Việc tìm hiểu các thành tựu về nhận thức luận, về tư duy logic trong lịch sử tư tưởng nhân loại để từ đó rút ra giá trị, hạt nhân hợp lý, góp phần phát triển, mài sắc tư duy của con ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính
Luận văn có sự kế thừa từ các công trình nghiên cứu đi trước, với những trích dẫn và tài liệu trong giới hạn cho phép Các tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố dưới mọi hình thức
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2020
Tác giả
PHẠM YẾN PHƯƠNG
Trang 4MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 8
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 9
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9
7 Kết cấu của đề tài 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ – XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC CỦA MẶC GIA 10
1.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI TRUNG HOA THỜI KỲ XUÂN THU – CHIẾN QUÓC VỚI SỰ HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC CỦA MẶC GIA 10
1.1.1 Điều kiện lịch sử – xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc với sự hình thành nhận thức luận và logic học của Mặc gia 11
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc với sự hình thành nhận thức luận và logic học của Mặc gia 22
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC CỦA MẶC GIA 36
1.2.1 Tiền đề về khoa học, văn hóa Trung Hoa thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc với sự hình thành nhận thức luận và logic học của Mặc gia 37
1.2.2 Sự tác động, ảnh hưởng của các trường phái triết học khác với sự hình thành nhận thức luận và logic học của Mặc gia 46
Kết luận chương 1 60
Trang 5Chương 2 NỘI DUNG, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG NHẬN
THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC CỦA MẶC GIA 62
2.1 NỘI DUNG NHẬN THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC CỦA MẶC GIA 62
2.1.1 Cuộc đời, sự nghiệp và nội dung nhận thức luận của Mặc Tử 63
2.1.2 Các đại biểu, kinh sách và nội dung nhận thức luận, logic học của phái Hậu Mặc 85
2.2 NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG VỀ NHẬN THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC CỦA MẶC GIA 111
2.2.1 Giá trị về nhận thức luận và logic học của Mặc gia 111
2.2.2 Hạn chế về nhận thức luận và logic học của Mặc gia 124
Kết luận chương 2 131
KẾT LUẬN CHUNG 133
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự phát triển của con người, cùng với hoạt động thực tiễn thì vấn đề nhận thức, vấn đề tư duy logic, khoa học có một vai trò hết sức quan trọng Tư duy khoa học, tư duy lý luận không chỉ giúp con người nhận thức được quy luật thế giới mà còn biết vận dụng, cải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân mình Điều đó đã được các nhà tư tưởng nói chung và các nhà kinh điển nói riêng không ít lần bàn đến, như Ph.Ăngghen khẳng định:
“Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận, mà muốn có tư duy lý luận thì không có con đường nào khác hơn là phải nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 1994, tr.489)
Vì thế, trong một hệ thống triết học, bên cạnh vấn đề thế giới quan, nhân sinh quan, chính trị – xã hội thì vấn đề nhận thức luận là một trong những vấn đề, những yếu tố không thể không nhắc đến Thấm nhuần tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của tư duy lý luận, tư duy khoa học, trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, 2002, tr.233) Trên tinh thần đó trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh:
“Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.201)
Trang 7Đó luôn luôn là nội dung được khẳng định trên mỗi bước đường phát triển của Việt Nam Ngày nay khi mà tình hình thế giới và khu vực luôn có những diễn biến phức tạp; khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra một cách nhanh chóng với nhưng nội dung và hình thức mới mẻ, khi chúng ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế,…đem lại rất nhiều thời cơ và cũng không ít thách thức, thì việc phát triển tư duy khoa học càng có vai trò cực kỳ quan trọng Bởi trong bối cảnh ấy nếu chậm trễ sẽ bỏ lỡ thời cơ, còn ngược lại nóng vội, chủ quan, sao chép một cách cứng nhắc những thành tựu bên ngoài cũng sẽ dẫn đến thất bại Chính vì vậy, đổi mới phát triển tư duy lý luận, tư duy khoa học là một trong những nhiệm vụ cấp thiết, giúp chúng ta có sự nhạy bén, nhanh chóng tiếp thu một cách năng động, sáng tạo những vấn đề lý luận mới, vận dụng phù hợp với điều kiện nước ta, đạt đến hiệu quả trong nhận thức khoa học, tổ chức quản lý xã hội Nói đến tư duy không phải chỉ đơn thuần là giúp cho nhận thức khoa học thôi mà bên cạnh đó nó còn là giúp cho con người linh hoạt trong cách ứng xử, trong cách xử lý tất cả vấn đề trong cuộc sống Thậm chí trong việc cải tạo, xây dựng và phát triển con người thì sự vững vàng, sắc bén của tư duy ngày càng trở nên quan trọng Rèn luyện tư duy lý luận, vận dụng để nhận thức và cải tạo hiện thực, góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, làm cho “dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.70) không phải là vấn đề của cá nhân mà là của cả một dân tộc Việc tìm hiểu các thành tựu về nhận thức luận, về tư duy logic trong lịch sử tư tưởng nhân loại để từ đó rút
ra giá trị, hạt nhân hợp lý, góp phần phát triển, mài sắc tư duy của con người Việt Nam trong thời đại ngày nay, có đủ sức mạnh đảm đương những nhiệm
vụ trong điều kiện hết sức phức tạp cả về xã hội, khoa học và giải quyết các mối quan hệ,…cũng là một vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay
Trang 8Tư duy khoa học, nhận thức khoa học là một trong những vấn đề trung tâm mà ngay từ khi triết học ra đời, các triết gia đã cố gắng đi tìm riêng cho bản thân một con đường, một phương pháp để nhận thức và giải thích thế giới Họ đã tạo nên những “vòng tròn” trong con đường phát triển của nhận thức mà do những điều kiện khách quan cũng như hạn chế về lịch sử mà ở mỗi giai đoạn, mỗi thời đại khác nhau mà họ đưa ra cách giải quyết khác nhau và tựu chung lại tạo nên bức tranh tư tưởng sinh động trong toàn bộ lịch sử triết học Trong lịch sử triết học Trung Quốc thời kỳ phát triển rực
rỡ nhất cũng là lúc xã hội bước vào thời Xuân thu – Chiến quốc, thời kỳ tan
rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên, được mệnh danh là thời kỳ “Bách gia chư tử” Chính thời kỳ quá độ đặc biệt này
đã nảy sinh ra những vấn đề xã hội và triết học cấp bách buộc các nhà tư tưởng phải tập trung lý giải như vấn đề nghiên cứu về con người và bản tính con người, vấn đề chính trị – xã hội, vấn đề về mặt thế giới quan, nhân sinh quan,…thể hiện trong tư tưởng, học thuyết của các trường phái triết học như Nho gia, Đạo gia, Danh gia, Âm dương gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia, Binh gia, Tiểu thuyết gia…Cùng với những vấn
đề hết sức phong phú nhưng không kém phần sâu sắc mà các trường phái, các nhà tư tưởng triết học trong “Bách gia chư tử” thời kỳ này đề cập tới như thế giới quan, nhân sinh quan, luân lý đạo đức, chính trị – xã hội thì một trong những vấn đề đặc sắc, nổi bật được Mặc gia đi sâu nghiên cứu,
đó là vấn đề nhận thức luận và logic học Nếu bỏ qua những hạn chế do điều kiện lịch sử và lập trường, quan điểm giai cấp quy định, trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc, phê phán những tư tưởng trước đó của nhân loại, thì vấn đề nhận thức luận và logic học vẫn còn nhiều yếu tố, nhiều giá trị bổ ích giúp chúng ta học tập, kế thừa, phát triển tư duy lý luận và nhận thức khoa học của mình Chính vì vậy tác giả đã chọn “Nhận thức luận và logic học của Mặc gia” làm vấn đề nghiên cứu
Trang 92 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng về nhận thức luận và logic học trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại được thể hiện một cách khá nổi bật và hệ thống ở trường phái triết học Mặc gia Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về đề tài này
đã được công bố theo các chủ đề như sau:
Hướng nghiên cứu thứ nhất đó là những công trình nghiên cứu về điều
kiện lịch sử – xã hội và tiền đề hình thành triết học Trung Quốc nói chung, nhận thức luận và logic học Mặc gia nói riêng Trước hết về hướng nghiên
