1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TL triết học nhận thức luận trong triết học của cantơ

19 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 128,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, triết học cổ điển Đức là một giai đoạn phát triển rất quan trọng, xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII và tồn tại cho đến hết thế kỷ XIX, cùng với Phoiơbăc, Hêghen, thì Cantơ là một trong những đại biểu tiêu biểu nhất. Những đóng góp quan trọng của Cantơ làm cho ông xứng đáng là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức vĩ đại này. Triết học cổ điển Đức được xem là sự chuẩn bị lý luận đầy đủ nhất cho sự ra đời của triết học Mác. Cùng với triết học thẩm mỹ; triết học thực tiễn thì triết học lý luận là một trong ba bộ phận quan trọng trong triết học của Cantơ. Triết học lý luận là nền tảng duy tâm tiên nghiệm của triết học Cantơ, bao hàm những tư tưởng sâu sắc về nhận thức của con người và có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của người Tây Âu từ đó đến nay. Triết học lý luận đã tạo ra một “cuộc cách mạng Côpécníc” trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học lý luận của ông là sự tổng kết những vấn đề mà nhận thức nhân loại đã và đang đặt ra cho thời đại ông. Những tổng kết của Cantơ bắt đầu từ chỗ phê phán, tìm tòi rồi đi đến sáng tạo, mở ra nhiều vấn đề, nhiều con đường mới cho sự phát triển của lý luận nhận thức và phương pháp của lôgíc học về sau này. Với tầm quan trọng đó, việc nghiên cứu “triết học lý luận” của Cantơ là một vấn đề cấp thiết. Tìm hiểu triết học lý luận của Cantơ không chỉ giúp chúng ta làm sáng tỏ những đóng góp của Cantơ đối với lịch sử triết học mà còn giúp chúng ta nắm vững hơn những nguyên lý của triết học Mác, trong đó có kế thừa nhất định những thành tựu mà triết học Cantơ đã đạt được. Vì vậy em lựa chọn vấn đề “Nhận thức luận trong triết học của Cantơ” làm tiểu luận nghiên cứu của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC CỦA CANTƠ 3

1 Vài nét về triết học cổ điển Đức 3

2 Vài nét về cuộc đời và triết học của Cantơ 4

2.1.Vài nét về cuộc đời Imanuen Cantơ 4

2.2 Triết học của Cantơ 4

2.2.1.Thời kỳ tiền phê phán 4

2.2.2.Triết học thời kỳ phê phán 5

3 Những nội dung chính của “triết học lý luận” 7

3.1.Học thuyết về cảm giác siêu nghiệm 10

3.2.Học thuyết về phép phân tích siêu nghiệm 11

3.3.Học thuyết về phép biện chứng siêu nghiệm 12

KẾT LUẬN 17

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, triết học cổ điển Đức là một giai đoạn phát triển rất quan trọng, xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII và tồn tại cho đến hết thế kỷ XIX, cùng với Phoiơbăc, Hêghen, thì Cantơ là một trong những đại biểu tiêu biểu nhất Những đóng góp quan trọng của Cantơ làm cho ông xứng đáng là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức vĩ đại này Triết học cổ điển Đức được xem là sự chuẩn bị lý luận đầy đủ nhất cho sự ra đời của triết học Mác

Cùng với triết học thẩm mỹ; triết học thực tiễn thì triết học lý luận là một trong ba bộ phận quan trọng trong triết học của Cantơ Triết học lý luận

là nền tảng duy tâm tiên nghiệm của triết học Cantơ, bao hàm những tư tưởng sâu sắc về nhận thức của con người và có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của người Tây Âu từ đó đến nay Triết học lý luận đã tạo ra một

“cuộc cách mạng Côpécníc” trong lịch sử tư tưởng nhân loại Triết học lý luận của ông là sự tổng kết những vấn đề mà nhận thức nhân loại đã và đang đặt ra cho thời đại ông Những tổng kết của Cantơ bắt đầu từ chỗ phê phán, tìm tòi rồi đi đến sáng tạo, mở ra nhiều vấn đề, nhiều con đường mới cho sự phát triển của lý luận nhận thức và phương pháp của lôgíc học về sau này

