1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tl triết học nhận thức luận trong triết học của kant

20 259 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 150 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, triết học cổ điển Đức là một giai đoạn phát triển rất quan trọng, xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII và tồn tại cho đến hết thế kỷ XIX, cùng với Phoiơbăc, Hêghen, thì Kant là một trong những đại biểu tiêu biểu nhất. Những đóng góp quan trọng của Kant làm cho ông xứng đáng là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức vĩ đại này. Triết học cổ điển Đức được xem là sự chuẩn bị lý luận đầy đủ nhất cho sự ra đời của triết học Mác. Cùng với triết học thẫm mỹ; triết học thực tiễn thì triết học lý luận là một trong ba bộ phận quan trọng trong triết học của Kant. Triết học lý luận là nền tảng duy tâm tiên nghiệm của triết học Kant, bao hàm những tư tưởng sâu sắc về nhận thức của con người và có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của người Tây Âu từ đó đến nay. Triết học lý luận đã tạo ra một “cuộc cách mạng Côpécníc” trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học lý luận của ông là sự tổng kết những vấn đề mà nhận thức nhân loại đã và đang đặt ra cho thời đại ông. Những tổng kết của Kant bắt đầu từ chỗ phê phán, tìm tòi rồi đi đến sáng tạo, mở ra nhiều vấn đề, nhiều con đường mới cho sự phát triển của lý luận nhận thức và phương pháp của lôgíc học về sau này. Với tầm quan trọng đó, việc nghiên cứu “triết học lý luận” của Kant là một vấn đề cấp thiết. Tìm hiểu triết học lý luận của Kant không chỉ giúp chúng ta làm sáng tỏ những đóng góp của Kant đối với lịch sử triết học mà còn giúp cho chúng ta nắm vững hơn những nguyên lý của triết học Mác trong đó có kế thừa nhất định những thành tựu mà triết học Kant đã đạt được. Vì vậy em chọn vần đề “Nhận thức luận trong triết học của Kant” làm tiểu luận nghiên cứu của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, triết học cổ điển Đức là một giai đoạn phát triển rất quan trọng, xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII và tồn tại cho đến hết thế kỷ XIX, cùng với Phoiơbăc, Hêghen, thì Kant là một trong những đại biểu tiêu biểu nhất Những đóng góp quan trọng của Kant làm cho ông xứng đáng là người sáng lập nền triết học cổ điển Đức vĩ đại này Triết học cổ điển Đức được xem là sự chuẩn bị lý luận đầy đủ nhất cho sự ra đời của triết học Mác

Cùng với triết học thẫm mỹ; triết học thực tiễn thì triết học lý luận là một trong ba bộ phận quan trọng trong triết học của Kant Triết học lý luận là nền tảng duy tâm tiên nghiệm của triết học Kant, bao hàm những tư tưởng sâu sắc về nhận thức của con người và có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của người Tây Âu từ đó đến nay Triết học lý luận đã tạo ra một “cuộc cách mạng Côpécníc” trong lịch sử tư tưởng nhân loại Triết học lý luận của ông là sự tổng kết những vấn đề mà nhận thức nhân loại đã và đang đặt ra cho thời đại ông Những tổng kết của Kant bắt đầu từ chỗ phê phán, tìm tòi rồi đi đến sáng tạo,

mở ra nhiều vấn đề, nhiều con đường mới cho sự phát triển của lý luận nhận thức và phương pháp của lôgíc học về sau này

Với tầm quan trọng đó, việc nghiên cứu “triết học lý luận” của Kant là một vấn đề cấp thiết Tìm hiểu triết học lý luận của Kant không chỉ giúp chúng

ta làm sáng tỏ những đóng góp của Kant đối với lịch sử triết học mà còn giúp cho chúng ta nắm vững hơn những nguyên lý của triết học Mác trong đó có kế thừa nhất định những thành tựu mà triết học Kant đã đạt được Vì vậy em chọn

vần đề “Nhận thức luận trong triết học của Kant” làm tiểu luận nghiên cứu

của mình

Trang 2

NỘI DUNG

A ĐÔI NÉT VỀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

I Điều kiện kinh tế - xã hội và nét đặc thù của triết học cổ điển Đức

Khái niệm “triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ triết học của nước Đức ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu từ hệ thống triết học của I.Cantơ, trải qua Phíchtơ, Senlinh đến triết học duy tâm khách quan của Hêghen và triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc.