cứu này có thể kể đến công trình Lịch sử thế giới cổ đại (Tập 1) của Chiêm
Tế, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000 Ở tập 1 này tác giả đã có sự khái quát về lịch sử hình thành các quốc gia, các nền văn minh lớn ở phương Đông thời kỳ cổ đại như Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, gồm 15 chương, trong đó Trung Quốc nằm ở chương thứ XIII đến XV Tác giả đã trình bày lịch sử Trung Hoa theo từng thời kỳ gắn với những điều kiện về
tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…và cùng với đó là sự hưng vong của các triều đại phong kiến và những đại diện tiêu biểu của thời kỳ
đó Cũng với nội dung tương tự thì công trình Lịch sử Trung Quốc của
Nguyễn Gia Phu và Nguyễn Huy Quý, Nxb Giáo dục Việt Nam, năm 2009 Nội dung được chia từng phần theo dòng chảy lịch sử cổ đại, trung đại, cận đại Trong mỗi phần lại được chia ra từng chương cụ thể như phần một là Trung Quốc trong thời cổ đại, được chia làm 4 chương với những nội dung
về xã hội nguyên thủy, các vương triều, tình hình kinh tế – xã hội, văn hóa Trong mỗi chương lại được chia ra các mục cụ thể hơn nữa Có thể nói đây
là công trình không chỉ khái quát được bức tranh chung về lịch sử Trung Quốc mà khi xét về từng thời kỳ vẫn thấy được những mảnh ghép nhỏ chi tiết trong đó một cách rõ ràng Đây là hai công trình có giá trị khái quát cao
về những điều kiện, tiền đề lịch sử cụ thể cho sự hình thành nên nội dung tư tưởng của các trường phái triết học Trung Quốc
Trang 10Cũng theo hướng nghiên cứu này có thể kể đến Lịch sử triết học
phương Đông của Doãn Chính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
năm 2015 Công trình này bao gồm 3 phần: Lịch sử triết học Ấn Độ, Lịch sử triết học Trung Quốc và Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam Mỗi phần đều được chia thành các chương theo dòng thời gian từ cổ đại, trung đại đến cận đại Trong đó lịch sử triết học Trung Quốc, thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc nằm ở chương đầu tiên, đã có sự trình bày khái quát về điều kiện lịch sử – xã hội cũng như quá trình hình thành, các giai đoạn phát triển và phân tích khá sâu sắc về nội dung tư tưởng của từng trường phái triết học Trung Quốc cổ đại trên các mặt bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức nhân sinh, chính trị –
xã hội, Trong đó có Mặc Tử và phái Hậu Mặc Đây là một trong những công trình khoa học rất có giá trị để tìm hiểu và nghiên cứu về lịch sử triết học phương Đông nói chung và lịch sử triết học Trung Quốc nói riêng Tuy nhiên ở công trình này sự trình bày về điều kiện lịch sử – xã hội là chung nhất của cả một thời kỳ, cho nên để có thể nghiên cứu riêng về nhận thức luận và logic học của Mặc gia thì từ bối cảnh chung đó người nghiên cứu cần
có sự xem xét lịch sử – cụ thể hơn để thấy rõ mối liên hệ
Tương tự như vậy thì ở hướng nghiên cứu này còn có các công trình
như: Đại cương lịch sử thế giới cổ đại của Trịnh Nhu và Nguyễn Gia Phu, Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, năm 1990; Đại cương
lịch sử triết học phương Đông cổ đại của Doãn Chính, Vũ Tình, Trương
Văn Chung & Nguyễn Thế Nghĩa, Nxb Đại học và giáo dục chuyên
nghiệp, Hà Nội, năm 1992; Lịch sử văn minh Trung Hoa của Will Durrant
(Nguyễn Hiến Lê dịch), Nxb Văn hóa thông tin Thành phố Hồ Chí Minh,
năm 2002; Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc của Doãn Chính,
Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa & Vũ Tình, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, năm 2004; Triết lý phương Đông – Giá trị và bài học lịch sử của Doãn Chính (chủ biên) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2005, Sử
Trang 11Trung Quốc (I) của Nguyễn Hiến Lê, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2017;
Hướng nghiên cứu thứ hai đó là những công trình nghiên cứu về nội
dung nhận thức luận và logic học trong triết học Trung Quốc nói chung và Mặc gia nói riêng, cùng với những đánh giá về giá trị, hạn chế của nó Một
tài liệu nghiên cứu có giá trị lớn và không thể thiếu ở đề tài này là Mặc Tử
của Ngô Tất Tố, Nxb Mai Lĩnh, năm 1942 Trong công trình này tác giả đã
có sự khái quát không chỉ nội dung tư tưởng triết học Mặc Tử mà còn cả phái Hậu Mặc gồm 8 chương với nội dung theo từng chương như: khái quát
về tiểu sử, nhân cách, những nội dung triết học của Mặc Tử về luân lý học, tôn giáo, chính trị, những nội dung triết học của phái Hậu Mặc, lý giải vì sao Mặc học diệt vong Được sắp xếp theo một trình tự logic với đầy đủ những nội dung tư tưởng của Mặc gia, cùng với đó tác giả cũng đã trích dẫn những đoạn hán tự và phiên âm, dịch nghĩa tạo điều kiện để các nghiên cứu sau thuận lợi hơn, là nguồn tài liệu vô cùng quý báu Tài liệu đã có sự trình bày, khái quát những phạm trù, khái niệm trong tư tưởng về nhận thức luận và logic học của Mặc gia, tuy nhiên vẫn chưa có sự đi sâu, phân tích chi tiết nội hàm bên trong nó cũng như làm rõ mối liên hệ giữa chúng
Về hướng nghiên cứu này còn có công trình Đại cương triết học
Trung Quốc (1), của Giản Chi & Nguyễn Hiến Lê, Nxb Thanh niên, Thành
phố Hồ Chí Minh, năm 2004 Trong công trình này, tác giả đã có sự trình bày khái quát về sự phát triển của triết học Trung Hoa, sau đó là trình bày những nội dung trong lịch sử triết học Trung Hoa theo từng chủ đề như vũ trụ luận, bản căn luận, đại hóa luận, pháp tượng luận, và nội dung về nhận thức luận và logic học của Mặc gia nằm ở thiên Tri luận Vì nội dung chia theo từng chủ đề mà mỗi chủ đề lại có tư tưởng của nhiều trường phái, nhiều đại biểu khác nhau có phần chưa mạch lạc nên gây khó khăn trong việc phân
tách Cùng hướng nghiên cứu này, có công trình Trung Quốc triết học sử đại
Trang 12cương của Hồ Thích, Nxb Khai Trí, năm 1969, được Nxb Văn hóa – Thông
tin tái bản năm 2004 (Huỳnh Minh Đức dịch) Trong tác phẩm này, tác giả
đã dành thiên VI và thiên VIII của cuốn sách để trình bày, phân tích về nội dung Phép tam biểu của Mặc Tử và Tri thức luận của phái Biệt Mặc
Tiếp đến là tác phẩm Lịch sử logic học thời Tiên Tần cũng của Hồ
Thích (Cao Tự Thanh dịch), Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm
2004, đây là một tài liệu trình bày khái quát được nội dung về logic học của các trường phái triết học trong lịch sử triết học Trung Quốc thời Tiên Tần, được chia theo từng thiên, gồm 4 thiên và trong mỗi thiên gồm các chương với nội dung từng thiên như: Bối cảnh lịch sử, Logic của Khổng Tử, Mặc Địch và logic của học phái ấy, Tiến hóa và logic (trong đó có logic của Trang Tử, Tuân Tử, logic của pháp trị, ) Về phần logic học của Mặc gia được trình bày theo chủ đề từng chương như: phương pháp chủ nghĩa ứng dụng, tam biểu pháp, Mặc biện, tri thức, lý do cách thức và phép diễn dịch, phép quy nạp Tuy nhiên trong tài liệu này lại gom hai đại biểu là Huệ Thi và Công Tôn Long vào trong phái Biệt Mặc Nội dung về logic học của Mặc gia trình bày vẫn chưa có tính hệ thống cao
Đặc biệt nghiên cứu về nội dung nhận thức luận và logic học của triết học Trung Quốc nói chung, của Mặc gia nói riêng còn có công trình được xuất
bản mới nhất là Lịch sử triết học Trung Quốc gồm 2 tập của Phùng Hữu Lan
(Lê Anh Minh dịch), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, năm 2013 Tác phẩm này
là một công trình nghiên cứu lớn, trong đó nội dung được trình bày một cách
hệ thống và khoa học về các trường phái triết học Trung Quốc theo từng
chương và từng thời kỳ từ Tập 1: Thời đại tử học gồm 16 chương, đến Tập 2:
Thời đại kinh học Nội dung về Mặc gia được trình bày trong chương 5 và 11
của tập 1 Nếu như ở Đại cương triết học sử Trung Quốc của Phùng Hữu Lan
(Nguyễn Văn Dương dịch) Nxb Thanh niên, Trung tâm nghiên cứu quốc học, năm 1999, đã trình bày lịch sử triết học Trung Quốc không theo những trường
Trang 13phái, từng “gia”, mà trình bày theo từng đại biểu, sắp xếp thứ tự theo từng giai đoạn phát triển của lịch sử Thế nhưng những nội dung tư tưởng của Mặc gia thì ở công trình này được bàn đến rất ít hoặc chủ yếu là trích dẫn nội dung kinh sách của các trường phái chứ chưa có sự khái quát, phân tích sâu nội
dung, thì đến Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan (Lê Anh Minh