Với tầm quan trọng đó, việc nghiên cứu “triết học lý luận” của Cantơ là một vấn đề cấp thiết Tìm hiểu triết học lý luận của Cantơ không chỉ giúp chúng ta làm sáng tỏ những đóng góp của Cantơ đối với lịch sử triết học mà còn giúp chúng ta nắm vững hơn những nguyên lý của triết học Mác, trong đó

có kế thừa nhất định những thành tựu mà triết học Cantơ đã đạt được Vì vậy

em lựa chọn vấn đề “Nhận thức luận trong triết học của Cantơ” làm tiểu

luận nghiên cứu của mình

Trang 3

NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC CỦA CANTƠ

1.Vài nét về triết học cổ điển Đức

Khái niệm “triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ triết học của nước Đức

ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu từ hệ thống triết học của I.Cantơ, trải qua Phíchtơ, Senlinh đến triết học duy tâm khách quan của Hêghen và triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc

Chỉ trong khoảng một thế kỷ, triết học cổ điển Đức đã tạo những tiền

đề lý luận hết sức quan trọng cho sự ra đời của triết học Mác vào giữa thế

kỷ XIX Triết học cổ điển Đức ra đời trong một điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt Nước Đức vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình với 360 quốc gia tự lập trong Liên bang Đức, hết sức lạc hậu về kinh tế và chính trị Trong khi đó, ở nước Anh với cuộc cách mạng công nghiệp, ở Pháp với cuộc cách mạng tư sản nổ ra đã làm rung chuyển Châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp

Chính thực tại đau buồn của nước Đức và tấm gương của các nước Tây

Âu đã thức tỉnh tinh thần phản kháng của giai cấp tư sản Đức Nhưng giai cấp này sống rải rác ở những vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ bé về số lượng, yếu kém về kinh tế và chính trị nên họ vừa muốn làm cách mạng lại vừa muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển của đất nước Chính điều này đã quy định nét đặc thù của triết học cổ điển Đức: Nội dung cách mạng dưới một hình thức duy tâm, bảo thủ; đề cao vai trò tích cực của tư duy con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học

Trên một ý nghĩa nhất định, triết học cổ điển Đức không chỉ là sự phản ánh những điều kiện kinh tế - chính trị và xã hội nước Đức mà còn của cả các nước Châu Âu lúc đó

Trang 4

2.Vài nét về cuộc đời và triết học của Cantơ

2.1.Vài nét về cuộc đời Imanuen Cantơ

Imanuen Cantơ (1724- 1804) được mọi người biết đến là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức; là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng phương Tây trước C.Mác Triết học Cantơ là “nền tảng

và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học Cantơ ”

Cantơ sinh năm 1724, trong một gia đình quý tộc Phổ ở Kênixbéc Năm

1745 ông tốt nghiệp đại học tổng hợp Kênixbéc và trở thành một gia sư Năm

1755, ông bắt đầu giảng dạy siêu hình học và các môn học tự nhiên ở đây Từ năm 1770, ông chủ yếu quan tâm đến những vấn đề triết học Hầu như phần lớn các công trình nghiên cứu của ông đều gắn liền với việc giảng dạy của ông ở trường đại học Tổng hợp Kenixbéc từ năm 1755 đến cuối đời. Ông là một trong những học giả uyên bác nhất đương thời, ông giảng dạy về nhiều lĩnh vực: siêu hình học, logic học và toán học, cơ học, địa chất học…

Trong suốt cuộc đời 80 năm của mình, ông đã sản sinh ra hàng loạt các

tác phẩm nổi tiếng để đời như : Phê phán lý tính thuần túy (1781); Mở đầu khoa siêu hình học tương lai (1783); Các nguyên tắc của siêu hình học về đạo đức (1785) Phê phán lý tính thực tiễn (1788); Phê phán năng lực phán đoán (1790); Nhân học (1798)…

