1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực chất và vai trò của nhận thức luận trong triết học i cantơ tiểu luận cao học

28 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Trong lịch sử tư thưởng nhân loại, I.Cantơ gìữ một vị trí đặc biệt quan trọng, là người vừa sáng lập cổ điển Đức, vừa khai mở nhiều vấn đề của triết học phương Tây hiện đại. Hệ thống triết học phê phán do ông xây dựng gồm ba bộ phận chủ yếu: Triết học lý luận, triết học thực tiễn và triết học thẩm mỹ; trong đó triết học lý luận hay lý luận về nhận thức gìữ một vị trí khởi đầu, có vai trò làm phương pháp luận cho hai bộ phận còn lại. Vì vậy, về mặt lôgíc, người ta chỉ có thể hiểu được nội dung tư tưởng cũng như cách lập luận của I.Cantơ trên bình diện hệ thống, khi xuất phát từ triết học lý luận. Trong lịch sửu triết học, nhận thức luôn là mối quan tâm lớn và rất sớm của nhiều nhà triết học. Đến I.Cantơ, nhận thức luận được bàn luận sâu sắc về phương thức tư duy mang tính chủ thể của I.Cantơ. thực chất của nhận thức là vấn đề trung tâm đối với nhận thức luận của I.Cantơ. Có thể thấy rằng cả ở trong các hệ thống của chủ nghĩa duy lý cổ điển lẩn trong học thuyết của chủ nghĩa kinh nghiệm duy vật, nhận thức luận được xem xét như là kết quả hoạt động tư duy của chủ thể nhằm thấu hiểu thế giới bên ngoài. Nếu chủ nghĩa duy lý thiên về nhận thức lý tính, lấy khái niệm, phạm trù, tư duy lôgíc làm phương tiện chính của nhận thức thì chủ nghĩa kinh nghiệm, ngược lại, nhấn mạnh vai trò của nhận thức cảm tính, lấy các hiện tượng, kinh nghiệm và cảm giác chủ quan đơn lẻ làm tiền đề cơ bản cho nhận thức. I.Cantơ cho rằng: “Không có cảm tính, con người không thể tư duy, tư tưởng thiếu nội dung thì trống rỗng, trực quan thiếu khái niệm thì mù quáng”. Nghiên cứu tư tưởng của I.Cantơ nói chung và nhận thức luận của ông nói riêng là công việc hết sức khó khăn nhưng lại là thường xuyên của những người làm công tác triết học. Đối với sinh viên ngành triết học thì đây là một đòi hỏi không chỉ giúp cho chúng ta nắm được nội dung của vấn đề nhận thức mà còn làm sáng tỏ vai trò của nhận thức về những cống hiến và hạn chế của I.Cantơ trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Hơn nữa, thời đại ngày nay “nhận thức luận” đang được xem là vấn đề cốt yếu trong tư tưởng nhân loại. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề này trong triết học I.Cantơ có thể góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh nhất định mà giới nghiên cứu đang quan tâm. Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề Thực chất và vai trò của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành triết học.

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài:

Trong lịch sử tư thưởng nhân loại, I.Cantơ gìữ một vị trí đặc biệtquan trọng, là người vừa sáng lập cổ điển Đức, vừa khai mở nhiều vấn đềcủa triết học phương Tây hiện đại Hệ thống triết học phê phán do ôngxây dựng gồm ba bộ phận chủ yếu: Triết học lý luận, triết học thực tiễn vàtriết học thẩm mỹ; trong đó triết học lý luận hay lý luận về nhận thức gìữmột vị trí khởi đầu, có vai trò làm phương pháp luận cho hai bộ phận cònlại Vì vậy, về mặt lôgíc, người ta chỉ có thể hiểu được nội dung tư tưởngcũng như cách lập luận của I.Cantơ trên bình diện hệ thống, khi xuất phát