Chỉ trong một thời kỳ lịch sử khoảng một thế kỷ, triết học cỏ điển Đức đã tạo những tiền đề lý luận hết sức quan trọng cho sự ra đời của triết học Mác vào giữa thế kỷ XIX.

Triết học cổ điển Đức ra đời trong một điều kiện lich sử hết sức đặc biệt Nước Đức vào cuối XVIII đầu XIX vẫn còn là một quốc gia phong kiến điển hình với 360 quốc gia tự lập trong Liên bang Đức hết sức lạc hậu về kinh tế và chính trị Trong khi

đó, ở nước Anh cuộc cách mạng công nghiệp,ở nước Pháp cuộc cách mạng tư sản đã

nổ ra làm rung chuyển Châu Âu, đưa châu Âu bước vào nền văn minh công nghiệp.

Chính thực tại đau buồn của nước Đức và tấm gương của các nước Tây Âu đã thức tỉnh tinh thần phản kháng của giai cấp tư sản Đức Nhưng giai cấp này sống rải rác ở hững vương quốc nhỏ tách rời nhau, nhỏ bé về số lượng, yếu kém về kinh tế và chính trị, nên họ vừa muốn làm cách mạng, lại vừa muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển của đất nước Chính điều này đã quy định nét đặc thù của triết học cổ điển Đức: Nội dung cách mạng dưới một hình thức duy tâm, bảo thủ,; đề cao

Trang 3

vai trò tích cực của tư duy con người, coi con người là một thực thể hoạt động, là nền tảng và điểm xuất phát của mọi vấn đề triết học.

Trên một ý nghĩa nhất định, triết học cổ điển Đức không chỉ là sự phản ánh những điều kiện kinh tế - chính trị và xã hội nước Đức mà còn của cả các nước Châu

Âu lúc đó.

1 CANTƠ (1724 - 1804)

Nét nổi bật trong triết học của Cantơ là những quan niệm biện chứng về giới tự nhiên Trong tác phẩm Lịch sử phổ thông và lý thuyết bầu trời, ông đã nêu giả thuyết có giá trị về sự hình thành vuc trụ bằng cơn lốc và kết tụ của các khối tinh vân Cantơ cũng đưa ra một luận đề sau này được khoa học chứng minh về ảnh hưởng lên xuống của thuỷ triều do lực hấp dẫn giữa trái đất và mặt trăng gây ra đã ảnh hưởng tới trái đất, làm cho vòng xoáy của trái đất quanh trục của nó mỗi ngày một chậm lại Ăngghen đã đánh giá những phỏng đoán của Cantơ là sự công phá vào quan điểm siêu hình (kể cả trong triết học và khoa học).

Triết học của Cantơ là triết học nhị nguyên Ông thừa nhận sự tồn tại của thế giới các “vật tự nó” ở bên ngoài con người, thế giới đó có thể tác động tới các giác quan của chúng ta Ở điểm này, Cantơ là nhà duy vật Mặt khác, ông lại cho rằng thế giới các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại không liên quan gì đến cái gọi là “thế giới vật tự nó”,chúng chỉ là các “hiện tượng…phù hợp với cái cảm giác và tri thức do lý tính của ta tạo ra Nhưng các cảm giác và tri thức không cung cấp cho hiểu biết gì về

“thế giới vật tự nó” Nói cách khác, theo Cantơ nhận thức con người không chỉ biết được hiện tượng bề ngoài mà không xâm nhập vào được bản chất đích thực của sự vật, không phán xét gì được sự vật như chúng tự thân tồn tại Như vậy, trong lĩnh vực nhận thức luận, Cantơ là người theo thuyết “không thể biết” (tất nhiên là khác với Hium) Nhận thức luận của Cantơ có tính chất duy tâm thể hiện ở sự phản ứng của ông với chủ nghĩa duy vật Pháp và sự khôi phục lại Thượng đế Ông nói rằng trong nhận thức cần hạn chế phạm vi của lý tính để dành cho đức tin.