2.2 Triết học của Cantơ

Lịch sử phát triển tư tưởng triết học của Cantơ được chia làm hai thời kỳ: thời kỳ tiền phê phán (1745 - 1769) và thời kỳ phê phán (1770 - 1804)

2.2.1.Thời kỳ tiền phê phán

Thời kỳ đầu, các tác phẩm chủ yếu của Cantơ viết về triết học tự nhiên

Chẳng hạn như trong tác phẩm Lịch sử tự nhiên đại cương và học thuyết về bầu trời (viết năm 1755), ông đã đưa ra giả thuyết giải thích nguồn gốc sự

hình thành của vũ trụ Trong các tác phẩm triết học của thời kỳ tiền phê phán,

Trang 5

lúc đầu Cantơ chịu ảnh hưởng của triết học Lépnít và Vônphơ nhưng về sau,

trong các tác phẩm Về những sai lầm tinh tế của bốn loại hình tam đoạn luận (xuất bản 1762) và trong Kinh nghiệm của việc dựa vào triết học khái niệm các đại lượng phủ định (xuất bản 1763) thì Cantơ đi tìm hạn chế của chủ

nghĩa duy lý và logic Với ảnh hưởng của Hium, Cantơ ngày càng xa rời cách nhìn duy lý và logic Đó chính là xuất phát cho sự chuyển biến từ các tác phẩm thời kỳ tiền phê phán sang các tác phẩm thời kỳ phê phán

2.2.2.Triết học thời kỳ phê phán

Do chịu ảnh hưởng của các biến đổi ở Pháp và Tây âu trước cách mạng

tư sản 1789 và đặc biệt là ảnh hưởng của Hium, thế giới quan của Cantơ đã biến đổi Ông đặt nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ các vấn đề triết học từ trước tới nay trên tinh thần phê phán như quan niệm về con người, về lý tính, về khả năng nhận thức của con người, về hành vi đạo đức, về trách nhiệm và hạnh phúc của con người Theo Cantơ, khoa học về con người chưa được chú trọng nghiên cứu và phát triển đúng mức, chưa hướng vào việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn để con người có cách nhìn

về bản thân và thế giới, từ đó vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho hoạt động sống của con người vì những lý tưởng nhân đạo, đạo đức, tự do, xứng với nhân vị của con người Hệ thống triết học của Cantơ được thể hiện qua bộ 3

tác phẩm “Phê phán” nổi tiếng của ông Trong Phê phán lý tính thuần túy

(1781), ông trình bày nhận thức luận Ngoài ra, nhận thức luận còn được trình

bày một cách phổ cập hơn trong cuốn Tiểu luận về mọi siêu hình học tương lai có quyền được tự coi là khoa học (1783) Luân lý học của ông được trình bày trong cuốn Phê phán lý tính thực tiễn (1788) Cuốn Phê phán năng lực phán đoán (1790) dành chủ yếu cho những vấn đề mỹ học và cả vấn đề về

tính có mục đích trong thế giới hữu cơ

Theo Cantơ, các triết gia từ xưa tới nay hình như quên mất vấn đề quan trọng là con người Vì vậy, Cantơ đặt nhiệm vụ hàng đầu cho mình là phải

Trang 6

xác định bản chất của con người, toàn bộ các vấn đề của triết học phải được hướng vào việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người Triết học phải đem lại cho con người một cơ sở và nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc cơ bản của cuộc sống con người

vì những lý tưởng nhân đạo Để làm được điều đó thì triết học phải lý giải các vấn đề : Tôi có thể biết được cái gì?, Tôi cần phải làm gì?, Tôi có thể hy vọng cái gì?, Con người là gì?