từ triết học lý luận

Trong lịch sửu triết học, nhận thức luôn là mối quan tâm lớn và rấtsớm của nhiều nhà triết học Đến I.Cantơ, nhận thức luận được bàn luậnsâu sắc về phương thức tư duy mang tính chủ thể của I.Cantơ thực chấtcủa nhận thức là vấn đề trung tâm đối với nhận thức luận của I.Cantơ Cóthể thấy rằng cả ở trong các hệ thống của chủ nghĩa duy lý cổ điển lẩntrong học thuyết của chủ nghĩa kinh nghiệm duy vật, nhận thức luận đượcxem xét như là kết quả hoạt động tư duy của chủ thể nhằm thấu hiểu thếgiới bên ngoài Nếu chủ nghĩa duy lý thiên về nhận thức lý tính, lấy kháiniệm, phạm trù, tư duy lôgíc làm phương tiện chính của nhận thức thì chủnghĩa kinh nghiệm, ngược lại, nhấn mạnh vai trò của nhận thức cảm tính,lấy các hiện tượng, kinh nghiệm và cảm giác chủ quan đơn lẻ làm tiền đề

cơ bản cho nhận thức I.Cantơ cho rằng: “Không có cảm tính, con ngườikhông thể tư duy, tư tưởng thiếu nội dung thì trống rỗng, trực quan thiếukhái niệm thì mù quáng”

Nghiên cứu tư tưởng của I.Cantơ nói chung và nhận thức luận củaông nói riêng là công việc hết sức khó khăn nhưng lại là thường xuyêncủa những người làm công tác triết học Đối với sinh viên ngành triết họcthì đây là một đòi hỏi không chỉ giúp cho chúng ta nắm được nội dung

Trang 2

của vấn đề nhận thức mà còn làm sáng tỏ vai trò của nhận thức về nhữngcống hiến và hạn chế của I.Cantơ trong lịch sử tư tưởng của nhân loại.Hơn nữa, thời đại ngày nay “nhận thức luận” đang được xem là vấn đềcốt yếu trong tư tưởng nhân loại Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề nàytrong triết học I.Cantơ có thể góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh nhấtđịnh mà giới nghiên cứu đang quan tâm.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề Thực chất và vai trò của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành triết học

2.Tình hình nghiên cứu của đề tài

Hơn hai thế kỷ trôi qua, kể từ ngày I.Cantơ – người sáng lập ra nềntriết học cổ điển Đức qua đời, lịch sử đã có nhiều biến động, nhân loại đãnhìn nhận, đánh gìá ông dưới nhiều gốc độ khác nhau Rất nhiều côngtrình nghiên cứu về I.Cantơ trong đó có triết học lý luận, triết học thựctiễn và triết học thẫm mỹ của ông, khai thác chưa nhiều Nhìn chung, tàiliệu được dịch ra tiếng Việt có các công trình sau:

- Hội thảo khoa học triết học cổ điển Đức: Nhận thức luận và đạođức học, tham luận của các học giả nước ngoài, Hà Nội 2003

- Hội thảo khoa học triết học cổ điển Đức: Những vấn đề nhận thứcluận và đạo đức học, Hà Nội, 2004 Đây là cuốn sách gồm các tham luậncủa các nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia Hội thảo khoa họcquốc tế về vấn đề triết học cổ điển Đức nhân kỷ niệm 200 năm ngày mấtcủa I.Cantơ – nhà triết học vĩ đại, người sáng lập triết học cổ điển Đức

- Nguyễn Văn Huyên (1996), “Triết học IMANUIN CANTƠ (1724– 1804)”, Trần Thái Đỉnh (2005) Triết học Kant

- Trịnh Đình Bảy (1998), “Vấn đề niềm tin trong triết học I.Cantơ”,Tạp chí triết học, số 1 tháng 2 – 1998 Phạm Minh Lăng (1996), “Cái tiênnghiệm trong triết học I.Cantơ”, Tạp chí triết học, số 2, tháng 4 – 1996

Trang 3

- Lê Công Sự (1998), “Quan niệm về “vật tự nó” của I.Cantơ và sựđánh giá của một số nhà triết học tiêu biểu về quan niệm đó”, Tạp chí triếthọc, số 1, tháng 02 – 1998.

