quản trị chi phí phải biết xây dựng các định mức kinh
tế - kỹ thuật, biết lập dự toán chi phí, tiên liệu kết quả và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã đề ra
c Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị chi phí
Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ
kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, vận dụng và chi tiết hoá các tài khoản kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị chi phí của bản thân doanh nghiệp Để phối hợp và phục vụ cho kế toán quản trị chi phí doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính
d Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của ban lãnh đạo doanh nghiệp
Đối với toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ban lãnh đạo doanh nghiệp phải lập kế hoạch và ra quyết định Để tập hợp được các dữ kiện cần thiết phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh cũng như dự kiến được phương hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp kế toán quản trị chi phải thu thập, xử lý, phân tích thông tin trong suốt quá trình từ lúc mua hàng hoá, nguyên liệu, xác định được chi phí sản xuất và tính giá thành
Trang 20cho từng loại sản phẩm, từng ngành hoạt động, từng loại dịch vụ
1.1.4 Những nghiệp vụ cơ bản trong kế toán quản trị chi phí
Kế toán quản trị chi phí sử dụng một số phương pháp kỹ thuật nghiệp
vụ riêng để cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp ngoài các phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán, đó là:
* Nhận diện, phân loại chi phí: Có thể nói nhận diện đúng phương
pháp phân loại chi phí là chìa khóa mở ra các quyết định kinh doanh Bởi chi phí là nhân tố chủ yếu tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh, nhiệm vụ kiểm soát chi phí, dự toán biến động của chi phí đối với nhà quản trị là rất quan trọng Nhận diện cách phân loại chi phí sao cho hữu ích và thích hợp là một phương pháp nghiệp vụ của kế toán quản trị, theo quan điểm chi phí được phân làm nhiều loại khác nhau nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau của
nhà quản trị
* Sử dụng các kỹ thuật phân tích để cung cấp thông tin dạng đặc thù:
Nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho nhu cầu đặc thù quản trị kế toán
sử dụng nhiều phương pháp phân tích như phương pháp so sánh, phương pháp xác định nhân tố ảnh hưởng
* Thiết kế thông tin trên báo cáo: Thông tin phải được thiết kế trên báo
cáo thể hiện dạng so sánh được và sẽ không có tác dụng nếu thiếu tiêu chuẩn
so sánh nó Vì thế trong quá trình ra quyết định, lập kế hoạch và điều hành của nhà quản trị sẽ dựa vào thông tin trên báo cáo để đánh giá và đề ra quyết định đúng đắn nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh
* Truyền đạt thông tin dưới dạng mô hình, phương trình, đồ thị: Đa số
thông tin cần thiết đều thông qua quá trình phân tích, định lượng do kế toán quản trị cung cấp nên kế toán quản trị cần phải truyền đạt ý nghĩ, nhu cầu và các kỹ thuật tính toán thông tin để nhà quản trị có thể hiểu được hết khả năng
Trang 21và hạn chế của thông tin cung cấp Nếu được, các thông tin đã định lượng cần thiết kế nên được trình bày dưới dạng mô hình, phương trình, đồ thị, hình vẽ
vì đây là cách trình bày dễ hiểu, dễ thấy và rõ nhất là mối quan hệ, xu hướng
biến động của thông tin đang nghiên cứu
1.1.5 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp nhà quản lý thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doang nghiệp phải lập cả kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp các bộ phận triển khai thành kế hoạch riêng của bộ phận, đơn vị của mình Kế toán quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch Để thực hiện có hiệu quả và có tính khả thi cao thì