Tính chất duy tâm trong triết học của Cantơ không nhất quán, đầy mâu thuẫn Lênin nhận xét: “Đặc trưng chủ yếu của triết học Cantơ là ở chỗ nó dung hoà chủ nghĩa duy ý chí với chủ nghĩa duy tâm, thiết lập sự thoả hiêp giữa hai chủ nghĩa đó kết hợp hai khuynh hướng triết học khác nhau và đối lâp trong một hệ thống triết học duy

Trang 4

nhất Khi Cantơ thừa nhận rằng một cái gì đó ở ngoài chúng ta thì Cantơ là người duy vật Khi ông tuyên bố rằng cái vật tự nó ấy không thể nhận thức được là siêu nghiệm,

là ở thế giới bên kia thì ông ta là người duy tâm”.

C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đánh giá cao những công trình của Cantơ về khoa học tự nhiên, về những vấn đề phép biện chứng, nhưng đã bác bỏ thuyết không thể biết và nghiêm khắc phê phán những quan niệm duy tâm của Cantơ về không gian

và thời gian, về các phạm trù bởi vì, Cantơ coi phạm trù chỉ là hình thức tiên thiên của

lý tính con người.

2.HÊGHEN (1770 - 1831)

Là nhà biện chứng, đồng thời là nhà triết học duy tâm khách quan Triết học của ông đầy mâu thuẫn Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong vốn có của sự phát triển của tự nhên và xã hội Ông cho rằng, khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất

mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn “Ý niệm tuyệt đối” theo nhận xét của Lênin chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách khác nói về Thượng đế mà thối Cho nên triết học của Hêghen là sự biện hộ cho tôn giáo.

Hêghen dã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động và biến đổi không ngừng Đồng thời trong khuôn khổ của hệ thống triết học duy tâm của mình, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn,… mà còn nói đến các quy luật “lượng đổi dẫn đến chất đổỉ và ngược lại”, “phủ dịnh của phủ định” và “quy luật mâu thuẫn” Nhưng tất cả cái đó chỉ

là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối Trong hệ thống triết học của Hêgen, không phải ý thức, tư tưởng phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự nhiên và xã hội, mà ngược lại, tự nhiên phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối.Ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai do tinh thần thế giới và ý niệm tuyệt đối quyết định Nó là một sự

“tồn tại khác” của tinh thần, sau khi trải qua giai đoạn “tồn tại khác” ấy, ý niệm tuyệt

Trang 5

đối hay tinh thần thế giới mới trở lại “bản thân mình” và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được Hêghn gọi là tinh thần tuyệt đối.

Trong các quan điểm xã hội, Hêghen đứng trên lập trường của chủ nghĩa Sovanh, đề cao dân tộc Đức, miệt thị các dân tộc khác, coi nước Đức là hiện thân của tinh thần vũ trụ mới Chế độ nhà nước Phổ đương thời được ông xem là đỉnh cao của

sự phát triển nhà nước và pháp luật.

Tóm lại, Hêghen là nhà triét học biện chưng duy tâm khách quan Là nhà triết học duy tâm khách quan, Hêghen cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước vật chất, tồn tại vĩnh viễn không phụ thuộc vào con người, tạo ra hiện thực khách quan Giới tự nhiên chỉ là sự tồn tại khác của “ý niệm tuyệt đối” Tính đa dạng của thực tiễn được ông xem như là kết quả tác động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Là nhà biện chứng, ông đã có công nêu ra những phạm trù, quy luật cơ bản của phép biện chứng Nhưng phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, vì vậy Mác gọi đó là phép biện chứng lộn ngược đầu xuống đất, vì đó cũng chỉ là quy luật của sự phát triển của

“ý niệm tuyệt đối” mà thôi Mặc dù vậy, ông vẫn là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên và lịch sử dưới dạng một quá trình không ngừng vận động và biến đổi, phát triển và cố gắng vạch ra mối liên hệ bên trong của sự vận động và phát triển ấy.

C.Mác và Ăng ghen đã phê phán một cách triệt để tính chất phản khoa học và thần bí của “ý niệm tuyệt đối” trong triết học Hêghen; đồng thời hai ông đánh giá cao

và tiếp thu “hạt nhân hợp lý” trong phép biện chứng của Hêghen để xây dựng và phát triển học thuyết về phép biện chứng duy vật của mình.

3 LUTVICH PHOIƠBĂC (1804 -1872)

Là một trong những nhà triết học duy vật lớn nhất thời kỳ trước C.Mác Công lao vĩ đại của Phoiơbăc là ở chỗ trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghiã duy tâm và thần học, ông đã khôi phục lại địa vị xứng đáng của triết học duy vật; đã giáng một đòn rất nặng vào triết học duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy tâm nói chung.