- Vũ Văn Viên (1995),”Quan niệm của I.Cantơ về bản chất của nhậnthức”, Tạp chí triết học, số 1 tháng 3 – 1995

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài là làm rõ thực chất và vai trò của nhận thức

luận trong triết học I.Cantơ

Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

- Phân tích thực chất của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ

- Phân tích vai trò của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

- Cơ sở lý luận của đề tài là những nguyên lý của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được áp dụng vào nghiên cứumột học thuyết triết học

- Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sự kết hợp các nguyên tắcnghiên cứu lịch sử triết học rút ra từ phép biện chứng duy vật với cácphương pháp chung như so sánh, phân tích, tổng hợp, chú gìải theo từngmục và đặc biệt là phương pháp lôgíc và lịch sử

5 Đóng góp của khóa luận

Thông qua việc nghiên cứu nhận thức luận của I.Cantơ khóa luận đãgóp phần nâng cao trình độ tư duy triết học của bản thân, đồng thời giúpchúng ta có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về nhận thức luận.Khóa luận góp phần vào việc làm rõ những vấn đề thực chất, vai tròvới những cống hiến và hạn chế của nhận thức luận I.Cantơ

6 Kết cấu của khóa luận :

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận có haichương (5 tiết)

Trang 4

Chương 1

THỰC CHẤT CỦA NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC

I.CANTƠ1.1. Những vấn đề của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ

1.1.1 Vấn đề tri thức

I.Cantơ cho rằng tri thức của con người là do nhận thức của conngười mang lại, kết quả nhận thức của con người về thế giới Với I.Cantơthì tri thức là một thể thống nhất có 2 mặt:

Mặt thứ nhất, để có tri thức trước hết có những quan niệm, khuônhình của tri thức nhưng chỉ riêng quan niệm thì đó chỉ là khuôn hìnhtrống rỗng không có chất liệu nào cả

Mặt thứ hai, là cảm giác kinh nghiệm có được từ đối tượng mà ra, trithức kinh nghiệm có thể lấy tính xác thực ở đâu ra nếu như tất cả các quytắc mà nó tuân thủ, đến lượt mình cũng là do kinh nghiệm mà có [14;323]

Tri thức theo quan niệm của I.Cantơ có hai cấp độ: kinh nghiệm cảmtính và tri thức khoa học

1.1.2 Vấn đề đối tượng

Đây là bộ phận xác định điều kiện, giới hạn và năng lực của nhậnthức từ đó xác định đối tượng nhận thức và các kết quả của nhận thức làtri thức

Đối tượng của nhận thức là bản thân thế giới nhưng đây là thế giớitri thức con người khác với thế giới nói chung Vào lúc không có conngười thì thế giới đã có rồi “Thế giới chung” và khi con người đã có thìthế giới cũng đã có rồi

Đối tượng nhận thức là thế giới hiện ra của con người chứ khôngphải là thế giới chung mà thế giới bằng những năng lực của con ngườilàm cho thế giới hiện ra Trong cách nhìn ấy thì thế giới có hai phần.Phần thế giới hiện ra trước con người, “thế giới hiện tượng” thế giớinày chỉ tồn tại phụ thuộc vào năng lực của con người

Trang 5

Phần thế giới vật tự nó, I.Cantơ cho rằng thế giới nói chung, nguyên

là vật tự nó, thế giới này không phụ thuộc vào con người, không do conngười mà có, nhưng thế giới này tác vào giác quan con người thì lúc nàythế giới này xuất hiện, thế giới hiện tượng nó được sinh ra “tự nó – và sựtồn tại của giác quan con người”, nhưng thực ra chỉ nhận thức được thếgiới thông qua nhận thức con người mà thôi

Theo I.Cantơ, thế giới hiện tượng là thế giới hữu hình, hữu hạn, cógiới hạn của nó về mặt không gian và thời gian Đây là thế giới tuân theoquy luật, tuần hoàn theo những quy luật tất yếu ,tuân theo liên hệ nhậnquả, trật tự chi phối

Phần thứ hai của thế giới “thế giới câm”, tự nó mà có, tự bản thân

nó có, tự nó tồn tại, sự vật hữu hình “không có hình hài chứ không phải làsiêu hình” Cho nên thế giới này không có không gian và thời gian

Nếu như thế giới hiện tượng tuân theo tự do thì ở thế giới này khôngtuân theo quy luật, không có liên hệ nhân quả, thì thế giới tự do “tự donó” không bị ràng buộc

Thế giới này gọi là siêu nghiệm không thể sống trải và chúng tachẳng có kinh nghiệm nhận ra

1.1.3 Vấn đề năng lực nhận thức

Theo I.Cantơ thì con người ta nhận thức bằng lý tính, lý luận “lýtính tiên thiên” năng lực này có 3 cấp độ Đó là cảm năng, trí năng và lýnăng Lý tính tiên thiên trong nhận thức gọi là lý tính nhận thức