bộ phận kế toán quản trị cung cấp các thông tin phải phù hợp và hợp lý Một kế hoạch phản ánh một quyết định: làm thế nào để đạt được mục tiêu cụ thể nào đó Trong quá trình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra, kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin từng công việc cụ thể, như: quản lý sản xuất tác nghiệp, quản lý tồn kho, quản lý chi phí, Sau khi đã triển khai thực hiện các kế hoạch, công việc kiểm tra, kiểm soát nhằm điều chỉnh, đánh giá và xem xét giữa kết quả thực tế với kế hoạch đã đặt ra và chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết hoặc các cơ hội cần khai thác Kế toán quản trị chi phí giúp thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý một cách rất hiệu quả thông qua việc thu thập và cung cấp các thông tin chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện các khoản chênh lệch so với kế hoạch và các nguyên nhân dẫn đến tình hình đó, giúp nhà quản lý nắm bắt hoạt động nào đem lại lợi ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Với khả năng cung cấp thông tin về chi phí và lợi nhuận
Trang 22thu được từ từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận,
kế toán quản trị chi phí sẽ rất hữu ích trong việc kiểm soát chi phí sản xuất và vòng đời của sản phẩm cũng như hiệu quả của từng hoạt động Có thể nói, kế toán quản trị chi phí đóng vai trò kiểm soát toàn bộ các khâu của hoạt động kinh doanh một cách rất cụ thể, chi tiết và thường xuyên Ngoài ra, trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường Vai trò của KTQT chi phí được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1 Các chức năng cơ bản của kế toán quản trị chi phí
trong doanh nghiệp
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ TOÁN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1 Đặc điểm sản phẩm xây lắp
Theo tác giả Võ Văn Nhị, (2008) “Xây dựng cơ bản là nghành sản xuất vật chất có vị trí hết sức quan quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia Xây dựng cơ bản là quá trình xây dựng mới, xây dựng lại, cải tạo, hiện đại
Lập kế hoạch
Tổ chức thực hiện Kiểm tra, đánh giá
Ra quyết định
Trang 23hóa, khôi phục các công trình nhà máy, xí nghiệp, đường sá, cầu cống, nhà cửa nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống của xã hội Chi phí cho đầu tư xây dựng cơ bản chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng ngân sách nhà nước cũng như ngân sách của doanh nghiệp Chi phí xây dựng cơ bản bao gồm các nội dung: xây dựng, lắp đặt, mua sắm thiết bị và chi phí kiến thiết cơ bản khác, trong đó phần xây dựng, lắp đặt do các đơn vị chuyên về thi công xây lắp (gọi chung là đơn vị xây lắp) đảm nhận thông qua hợp đồng giao nhận thầu xây lắp Sản phẩm của các đơn vị xây lắp là các công trình đã xây dựng, lắp đặt
hoàn thành có thể đưa vào sử dụng phục vụ sản xuất và đời sống” [5, tr.603]
Ngành xây lắp là ngành sản xuất độc lập có những điểm đặc thù về mặt kinh tế, tổ chức quản lý và kỹ thuật chi phối trực tiếp đến việc tổ chức công tác kế toán nói chung và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành nói riêng, được thể hiện như sau:
- Mỗi sản phẩm có yêu cầu về mặt thiết kế mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây lắp khác nhau nên sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ, không có sản phẩm nào giống sản phẩm nào
Bởi sản phẩm có tính chất đơn chiếc và được sản xuất theo đơn đặt hàng nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo các thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở những địa diểm khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất cũng khác nhau
- Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, khối lượng công trình lớn, thời gian thi công tương đối dài Chính vì thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thường không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà được xác định theo thời điểm khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ước tuỳ thuộc vào kết cấu đặc điểm kỹ thuật và khả năng về vốn của đơn vị xây lắp Việc xác định
Trang 24đúng đắn đối tượng tính giá thành sẽ góp phần to lớn trong việc quản lý sản xuất thi công và sử dụng đồng vốn đạt hiệu quả cao nhất
- Sản phẩm xây lắp được sử dụng tại chỗ, địa điểm xây lắp luôn thay đổi theo địa bàn thi công Khi chọn địa điểm xây lắp phải điều tra nghiên cứu khảo sát thật kỹ về điều kiện kinh tế, địa chất, thuỷ văn, kết hợp các yêu cầu
về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trước mắt cũng như lâu dài Sau khi đi vào sử dụng, công trình không thể di dời, cho nên nếu các công trình là nhà máy, xí nghiệp cần nghiên cứu các điều kiện về nguồn cung cấp nguyên vật liệu, nguồn lực lao động, nguồn tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm điều kiện thuận lợi khi công trình đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh sau này