Phoiơbắc chứng minh rằng, thế giới vật chất, giới tự nhiên không do ai sáng tạo

ra, nó tồn tại độc lập với ý thức con người và không phụ thuộc vào bất cứ thứ triết học nào Do đó cơ sở tồn tại của giới tự nhiên nằm ngay trong giới tự nhiên Chống lại hệ thống duy tâm của Hêghen - hệ thống coi giới tự nhiên là sự tồn tại khác của tinh thần.

Trang 6

Phoiơbắc chỉ ra rằng triết học mới này phải có tính chất nhân bản, phải kết hợp với khoa học tự nhiên.

Nguyên lý nhân bản của triết học Phoiơbắc là xoá bỏ sự tách rời giữa tinh thần và thể xác do triết học duy tâm và triết học nhị nguyên tao ra Mặt tích cực trong triết học nhân bản của Phoiơbắc còn ở chỗ ông đấu tranh chống các quan niệm tôn giáo chính thống của đạo thiên chúa, đặc biệt là quan niệm về Thượng đế Trái với các quan niệm tôn giáo và thần học cho rằng Thượng đế tạo ra con người, ông khẳng định chính con người tạo ra Thượng đế Khác với Hêghen nói về sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối Phoiơbắc nói về sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế Ông lập luận rằng bản chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện nghĩa là hướng tới cái gì đẹp nhất trong một hình tượng đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế những cái đó co người không đạt được nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng đế; từ đó ông phủ nhận mọi thứ tôn giáo và thần học về một vị Thượng

đế siêu nhiên đứng ngoài sáng tạo ra con người, chi phối cuộc sống con người.

Tuy nhiên, triết học nhân bản của Phoiơbắc cũng bộc lộ những hạn chế Khi ông đòi hỏi triết học mới - triết học nhân bản - phải gắn liền với tự nhiên thì đồng thời

đã đứng luôn trên lập trường của chủ nghĩa tự nhiên để xem xét mọi hiện tượng thuộc

về con người và xã hội Con người trong quan niệm của Phoiơbắc là con người trừu tượng, phi xã hội, mang những đặc tính sinh học bẩm sinh Triết học nhân bản của ông chứa đựng những yếu tố của chủ nghĩa duy tâm Ông nói răng, bản tính con người là tình yêu, tôn giáo cũng là một tình yêu Do vậy, thay thế cho một tôn giáo sùng một vị Thượng đế siêu nhiên cần xây dựng một tôn giáo mới phù hợp với tình yêu của con người Ông cho rằng càn phải biến tình yêu thương của con người thành quan hệ chi phối mọi quan hệ xã hội khác, thành lý tưởng xã hội Trong điều kiện của xã hội tư sản Đức thời đó, với sự phân chia giai cấp thì chủ nghĩa nhân đạo về tình yêu thương con người trở thành chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm.

Công lao to lớn của Phoiơbắccòn ở chỗ, ông không chỉ đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm mà còn đáu tranh chống lại những người duy vật tầm thường Ông đã

có quan niệm đúng đắn là, không thể quy các hiện tượng tâm lý về các quá trình lý – hoá; công nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới Ông đã kịch liệt phê phán những người theo chủ nghĩa hoài nghi và thuyết không thể biết Trong sự phát

Trang 7

triển lý luận nhận thức duy vât, Phoiơbắc đã biết dựa vào thực tiễn là tổng hợp những yêu cầu về tinh thần, về sinh lý mà chưa nhận thức được nội dung cơ bản của thực tiễn

là hoạt động vật chất của con người, là lao động sản xuất vật chất, đấu tranh giai cấp

và hoạt động thực tiễn của nó là cơ sở của nhận thức cảm tính và lý tính.

Như vậy, Phoiơbắc đã có những đóng góp xuất sắc vào lịch sử đấu tranh của chủ nghĩa duy vật chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo Ông đã vạch ra mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, chỉ ra sự cần thiết phải đấu trnah loại bỏ tôn giáo hữu thần, coi đó là sự tha hoá bản chất của con người Ông đã có công khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII, XVIII.

Tuy nhiên trong lúc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm của triết học Hêghen, Phoiơbắc lại vứt bỏ luôn phép biện chứng của Hêghen Cũng như các nhà triết học giai đoạn trước Mác, Phoiơbăc rơi vào duy tâm khi giải quyết các vấn đề xã hội.