dịch) xuất bản năm 2013 đã có sự sắp xếp cũng như nội dung rõ ràng, chi tiết hơn, có phân tích thêm bên cạnh những trích dẫn trong kinh sách Sự trích dẫn những đoạn cổ văn từ tiếng Trung và dịch sang Hán Việt trong cả hai công trình này là nguồn tư liệu tham khảo rất quy báu Tuy nhiên xem xét nội dung
về nhận thức luận và logic học thì ở cả hai công trình này còn trình bày quá ít
và không mấy nổi bật so với những nội dung khác
Ngoài ra ở hướng nghiên cứu về nội dung nhận thức luận và logic học
trong triết học Trung Quốc còn có các công trình có giá trị khác như: Tinh
thần triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan (Lê Anh Minh dịch), Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2013; Lược sử triết học Trung Quốc của Phùng
Hữu Lan (Lê Anh Minh dịch), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2013;
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ nội dung tư tưởng về nhận thức luận, logic học trong triết học của Mặc gia và rút ra giá trị cũng như hạn chế của tư tưởng ấy
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là: Trình bày những điều kiện lịch sử – xã hội và tiền đề khoa
học, văn hóa hình thành tư tưởng về nhận thức luận và logic học trong triết học của Mặc gia
Hai là: Trình bày những nội dung cơ bản về nhận thức luận và logic
học của Mặc gia Từ đó đánh giá những giá trị và hạn chế trong nhận thức luận và logic học của Mặc gia
Trang 144 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Về cơ sở lý luận: Để thực hiện nhiệm vụ, mục đích của đề tài đặt ra,
tác giả đã dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
Về phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng tổng hợp các phương
pháp cụ thể như phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, quy nạp và diễn dịch, đối chiếu và so sánh, để nghiên cứu và trình bày luận văn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề nhận thức luận và logic học của Mặc gia Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào một trong những trường phái lớn của triết học Trung Quốc cổ đại là Mặc gia, với
tư tưởng chủ yếu là về nhận thức luận và logic học
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở phân tích về điều kiện lịch sử – xã hội,
tiền đề hình thành, nội dung góp phần làm sáng tỏ tư tưởng về nhận thức luận và logic học trong triết học Trung Quốc cổ đại Đề tài góp phần hệ thống hóa nội dung tư tưởng về nhận thức luận và logic học trong triết học Trung Quốc cổ đại thông qua trường phái nổi bật về tư tưởng này là Mặc gia
Về ý nghĩa thực tiễn: Những nghiên cứu về nhận thức luận và logic
học cùng với việc rút ra những giá trị hạn chế của một trường phái triết học trong lịch sử có ý nghĩa góp phần bổ sung, hoàn thiện và phát triển tư duy lý luận cho con người Việt Nam hiện nay Ngoài ra, đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu triết học Trung Quốc nói riêng và triết học phương Đông nói chung về vấn đề nhận thức luận và logic học
7 Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Trong đó phần nội dung được kết cấu gồm 2 chương và 4 tiết
Trang 15Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC
CỦA MẶC GIA
1.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
NHẬN THỨC LUẬN VÀ LOGIC HỌC CỦA MẶC GIA
Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, nội dung tư tưởng của Mặc gia nói chung và tính chất đặc sắc của vấn đề nhận thức luận, logic học của Mặc gia nói riêng không phải được hình thành một cách
tự phát, tư biện hay là cái được nảy sinh từ thế giới bên kia nào đó, theo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, xét đến cùng, nó chính là
sự phản ánh và chịu sự quyết định của đặc điểm, điều kiện lịch sử – xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc Đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói:
“Chính con người khi phát triển sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình, không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quy định ý thức” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 1994, tập 20, tr.38)
Trong đó triết học là kết tinh tinh túy nhất về mặt tinh thần và mặt tư duy của một thời đại, một dân tộc, như C.Mác đã nói:
“Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 1, tr.56)
Trang 16Vì vậy, để tìm hiểu rõ nội dung, giá trị và hạn chế trong tư tưởng nhận thức luận và logic học của Mặc gia, trước hết cần làm rõ những điều kiện, tiền đề hình thành, phát triển vấn đề nhận thức luận và logic học của trường phái này
1.1.1 Điều kiện lịch sử – xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc với sự hình thành nhận thức luận và logic học của Mặc gia
Lịch sử đã cho thấy các nền văn minh lớn và sớm nhất trên thế giới đều bắt nguồn từ những con sông lớn Nếu nền văn minh ở miền Mesopotamie xây dựng trên lưu vực hai con sông Tigre và Euphrate, nền văn minh Ai Cập xuất hiện trên lưu vực sông Nil,…thì văn minh Trung Hoa cũng bắt nguồn từ lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Trường Giang, từ đó cũng trở thành trung tâm văn hóa cổ xưa, rực rỡ và phong phú không kém cạnh gì những nền văn minh khác trên thế giới
Trước ba triều đại Hạ 夏, Thương 商, Chu 周 – là thời kỳ quan trọng hình thành và phát triển nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại, thì trong lịch sử đã trải qua thời kỳ xã hội nguyên thủy với các truyền thuyết như Bàn Cổ 盘古, Tam Hoàng 三皇, Ngũ Đế 五帝 Như những nền triết học khác, ngay từ trong xã hội nguyên thủy này cũng đã xuất hiện những mầm mống đầu tiên của triết học, những quan niệm sơ khai về thế giới của con người, nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó do trình độ phát triển cũng như năng lực nhận thức còn hạn chế Triết học với tính cách là một hệ thống lý luận mang tính chất thế giới quan, là kết quả của trình độ nhận thức, tư duy trừu tượng và thành văn chỉ có thể thực sự nảy sinh trong xã hội chiếm hữu nô lệ, tức từ triều đại nhà Hạ
Khoảng năm 2070 Tr.CN, vua Vũ kiến lập nên vương triều đầu tiên của lịch sử Trung Quốc là nhà Hạ Vua Vũ chia nước thành chín châu gồm:
Ký 冀, Thanh 青, Duyên 兗, Từ 徐, Dương 杨, Dự 豫, Kinh 荆, U 幽, Ung 邕
Trang 17, định đô ở Dương Thành 阳城 ( nay là Đăng Phong, tỉnh Hà Nam) Triều Hạ trải qua 16 đời, kéo dài hơn 470 năm thì cuối triều Hạ đến thời vua Lý Quý
履癸, gọi là Kiệt 桀 xa xỉ, bạo tàn, dân chúng phẫn nộ, người thân xa rời nên đến khoảng năm 1600 Tr.CN, thủ lĩnh bộ lạc Thương sinh sống ở vùng hạ lưu sông Hoàng Hà đã tập hợp các bộ lạc khởi binh diệt Hạ, lập nên nhà Thương, định đô ở đất Bạc (nay thuộc Yển Sư, tỉnh Hà Nam) Đến khoảng năm 1300 Tr.CN, vua tiếp theo của nhà Thương là Bàn Canh 盘庚 dời đô đến đất Ân (nay là An Dương, tỉnh Hà Nam), từ đó thì không dời đô nữa nên
về sau nhà Thương còn gọi là nhà Ân 殷 Từ Thành Thang 成湯 đến Bàn Canh, trong vòng 300 năm nhà Thương phải dời đô năm lần vì nạn lụt ở Hoàng Hà thường xuyên đe dọa Sau khi Bàn Canh dời đô qua đất Ân thì định cư khoảng 270 năm Từ đó cho đến thời Tây Chu, xã hội chiếm hữu nô
lệ Trung Quốc phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự hưng thịnh nền văn hóa cổ Trung Hoa
Vào khoảng thế kỷ XII Tr.CN, ở phía tây đồng bằng Hoa Bắc 華北 rộng lớn là cao nguyên đất vàng, một vùng đất đai phì nhiêu dọc theo hai con sông Kinh và sông Vị thuộc Thiểm Tây 陝西 ngày nay, có bộ tộc Chu đã sinh sống từ lâu đời và ngày càng lớn mạnh, thường gây chiến với các bộ lạc xung quanh để mở rộng đất đai Trong lúc bộ tộc Chu đang không ngừng lớn mạnh thì ngược lại nội bộ nhà Ân lại ngày càng mâu thuẫn sâu sắc Năm
1046 Tr.CN, con của Chu Văn Vương 周文王 – Chu Vũ Vương 周武王 là vua nước chư hầu đã tập hợp hơn 800 bộ lạc đánh bại vua cuối cùng của nhà
Ân là Đế Tân 帝辛, hiệu là Trụ 紂, tuy dũng mãnh nhưng tàn bạo, xa hoa, trác táng, lập nên nhà Chu, đóng đô tại Hạo Kinh (nay là phía tây thành Tây
An, tỉnh Thiểm Tây), sử gọi là Tây Chu 西周 Để củng cố nền thống trị của mình, hòa hoãn, xoa dịu mâu thuẫn trong nội bộ, vua nhà Chu đã phân phong cho anh em, họ hàng và công thần làm chư hầu để họ dựng nước và trị dân ở
Trang 18các nơi Đồng thời cũng cho họ đem theo lực lượng vũ trang và dân của những nơi đã được ban để khai khẩn và bảo vệ bờ cõi Như Bá Cầm – con của Chu Công được phong ở đất Lỗ 鲁 (Thượng Sơn Đông), thống trị sáu tộc người Ân Khang thúc – em của Vũ Vương được phong ở đất Vệ 衞 (đất Ân cũ), thống trị bảy tộc người Ân Đường Thúc – anh em của Thành Vương được phong ở đất Đường (thuộc Sơn Tây), sau đổi thành nước Tấn 晉, thống trị chín tộc họ Hoài Ngoài ra còn có nước Tề 齊 (thuộc Sơn Đông), nước Yên 燕 (thuộc Hà Bắc và lưu vực Liêu Hà), nước Tống 宋 (thuộc Hà Nam)