Cảm năng là năng lực, khả năng đem lại cho con nguời ta tri thứckinh nghiệm cảm tính

Trí năng là năng lực đem lại cho con người những tri thức khoa họcvới hai đặc tính phổ quát và tất yếu Tri thức này là tri thức về quy luật,tính liên hệ tất yếu, nhân quả nên nó tất yếu

Lý năng: đây không phải là năng lực tri thức mà đây là năng lựcđem lại cho con người những ý tưởng, cái tuyệt đối, không phải là cáihữu hình nằm ngoài quy luật, cái tuyệt đối chính là vật tự nó,không cho tahiểu biết nào

1.1.4 Quá trình nhận thức

Trang 6

Con người ta có tri thức là nhờ vào hoạt động của năng lực nhậnthức, nhưng có hay không là nhờ vào quá trình nhận thức đó là quá trìnhthực hiện, triển khai phát huy năng lực này thì mới có tri thức.

Từ đó cho rằng năng lực phát sinh ra quá trình nhận thức

Quá trình hoạt động của cảm năng bằng cảm tính, kết quả của trithức kinh nghiệm cảm tính đó là tri thức không gian và thời gian

Quá trình hoạt động lý năng được coi là quá trình nhận thức, nhưngcoi quá trình nhận thức phải đem lại tri thức, thì hoạt động lý năng khôngđem lại tri thức

Ý niệm về cái tuyệt đối có 3 phương diện

Ý niệm về cái tuyệt đối ở bên ngoài ta “có cái tuyệt đối ở ngoài ta”

lý năng hướng tới cái tuyệt đối bên ngoài con người

Lý năng hướng tới cái tuyệt đối ở trong ta, nhưng vượt hết thảy mọicảm giác khách thể “thì đạt đến linh hồn bất tử”

Cái tuyệt đối cả trong ta và ngoài ta, khi lý năng hướng đến cáitrong ta và ngoài ta

Vật tự nó chính là vũ trụ vô hạn, linh hồn bất tử và chúa trời.I.Cantơ cho rằng con người có ý niệm về vật tự nó nhưng lý tính một mặtchỉ đem lại cho người ta cái tuyệt đối

Lý tính tạo ra cái mường tượng mà nó còn có sự ham muốn về sự cótri thức về cái tuyệt đối nhưng không chỉ ước vọng như thế mà muốn thựchiện nó nên nó muốn thực hiện ham muốn này thì phải tìm kiếm công cụ,nhưng công cụ đã có sẵn đâu? Do vậy nên phải mượn lại bộ công cụ củacác phạm trù lí năng “công cụ không phải để nhận thức cái tuyệt đối” mà

để nhận thức hiện tượng thôi “không phải là công cụ để nhận thức cái tự

nó được” Ở đây, nó nảy sinh mâu thuẩn, vấp phải những Antromia

“những mâu thuẩn của lý tính”

Đây là những sai lầm của lý tính, những cái gốc của sai lầm đó là sửdụng công cụ không phù hợp với đối tượng

Vật tự nó là vật bất khả tri Con người đến bây gìờ vẫn bất lực trướcvật tự nó Lập trường của I.Cantơ duy tâm tiên nghiệm “

I.Cantơ xuất phát từ lập trường nhất nguyên nhưng lại rơi vào nhịnguyên, ở chổ thế giới theo I.Cantơ vừa là thế giới hình tượng vừa là vật

Trang 7

tự nó Nhị nguyên ở công cụ nhận thức, ở nguồn gốc tri thức, ở tính bấtkhả tri

1.2 Nội dung cơ bản của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ

Thực chất của nhận thức là vấn đề trung tâm đối với nhận thức luậntrước I.Cantơ Có thể nhận thấy rằng cả ở trong các hệ thống chủ nghĩaduy lý cổ điển lẫn trong các học thuyết chủ nghĩa kinh nghiệm duy vật,nhận thức được xem như kết quả hoạt động tư duy của chủ thể nhằm thấuhiểu thế giới bên ngoài

Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, I.Cantơ đã đặt ra vấn đề tínhkhách quan ở chủ thể hiện nhận thức

Trong tác phẩm phê phán lý tính thuần túy, một trong những nộidung cơ bản của triết học lý luận được I.Cantơ nêu ra là: tri thức khoa họcchân chính có khả năng đến đâu Vấn đề là ở chỗ, những vấn đề làm nêntính xác thực của tri thức, theo I.Cantơ, được tạo ra bởi những hình thứctiền kinh nghiệm của nhận thức cảm tính Đó là trình độ nhận thức thứnhất của nhận thức [14; 301]