Mặc dù triết học của Phoiơbắc có những hạn chế, nhưng cuộc đấu tranh của ông chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung đã có ý nghĩa lịch sử to lớn Vì vậy, triết học của Phoiơbắc trở thành một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác.

II Vài nhận định về nền triết học cổ điển Đức

Triết học cổ điển Đức là một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn nhưng nó đã tạo

ra những thành quả kỳ diệu trong lịch sử triết học Trước hết, nó đã từng bước khắc phục những hạn chế siêu hình của triết học duy vật thế kỷ XVII, XVIII Thành quả lớn nhất của nó là những tư tưởng biện chứng đã đạt tới trình độ một hệ thống lý luận – điều mà phép biện chứng cổ đại Hy Lạp đã chưa đạt tới và chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII cũng không có khả năng tạo ra.

Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của triết học cổ điển Đức là tính chất duy tâm khách quan của Hêghen, còn về chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc thì xét về thực chất không vượt qua được trình độ chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII Tây Âu.

Những hạn chế và thành quả của triết học cổ điển Đức đã được triết học Mác khắc phục, kế thừa và nâng lên một trình độ mới của chủ nghĩa duy vật hiện đại.

Trang 8

B NHẬN THỨC LUẬN VỀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC THÔNG QUA ĐẠI DIỆN TIÊU BIỂU NHẤT LÀ TRIẾT

HỌC CỦA KANT

1.1 Vài nét về cuộc đời và triết học của Kant.

Imanuel Kant (1724- 1804) được mọi người biết đến là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức; là một trong những nhà tiết học vĩ đại nhất của lịch sử

tư tưởng phương Tây trước Mác Triết học của ông là “nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của Kant”

Kant sinh năm 1724 ở Kênisbec Năm 1745 ông tốt nghiệp đại học tổng hợp Kênisbec và trở thành một gia sư Năm 1755 ông là giáo sư và từ năm 1770

là giáo sư của trường đại học Kênisbec Là một trong những học giả uyên bác nhất đương thời, ông giảng dạy về nhiều lĩnh vực: siêu hình học, logic học và toán học, cơ học, địa chất học…

Trong suốt cuộc đời 80 năm của mình, ông đã sản sinh ra hàng loạt các tác

phẩm nổi tiếng để đời như : Phê phán lý tính thuần túy (1781); Mở đầu khoa siêu hình học tương lai (1783); Các nguyên tắc của siêu hình học về đạo đức (1785) Phê phán lý tính thực tiễn (1788); Phê phán năng lực phán đoán (1790); Nhân học (1798)…

Sự phát triển về tư tưởng triết học của Kant được phân làm 2 thời kỳ: thời

kỳ tiền phê phán (trước 1770) và thời kỳ phê phán (sau 1770)

Thời kỳ tiền phê phán.

Thời kỳ đầu các tác phẩm chủ yếu của Kant viết về triết học tự nhiên,

chẳng hạn như tác phẩm Lịch sử tự nhiên đại cương và học thuyết về bầu trời

viết năm 1755 ông đưa ra giả thuyết giải thích nguồn gốc sự hình thành của vũ trụ Trong các tác phẩm triết học của thời kỳ tiền phê phán lúc đầu Kant chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý của Lépnít và Vônphơ nhưng về sau trong các

tác phẩm Về những sai lầm tinh tế của bốn loại hình tam đoạn luận (Xuất bản

Trang 9

1762) và trong Kinh nghiệm của việc dựa vào triết học khái niệm các đại lượng phủ định (Xuất bản 1763) thì Kant đi tìm hạn chế của chủ nghĩa duy lý và logic.