và rất nhiều nước nhỏ ở lưu vực Hán Thủy và Trường Giang Con cháu đời sau của Hoàng đế, Nghêu, Thuấn và Hạ cũng được phong đất đai Theo thư tịch, bấy giờ nhà Chu có trên bảy mươi nước chư hầu Các chư hầu gọi vua nhà Chu là tông chủ, giữa các chư hầu với nhau đều xưng là tông quốc Tông
là tổ tông, là chứng tỏ họ có cùng tổ tiên Cho nên chế độ chính trị như vậy được gọi là chế độ tông pháp 宗法 – chế độ thống trị dựa trên quan hệ huyết thống của dòng họ
Vào thời Tây Chu khi nhà Chu vẫn còn thịnh, chế độ tông pháp và trật
tự xã hội, lễ nghĩa nhà Chu còn được duy trì Từ thời Chu Lệ Vương 周厲王đến Chu U Vương 周幽王, mâu thuẫn nội bộ nhà Chu ngày một trở nên sâu sắc Do tranh giành, xâu xé quyền lợi, địa vị của nhau để mặc sức sống xa hoa trên xương máu của nhân dân; do phải tiến hành các cuộc chiến tranh đàn áp sự nổi dậy của chư hầu và chống lại sự xâm lăng của các bộ lạc khác nhất là nạn giặc Hiểm Doãn, Tây Nhung 西戎 cùng với hạn hán liên tiếp xảy
ra, nạn đói tràn lan, nhà Chu càng lao nhanh tới bước suy vong Vị trí, quyền lợi của các tập đoàn xã hội bắt đầu bị đảo lộn Năm 781 Tr.CN, nhân vua Chu U Vương phế hoàng hậu họ Thân và thái tử Nghi Cữu 宜臼, lập Bao Tự
褒姒 làm hoàng hậu, cha Thân hậu là Thân hầu khởi loạn, liên tục với Tây
Trang 19Nhung, tấn công Hạo Kinh, thiêu hủy kinh đô nhà Chu, giết chết U Vương dưới chân Ly Sơn, lập thái tử Nghi Cữu lên làm vua, lấy hiệu là Chu Bình Vương 周平王 vào năm 771 Tr.CN Sau đó một năm, vì đất Thiểm Tây – kinh
đô của nhà Chu luôn bị giặc Hiểm Doãn và Tây Nhung đe dọa, nên Chu Bình Vương phải dời đô về phía đông, đến Lạc Ấp 洛邑 (nay là Lạc Dương, tỉnh
Hà Nam), nhường căn cứ địa Quan Trung 關中 cho Tần Tương Công 秦襄公
và nước Tần được lập ra ở đây Sau khi nhà Chu dời đô sang phía đông thì sử gọi là Đông Chu 東周 – đây là một vùng đất nhỏ hẹp nhưng phần nào bị cắt xén bớt để phong công thần, phần khác lại bị các nước chư hầu lấn chiếm nên đất đai còn lại rất ít Mặt khác, do uy thế về chính trị đã bị giảm sút, nhiều nước chư hầu không chịu triều cống, cho nên tư cách tông chủ nhà Chu chỉ còn là hữu danh vô thực, tuy vua nhà Chu vẫn là vua chung nhưng thực tế đã không còn đủ sức điều khiển các chư hầu nữa Cũng từ đó chế độ tông pháp nhà Chu bị phá bỏ, các nước chư hầu mượn tiếng ủng hộ địa vị tông chủ nhà Chu, không chỉ xâm phạm lãnh địa nhà Chu mà còn tranh chấp bằng vũ lực để xâm chiếm đất đai và tiêu diệt lẫn nhau giữa các nước chư hầu, gây chiến tranh liên miên vì địa vị bá chủ Có thể thấy rõ, chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã bắt đầu từ thời nhà Hạ, dần dần phát triển ở thời nhà Thương
và đạt đỉnh cao ở thời nhà Chu Tuy nhiên, đến cuối thời Tây Chu thì chế độ chiếm hữu nô lệ ngày càng bị khủng hoảng, tỏ ra không còn phù hợp nữa và dần đi đến suy tàn Đến thời Đông Chu thì xã hội Trung Quốc bước vào thời
kỳ giao thời giữa hai chế độ xã hội – giai đoạn suy vong của chế độ chiếm hữu
nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên – Đó là thời kỳ Xuân thu 春秋
Xuân thu là khoảng thời gian được phản ánh trong bộ biên niên sử Xuân thu của nước Lỗ, kể những sự việc xảy ra ở nước ấy từ đời vua Lỗ Ẩn Công 鲁隱公 năm đầu (tức năm thứ 49 đời vua Chu Bình Vương) đến đời vua Lỗ Ai Công 鲁哀公 (tức năm thứ 39 đời vua Chu Kính Vương) Theo
Trang 20lịch sử Trung Quốc thì niên đại thời kỳ Xuân thu từ năm 770 Tr.CN đến 475 Tr.CN Trong các nước chư hầu nhà Chu lúc bấy giờ thì có các nước Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống là lớn và mạnh hơn hết Về sau có nước Việt 越 (nay thuộc Thiệu Hưng, Chiết Giang) và nước Ngô 吴 (nay thuộc huyện Ngô, Giang Tô), nổi lên cùng các chư hầu khác xưng bá Thời kỳ này có năm chư hầu kế tiếp nhau làm minh chủ, nên còn gọi là “Ngũ bá Xuân thu” 五霸春秋 gồm: Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Trương Công nước Tống, Trang Công nước Sở và Mục Công nước Tần Cuối thời Xuân thu còn có thêm Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn
Tề là nước phát triển sớm hơn hết, nhờ có địa thế nằm ở vùng ven biển thuộc tỉnh Sơn Đông ngày nay, đất đai phì nhiêu cùng với điều kiện tự nhiên thuận lợi Người đầu tiên xưng bá là Tề Hoàn Công 齐桓公 – là dòng dõi ông Thái công Vọng, nguyên huân của nhà Chu Với khẩu hiệu “Tôn Vương, bài Di” 尊王攘夷, Tề Hoàn Công đã ngăn chặn được sự xâm lấn và quấy nhiễu của giặc Nhung Năm 656 Tr.CN, Tề Hoàn Công chỉ huy quân đội 8 nước gồm Tề, Lỗ, Tống, Trần, Tào, Vệ, Trịnh, Hứa đi đánh nước Thái (ở Hà Nam), rồi thừa thắng tiến vào nước Sở Trước khí thế đó, nước Sở phải ký hòa ước với Tề ở Thiệu Lăng (Hà Nam) Sau khi lên nắm chính sự, Tề Hoàn Công đã phong Quản Trọng 管仲 làm tể tướng, dốc sức cải cách đất nước Nước Tề đã triệu tập 9 lần đại hội chư hầu, đặc biệt hội nghị liên minh chư hầu ở Quỳ Khâu (Hà Nam) năm 651 Tr.CN, Chu Vương cử đại diện tham gia, khẳng định địa vị bá chủ Trung Nguyên của Tề Hoàn Công Nhưng sau khi Quản Trọng chết, Tề Hoàn Công dùng bọn tiểu nhân như Thọ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương, lại ham vui chơi nên uy quyền suy yếu Đến lúc ông chết, các công tử tranh nhau kế vị, trong nước rối loạn
Nước Tống vốn là một nước tương đối nhỏ nhưng đến thời Tống Tương Công 宋襄公 – là hậu duệ ông Vi Tử đời Thương, được sự phò tá của
Trang 21Mục Di nên đất nước ổn định Sau khi Tề Hoàn Công mất định lên thay làm minh chủ nên hội chư hầu ở Lộc Thượng năm 639 Tr.CN nhưng việc không thành Sau hội ở đất Hu và bị nước Sở bắt Được tha về, ông đem quân đi đánh nước Trịnh, là nước thân với Sở Năm 638 Tr.CN, Tống và Sở đánh nhau ở Hoằng Thủy (Hà Nam) Kết quả là Tống Tương Công thất bại nặng
nề, bị thương rồi chết Tuy mộng tưởng tranh quyền bá chủ không thành nhưng Tống Tương Công cũng được xếp là một trong Ngũ bá thời Xuân thu
Bá nghiệp về tay Tấn Văn Công 晉文公 – là dòng dõi ông Đường Thúc Ngu, em vua Chu Thành Vương, vì chuyện trong nước đã trốn tránh ở ngoài Sau hơn mười năm lưu vong đã quay về nước tức vị, dốc sức chỉnh trị, khi lên ngôi đã 62 tuổi Nước Tấn lúc này là một vùng có đất đai rộng lớn
ở tỉnh Sơn Tây và những vùng lân cận thuộc các tỉnh Hà Bắc, Sơn Đông, Hà Nam, Thiểm Tây ngày nay Tấn Văn Công đã dùng Thiệu Thôi, Hồ Yển, Tiên Trẩn ra sức chỉnh đốn lại việc nước, lúc này đang bị Di 夷, Địch 狄 quấy nhiễu Khi Xích Địch vào nhà Chu, Tương Vương phải chạy qua đất Trịnh, Văn Công hội chư hầu đánh dẹp và rước thiên tử về ngôi, cộng thêm việc năm 632 Tr.CN, Tấn Văn Công chỉ huy liên quân Tấn, Tần, Tề, Tống
đã đánh bại liên quân Sở, Trần, Thái trong trận chiến thành Bộc (Sơn Đông), một bước trở thành bá chủ Trung Nguyên sau đại hội chư hầu ở Tiễn Thổ (Hà Nam) Văn Công mất, con là Tương Công kế vị, đánh được quân Tần ở đất Hào (nay là Lạc Ninh, Hà Nam) Tấn truyền vài đời đến Niên Công là bậc anh minh, dùng người tài như Hàn Quyết, Triệu Võ, Ngụy Giáng cùng nước Sở tranh bá nghiệp
Nước Tần ở vùng Tây Bắc thành lập tương đối muộn Tần Mục Công – là hậu duệ ông Ích nhà Chu Khổng Tử từng nhận xét:
“Nước Tần tuy nhỏ nhưng chí của nó lớn Tuy nó ở nơi hẻo lánh, nhưng chính trị của nó đúng đắn Nhà vua thân hành cử Bách Lý Hề cho làm đại phu dùng ông ta từ chỗ bị trói, nói chuyện với ông ta ba
Trang 22ngày rồi trao chính sự cho ông ta Nếu làm như thế thì nghiệp vương cũng có thể làm được, chứ nghiệp bá vẫn còn nhỏ đấy” (Tư Mã Thiên,
1999, tr.156)
Nhờ có Bách Lý Hề 百里奚 làm tướng, chăm lo việc chính trị, đánh đuổi Tây Nhung, mở nước rộng thêm ngàn dặm, rồi làm bá chủ Tây Nhung ở phía Đông, do đó cũng trở thành một nước lớn Tần luôn luôn muốn phát triển sang phía Đông nhưng lần nào cũng bị Tấn chặn lại và hai bên đánh nhau nhiều lần Vì nước Tấn đang mạnh nên chưa thể tranh minh chủ được
Nước Sở ở phương Nam vốn là một nước nhỏ thành lập từ đời Thương, nằm ở phía Nam thuộc lưu vực Giang Hán và Động Đình Từ thế kỷ VII Tr.CN trở đi, nước Sở đã thôn tính mấy chục nước nhỏ ở lưu vực Trường Giang và lưu vực sông Hoài, trở thành một nước lớn, đất đai rộng nhất, nhân khẩu đông nhất ở phía Nam Đến thời Sở Trang Vương 楚莊王 là bước vào giai đoạn cường thịnh nhất Lúc đầu khi mới lên ngôi, Sở Trang Vương không màn việc nước nhưng sau khi nhờ thần can gián thì mới đổi tánh nết và được lòng dân Năm 606 Tr.CN, quân Sở áp sát đô thành Lạc Ấp của nhà Chu, bộc