Bước ngoặt trong sự phát triển triết học của Cantơ là cuộc gặp gỡ của ông với thuyết duy nghiệm của Hume Ông nói: “Tôi công khai thú nhận, gợi ý của David Hume chính là điều lần đầu tiên đã đánh thức tôi ra khỏi giấc ngủ giáo điều nhiều năm về trước và đã vạch ra một hướng đi mới cho các tra cứu của tôi trong lĩnh vực tư duy triết học” Cantơ từ chối theo con đường của Hume không chỉ vì nó có thể dẫn ông tới chủ nghĩa hoài nghi, mà còn vì ông cảm thấy rằng, mặc dù Hume đã đi đúng đường nhưng không hoàn thành nhiệm vụ giải thích làm thế nào để đạt được tri thức Vì vậy, Cantơ đã tìm cách xây dựng trên điều mà ông nghĩ là có giá trị cả trong chủ nghĩa duy lý lẫn trong chủ nghĩa duy nghiệm, bác bỏ điều gì không thể bảo vệ trong hệ thống này Ông bắt đầu một đường lối mới mà ông gọi là “triết học phê phán”

Triết học phê phán của Cantơ chủ yếu phân tích khả năng của lý trí con người, được ông hiểu là “ một sự truy tìm phê phán khả năng của lý trí liên quan tới mọi nhận thức mà nó có thể cố gắng đạt tới một cách độc lập với mọi kinh nghiệm” Đường lối triết học phê phán của ông đặt ra là “năng lực hiểu biết và lý trí có thể biết những gì và bao nhiêu mà không cần kinh nghiệm?” Chính vì vậy, triết học lý luận của Cantơ chủ yếu đề cập tới nhận thức luận và lôgic học với mục đích xây dựng một nền tảng thế giới quan mới cho con người nhằm giải đáp cho câu hỏi “con người có thể biết được cái gì?”

Trang 7

3 Những nội dung chính của “triết học lý luận”

Triết học lý luận là một trong ba bộ phận cơ bản của triết học Cantơ, nó giải quyết một trong ba vấn đề lớn được đặt ra trong hệ thống triết học của ông Bộ phận này được ông trình bày một cách chi tiết và toàn diện trong tác phẩm “ Phê phán lý tính thuần tuý” được ông viết vào năm 1781 Tác phẩm này đã vạch ra giới hạn cho lý trí con người trong hoạt động nhận thức và nó chính là lời giải đáp cho một trong ba câu hỏi lớn mà Cantơ đã đặt ra trong hệ thống triết học của mình: Với tư cách là con người, tôi có thể biết gì? Câu hỏi này được trả lời trong “Triết học lý luận” Ở đây, ông xác định những điều kiện và giới hạn nhận thức của con người, vạch ra rằng con người có tri thức

về cái gì, giới hạn của chúng ra sao, địa vị con người được xác định trong hoạt động nhận thức như thế nào?

Trong hệ thống triết học của mình, Cantơ còn đặt ra hai câu hỏi lớn khác nằm trong hai bộ phận còn lại: với tư cách là con người, tôi cần phải làm gì?, được trả lời trong “ Triết học thực tiễn”; với tư cách là con người, tôi có thể hy vọng gì?, được trả lời trong “Triết học thẩm mỹ” và “ Mục đích luận”

Cantơ được coi là người đầu tiên trong lịch sử loài người đã đứng ra nghiên cứu về khả năng cũng như giới hạn của tri thức con người Ông phân biệt thế nào là tri thức và thế nào là suy tưởng Ông cũng là người phân biệt hai loại tri thức của con người: tri thức thường nghiệm (tri thức kinh nghiệm cảm tính) và tri thức thực nghiệm (tri thức khoa học) Cantơ cho rằng mỗi tri thức bao giờ cũng là một thể thống nhất của quan niệm và cảm giác; trong đó, quan niệm là khuôn hình hay hình thức của tri thức, còn cảm giác là vật liệu hay chất thể của tri thức Thiếu cảm giác, những quan niệm của ta chỉ là những khuôn hình trống rỗng, không phải là tri thức; thiếu quan niệm thì những cảm giác của ta sẽ chỉ là những cảm giác mù, tức cảm giác mà không biết là cảm giác gì