Theo I.Cantơ nhận thức kinh nghiệm là khởi đầu của nhận thức quynạp, nhưng tính xác thực của các khái quát quy nạp nhờ kinh nghiệm lạikhông nằm trong kinh nghiệm mà ở lý trí (nó mang tính tiên nghiệm) I.Cantơ khẳng định rằng: mọi nhận thức đều bắt đầu từ kinh nghiệm(cảm tính) Nhưng, cho dù toàn bộ nhận thức của con người được bắt đầu

từ kinh nghiệm, thì điều đó không hoàn toàn không có nghĩa là tri thứcđược sinh ra hoàn toàn từ kinh nghiệm

Vấn đề đặt ra: trực quan thuần túy có thể thực hiện bằng cách nào.Khi nói đến trực quan đó là biểu tượng liên quan trực tiếp đến một đốitượng nào đó

I.Cantơ thừa nhận có hai trình độ của kinh nghiệm; một kinh nghiệmđược xây dựng trên cơ sở những tri giác cảm tính, nhưng để kinh nghiệm

có ý nghĩa là kinh nghiệm khoa học Như vậy theo I.Cantơ, thì “ý nghĩakhách quan và tính phổ biến, tất yếu thực chất là những khái niệm đồngnhất, dù chúng ta không biết khách thể như nó vốn có là như thế nào,nhưng khi ta cho phán đoán tính phổ biến và thông qua nó là tất yếu, thì

Trang 8

chúng ta đã cho nó ý nghĩa khách quan”, tính khách quan đó có được theoI.Cantơ là nhờ các khái niệm của lý trí thuần túy [14; 332].

Để đảm bảo tính tất yếu và phổ biến của tri thức khoa học và trithức triết học, theo I.Cantơ thừa nhận vật phải phù hợp với nhận thức củachúng ta chứ không phải nhận thức của chúng ta phải phù hợp với vật Vìnhận thức phải trùng hợp với đối tượng mới tạo nên chân lý

Song I.Cantơ còn gìải thích, làm thế nào chủ thể lại có thể nhậnthức cả đối tượng hiện thực, sau khi đã tạo ra trong tư duy siêu nghiệmkhái niệm tiên nghiệm về “đối tượng nói chung” Thực vậy, vì “đối tượngnói chung” được tạo ra bởi tư duy siêu nghiệm, tức là bởi cái gì đó thuầntúy tư tưởng Trong khi đó đối tượng kinh nghiệm tồn tại hiện thực ngoài

tư duy và các khái niệm về nó: Điều này nói đến mối quan hệ gìữa cácđối tượng với “các đối tượng nói chung”, thì trong triết học I.Cantơ mọiđối tượng chỉ tồn tại như là đối tượng của ý thức, còn tất cả những gì nằmngoài khuôn khổ ấy đều được I.Cantơ coi là “vật tự nó” Vì thế mọi đốitượng đối với I.Cantơ đều là hiện tượng, tức là sản phẩm của ý thức conngười Vậy thì thế giới đó diễn ra phụ thuộc vào năng lực, khả năng cáchnhìn của con người về thế giới thôi, khả năng con người phản ánh thếgiới Đó là một phần của thế giới hiện ra trước con người chứ không phảitất cả (của thế giới nói chung) Bởi vì thế giới nói chung, nguyên là vật tự

nó thì thế giới này không lệ thuộc vào con người, không do con người mà

có, nhưng khi thế giới này tác vào giác quan con người thì lúc này thếgiới xuất hiện, thế giới hiện tượng nó được sinh ra “tự nó” – và sự tồn tạicủa giác quan của con người, nhưng thực ra chỉ nhận thức được thế giớithông qua nhận thức con người mà thôi Bởi vì, luận điểm cơ bản củaI.Cantơ là: Có một “vật tự nó” ở bên ngoài tầm nhìn lý tính của chúng ta,chúng ta phải có cách nhận thức khác (ngoài lý tính) mới có thể hiểu đượcbản chất sâu xa của sự vật

