Điều này buộc I.Cantơ phải lựa chọn một trong hai quan niệm:hoặc thừa nhận tri thức khoa học là sự phản ánh thế giới khách quan thì phảithừa nhận những tri thức này là tri thức kinh nghi
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với thầy cô trong khóa luận chính trị, bạn bè và người thân đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, đặc biệt là thầy Nguyễn Thanh Tân, giáo viên hướng dẫn.
Mặc dù đã nhiều cố gắng song do kiến thức còn hạn chế, thời gian không nhiều và những lý do khách quan nên không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong các thầy cô giáo góp ý kiến để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện:
Lê Văn Thuấn
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 4
5 Đóng góp của khóa luận 5
6 Kết cấu của khóa luận 5
II NỘI DUNG Chương 1: Thực chất của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ 6
1.1. Những vấn đề nhận thức luận trong triết học I.Cantơ 6
1.2. Nội dung cơ bản của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
15 1.3 Chương 2: Vai trò của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ 33
II.1 Vị trí của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ 33
II.2 Ảnh hưởng của nhận thức luận trong hệ thống triết học I.Cantơ 35 II.3 Ảnh hưởng của nhận thức luận của I.Cantơ đối với sự phát triển
triết học nói chung 71
III KẾT LUẬN 83
IV DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong lịch sử tư thưởng nhân loại, I.Cantơ gìữ một vị trí đặc biệt quantrọng, là người vừa sáng lập cổ điển Đức, vừa khai mở nhiều vấn đề củatriết học phương Tây hiện đại Hệ thống triết học phê phán do ông xây dựnggồm ba bộ phận chủ yếu: Triết học lý luận, triết học thực tiễn và triết họcthẩm mỹ; trong đó triết học lý luận hay lý luận về nhận thức gìữ một vị tríkhởi đầu, có vai trò làm phương pháp luận cho hai bộ phận còn lại Vì vậy,
về mặt lôgíc , người ta chỉ có thể hiểu được nội dung tư tưởng cũng nhưcách lập luận của I.Cantơ trên bình diện hệ thống, khi xuất phát từ triết học
lý luận
Trong lịch sửu triết học, nhận thức luôn là mối quan tâm lớn và rấtsớm của nhiều nhà triết học Đến I.Cantơ, nhận thức luận được bàn luận sâusắc về phương thức tư duy mang tính chủ thể của I.Cantơ thực chất củanhận thức là vấn đề trung tâm đối với nhận thức luận của I.Cantơ Có thểthấy rằng cả ở trong các hệ thống của chủ nghĩa duy lý cổ điển lẩn trong họcthuyết của chủ nghĩa kinh nghiệm duy vật, nhận thức luận được xem xétnhư là kết quả hoạt động tư duy của chủ thể nhằm thấu hiểu thế giới bênngoài Nếu chủ nghĩa duy lý thiên về nhận thức lý tính, lấy khái niệm, phạmtrù, tư duy lôgíc làm phương tiện chính của nhận thức thì chủ nghĩa kinhnghiệm, ngược lại, nhấn mạnh vai trò của nhận thức cảm tính, lấy các hiệntượng, kinh nghiệm và cảm giác chủ quan đơn lẻ làm tiền đề cơ bản chonhận thức I.Cantơ cho rằng: “Không có cảm tính, con người không thể tưduy, tư tưởng thiếu nội dung thì trống rỗng, trực quan thiếu khái niệm thì
mù quáng”
Nghiên cứu tư tưởng của I.Cantơ nói chung và nhận thức luận củaông nói riêng là công việc hết sức khó khăn nhưng lại là thường xuyên củanhững người làm công tác triết học Đối với sinh viên ngành triết học thìđây là một đòi hỏi không chỉ giúp cho chúng ta nắm được nội dung của vấn
đề nhận thức mà còn làm sáng tỏ vai trò của nhận thức về những cống hiến