Công trình xây lắp hoàn thành, người công nhân xây lắp không còn việc
gì làm ở đó nữa, phải chuyển đến thi công ở một công trình khác Sẽ phát sinh các chi phí như điều động công nhân, máy móc thi công, chi phí về xây lắp các công trình tạm thời cho công nhân và cho máy móc thi công Vì thế mà các đơn
vị xây lắp thường sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình, để giảm bớt các chi phí di dời
- Sản xuất xây lắp thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện môi trường, thiên nhiên, thời tiết và do đó việc thi công xây lắp ở một mức độ nào đó mang tính chất thời vụ Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi trường thời tiết thuận lợi Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng thi công, có thể sẽ phát sinh các khối lượng công trình phải đi làm lại và các thiệt hại phát sinh
do ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều độ cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành
Cũng giống như các ngành sản xuất khác, khi sản xuất đơn vị xây lắp cần biết các hao phí vật chất mà đơn vị đã bỏ vào quá trình sản xuất và đã kết
Trang 25tinh vào công trình là bao nhiêu và cần phải chú ý đến những đặc điểm riêng biệt của sản phẩm xây lắp, quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm xây lắp để đưa ra các biện pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho phù hợp và có tác dụng thiết thực đối với việc tổ chức sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp xây lắp
1.2.2 Đặc điểm chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Do đặc điểm sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất nên ngoài những khoản mục chi phí xây lắp thông thường còn làm phát sinh thêm một
số khoản mục chi phí như: chi phí vận chuyển máy thi công đến công trường, chi phí huy động công nhân, chi phí lán trại cho công nhân, chi phí kho nhà xưởng bảo quản vật tư trong quá trình thi công, chi phí đảm bảo giao thông đi lại thuận lợi cho con người và các phương tiện lưu thông trên đường Nên công tác hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp rất phức tạp, trong đó có những khoản chi phí chung cần phân bổ đến từng công trình, từng hạng mục cụ thể, kế toán xây lắp cần có cách thức phân bổ phù hợp để phục
vụ công tác quản lý chi phí, giá thành theo công trình
Trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí thầu phụ cũng là một loại chi phí đặc thù trong xây lắp Chi phí này thường phát sinh khi doanh nghiệp thuê ngoài thi công một phần công trình Kế toán hạch toán khoản chi phí này như một dịch vụ mua ngoài
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp như gạch ngói, cát, đá, xi măng, sắt,
bê tông đúc sẵn,… chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 60-70%) và rất đa dạng về chủng loại, kích cỡ Trong đó có một vài loại nguyên vật liệu dễ bị hư hỏng tuỳ thuộc vào thời tiết, khí hậu như: xi măng, cát, nên dễ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doang nghiệp nên cần chú ý đến biện pháp bảo quản và kiểm soát chi phí
Chi phí nhân công trực tiếp (khoảng 13 - 15%) trong tổng chi phí xây
Trang 26lắp tuỳ theo từng công trình sử dụng nhiều lao động tay nghề cao hay thấp
Chi phí sử dụng máy thi công chiếm tỷ lệ cao hay thấp tuỳ thuộc vào từng công trình thi công bằng máy hay thủ công
Tại doanh nghiệp xây lắp, với đặc thù sản phẩm mang tính đơn chiếc, giá trị lớn và thời gian thi công dài nên đặt ra yêu cầu trước khi thực hiện thi công, xây lắp cần phải có dự toán Dự toán biểu thị giá xây dựng công trình trên cơ sở thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công được xác định trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây lắp công trình Việc tập hợp chi phí thực phát sinh, đối chiếu với dự toán là một công việc thường xuyên và cần thiết của kế toán để kiểm tra chi phí phát sinh đó có phù hợp với dự toán hay không cũng như để kiểm tra tính hiệu quả trong việc quản trị chi phí
Chính vì thời gian thi công kéo dài nên việc theo dõi chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây lắp không chỉ dừng lại ở việc tập hợp và theo dõi chi phí phát sinh trong năm tài chính mà còn phải theo dõi chi phí phát sinh, giá thành và doanh thu luỹ kế qua các năm kể từ khi công trình bắt đầu khởi công cho đến thời điểm hiện tại