Trang 9

Vậy từ quan điểm đó ta nói đến năng lực nhận thức là cái gì? “Tôi

có thể nhận biết được cái gì?” Nếu trả lời được câu hỏi này thì sẽ tạo tiền

đề lý luận cơ bản để đi tới việc trả lời câu hỏi “Con người là gì”

Từ đối tượng của nhận thức, nảy sinh năng lực nhận thức thế nào?Được thực hiện nhờ khả năng nhận thức ở trình độ nhận thức lý tính Ởtrình độ này lý trí đó chính là tư duy với hệ thống các khái niệm và cácphạm trù của mình đã thực hiện các phán đoán để xây dựng đối tượngnhận thức

Ở gìai đoạn nhận thức lý tính tư duy con người bắt gặp ba ý niệm

cơ bản đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người Linhhồn - đối tượng nghiên cứu chủ yếu của tâm lý học duy lý; vũ trụ - đốitượng nghiên cứu chủ yếu của siêu hình học duy lý; thượng đế - đốitượng nghiên cứu chủ yếu của thần học tiên nghiệm

Vậy, linh hồn, vũ trụ, thượng đế ba đối tượng của siêu hình học, mà

lý tính – cấp độ cao nhất của nhận thức con người đã nhiều lần muốnvươn tới nhưng gặp phải antinomi Điều đó chứng tỏ rằng nhận thức conngười có giới hạn và con người chỉ nhận thức được những gì nằm trongkhuôn khổ của thế giới hiện tượng, vượt ra ngoài thế giới đó là vươngquốc của thế giới vật tự nó Đó là lời gìải đáp cho câu hỏi: “Tôi có thểnhận biết được cái gì?”[14; 314–315]

Theo I.Cantơ hiểu “vật tự nó” được hiểu:thứ nhất, đó là những

hiện tượng (được I.Cantơ đồng nhất với các kinh nghiệm), mà chúng ta

chưa nhận thức được; thứ hai, đó là bản chất của mọi sự vật tồn tại bên

ngoài chúng ta, thuộc về lĩnh vực siêu nghiệm và về nguyên tắc chúng ta

không thể nhận thức được; thứ ba, “vật tự nó” là những lý tưởng, chuẩn

mực của mọi sự hoàn hảo tuyệt đối mà con người không thể đạt được, lànhững điều mà nhân loại hằng mơ ước – đó là chúa, tự do, sự bất tử củalinh hồn[14;336]

Trang 10

I.Cantơ quan niệm như vậy về “vật tự nó” thể hiện rõ tính chất nhịnguyên trong quan niệm của ông về thế giới đồng thời thể hiện rõ quanniệm của ông về giới hạn nhận thức của con người Một mặt khẳng định

“vật tự nó” có các sự vật tồn tại bên ngoài chúng ta, thể hiện như một nhàduy vật Còn mặt khác “vật tự nó” thể hiện sự tồn tại của chúa, sự bất tửcủa linh hồn, trên gốc độ này I.Cantơ là nhà duy tâm

Từ quan niệm “vật tự nó” I.Cantơ xây dựng lý luận về nhận thứcluận của mình Ông cho rằng, nhận thức không phải là sự phản ánh sự vậttrong hiện thực khách quan mà là quá trình con người tạo ra tri thức nhờ

tư duy của ta vận dụng khái niệm vào lĩnh vực kinh nghiệm (giác tính)

Do vậy, theo I.Cantơ đối tượng lý luận về nhận thức là nghiên cứu hoạtđộng nhận thức của con người trong phạm vi hiện tượng luận để tạo ra trithức, xác định những quy luật hoạt động của trí tuệ và giới hạn trí tuệ củacon người

Gìai đoạn nhận thức lý tính thuần túy Lý tính kết hợp với cácphạm trù tiên thiên có thể cho ta tri thức về sự vật, hiện tượng

Khi lý tính thuần túy muốn xâm nhập vào nhận thức (vật tự nó ) thìgặp phải antinomi.Một mặt phản ánh sự bất lực của lý tính lý luận thuầntúy ,mật khac lại thể hiện tinh thần biên chứng của ông

Ở đây lại có câu hỏi đặt ra: tại sao lại có những giới hạn của nhậnthức ấy Bởi vì trong quan niệm về vật tự nó, I.Cantơ cho rằng gìữa “hiệntượng” với “vật tự nó” là hoàn toàn khác biệt nhau