lộ dã tâm thay thế nhà Chu Năm 597 Tr.CN, Sở đánh Trịnh, nước Tấn đến cứu, bị quân Sở đánh bại, Sở Trang Vương trở thành bá chủ
Trong các nước tranh quyền bá chủ lúc bấy giờ, nước Tề chỉ làm bá chủ một thời gian ngắn ở hạ lưu sông Hoàng Hà, nước Tần chỉ khống chế ở vùng Tây Bắc, duy chỉ có Tấn và Sở là đối đầu với nhau Nhiều nước khác bị lôi kéo vào vòng tranh chấp Nước Lỗ và nước Vệ ở lưu vực Hoàng Hà phục
vụ nước Tấn, nước Trần và nước Thái ở lưu vực sông Hoài thì phục tùng nước Sở, nước Trịnh và nước Tống thì nằm ở giữa, lúc thì theo Sở, lúc thì theo Tấn Tuy nước Tề và nước Tần là hai nước lớn, có thế lực mạnh giữa thái độ trung lập nhưng thực chất là Sở liên minh với Tần, Tấn liên minh với
Tề, lực lượng cả hai bên đều ngang nhau Trước tình hình đó, năm 579 Tr.CN, Hoa Nguyên người nước Tống đã đề nghị hai nước Tấn và Sở ngừng
Trang 23chiến, một hòa ước đã được ký kết Nhưng chỉ vài năm sau, nhận thấy nội bộ nước Tấn lục đục nên Sở đã bỏ hòa ước, chiến tranh lại nổ ra Tuy nhiên nước Sở lại bị Tấn đánh hai lần đại bại Năm 546 Tr.CN, Hướng Tuất cũng người Tống lại đề nghị Tấn và Sở ngừng chiến Tại nước Tống đã triệu tập một cuộc hội nghị chư hầu, có sự tham dự của 17 nước, đều công nhận cả Tấn và Sở làm bá chủ Trừ hai nước lớn liên minh là Tề và Tần thì các nước còn lại đều phải triều cống cho Tấn và Sở
Khi các cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ ở phía Bắc vừa lắng xuống thì đến cuối thời Xuân thu, Hạp Lư 闔閭– tôn thất nhà Chu, là vua nước Ngô ở vùng Giang Tô và Câu Tiễn 勾踐 – hậu duệ vua Thiếu Khương nhà Hạ, là vua nước Việt ở vùng Chiết Giang phương Nam lần lượt xưng bá Nước Ngô ở hạ lưu sông Trường Giang chiếm kinh đô nước Sở vào năm 506 Tr.CN, vua Sở bỏ chạy, đại phu nước Sở là Thân Bao Tư sang Tần cầu cứu, phải đứng ở cung đình nước Tần khóc bảy ngày bảy đêm liền mới xin được quân cứu viện và đánh đuổi được quân Ngô Sau trận này tuy nước Sở chưa
bị diệt vong nhưng vai trò bá chủ đã vĩnh viễn chấm dứt Hạp Lư dùng vong thần nước Sở là Ngũ Tử Tư 五子胥 đánh nước Sở Nhân lúc quân Ngô đang kéo đi đánh Sở thì nước Việt tấn công Ngô vào năm 496 Tr.CN, Hạp Lư bị thương rồi chết Năm 494 Tr.CN, Câu Tiễn lại bị con của Hạp Lư là Phù Sai
夫差 đánh thua và bao vây ở Cối Kê (nay là Thiệu Hưng, Chiết Giang), phải
hạ mình xin hòa và xin trở thành nước phụ thuộc Câu Tiễn phải làm tù binh
ở nước Ngô mấy năm, sau khi được tha về nước thì Câu Tiễn cùng bầy tôi là Phạm Lãi 范蠡, Văn Chủng 文種 hết sức mưu tính chuyện báo thù Nước Ngô còn tiêu diệt nước Việt ở lưu vực sông Tiền Đường, tiến lên phía Bắc đánh bại quân Tề, mở hội nghị liên minh chư hầu ở Hoàng Trì (Hà Nam) để tranh quyền bá chủ của nước Tấn Nhân lúc Ngô Vương Phù Sai cạn kiệt quốc lực đã khởi binh đánh kinh đô nước Ngô (Tô Châu, tỉnh Giang Tô ngày
Trang 24nay) Phù Sai vội vàng kéo quân về xin hòa và từ đó cũng lệ thuộc nước Việt Đến năm 473 Tr.CN thì nước Ngô bị nước Việt thôn tín hoàn toàn Sau
đó, Câu Tiễn tiến quân về Trung Nguyên, họp các nước chư hầu ở Từ Châu (Sơn Đông), trở thành bá chủ cuối cùng của thời kỳ Xuân thu
Bước sang thời kỳ Chiến quốc 戰國 – là tên gọi theo tên tác phẩm
“Chiến quốc sách” 戰國策 của Lưu Hướng 劉向 đời Tây Hán Đa số học giả Trung Quốc chủ trương dựa vào ý kiến của Tư Mã Thiên 司馬遷 trong “Lục quốc niên biểu” 六國年表 của “Sử ký” 史记 lấy năm 475 Tr.CN, tức năm Chu Nguyên Vương 周元王 lên ngôi làm năm mở đầu thời Chiến quốc và kết thúc vào năm 221 Tr.CN khi nước Tần thống nhất Trung Quốc Trong giai đoạn cuối thời Xuân thu, ngoài những cuộc tranh giành xâu xé giữa các nước chư hầu với nhau thì trong nội bộ từng nước cũng luôn luôn diễn ra những cuộc đấu tranh giữa bọn quý tộc với nhau để tranh giành đất đai và quyền thống trị nhân dân Tề là một nước chư hầu ở vùng Sơn Đông ngày nay, được phân phong đầu thời Tây Chu Người lập nước là một công thần của nhà Chu tên Khương Thượng 姜尚 (tức Khương Tử Nha 姜子牙, thường gọi là Lã Vọng 呂望) Nhân do mâu thuẫn trong nội bộ nước Tề gay gắt nên
họ Điền – là quý tộc nước Trần lưu vong sang nước Tề từ thời Hoàn Công, rất được lòng dân, đã chuẩn bị lực lượng và chờ thời cơ để cướp ngôi họ Khương Năm 489 Tr.CN, Điền Khất 田乞 liên hiệp với những công khanh đại phu khác đem quân xông vào cung làm cuộc chính biến, quý tộc họ Khương thất bại, Điền Khất lên làm Tướng quốc, tập trung mọi quyền hành vào tay họ Điền Năm 386 Tr.CN, Điền Hòa 田和 chính thức trở thành vua nước Tề, hiệu là Điền Tề Thái Công 田齊太公 và được thiên tử nhà Chu công nhận làm chư hầu Ở nước Tấn, do sự tranh giành ngôi vua nên các công tử, công tôn đều bị tiêu diệt gần hết Vì vậy các quý tộc khác họ có vai trò quan trọng trên vũ đài chính trị Qua quá trình nội chiến tiêu diệt lẫn nhau
Trang 25thì nước Tấn có ba họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy, ra sức mua chuộc lòng dân, ban thưởng rất hậu cho người có công Năm 453 Tr.CN, ba họ này chia nhau nước Tấn, rồi không bao lâu đã phế truất vua Tấn, thành lập ba nước mới, đến năm 403 Tr.CN thì được vua Chu công nhận làm chư hầu Trong thời gian ấy, vua Tấn chỉ còn lại một lãnh địa nhỏ và tồn tại đến năm 369 Tr.CN
Trải qua quá trình đấu tranh lâu dài trong thời kỳ Xuân thu thì đến đầu thời Chiến quốc, lúc bấy giờ ở Trung Quốc còn lại bảy nước lớn và một số ít nước nhỏ Bảy nước lớn gồm Tề 齊, Sở 楚, Yên 燕, Tần 秦, Hàn 韓, Triệu 趙, Ngụy 魏, tạo thành cục diện “Thất hùng” 七雄 Nước Tần ở phía Tây Hàm Cốc quan 西函谷關, sáu nước còn lại gọi là “Sơn Đông lục quốc” 山東六國 nằm ở phía Đông quan ải Một số nước khác cũng từng tồn tại rồi bị các nước lớn tiêu diệt như: nước Thái bị nước Sở tiêu diệt năm 447 Tr.CN, nước Đằng 滕 bị nước Việt tiêu diệt năm 414 Tr.CN, nước Trịnh bị nước Hàn diệt năm 375 Tr.CN, nước Tống bị nước Tề diệt năm 286 Tr.CN, nước Lỗ bị nước Sở diệt năm 256 Tr.CN, nước Vệ bị nước Ngụy diệt năm 254 Tr.CN,…Nước Việt ở đầu thời Chiến quốc cũng là một nước lớn, tuy nhiên đã suy yếu dần do nội loạn năm
306 Tr.CN, nước Việt bị nước Sở thâu tóm và trở thành quận Giang Đông của nước Sở Giữa bảy nước này chiến tranh xảy ra không ngừng nghỉ và biên giới từng nước cũng không ngừng thay đổi sau thắng bại của những trận chiến Cũng trong quá trình này, các nước trong “Thất hùng” ngày càng mạnh lên, trừ vua Sở đã xưng vương từ thời Xuân thu thì đến thế kỷ IV Tr.CN, sáu nước còn lại cũng đều lần lượt bỏ danh hiệu công, hầu để xưng vương Từ đây vai trò thiên tử của vua nhà Chu đã bị phủ nhận một cách công khai
Trong “Thất hùng” vào buổi đầu, Tần là một nước tương đối lạc hậu hơn những nước khác Năm 362 Tr.CN, Tần Hiếu Công 秦孝公 lên ngôi và nhờ tin dùng chính sách cải cách đất nước của Thương Ưởng 商鞅 mà không lâu sau đó đã trở nên cường thịnh, trở thành sự uy hiếp dữ dội đối với sáu
Trang 26nước còn lại Nếu trong giai đoạn đầu của thời Chiến quốc, nước Tần còn non yếu và lạc hậu, Ngụy mới là nước mạnh nhất và đi xâm lược các nước khác, sau đó lại bị các nước liên hiệp đánh bại Thì đến giai đoạn thứ hai, Tần và Tề
đã trở thành hai cường quốc Tần tiêu diệt 45 vạn quân của nước Triệu trong trận Trường Bình 長平 (Sơn Tây), Tần giúp các nước khác đánh bại Tề Đến giai đoạn cuối cùng thì Tần và Sở trở thành hai nước đối địch, Sở bị Tần đánh bại Chính vì vậy mà cuối cùng Tần trở thành nước mạnh nhất trong “Thất hùng”, xác lập cục diện “hợp tung” 合縱, “liên hoành” 連橫 giữa nước Tần và sáu nước còn lại tranh đoạt thiên hạ Ngoài sử dụng vũ lực ra, các nước không ngừng triển khai thế công kích về chính trị, ngoại giao Sáu nước phía Đông liên kết theo chiều từ Bắc xuống Nam cùng chống lại Tần, gọi là “hợp tung” Còn Tần ở phía Tây, lợi dụng mâu thuẫn giữa sáu nước, xa giao hảo gần đánh phá, đánh từng nước một, gọi là “liên hoành” Trong cuộc đấu tranh này, vì bảo vệ lợi ích riêng của nước mình mà các nước phía Đông có lúc thì theo Tần, có lúc thì lại theo Sở Thế “hợp tung”, “liên hoành” tuy có khả năng duy trì được tình thế cân bằng giữa các nước một cách tạm thời nhưng vì điều kiện lực lượng vũ trang các nước đều đang mạnh nên chiến tranh nổ ra là điều không thể tránh khỏi Bên cạnh đó ở biên giới phía Bắc các bộ lạc du mục và Hung Nô 匈奴 đã tự cường và thường xuyên đánh phá, cướp bóc, càng làm cho xã hội Trung Quốc thêm trầm trọng Mạnh Tử đã viết:
“Đánh nhau giành đất, giết người thây phơi đầy đồng; đánh nhau tranh thành, giết người thây phơi đầy thành Như vậy như là cho đất ăn thịt người, tội chết cũng không đủ để đền tội - 爭地以戰, 殺人盈野; 爭城
以戰, 殺人盈城 此所謂率土地而食人肉 罪不容於死 - Tranh địa
dĩ chiến, sát nhân doanh dã; tranh thành dĩ chiến, sát nhân doanh thành Thử sở vị suất thổ địa nhi thực nhân nhục Tội bất dung ư tử” (Mạnh Tử, Ly Lâu thượng, 14) (Khổng Tử, 2009, tr.26)
Trang 27Từ đó cho thấy càng cần thiết đặt ra yêu cầu phải thống nhất đất nước Năm 246 Tr.CN, khi lãnh thổ của nước Tần đã rộng lớn, bao gồm miền Thiểm Tây, Tứ Xuyên, miền tây nam Hà Nam và miền bắc Hà Bắc, khi lực lượng nước Tần đã trở nên hùng mạnh, khi Tần Thủy Hoàng 秦始皇 lên ngôi và âm mưu chinh phục sáu nước còn lại Chỉ trong vòng mười năm từ
230 Tr.CN – 221 Tr.CN, Tần đã lần lượt tiêu diệt sáu nước: Hàn vào năm
230 Tr.CN, Triệu vào năm 228 Tr.CN, Ngụy vào năm 225 Tr.CN, Sở vào năm 223 Tr.CN, Yên vào năm 222 Tr.CN và Tề vào năm 221 Tr.CN Từ đây lãnh thổ Trung Quốc được thống nhất, tình trạng hỗn chiến kéo dài suốt thời Xuân thu – Chiến quốc cũng chấm dứt, lập ra đế quốc Tần – là nhà nước thống nhất đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc
Có thể thấy rõ sự phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc cổ đại là thời kỳ xã hội Trung Quốc bước vào giai đoạn Xuân thu – Chiến quốc Đây cũng là giai đoạn tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến đang hình thành Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại từ triều đại nhà Hạ, qua nhà Thương và đến cuối thời Tây Chu thì bắt đầu bước vào
sự khủng hoảng sâu sắc và đi tới suy tàn Để đến thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc, có thể nói là thời kỳ quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến, thời kỳ của cái cũ chưa hết và cái mới đang dần hình thành Chính vì bối cảnh lịch sử như vậy mà những điều kiện về kinh tế, chính trị –
xã hội cũng đã và đang có sự biến đổi toàn diện, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành tư tưởng về nhận thức luận và logic học của Mặc gia
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc với sự hình thành nhận thức luận và logic học của Mặc gia
Từ khi bước sang xã hội có nhà nước cho đến thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc thì nền kinh tế của Trung Quốc ngày một phát triển, thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau như về công cụ sản xuất, vấn đề thủy lợi trong
Trang 28nông nghiệp, từ đó mà thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển theo Nếu như trước đây, ở thời nhà Hạ chỉ mới biết đến công cụ sản xuất bằng đồng đỏ, thời Thương, Tây Chu phát triển đồ đồng thau thì đến thời kỳ Xuân thu, bên cạnh đồ đồng thau thì nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển dần sang thời đại đồ sắt Công cụ sản xuất bằng sắt ngày càng thay thế cho công
cụ sản xuất bằng đồng, cả trong binh khí chiến tranh Trong Lịch sử Trung
Quốc của Nguyễn Gia Phu và Nguyễn Huy Quý (2009) có viết:
“Ở nước Tề, vào nửa đầu thế kỷ VII Tr.CN, Quản Trọng đã đề nghị
với Tề Hoàn Công: “Kim loại đẹp để đúc gươm giáo dùng để chém
chó ngựa, kim loại xấu để đúc cuốc dao dùng để xới đất” Có lẽ kim
loại đẹp ở đây là đồng thau, còn kim loại xấu là sắt Ở nước Tấn, năm
513 Tr.CN, nhà nước đã dùng sắt để đúc đỉnh, trên đó khắc “Hình thư” (những điều luật) của Phạm Tuyên Tử Số sắt này do nhân dân nộp cho nhà nước dưới hình thức thuế khóa” (tr.38)
Bên cạnh việc phát triển về công cụ sản xuất thì việc dùng bò kéo cày cũng đã trở thành phổ biến
“Thiên Tấn ngữ trong sách Quốc ngữ chép rằng: “Những súc vật làm
vật hiến tế ở đền miếu có thể dùng trong công việc đồng áng” Ngoài
ra thời Xuân thu có nhiều người đặt tên chữ “Canh” 耕 (cày) và chữ
“Ngưu” 牛 (trâu, bò) gần nhau…phản ánh rằng trong thực tế xã hội,
dùng trâu bò để cày ruộng đã là một việc thường thấy” (Nguyễn Gia Phu & Nguyễn Huy Quý, 2009, tr.39)
Với phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Việc khai thác và sử dụng công cụ bằng sắt đã thúc đẩy những công trình thủy lợi phát triển Thời kỳ này hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang Kỹ thuật “dẫn thuỷ nhập điền”, mở mang thuỷ lợi, đã góp phần vào việc khẩn hoang đất đai, thay đổi thói quen và kỹ thuật canh tác,
Trang 29nhờ đó mà diện tích đất ngày càng được mở rộng Năm 597 Tr.CN, Tôn Thúc Ngao của nước Sở chủ trì xây dựng thuỷ khố theo mô hình lớn đầu tiên của Trung Quốc Vào khoảng thế kỷ V Tr.CN, ở nước Ngô thời vua Phù Sai
đã đào một hệ thống kênh nối Trường Giang với sông Hoài và nối sông Hoài với một số con sông ở gần lưu vực Hoàng Hà Đây cũng là hệ thống kênh đào đầu tiên ở Trung Quốc Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến, tạo điều kiện tăng năng suất lao động trong lao động nông nghiệp – một nghề được coi là gốc của nền kinh tế Trung Hoa cổ đại Từ đó người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt hay xấu như trước nữa Giờ đây công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài Vì vậy nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng Mặc khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển và thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tư Chế độ “tỉnh điền” 井田 dần tan rã Sau đó, chế độ tư hữu ruộng đất đã dần được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ Nền kinh tế địa chủ được xây dựng trên cơ sở tư hữu ruộng đất, canh tác cá thể phát triển nhanh chóng Tình hình đó xuất hiện trước ở nước Tấn, một nước trên khu vực sông Phần có nền kinh tế nông nghiệp phát đạt Năm 654 Tr.CN, nước Tấn thi hành chế độ viên điền, bãi bỏ lệ hằng năm chia lại ruộng đất của công xã cho nông dân Nước Tề, nước Trịnh sau đó cũng làm như vậy
Trước kia theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất công được chia cho các gia đình nông nô canh tác theo hình chữ “tỉnh”, có chín ô Tám gia đình nông
nô cày cấy tám ô xung quanh, có trách nhiệm cùng canh tác ô ở giữa để thu hoa lợi nộp cho triều đình
“Đời Hạ mỗi người chủ gia đình được cấp cho năm chục mẫu ruộng, mỗi mùa phải cống nạp cho nhà vua số hoa lợi trung bình của năm chục mẫu Đó gọi là phép cống Qua đời nhà Ân, mỗi người chủ trong
Trang 30gia đình được cấp cho bảy chục mẫu ruộng mà làm và hưởng trọn hoa lợi Nhưng tám gia đình phải chung sức với nhau làm khoảnh ruộng công bảy chục mẫu ở giữa Đó gọi là phép trợ Đến đời nhà Chu, mỗi gia đình được cấp một trăm mẫu ruộng và cũng làm mà hưởng hoa lợi Nhưng tám gia đình phải chung sức với nhau làm mảnh ruộng một trăm mẫu ở giữa để nộp hoa lợi cho nhà nước Đó gọi là phép triệt - 夏后氏五十而貢 殷人七十而助周人百畝而徹 其實皆十一也 徹者
徹也 助者藉也 - Hạ hậu thị ngũ thập nhi cống Ân nhân thất thập nhi trợ Châu nhân bá mẫu nhi triệt Kỳ thật giai thập nhứt giã Triệt giả triệt giã Trợ giả tạ giã” (Mạnh Tử, Đằng Văn Công thượng, tiết 3) (Khổng Tử, 2009, tr.154)
Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước đã bỏ hình thức thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thế đánh vào từng mẫu ruộng, nhà nước căn cứ theo số lượng mẫu ruộng nông dân chiếm hữu để đánh thuế Nước đầu tiên thi hành chế độ thuế mới là nước Lỗ Cùng với chế độ thuế mới, các nước cũng thi hành chế độ quân sự mới Ở nước Lỗ, chế độ quân sự này gọi là “khâu giáp”, nước Trịnh gọi là “khâu phú”
“Thời Xuân thu, Quản Trọng ở nước Tề đã thi hành chính sách “tương địa nhi suy trưng”, nghĩa là căn cứ phân chia theo số đất đai và chất lượng ruộng tốt xấu mà thu thuế Năm 594 Tr.CN, nước Lỗ thi hành chính sách “sơ thuế mẫu”, quy định cho dù là ruộng công hay ruộng
tư, đều phải tính theo diện tích mẫu ruộng ban đầu mà nộp thuế” (Tào Đại Vi & Tôn Yến Kinh, 2012, tr.38)
Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở nên phổ biến cùng với việc
mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đạt tới mức chuyên nghiệp hơn, thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề rèn,
Trang 31nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm,…Thời kỳ này, nghề đúc đồng thau