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.3.1 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp xây lắp
Phân loại chi phí một cách linh hoạt có ý nghĩa rất lớn đối với công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đối với nhà quản trị nhận diện được bản chất, đầy đủ, kịp thời sự biến động của chi phí sẽ là nguồn thông tin thích hợp cho quá trình ra quyết định
1.3.1.1 Phân loại chi phí xây lắp theo nội dung kinh tế
Nhằm phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí xây lắp theo nội dung kinh tế ban đầu thống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố giúp cho việc xây dựng và
Trang 27phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí Doanh nghiệp xây lắp, toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ đều được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí NVL: Xi măng, gạch, sắt, thép… và các vật liệu phụ khác
- Chi phí CCDC sản xuất: Quần áo bảo hộ, mặt nạ…
- Chi phí nhiên liệu: Xăng, dầu, mỡ…
- Chi phí nhân công: là tiền lương, các khoản trích theo lương của công nhân viên trực tiếp, gián tiếp thi công và quản lý
- Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh: nhà làm việc, máy thi công và tài sản vô hình khác…
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động xây lắp: điện thoại, điện, nước,…
- Chi phí bằng tiền khác: bao gồm các chi phí khác dùng cho hoạt động xây lắp ngoài các yếu tố chi phí đã nêu trên
1.3.1.2 Phân loại chi phí xây lắp theo cách ứng xử của chi phí
Phân loại chi phí xây lắp theo cách ứng xử của chi phí trong hoạt động xây lắp được chia thành 3 loại:
- Biến phí: là loại chi phí phụ thuộc vào khối lượng công tác xây lắp làm ra trong một đơn vị thời gian (nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công)
- Định phí: là loại chi phí không phụ thuộc vào khối lượng công tác xây lắp làm ra trong một đơn vị thời gian và mức độ khai thác sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp Tính chất ổn định, không thay đổi của các chi phí này chỉ tương thích với một khoảng năng lực sản xuất nhất định của doanh nghiệp xây lắp
- Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí biểu hiện bản chất vừa là định phí vừa
Trang 28là biến phí (như: chi phí điện thoại trong khoảng thuê bao là chi phí cố định, vượt qua khoảng đó là chi phí biến đổi, ) Phần định phí của chi phí hỗn hợp phản ảnh phần chi phí căn bản tối thiểu để duy trì và giữ cho dịch vụ đó luôn trong tình trạng sẵn sàng phục vụ hoặc phần sử dụng quá định mức Do đó, yếu tố biến phí biến thiên tỷ lệ thuận với mức dịch vụ hoặc mức sử dụng quá định mức
Các doanh nghiệp xây lắp ngoài việc lập kế hoạch, kiểm soát chi phí, điều tiết chi phí khi tổ chức thi công xây lắp các công trình nhằm mục đích hạ giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh còn phải đưa ra các quyết định lựa chọn công trình, dự án, hạng mục công việc nào hiệu quả nhất Việc lựa chọn cách thức phân loại chi phí này sẽ giúp nhà quản trị có cơ sở đưa ra quyết định tham gia xây lắp công trình dự án đó hay không và định giá bỏ thầu phù hợp với mục tiêu, chiến lược, năng lực của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
1.3.1.3 Phân loại chi phí xây lắp theo chức năng hoạt động
Chi phí xây lắp và chi phí ngoài xây lắp là hai loại chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp xây lắp, xét theo từng hoạt động có chức năng khác
nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ
a Chi phí xây lắp
Giai đoạn xây lắp là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằng sức lao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí xây lắp bao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là các chi phí về nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp hoặc sử dụng cho sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ, lao vụ của doanh nghiệp xây lắp
- Chi phí nhân công trực tiếp: là các chi phí lao động trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động xây lắp và các hoạt động sản xuất sản phẩm công
Trang 29nghiệp, cung cấp dịch vụ lao vụ trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí lao động trực tiếp thuộc hoạt động sản xuất xây lắp bao gồm cả các khoản phải trả cho người lao động thuộc thẩm quyền quản lý của doanh nghiệp và lao động thuê ngoài theo từng loại công việc