Trang 8

Khi giải quyết vấn đề khả năng tri thức của con người, Cantơ đã bắt đầu từ chỗ phân biệt thế nào là tri thức khoa học và tri thức kinh nghiệm cảm tính Cantơ viết: “Tất cả mọi tri thức của ta bắt đầu từ kinh nghiệm Nhưng nói như thế không có nghĩa là tri thức của ta hoàn toàn do kinh nghiệm vì trong tri thức của ta còn có phần trí năng không lệ thuộc vào kinh nghiệm” Như vậy, giữa hai loại tri thức trên, có một sự khác biệt lớn; một bên hoàn toàn thụ động nhưng bên kia lại rất năng động và luôn tìm kiếm những phương pháp mới

Khi nói về tri thức kinh nghiệm cảm tính, ông cho rằng, kinh nghiệm cho ta biết sự vật thế này hay thế khác, nhưng không thể cho ta biết sự vật có thể là thế khác chăng Do đó, tri thức kinh nghiệm cảm tính luôn có tính chất vụn vặt, lẻ tẻ và bó hẹp vào từng sự kiện mà ta đã kinh nghiệm Trái lại, tri thức khoa học vượt tới mức phổ quát và tất yếu, bao trùm lên tất cả mọi trường hợp có thể xảy ra giống như vậy, đó chính là trí năng của con người Cantơ gọi loại tri thức này là tri thức Tiên thiên Cantơ viết: “Tính chất tất yếu và tính chất phổ quát thực sự là những dấu hiệu chắc chắn của một tri thức Tiên thiên và hai tính chất này không khi nào lìa nhau” Từ quan niệm về tri thức nêu trên, Cantơ đã phê phán nghiêm khắc những quan niệm của các triết gia duy cảm và duy lý

Như vậy, có thể thấy ở học thuyết của Cantơ, tri thức được cấu tạo bởi hai yếu tố không thể thiếu: quan niệm và cảm giác, không có yếu tố nào được coi là cần thiết hoặc quan trọng hơn yếu tố kia Trên cơ sở đó, Cantơ đã dùng phương pháp phê bình để chứng minh sự khác biệt hoàn toàn giữa hai loại tri thức trên Từ đó, ông đi đến khẳng định chỉ có tri thức khoa học mới có thể vạch ra được quy luật của thế giới hiện tượng

Cantơ xác định đối tượng của “triết học lý luận” không phải là bản thân thế giới tự nhiên như nó tồn tại, mà là hoạt động nhận thức của con người, là nghiên cứu những điều kiện và năng lực chủ thể của nhận thức Phù hợp với

Trang 9

đối tượng đó thì nhiệm vụ của triết học lý luận là vạch ra xem khoa học sản sinh ra tri thức như thế nào và từ đó xác định bản chất của con người trong lĩnh vực sinh hoạt tri thức

Để giải quyết các vấn đề đó, Cantơ đã chỉ ra đối tượng nhận thức của con người là thế giới, nhưng bản thân thế giới này được Cantơ chia làm hai: thế giới hiện tượng và thế giới “vật tự nó”; trong đó thế giới hiện tượng là sản phẩm của sự tác động của thế giới “vật tự nó” vào chủ thể, còn thế giới “vật

tự nó” là thế giới của những gì tồn tại do bản thân nó hay nó là nguyên nhân tồn tại của nó Nói cách khác, đây là thế giới tồn tại khách quan đối với con người Thế giới hiện tượng mang tính hữu hạn vì những sự vật của nó tồn tại trong không gian và thời gian, hơn nữa chúng có không gian và thời gian, do