có những cải tiến rõ rệt Đồ đồng thời kỳ này có hình dáng thanh thoát, trang trí đẹp mắt Ngoài các sản phẩm như chuông, đỉnh, đồ uống rượu, dao, còn có một số sản phẩm mới như kiếm ngắn, gương đồng, Bên cạnh nghề làm đồ đồng thau thì một số nghề thủ công khác cũng phát triển như làm đồ bằng gốm, đá, ngọc, da, xương, gỗ, nghề dệt, trình độ ngày càng cao Cuối thời kỳ Xuân thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt lớn đến 300 người thụt bễ, đổ than Nước Tấn trưng thu sắt để đúc đỉnh hình “Trong
sách Chu lễ đã viết về sự phát triển của các ngành thợ chuyên môn rằng:
“thợ mộc chiếm bảy phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần,…”” (Doãn Chính, 2015, tr.250) Thợ thuyền tuy nhiều nhưng vì
trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội Lúc bấy giờ, các nước bại trận trong chiến tranh còn phải cống nộp thợ lành nghề cho nước thắng trận:
“Theo sử thì Sở đánh bại Lỗ, Lỗ phải đem dâng thợ mộc, thợ may và thợ dệt, mỗi hạng trăm người để xin hòa Bách công trong thời Xuân thu đều là công nô, chính phủ đặt ra các chức công chính, công sứ hoặc công doãn để quản lý công nô, gọi là “thực quan công thương” (Chiêm Tế, 2000, tr.283)
Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước Trong số các nước chư hầu thì nước Tề nhờ ở gần biển,
có nhiều hải sản đem trao đổi với vùng nội địa nên là nước có thương nghiệp phát triển sớm nhất Đến giữa thời Xuân thu thì nước Trịnh trở thành trung tâm mua bán giữa các nước chư hầu vì là giao điểm của các đường giao thông ở Trung Quốc lúc bấy giờ Lái buôn nước Trịnh không chỉ buôn bán trong nước mà còn đặt chân đến nhiều nước khác, nhờ đó mà sản phẩm của các nước cũng được trao đổi với nhau Tiền tệ đã xuất hiện Trong xã hội đã hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực như
Trang 32Huyền Cao (nước Trịnh), Tử Cống Chính Khổng Tử đã nói về Tử Cống, người học trò của mình rằng: “Trò Tứ chẳng yên chịu với số phận, bèn đi buôn mà trở nên giàu có, nhưng liệu lượng muôn vạn lần đều trúng - 賜不受命,而貨殖 焉,億則屢中 - Tứ bất thọ mệnh, nhi hoá thực yên, ức tắc
lũ trúng” (Luận ngữ, Tiên tấn, tiết 18) (Khổng Tử, 2009, tr.170) Thương nhân đã có nhiều người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội đang rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy
do nạn chư hầu cát cứ, đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đương Hơn thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất, theo quan điểm “nông bản, thương mạt” 農本商末, trọng nông ức thương” 重農抑商 của người Trung Quốc cổ nên nó cũng chưa thực sự phát triển Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loạt quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ, thiết lập những hệ tư tưởng, quan điểm biện hộ cho lợi ích của chúng Thành thị thời Tây Chu đến thời Xuân thu
là “thành lũy của các chư hầu”, ràng buộc mà không tách ra khỏi huyện Những thành thị này biểu hiện mối quan hệ về tôn giáo và chính trị Do sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp nên thành thị dưới thời Xuân thu càng phát triển
Về chính trị – xã hội, thời nhà Chu, chế độ chính trị được xây dựng trên chính thể quân chủ, đứng đầu là vua, gọi là “Thiên tử” 天子, cũng có nghĩa là hoàng đế, mà họ nói là thực hiện ý chí của trời nhằm đề cao vương quyền:
“Dưới bầu trời, không nơi nào không phải đất của nhà vua; trên mặt đất, không người nào không phải là tôi của nhà vua - 普天下, 莫非王
Trang 33土; 率土之濱, 莫非王臣 - Phổ thiên hạ, mạc phi vương thổ; suất thổ chi tân, mạc phi vương thần” (Mạnh Tử, Vạn Chương thượng, tiết 4) (Khổng Tử, 2009, tr.88)
Nhà Chu ràng buộc các chư hầu bằng chế độ phong hầu kiến địa, gồm các chức từ lớn đến nhỏ như “công” 公, “hầu” 侯, “bá” 伯, “tử” 子, “nam”男 Vua đặt ra các chức quan như tư mã, tư đồ, tư không, tư khấu Sự phân phong đất đai, chức tước của “Thiên tử” nhà Chu cho các chư hầu vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa chính trị là điều kiện ràng buộc lẫn nhau để làm yên dân và giữ lòng trung thành với “Thiên tử” Điều đó lúc đầu đã có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài hưng thịnh Nhưng càng về sau, nhất là trong thời kỳ Xuân thu, đầu mối các quan hệ đó càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, do sự bóc lột hà khắc của quý tộc đối với nhân dân, do sự suy thoái của các vua chúa nhà Chu và sự tranh giành địa vị, quyền lợi giữa các chư hầu làm cho lễ nghĩa nhà Chu ngày càng không còn được tôn trọng và sự trung thành với “Thiên tử” không còn như trước Cho nên đến giữa thời Xuân thu, các chư hầu đua nhau động binh để giành lấy địa vị bá chủ thiên hạ và còn đem binh về kinh đô để trấn áp
“Thiên tử”, chế độ nhà Chu đang lung lay tận gốc Thời Xuân thu có khoảng
242 năm thì đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ giữa các nước chư hầu
Trong Kinh Thi cũng đã có ghi lại những lời than thở của dân chúng trong
bối cảnh ấy:
“Cỏ cây nào chẳng đen khô?
Ai người chẳng góa cô đơn một mình?
Thương thay ta phải chiến chinh!
Riêng ta chẳng phải người đành hay sao?
何草不玄
何人不矜
Trang 34có thể kể đến Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần Những quốc gia này mạnh
và làm minh chủ những nước chư hầu khác là do các ông vua trị vì dùng cách cai trị được xây dựng trên sức mạnh của bạo lực và áp bức, hoàn toàn đối lập với cách cai trị của “vương đạo” lấy nhân nghĩa, lấy đức thu phục và giáo hóa con người Khổng Tử phải nhắc lại câu của Kiệt Nịch rằng: “Khắp thiên hạ đều loạn lạc như nước đổ cuồn cuộn Ai có thể làm thay đổi được? - 滔滔者天下皆是也,而誰以易之 - Thao thao giả thiên hạ giai thị dã, nhi thuỳ dĩ dịch chi?” (Luận ngữ, Vi Tử, tiết 6) (Khổng Tử, 2009, tr.288)
Thời Xuân thu, các lãnh chúa tăng cường bóc lột nhân dân Người dân đen phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt của các lãnh chúa, quý tộc liên miên Họ lại phải nộp thuế má, gánh vác việc phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho cuộc sống người dân càng thêm khốn khổ:
“Người ta có những thổ điền,
Thì vua trái lại giành liền, hỡi ôi!
Còn dân chúng của người ta được,
Trái lại vua đã tước đoạt ngay
Đáng là vô tội người này,
Thì vua trái lại giam đầy người ta
Còn kẻ nọ đáng là có tội,
Trang 35Trái lại vua tha vội cho liền
đủ sức để duy trì trật tự xã hội, dẫn đến suy đồi về đạo đức, luân lý, xáo trộn
lễ nghĩa trong quan hệ xã hội Đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ tôn nghiêm
mà xưa nay từng góp phần bảo vệ cho trật tự chế độ chính trị nhà Chu bây giờ cũng bị coi thường và trở nên mất công hiệu Tình trạng lễ nghi cương
Trang 36thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kỳ Xuân thu biểu hiện ra qua các tệ nạn như “tiếm ngôi việt vị” 僭嵬越位, chư hầu chiếm dụng lễ của “Thiên tử”, đại phu chiếm dụng lễ chư hầu và “Thiên tử” Cùng với đó là chế độ triều cống của “Thiên tử” cũng bị các chư hầu tự ý phá bỏ Thậm chí các chư hầu lớn còn mượn danh “Thiên tử” mà thực hiện các mệnh lệnh chinh phạt, bắt các nước nhỏ triều cống, lệ thuộc lễ nhạc của mình Đây cũng là một tai họa cho các nước nhỏ và mọi tai họa đó lại đổ xuống đầu người dân Trong
xã hội thì cảnh tôi giết vua, cha giết con, anh giết em, thường xuyên xảy ra Các lễ nghi trở thành hình thức sáo rỗng Việc “tang viếng, tế lễ, chúc mừng” lại trở thành những thủ đoạn ngoại giao chứ không còn là lễ nghĩa, lề lối của trật tự quan hệ xã hội và gia tộc nữa Trong khi người dân phải chịu trăm bề khổ sở, thì các vương hầu, lãnh chúa, quý tộc ngày càng sống xa xỉ,
họ cất lên những cung điện nguy nga, chen chúc cung nữ Do đói rét, cực khổ, nạn trộm cướp nổi lên Bọn thống trị lại tăng cường “hình pháp” làm cho đời sống nhân dân càng thêm nghẹt thở Đó đây đã nổi lên những cuộc khởi nghĩa của nông dân và nô lệ Tất cả tình hình ấy đã đẩy mâu thuẫn xã hội thời Xuân thu lên đến đỉnh cao, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc lao nhanh đến giời phút cáo chung
Đến thời kỳ Chiến quốc thì nền kinh tế đã có bước phát triển mạnh
mẽ Nghề luyện sắt đã đạt đến trình độ khá cao Đồ dung bằng sắt, đặc biệt là các công cụ sản xuất như lưỡi cày, liềm, cuốc, rìu, dao được sử dụng phổ biến Các nước đều hình thành những trung tâm luyện sắt lớn như Hàm Đan nước Triệu, Đường Khê nước Hàn, Lâm Truy nước Tề,…Một số nước còn đặt ra chức “thiết quan” chuyên môn quản lý kinh doanh ngành luyện sắt và thu thuế hàng sắt Lúc bấy giờ không chỉ phần lớn công cụ bằng sắt mà kể cả binh khí cũng đều bằng sắt Cho nên những nơi luyện sắt quy mô lớn có đến hàng trăm nô lệ làm việc Nhờ đó mà việc bóc lột lao động của nô lệ cũng làm cho chủ lò trở nên giàu sang Bên cạnh đó thì kỹ thuật thủy lợi và canh