- Chi phí sản xuất chung: phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trường xây lắp bao gồm: lương nhân viên quản lý đội xây dựng, tiền ăn giữa
ca của nhân viên quản lý đội xây lắp, của công nhân xây lắp, khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ (%) quy định hiện hành trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội (thuộc biên chế của doanh nghiệp); khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan tới hoạt động của đội
+ Chi phí nhân viên phân xưởng, đội sản xuất: Là tiền lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương và các khoản khác phải trả cho nhân viên phân xưởng, đội sản xuất như: Quản lý, đội trưởng, đội phó các đội sản xuất, nhân viên
+ Chi phí vật liệu phục vụ cho phân xưởng, đội xây lắp như: văn phòng phẩm, các vật liệu khác cần thiết khi sửa chữa, bảo dưỡng phân xưởng
+ Chi phí công cụ, dụng cụ phục vụ cho phân xưởng, đội xây lắp như: quần áo bảo hộ lao động của công nhân, các dụng cụ phục vụ công nhân sản xuất như búa, cưa, que hàn
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quá trình xây lắp như nhà xưởng, máy móc, thiết bị Mỗi tài sản cố định có những đặc điểm khác nhau do vậy việc vận dụng phương pháp khấu hao cho các tài sản cũng khác nhau nhằm thu hồi vốn đầu tư
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài như tiền điện thoại, tiền điện, tiền nước phục vụ cho quá trình xây lắp
Trang 30+ Chi phí khác bằng tiền như: Tiền tiếp khách ở phân xưởng, thiệt hại trong quá trình xây lắp
Chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều yếu tố chi phí, có yếu tố mang tính chất định phí, có yếu tố mang tính chất biến phí, có yếu tố hỗn hợp mang
cả tính chất định phí và biến phí Do vậy, các nhà quản trị muốn kiểm soát được các yếu tố trong khoản mục chi phí này cần phải tách các yếu tố thành hai bộ phận định phí và biến phí
- Trong các doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất ngoài 3 khoản mục trên còn có khoản mục chi phí sử dụng máy thi công Chi phí sử dụng máy thi công: bao gồm chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng xây lắp bằng máy Máy móc thi công là loại máy trực tiếp phục vụ xây lắp công trình Đó là những máy móc chuyển động bằng động cơ hơi nước, diezen, xăng, điện, Chi phí sử dụng máy thi công gồm hai loại chi phí là chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời
b Chi phí ngoài xây lắp:
Chi phí ngoài xây lắp: là các chi phí phát sinh ngoài quá trình xây lắp liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng: Khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm giao cho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền lương nhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàn doanh nghiệp Khoản mục này bao
Trang 31gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác
Chi phí ngoài xây lắp bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố cũng thường bao gồm cả định phí và biến phí Do vậy, muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cần tách thành 2 bộ phận định phí và biến phí Chi phí ngoài xây lắp được coi
là chi phí gián tiếp nếu xét theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí Do vậy, để xác định chính xác kết quả tiêu thụ, kết quả kinh doanh của các bộ phận cần phải có các tiêu thức phân bổ chi phí phù hợp
1.3.2 Lập dự toán chi phí xây lắp
1.3.2.1 Khái quát về dự toán chi phí xây lắp
Bất cứ một công trình nào trước khi thi công cũng phải lập dự toán chi phí xây lắp Dự toán chi phí xây lắp được lập căn cứ vào hồ sơ thiết kế, hệ thống định mức, kinh nghiệm thi công của các công trình trước và khảo sát thực tế mặt bằng thi công để đưa ra các dự tính cụ thể Chúng phải được lập
cụ thể, chi tiết cho từng công việc của công trình để tổng hợp lại thành giá thành kế hoạch toàn công trình Lập dự toán chi phí xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp có ý nghĩa hết sức quan trọng:
- Thông tin dự toán chi phí có thể cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định thực hiện hợp đồng xây lắp này với mức giá bao nhiêu là phù hợp, thông qua dự toán, nhà quản trị cũng dự tính được trong tương lai cần phải làm gì, kết quả đạt được của những hoạt động đó, từ đó có những phương án cụ thể, hợp lý để điều hành quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Để lường được trước những khó khăn và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý các chỉ tiêu, đồng thời có sự điều chỉnh hợp lý các phương án đã lựa chọn nhằm đạt được hiệu quả cao nhất phải dựa trên cơ sở
Trang 32lập dự toán chi phí xây lắp cụ thể, tạo điều kiện cho nhà quản trị quản lý chặt chẽ từng khoản mục chi phí
- Đảm bảo cho nhà quản trị biết được thực chất về quá trình sản xuất của doanh nghiệp để từ đó có các điều chỉnh cho phù hợp thì dự toán làm cơ
sở cho việc phân tích tình hình biến động của chi phí, xác định rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quá trình thực hiện dự toán
Trong xây lắp cho các công trình, hạng mục công trình để lập được dự toán chi phí cần dựa vào:
- Bản vẽ thiết kế thi công
- Định mức xây dựng cơ bản phần xây dựng, lắp đặt khảo sát của Bộ xây dựng - Đơn giá xây dựng cơ bản của Tỉnh, Thành phố
- Thông tư hướng dẫn lập dự toán của Bộ xây dựng, hướng dẫn lập và quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình
- Thông tư điều chỉnh dự toán
- Thông tư hướng dẫn áp dụng Luật thuế GTGT
- Thông tư vế chế độ tiền lương, phụ cấp
- Công bố giá nguyên vật liệu xây dựng của liên Sở Tài chính – Sở Xây dựng
Trước khi đi vào lập dự toán cần phải xây dựng định mức cho từng khoản mục chi phí
Trang 33động về chi phí Đây chính là cơ sở để kiểm soát chi phí
a Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Định mức về lượng: là lượng vật liệu cần thiết để thi công 1 m3 bê tông, 1m2 tường,… có cho phép những hao hụt bình thường
Định mức về giá nguyên vật liệu: phản ánh đơn giá bình quân của 1 đơn vị nguyên vật liệu, bao gồm:
+ Giá mua vật liệu theo hóa đơn
+ Chi phi thu mua: chi phí chuyển, bốc dỡ, lưu kho …
+ Trừ các khoản giảm giá chiết khấu
b Định mức chi phí nhân công trực tiếp: Cần xác định được lượng thời
gian và giá thời gian
- Định mức lượng thời gian hao phí: là lượng thời gian bình quân cần thiết để hoàn tất công việc đối với công nhân ở mức độ lành nghề trung bình, bao gồm:
+ Thời gian cho nhu cầu sản xuất cơ bản
+Thời gian cho vận hành máy móc thiết bị
+ Thời gian ngừng nghỉ hợp lý của máy móc thiết bị, người lao động + Thời gian sữa chữa sản phẩm
- Định mức đơn giá cho một đơn vị thời gian: phản ánh chi phí nhân công trả cho một đơn vị thời gian hao phí, gồm:
+ Tiền lương cơ bản cho một đơn vị thời gian ở các bậc thợ khác nhau + Các khoản phụ cấp theo lương
+ Các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN
Định mức chi phí nhân công trực tiếp được xác định như sau:
Trang 34Định mức chi phí
Định mức về lượng thời gian hao phí
x
Định mức về giá nhân công cho một đơn vị thời gian
c Định mức chi phí sử dụng máy thi công
Định mức về giá chi phí máy theo giờ hay theo khối lượng thực hiện một công việc được xác định căn cứ vào:
- Đơn giá ca máy theo định mức nhà nước
- Khấu hao máy trong kỳ của doanh nghiệp
- Định mức sử dụng nhiên liệu theo thiết kế máy của nhà sản xuất kết hợp với kiểm tra bấm giờ tiêu hao nhiên liệu thực tế của đơn vị
Về thời gian để thi công một hạng mục công việc được xác định như sau:
- Căn cứ vào định mức thi công công việc của nhà nước
- Căn cứ vào điểm dừng kỹ thuật lập tiến độ thi công cho từng hạng mục công việc trong bản tiến độ chung của dự án
chung cho phù hợp.( theo sơ đồ1.2)
Trang 35Sơ đồ 1.2: Sơ đồ cách xây dựng định mức chi phí xây lắp
1.3.2.3 Dự toán chi phí xây lắp
a Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: nhằm dự kiến số lượng nguyên vật liệu cần cho quá trình sản xuất thi công
+
Lượng nguyên vật liệu tồn cuối kỳ
-
Lượng nguyên vật liệu tồn đầu
c Chi phí sử dụng máy thi công: là dự kiến số ca máy cần thiết cho quá trình thi công từng nội dung công việc, từng công trình, hạng mục công trình
Trang 36d Chi phí sản xuất chung: nhằm tính toán biến phí sản xuất chung và định phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất
chung dự toán =
Biến phí sản xuất chung dự toán +
Định phí sản xuất chung dự toán
1.3.3 Phân tích chi phí xây lắp để ra quyết định kinh doanh