đó nó là cái tạm thời Còn thế giới “vật tự nó” là cái vô hạn, vĩnh viễn vì nó tồn tại ngoài không gian và thời gian, nó không có không gian và thời gian Nếu thế giới hiện tượng tồn tại tuân theo quy luật, tất yếu thì thế giới “vật tự nó” tồn tại không tuân theo quy luật, tất yếu hay nói cách khác nó không bị chi phối bởi quy luật, tất yếu Nếu thế giới hiện tượng mang tính nhân quả thì thế giới “vật tự nó” tồn tại ngoài liên hệ nhân quả Từ đó, Cantơ nhận xét, thế giới hiện tượng là thường nghiệm, là thế giới của những cái tương đối; còn thế giới “vật tự nó” là siêu nghiệm, là thế giới của những cái tuyệt đối

Khi bàn về quá trình nhận thức của con người, Cantơ cho rằng con người ta nhận thức và từ đó có tri thức bởi một năng lực tiên thiên mà ông gọi

là lý tính lý luận (hay lý tính tiên thiên, lý tính thuần tuý) Ông coi lý tính là một năng lực tinh thần có sẵn ở con người từ đầu ngay khi mới sinh ra và có như nhau ở tất thảy mọi người Ông gọi tính chất ấy là tiên thiên Lý tính lý luận trong hoạt động nhận thức của con người có ba cấp độ: cảm năng, trí năng và lý năng Mặc dù đối tượng nhận thức là thế giới nói chung nhưng ba cấp độ này có chức năng khác nhau và tương ứng với chúng có ba học thuyết nghiên cứu về những khả năng nhận thức của con người Như vậy, “triết học

Trang 10

lý luận” của Cantơ không phải nghiên cứu giới tự nhiên mà là nghiên cứu hoạt động nhận thức của con người với mục đích xác lập các quy luật, giới hạn của lý tính con người

3.1.Học thuyết về cảm giác siêu nghiệm

Học thuyết này nghiên cứu tất cả các hình thái của khả năng cảm giác ở con người Điều này cho thấy, Cantơ luôn chú tâm đến những gì là căn nguyên, là khả năng thuần tuý của nhận thức

Cantơ cho rằng, nhận thức của con người trước hết được thực hiện bởi cảm năng Cảm năng là một năng lực tiên thiên thuộc về lý tính lý luận Cảm năng đem lại cho con người những tri thức kinh nghiệm cảm tính Nhưng để

có những tri thức kinh nghiệm cảm tính đó thì hoạt động của cảm năng phải

có bộ công cụ đó là không gian và thời gian Vì không có bất kỳ tri giác nào vượt ra khỏi không gian và thời gian cụ thể nên tri thức gắn liền với nó không

có được tính phổ quát và tất yếu Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng không gian

và thời gian không phụ thuộc vào sự vật, mà đó là những hình thức tiên thiên của cảm năng và nó có sẵn trong cảm năng

Nếu như chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: không gian và thời

gian là phương thức tồn tại của vật chất thì trong Triết học phê phán, Cantơ

đã xem không gian là hình thức bên ngoài và thời gian là hình thức bên trong của kinh nghiệm cảm tính Theo Cantơ, quá trình nhận thức được tiến hành khi sự vật tác động vào giác quan của chúng ta, tạo cho chúng ta những cảm giác hỗn độn, không có trật tự, không có khuôn hình Nhờ không gian và thời gian tiên thiên mà cảm năng sắp xếp những cảm giác lại làm cho chúng trở nên có trật tự, có khuôn hình Khi những cảm giác có trật tự, có khuôn hình thì đó là những tri thức cảm tính Quá trình thực hiện cảm năng để sản sinh ra những tri thức kinh nghiệm cảm tính được Cantơ gọi là cảm tính; nhưng vì tri thức kinh nghiệm cảm tính có đặc trưng đơn lẻ, cá biệt, mang tính chất chủ quan nên theo Cantơ tri thức chưa thể vạch ra được các quy luật, các liên hệ

Ngày đăng: 24/04/2018, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w