Trang 37tác khai khẩn đất đai cũng ngày càng phát triển Các công trình thủy lợi được xây dựng khắp nơi từ lưu vực Hoàng Hà tới lưu vực Trường Giang, từ Biển Đông đến vùng Tứ Xuyên Từ năm 256 Tr.CN đến năm 251 Tr.CN, Thái thú
Lý Băng của quận Thục nước Tần và con trai là Nhị Lang đã chỉ huy dân binh
Tứ Xuyên xây dựng đập Đô Giang, một công trình thuỷ lợi chủ chốt của Trung Quốc cổ đại Ngoài đập Đô Giang, thời Tần còn có kênh đào Trịnh Quốc (do một người tên là Trịnh Quốc người nước Hàn thiết kế), có tác dụng dẫn nước từ huyện Kinh (Thiểm Tây) vào Lạc Thuỷ, dài hơn 3000 dặm, biến
200 vạn mẫu đất chua phèn của bình nguyên Quan Trung thành đất canh tác màu mỡ, đạt sản lượng cao Nước Tần nhờ đó trở nên giàu mạnh; ngoài ra còn
có kênh Tây Mông Báo ở nước Nguỵ, kênh Hồng, kênh Hàn ở nước Tề, nước
Sở, không những đã đảm bảo tưới tiêu cho đồng ruộng, hạn chế hạn hán và lũ lụt mà còn có vai trò quan trọng trong giao thông đi lại thông thương từ Hoàng Hà đến Trường Giang Công trình thủy lợi được xây dựng ở khắp nơi nhưng vì tình trạng phân tranh giữ các nước nên công tác quản lý thủy lợi vẫn chưa được thống nhất Thậm chí để đối phó với nước thù địch, nhiều nước còn dụng biện pháp ngăn sông, phá đê, đập để gây hạn hán hoặc ngập lụt
Sự phát triển của nghề luyện sắt cũng kéo theo sự phát triển của nghề thủ công như nghề làm gốm, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, nghề chạm trổ vàng bạc,…Những món đồ được chạm vàng dát bạc, hàng dệt lụa và đồ sơn được xem là những sản phẩm thủ công tinh xảo nhất của thời Chiến quốc Nổi tiếng nhất có hàng tơ lụa màu của nước Tề, tranh vẽ màu của nước Sở
Về mặt tổ chức sản xuất thì những nghề thủ công quan trọng đều do nhà nước tổ chức thành các xưởng và trực tiếp quản lý Ngoài ra nền thủ công nghiệp tư nhận cũng phát triển, dù vẫn chịu sự quản lý của nhà nước và phải nộp thuế bằng ba phần mười số thu nhập cho nhà nước Trong dân gian, hiện tượng thủ công nghiệp tách rời khỏi nông nghiệp cũng không ngừng tăng lên Chính bộ phận thủ công nghiệp này đã cung cấp các loại đồ dùng hằng
Trang 38ngày cho quần chúng nhân dân Riêng nghề dệt vải vẫn kết hợp với nông nghiệp do những người phụ nữ tranh thủ thời gian buổi tối hoặc những dịp nông nhàn để sản xuất
Tiền tệ bằng kim loại ra đời vào cuối thời Xuân thu nhưng đến thời kỳ này đã trở nên phổ biến Tiền thường đúc bằng đồng, có loại bằng vàng, có mang tên thành thị hoặc tên nước, hình thức, trọng lượng và giá trị theo mỗi nước cũng khác nhau:
“Các nước Triệu, Ngụy, Hàn dùng tiền đồng hình lưỡi xẻng, gọi là bố布; nước Yên, Tề đúc tiền hình con dao gọi là đao 刀; nước Sở vẫn dùng tiền đồng hình vỏ ốc và vẫn gọi là bối 貝; còn nước Tần và Đông Chu, Tây Chu dùng tiền đồng hình tròn Tuy nhiên, có một số nước có nhiều loại tiền cùng được sử dụng, ví dụ nước Triệu ngoài loại tiền hình lưỡi xẻng (bố) còn dùng tiền hình con dao (đao) và tiền tròn Các đơn vị tiền vàng có dật 逸, cân 斤, kim 金 Dật là đơn vị bằng 24 lạng, 1 cân bằng 16 lạng, 1 kim bằng 8 lạng” (Nguyễn Gia Phu & Nguyễn Huy Quý, 2009, tr.43)
Ở các thành thị lớn, thương nhân còn làm nghề cho vay nặng lãi, đầu
cơ tích trữ, nuôi rất nhiều nô lệ để vận chuyển hàng hóa Quý tộc cũng noi gương thương nhân kinh doanh buôn bán và cho vay nặng lãi Những thương nhân có thế lực về kinh tế thường có nhiều tham vọng chính trị, ví dụ như Lã Bất Vi đã dùng của cải để thao túng chính quyền nước Tần hay Mạnh Thường Quân ở nước Tề cũng tương tự
Thương nghiệp và các trung tâm buôn bán trao đổi hàng hóa hưng thịnh Đô thành các nước và một số thành ấp lập trên những trục lộ giao thông trọng yếu đã biến thành những thành đô sầm uất như Hàm Dương nước Tần, Thọ Xuân nước Sở, Lâm Truy nước Tề, Khai Phong nước Ngụy,… Những đô thành này vừa là trung tâm chính trị vừa là trung tâm công thương nghiệp, có dân số đông đúc, giàu có
Trang 39“Chiến quốc sách nhận xét rằng trước kia “thành tuy lớn cũng không
quá ba trăm trượng, người dẫu đông cũng không quá ba nghìn nhà”,
nhưng đến thời Chiến quốc thì “thành nghìn trượng, ấp vạn nhà có thể
nhìn thấy nhau”” (Nguyễn Gia Phu & Nguyễn Huy Quý, 2009, tr.44)
Tuy nhiên, chiến tranh tàn khốc trên quy mô lớn và liên tục giữa các nước chư hầu đã làm cho đời sống nhân dân lao động ngày càng cùng cực hơn Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên đã làm cho công xã nông thôn tan rã Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần trở thành quan hệ sở hữu thống trị Thay thế cho chế độ thu thuế dựa vào sản lượng thu hoạch trước kia, thì nay thu thuế tính theo số lượng ruộng đất Việc mua bán ruộng đất tự do và sự phổ biến của chế độ tư hữu đã
mở đường cho sự tập trung ruộng đất vào tay một số ít lãnh chúa, địa chủ giàu
có Đa số nông dân nghèo mất hiết ruộng đất phải đi cày thuê, cấy mướn trở thành tá điền, cố nông Chế độ bóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện Trong lòng xã hội đã xuất hiện những yếu tố của quan hệ sản xuất mới, đó là chế độ phong kiến quận huyện Mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt hơn, đã đẩy xã hội tới nguy cơ nghiêm trọng Điều đó chính giai cấp thống trị đã nhận thấy, nên chúng đã tiến hành một số biện pháp cải cách nhằm ngăn chặn nguy cơ đảo lộn xã hội Đó là phong trào “biến pháp” 變法 ở một loạt nước suốt thời Chiến quốc Ngụy Văn Hầu sử dụng biến pháp của Lý Khôi, đặt ra “Pháp kinh”, dùng chế độ luật pháp để củng cố sự thống trị của giai cấp địa chủ Sở Điệu Vương lại dùng biến pháp của Ngô Khởi, thay đổi chế độ thế tập phân phong, chỉnh đốn quan lại, củng cố sự thống trị tập quyền của quân chủ và giai cấp địa chủ Vì ảnh hưởng tới quyền lợi của quý tộc cũ nên cải cách này bị phản đối kịch liệt, nhưng trải qua nhiều trắc trở thì biến pháp này vẫn thu được thành tựu rõ rệt ở các nước chư hầu như Tề, Tấn, Trịnh, Ngô, Triệu,
Năm 362 Tr.CN, trong tất cả những quốc gia lớn thời đó, có vương quốc Tần là mạnh nhất Tần Hiếu Công lên ngôi đã tích cực phát triển nông
Trang 40nghiệp, củng cố và chuẩn bị binh bị Nhờ những cuộc cải cách của Thương Ưởng – đây là biến pháp có ảnh hưởng lớn nhất trong thời kỳ Chiến quốc, vào những năm 359 đến 349 Tr.CN về kinh tế, tổ chức hành chính, pháp luật, tiền tệ, thuế má, chế độ khen thưởng, quan hệ giai trưởng và công xã nông thôn ở nước Tần hoàn toàn tan rã Chính từ những cải cách trên và sử
dựng pháp trị, nước Tần đã trở thành nước mạnh nhất trong “thất hùng” Sử
ký Tư Mã Thiên (1999) cũng ghi lại rằng, biến pháp Thương Ưởng:
“Pháp lệnh thi hành được mười năm, dân Tần vui mừng, ngoài đường không nhặt của rơi, trong núi không có trộm cướp, nhà đủ người no, dân dũng cảm trong lúc chiến đấu vì việc công, khiếp sợ không dám đánh nhau vì việc riêng, làng xóm đều được trị an” (Thiên Thương Quân liệt truyện, tr.261)
Với chính sách hà khắc, để đạt được mục đích thống nhất về tư tưởng
và chính trị trong xã hội, nhà Tần đã chủ trương “chôn nho, đốt sách”, cấm tất cả các học thuyết đương thời, chỉ cho giữ lại và truyền bá các sách về y học, chiêm tinh, nông học, cùng với việc gây chiến tranh chinh phạt, huy động bằng bạo lực hàng chục vạn nông dân xây Vạn Lý Trường Thành, đã phá hoại cơ sở kinh tế và vùng chính trị của nước Tần, nhà Tần đứng đầu là Tần Thủy Hoàng đã tự mình sụp đổ nhanh chóng Cuộc khởi nghĩa nông dân hùng mạnh do Lưu Bang lãnh đạo đã lật đổ nhà Tần, xây dựng lên chính thể của một triều đại mới, đó là nhà Hán, năm 206 Tr.CN
Có thể thấy được rằng, Xuân thu – Chiến quốc là thời kỳ quan trọng, thể hiện một cách rõ rệt sự chuyển biến sâu sắc kinh tế – chính trị – xã hội lúc bấy giờ Trong đó việc cải tiến công cụ sản xuất và đổi mới kỹ thuật là một trong những nguyên nhân sâu xa nhất dẫn đến sự thay đổi xã hội trên quy mô lớn Thời đại mà những nông cụ được thay thế bằng đồ sắt, thời đại của phương thức canh tác và kỹ thuật canh tác mới, chế độ “tỉnh điền” bị xóa
bỏ, thời đại của việc tư hữu ruộng đất được công nhận và bảo vệ, thời đại mà