1.3.3.1 Phân tích điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm sản lương tiêu thụ mà tại đó tổng doanh thu bằng tổng chi phí, nghĩa là doanh nghiệp không lỗ, không lãi
Không giống như sản phẩm của một số nghành kinh doanh khác, mỗi sản phẩm xây lắp đều có giá dự toán riêng, sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá trúng thầu khi công bố vì vậy điểm hòa vốn của sản phẩm xây lắp chính là tổng chi phí xây lắp bằng với giá trúng thầu
Trong ngành xây dựng cơ bản, giá thành là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ảnh mọi mặt tổ chức, quản lý quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị Không ngừng phấn đấu giảm chi phí hạ giá thành là nhiệm vụ hàng đầu của các công ty xây lắp Hạ giá thành là điều kiện để các DNXL mở rộng sản xuát kinh doanh, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trong thời kỳ hội nhập
Trên cơ sở biện pháp tổ chức thi công phù hợp, công ty quyết định hạ giá thành kế hoạch xây lắp, việc hạ giá thành kế hoạch này cũng chính là cơ
sở để công ty kiểm soát các chi phí xây lắp đầu vào trong quá trình thi công
Ta có thể tính giá thành kế hoạch bằng công thức sau:
Giá thành kế
Giá thành dự toán đã trúng thầu
- Mức hạ giá thành
kế hoạch
Trang 371.3.3.2 Phân tích thông tin thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn
Quá trình ra quyết định ngắn hạn của doanh nghiệp là việc lựa chọn nhiều phương án khác nhau, trong mỗi phương án được xem xét bao gồm rất nhiều thông tin của kế toán, nhất là thông tin về các chi phí đầu tư nhằm đạt được các lợi ích kinh tế
Để đảm bảo cho việc ra quyết định ngắn hạn đúng đắn, nhà quản trị cần phải có công cụ thích hợp giúp họ phân biệt được thông tin cần thiết và thông tin không cần thiết Thông tin không cần thiết cần được loại bỏ ra khỏi cơ cấu thông tin cần được xem xét và chỉ có những thông tin cần thiết mới thích hợp với cơ cấu thông tin cần xem xét để ra quyết định kinh doanh
Quyết định ngắn hạn là sự lựa chọn từ các phương án Xét về thời gian quyết định ngắn hạn chỉ liên quan đến một thời kỳ hoặc ngắn hơn, nghĩa là kết quả của nó được thể hiện trong một kỳ kế toán Xét về đầu tư vốn, thì quyết định ngắn hạn không đòi hỏi đầu tư vốn lớn và mục tiêu ngắn hạn là nhằm phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu lâu dài của quyết định dài hạn Thông tin thích hợp là những thông tin phải đạt hai tiêu chuẩn sau đây: + Thông tin đó phải liên quan đến tương lai của doanh nghiệp
+ Phương pháp đó phải có sự khác biệt giữa các phương pháp đang xem xét và lựa chọn để ra quyết định ngắn hạn
Quá trình phân tích các thông tin thích hợp đối với việc ra quyết định gồm các bước sau:
- Tập hợp tất cả các thông tin về các khoản thu và chi có liên quan đến từng phương án đầu tư được xem xét
- Loại bỏ các khoản chi phí chìm ở các phương án đầu tư đang xem xét
- Loại bỏ các khoản thu và các khoản chi giống nhau ở các phương án đầu
tư đang xem xét
- Những thông tin còn lại sau khi loại bỏ ở bước 2, bước 3 là những
Trang 38thông tin thích hợp cho việc lựa chọn quyết định
Vấn đề quan trọng là các thông tin thích hợp trong một tình huống quyết định này không nhất thiết sẽ thích hợp trong tình huống khác Nhận định này xuất phát từ những quan điểm những mục đích khác nhau cần có những thông tin khác nhau Đối với mục đích này thì nhóm thông tin này thích hợp, nhưng đối với mục đích kia thì thông tin khác
Các thông tin không thích hợp với việc ra quyết định ngắn hạn
+ Chi phí chìm (chi phí ẩn, chi phí lặn) không phải là thông tin thích hợp đối với việc ra quyết định ngắn hạn Chi phí chìm là loại chi phí đã chi ra trong quá khứ, không thể thay đổi được dù chọn phương án nào Chúng không phải là chi phí thích hợp vì chúng không có tính chênh lệch
+ Các thu nhập và chi phí như nhau không phải là thông tin thích hợp đối với việc ra quyết định ngắn hạn Các khoản thu nhập và chi phí như nhau không tạo ra sự chênh lệch nên không cần quan tâm xem xét đến khi lựa chọn phương án Chúng được coi là thông tin không thích hợp cho việc
ra quyết định
- Sự cần thiết phải nhận diện thông tin thích hợp trong việc ra quyết định ngắn hạn Việc tách riêng những thông tin thích hợp và thông tin không tích hợp trong quá trình ra quyết định là do các lý do sau:
+ Trong điều kiện hạn chế về thông tin thì việc phân tích các thông tin thích hợp là rất cần thiết để ra quyết định
+Việc sử dụng lẫn lộn cả các thông tin thích hợp và không thích hợp sẽ làm rắc rối, phức tạp thêm vấn đề, làm giảm sự chú ý của các nhà quản trị vào các vấn đề chính cần giải quyết Mặt khác, nếu sử dụng cả thông tin không thích hợp với chất lượng thông tin không cao sẽ dẫn đến việc ra các quyết định sai lầm Do vậy tốt nhất là phải tách riêng thông tin không thích hợp, chỉ phân tích những thông tin thích hợp nhằm thấy được ảnh hưởng của thông tin đối với
Trang 39vấn đề cần đưa ra quyết định
Tóm lại trong nền kinh tế thị trường, khi mà yếu tố tốc độ là một yếu tố quan trọng đối với sự thành bại của doanh nghiệp thì việc đề ra các quyết định nhanh chóng và chính xác có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh lợi của doanh nghiệp Do đó phân tích thông tin thích hợp là một công cụ tốt nhất nhằm hướng dẫn các nhà quản trị thực hiện chức năng quyết định
1.3.4 Kiểm soát biến động chi phí xây lắp
Q0, G0, TH0 được ký hiệu lần lượt là các nhân tố khối lượng, giá mua, định mức nguyên vật liệu trực tiếp thi công theo dự toán công trình, hạng mục công trình
ΔQ, ΔG, ΔTH được ký hiệu lần lượt là biến động của các nhân tố khối lượng xây lắp, giá mua nguyên vật liệu, định mức nguyên vật liệu
ΔCP được ký hiệu là biến động của toàn bộ chi phí nguyên vật liệu thi công công trình, hạng mục công trình
1.3.4.1 Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Biến động của chi phí NVL trực tiếp có thể kiểm soát gắn liền với các nhân tố giá và lượng có liên quan
- Biến động nhân tố giá (ký hiệu G): Là sự chênh lệch giữa giá NVL
trực tiếp thực tế với giá NVL trực tiếp theo dự toán để xây lắp một khối lượng công việc nhất định Nếu tính trên một loại vật tư thì nó phản ánh giá cả của một loại nguyên vật liệu để thi công một khối lượng công việc đã thay đổi như thế nào so với dự toán Ảnh hưởng về giá có thể là âm hay dương Nếu ảnh hưởng là âm (ΔG <0) chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá vật liệu
dự toán đặt ra Tình hình này được đánh giá là tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng là dương (ΔG >0) thể hiện giá vật liệu tăng so với
dự toán sẽ làm tăng tổng chi phí thi công của công trình Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân biến động của giá nguyên vật
Trang 40liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng NVL, thuế, các phương pháp tính giá NVL,
Ảnh hưởng của nhân tố giá đến chi phí sản xuất của công trình, hạng
mục công trình có công thức như sau: ΔG = (G 1 – G 0 )Q 1 TH 1
- Biến động nhân tố lượng (ký hiệu Q): Là chênh lệch giữa lượng NVL
trực tiếp thực tế với lượng NVL trực tiếp theo dự toán để thi công một khối lượng công việc nhất định Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí NVL trực tiếp ra sao Nếu biến động về lượng là kết quả dương (ΔQ>0) thể hiện lượng vật liệu sử dụng thực tế nhiều hơn so với dự toán tuy nhiên có trường hợp nhân tố lượng tăng là
do trong quá trình thi công công trình đã có sự thay đổi thiết kế so với ban đầu làm cho khối lượng thi công tăng điều này là hoàn toàn hợp lý, còn nếu kết quả
là âm (ΔQ<0) thể hiện lượng vật liệu sử dụng tiết kiệm so với dự toán Nhân tố lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân như trách nhiệm của đội thi công
Đó có thể là do khâu tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân trong sản xuất ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt dẫn đến công trình bị hư hỏng phải phá đi làm lại
Ta có công thức ảnh hưởng của nhân tố khối lượng đến chi phí sản xuất
của công trình, hạng mục công trình như sau: ΔQ = (Q 1 – Q 0 )G 0 TH 0
- Biến động nhân tố định mức (ký hiệu TH): là sự chênh lệch giữa định
mức nguyên vật liệu lập dự toán và định mức nguyên vật liệu thi công thực tế dùng để hoàn thành một khối lượng công việc Nếu biến động nhân tố định mức mà dương (ΔTH>0) điều đó chứng tỏ rằng định mức tiêu hao nguyên vật liệu thực tế thi công cao hơn so với dự toán điều này chứng tỏ rằng định mức tiêu hao nguyên vật liệu do công ty lập ra là chưa hợp lý, không sát với quá trình thực tế thi công, hay ngược lại nếu biến động nhân tố định mức là số âm (ΔTH<0) điều đó chứng tỏ rằng trong quá trình thi công công ty đã tiết kiệm