Với ảnh hưởng của Hium, Kant ngày càng xa rời cách nhìn suy lý và logic Đó chính là xuất phát cho sự chuyển biến từ các tác phẩm thời kỳ tiền phê phán sang các tác phẩm thời kỳ phê phán

Triết học thời kỳ phê phán

Do chịu ảnh hưởng của các biến đổi ở Pháp và Tây âu trước cách mạng tư sản 1789 và đặc biệt là ảnh hưởng của Hium, thế giới quan của Kant đã biến đổi Ông đặt nhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ các vấn đề triết học từ trước tới nay, trên tinh thần phê phán như quan niệm về con người, về lý tính về khả năng nhận thức của con người, về hành vi đạo đức, về trách nhiệm và hạnh phúc của con người Theo Kant khoa học về con người chưa được chú trọng nghiên cứu và phát triển đúng mức, chưa hướng vào việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn cho con người có cách nhìn về bản thân và về thế giới từ đó vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho hoạt động sống của con người

vì những lý tưởng nhân đạo, đạo đức, tự do, xứng với nhân vị cuả con người Hệ thống triết học của ông được thể hiện qua bộ 3 tác phẩm “phê phán” nổi tiếng

của ông Trong Phê phán lý tính thuần túy, ông trình bày nhận thức luận Ngoài

ra nhận thức luận còn được trình bày một các phổ cập hơn trong cuốn Tiểu luận

về mọi siêu hình học tương lai có quyền được tự coi là khoa học(1783) Luân lý

học của ông được trình bày trong cuốn Phê phán lý tính thực tiễn (1788) Cuốn

Phê phán năng lực phán đoán (1790) dành chủ yếu cho những vấn đề mỹ học và

cả vấn đề về tính có mục đích trong thế giới hữu cơ

Theo Kant các triết gia từ xưa tới nay hình như quên mất vấn đề quan trọng

là con người Vì vậy Kant đặt nhiệm vụ hàng đầu cho mình là phải xác định bản chất của con người, toàn bộ các vấn đề của triết học phải được hướng vào việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người Triết học phải đem lại cho con người một cơ sở và nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc cơ bản của cuộc sống của con người vì những lý

Trang 10

tưởng nhân đạo Để làm được điều đó thì triết học phải lý giải các vấn đề : Tôi

có thể biết được cái gì?, Tôi cần phải làm gì?, Tôi có thể hy vọng cái gì?, Con người là gì?

Bước ngoặt trong sự phát triển triết học của Kant là cuộc gặp gỡ của ông với thuyết duy nghiệm của Hume Ông nói: tôi công khai thú nhận, gợi ý của David Hume chính là điều lần đầu tiên đã đánh thức tôi ra khỏi giấc ngủ giáo điều nhiều năm về trước và đã vạch ra một hướng đi mới cho các tra cứu của tôi trong lĩnh vực tư duy triết học” Kant từ chối theo con đường của Hume không chỉ vì nó có thể dẫn ông tới chủ nghĩa hoài nghi mà còn vì ông cảm thấy rằng mặc dù Hume đã đi đúng đường nhưng không hoàn thành nhiệm vụ giải thích làm thế nào đạt được tri thức Vì vậy, Kant đã tìm cách xây dựng trên điều mà ông nghĩ là có giá trị cả trong chủ nghĩa duy lý lẫn trong chủ nghĩa duy nghiệm,

và bác bỏ điều gì không thể bảo vệ trong hệ thống này Ông bắt đầu một đường lối mới mà ông gọi là “triết học phê phán”

Triết học phê phán của Kant chủ yếu phân tích khả năng của lý trí con người, được ông hiểu là “ một sự truy tìm phê phán khả năng của lý trí liên quan tới mọi nhận thức mà nó có thể cố gắng đạt tới một cách độc lập với mọi kinh nghiệm” Đường lối của triết học phê phán của ông đặt ra là “năng lực hiểu biết

và lý trí có thể biết những gì và bao nhiêu mà không cần kinh nghiệm?” chính vì vậy mà triết học lý luận của Kant chủ yếu đề cập tới nhận thức luận và logic học với mục đích xây dựng một nền tảng thế giới quan mới cho con người nhằm giải đáp cho câu hỏi “ con người có thể biết được cái gì?”

1.2 Những nội dung chính của “triết học lý luận”

Triết học lý luận là một trong ba bộ phận cơ bản của triết học Kant, nó giải quyết một trong ba vấn đề lớn được đặt ra trong hệ thống triết học của ông

Bộ phận này được ông trình bày một cách chi tiết và toàn diện trong tác phẩm “ Phê phán lý tính thuần tuý” được ông viết vào năm 1781 Tác phẩm này đã vạch ra giới hạn cho lý trí con người trong hoạt động nhận thức và nó chính là lời giải đáp cho một trong ba câu hỏi lớn mà Kant đã đặt ra trong hệ thống triết

Ngày đăng: 24/04/2018, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w