Bên cạnh những hạn chế về quan niệm bản chất và giới hạn củanhận thức, thì có những mặt hợp lý

Một là: I.Cantơ đã phân biệt một cách rõ ràng nhận thức lý luận vànhận thức kinh nghiệm Quá trình vận động biến đổi của nhận thức lýluận tuân theo những quy luật đặc thù của nó, không thể đồng nhất nhậnthức lý luận và nhận thức kinh nghiệm

Trang 11

Hai là: I.Cantơ đã nhấn mạnh vai trò của tư duy trừu tượng, haycủa nhận thức lý tính đối với nhận thức cảm tính Nhận thức lý tínhhướng dẫn nhận thức cảm tính, làm cho tri giác của con người mang tính

tự giác, có phương hướng xác định, chủ động

Ba là: I.Cantơ nhấn mạnh đến vai trò của chủ thể con người trong

quá trình nhận thức Con người chỉ có thể tạo ra tri thức của mình, chứkhông chỉ là sự tiếp nhận của thế giới bên ngoài, không phải thụ động phụthuộc vào thế giới bên ngoài

Bốn là: ông đưa ra quan niệm về “vật tự nó”, bên cạnh việc thừanhận giới hạn nhận thức con người thì I.Cantơ còn muốn khẳng định tínhphức tạp đầy mâu thuẫn của quá trình con người nhận thức thế giới, cũngnhư về mối quan hệ gìữa con người với thế giới nói chung[14; 341 –342]

Thực chất từ những vấn đề được I.Cantơ đưa ra trong nhận thứcluận, thì những vấn đề đó liên quan với nhau một cách lôgíc, nhằm tạo ranét đặc biệt riêng của triết học I.Cantơ, mở ra những quan niệm mới cho

sự phát triển lý luận nhận thức mà mãi cho đến tận bây gìờ người ta vẫnđang quan tâm và bàn đến

Chương 2

VAI TRÒ CỦA NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC I.CANTƠ

2.1 Vị trí của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ

Nhận thức luận, nó là phương pháp luận của triết học I.Cantơ Vấn

đề độc đáo đã được đặt ra đó là về đối tượng nghiên cứu của triết học nhưthế nào và phương pháp tư duy nghiên cứu triết học ra sao?

Phương thức tư duy mang tính chủ thể của I.Cantơ đầu tiên làphương thức tự phê phán đối với bản thân lý tính để khỏa sát năng lựcphát sinh quan hệ ngoại giới với chủ thể

Trang 12

Theo I.Cantơ, những người đi trước đều bàn về nhận thức nhưngkhông một ai đi sâu xem xét năng lực nhận thức của con người, họ vậndụng sự phê phán lý tính đi theo đối tượng chứ không hề tiến hành sự phêphán với bản thân lý tính Nhiệm vụ ông đặt ra là trước khi nhận thức thìphải xét năng lực nhận thức của con người, trước khi phê phán lý tính đốivới ngoại giới thì hãy xem xét với tính phê phán đối với lý tính đã.

Đặc điểm của phương thức tư duy mang tính chủ thể là căn cứ từgốc độ năng lực, phạm vi và giới hạn của chủ thể để đi tìm câu trả lời chocuộc tranh luận gìữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là vấn đềbản nguyên của thế giới

Đặc trưng cơ bản nhất của phương pháp tư duy chủ thể tích củaI.Cantơ là lấy chủ thể làm trục xuyên suốt để gìải quyết vấn đề nhận thứcluận

I.Cantơ cho rằng nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt được những trithức mang tính tất nhiên phổ biến

Theo I.Cantơ cho rằng, suy cho cùng tính khả năng của tri thức tấtnhiên, phổ biến ở tính năng động trong nhận thức chủ thể, nghĩa là tồn tạimột “cái tôi tiên nghiệm” ở đây nói về nhận thức của chúng ta trong quan

hệ với năng lực nhận thức mà thôi

Một là, giai đoạn năng lực trực quan và nhận thức cảm tính Đây lànăng lực do chúng ta tác động vào hiện tượng của đối tượng để tiếp thubiểu tượng

Hai là, năng lực tư duy giác tính và gìai đoạn giác tính của nhậnthức I.Cantơ cho rằng, chủ thể không chỉ có năng lực trực quan cảm tính

mà còn có năng lực tư duy giác tính, đó chính là “năng lực khiến tôi cóthể tư duy”

Ba là, I.Cantơ cho rằng, năng lực tổng hợp của lý tính và gìai đoạn

lý tính của nhận thức Ông nói: “Tất cả các tri thức của tôi bắt đầu từ cảm

Trang 13

quan tiến tới giác tính và kết thúc ở lý tính, và ngoài lý tính thì không cónăng lực nào cao hơn”

Vị trí của phương pháp luận đặt trong mối quan hệ với triết học thựctiễn

I.Cantơ cho rằng, tính chủ thể của con người không chỉ thể hiệntrong hoạt động nhận thức mà còn tồn tại trong thực tiễn đạo đức

I.Cantơ quan tâm và coi trọng đối với lý tính thực tiễn về bản chấtchính là thể hiện sự quan tâm, coi trọng đối với tính chủ thể của conngười, nó khiến cho việc nghiên cứu tính chủ thể từ nhận thức luận đượcnâng cao đến mức thực tiễn luận, đạo đức luận, biến nó từ vấn đề nhận thứcthuần túy trở thành vấn đề thực tiễn đạo đức

Chủ trương của I.Cantơ là phát huy tính chủ thể của con người trongthực tiễn đạo đức, nhấn mạnh đến việc phát huy sức mạnh đức tin, thôngqua tự luật đạo đức của chủ thể để tuân theo quy luật đạo đức, đạt tới ý chí tự

do, thực hiện ý chí thiện lương

Vị trí phương pháp luận đặt trong mối quan hệ với triết học thẩmmỹ

Theo I.Cantơ, con người là động vật theo đuổi và sáng tạo nên thếgiới lý tưởng Nhu cầu về sự thống nhất gìữa chân – thiện – mỹ và trongtri thức tình cảm và ý chí là nội dung quan trọng trong hoạt động chủ thểcủa con người

Vấn đề ông bàn đến là mỹ cảm – cảm giác vui sướng là một loại thụcảm của chủ thể

I.Cantơ cho rằng, xem xét từ mặt chất, sức thưởng thức là một loạinăng lực hoạt động tình cảm thuần túy vượt lên trên quan hệ lợi hại, làmột sức phán đoán tình cảm dựa vào sự xúc động hay phản vô lợi hại đốivới đối tượng nào đó và phương pháp của nó

Trang 14

Tư duy chủ thể tính và phương thức nghiên cứu của I.Cantơ đã vượt

ra khỏi giới hạn của phương thức tư duy nhận thức cận đại

Vị trí đặt trong mối quan hệ với nhận thức luận trước I.Cantơ và sauI.Cantơ

Nhiệm vụ trọng tâm của triết học cận đại XVII – XVIII là lý luậnnhận thức, là tìm ra phương pháp của tri thức chân lý cho tất cả các khoahọc

Phe Bêcơn, T.Hôpxơ, J Lốccơ – những người theo chủ nghĩa kinhnghiệm cho rằng nguồn gốc duy nhất của tri thức là kinh nghiệm

Đềcáctơ, Lépních, X Pinôda và một số người khác theo chủ nghĩaduy lý cho rằng: kinh nghiệm dựa trên cảm giác con người không trởthành phương pháp chung cho mọi khoa học được

Cuộc tranh luận gìữa các nhà triết học xung quanh việc tìm cơ sởcủa phương pháp mới chính là cuộc tranh luận chiến gìữa chủ nghĩa kinhnghiệm và chủ nghĩa duy lý thời cận đại thế kỷ XVII – XVIII

Thành tựu lớn nhất của nền triết học cổ điển Đức là phép biệnchứng Phép biện chứng duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đứcbắt đầu từ I.Cantơ qua Phíchtơ, Sêlinh đến đỉnh cao là Hêghen

Học thuyết của I.Cantơ về mâu thuẫn (Antinomi) đã góp phần quantrọng trong sự phát triển phép biện chứng với tư cách là lôgíc và phươngpháp luận

Theo Hêghen, triết học là sự xem xét đối tượng một cách có suynghĩ Đối tượng của triết học trùng với đối tượng của tôn gìáo đó là kháchthể tuyệt đối vô hạn thượng đế Còn tư duy nói chung là cái làm cho conngười khác với động vật, sự phát triễn của triết học Hêghen là phươngpháp biện chứng, đây là phương pháp suy ngẫm triết học về thế giới

Ngày đăng: 17/08/2017, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w