và hạn chế của I.Cantơ trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Hơn nữa, thờiđại ngày nay “nhận thức luận” đang được xem là vấn đề cốt yếu trong tưtưởng nhân loại Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề này trong triết học I.Cantơ
có thể góp phần làm sáng tỏ một số khía cạnh nhất định mà giới nghiên cứuđang quan tâm
Trang 4Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề Thực chất
và vai trò của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp cử nhân ngành triết học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hơn hai thế kỷ trôi qua, kể từ ngày I.Cantơ – người sáng lập ra nềntriết học cổ điển Đức qua đời, lịch sử đã có nhiều biến động, nhân loại đãnhìn nhận, đánh gìá ông dưới nhiều gốc độ khác nhau Rất nhiều công trìnhnghiên cứu về I.Cantơ trong đó có triết học lý luận, triết học thực tiễn vàtriết học thẫm mỹ của ông, khai thác chưa nhiều Nhìn chung, tài liệu đượcdịch ra tiếng Việt có các công trình sau:
- Hội thảo khoa học triết học cổ điển Đức: Nhận thức luận và đạođức học, tham luận của các học giả nước ngoài, Hà Nội 2003
- Hội thảo khoa học triết học cổ điển Đức: Những vấn đề nhận thứcluận và đạo đức học, Hà Nội, 2004 Đây là cuốn sách gồm các tham luậncủa các nhà khoa học trong và ngoài nước tham gia Hội thảo khoa học quốc
tế về vấn đề triết học cổ điển Đức nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất củaI.Cantơ – nhà triết học vĩ đại, người sáng lập triết học cổ điển Đức
- Nguyễn Văn Huyên (1996), “Triết học IMANUIN CANTƠ (1724 –
1804)”, cuốn sách này giới thiệu cùng bạn đọc phần nào những tư tưởng
triết học cơ bản của I.Cantơ Phần đầu cuốn sách, tác giả trình bày vắn tắtnhững tiền đề ra đời và những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức.Đánh giá vị trí của nó, coi nó là một trong ba nguồn gốc hình thành chủ
nghĩa Mác, tác giả nhấn mạnh “Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát
triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng Tây Âu và thế giới – nó có ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại” Về triết học I.Cantơ, tác giả khảo xét ở
bảy phần cả thảy Phần đầu, tác giả xem xét các tư tưởng triết học cơ bảncủa I.Cantơ ở hai thời kỳ - tiền phê phán và phê phán Phần tiếp theo là triếthọc nhận thức, tác giả đề cập tới các vấn đề: Thuyết hai thế giới và quanniệm về nhận thức, học thuyết về tri thức, phán đoán tổng hợp tiên nghiệm,phân tích tiên nghiệm và biện chứng tiên nghiệm Tiếp theo, tác giả đề cậptới triết học thực tiễn của I.Cantơ Theo tác giả, I.Cantơ có quan điểm duy lýđạo đức I.Cantơ cho rằng lý tính chi phối đạo đức của con người thông quamệnh lệnh tuyệt đối Đặc biệt là triết học về con người, theo tác giả, I.Cantơ
đã đặt ra các vấn đề hết sức quan trọng Dù I.Cantơ chưa giải quyết đượccác vấn đề này trên cơ sở khoa học, song điều quan trọng là ông đã đặc biệtquan tâm tới các điều kiện (tự nhiên, xã hội) Tác giả kết luận: “Các quan
Trang 5điểm của I.Cantơ về tiến trình lịch sử là một trong những bước tiến lớn laotrên con đường – xây dựng lý thuyết duy vật biện chứng về sự phát triển Vàcuối cùng, tác giả trình bày vắn tắt một số lập trường cơ bản đối với di sảntriết học của I.Cantơ Sau đó tác giả đưa ra đánh giá về bản chất nhân đạo và
ý nghĩa của triết học I.Cantơ
- Trần Thái Đỉnh (2005) Triết học Kant: Cuốn sách này ra đời nhằmgiúp ban đọc hiểu Kant, sau bao nhiêu lần triết học đứng trước tình hìnhkhông hẳn là khủng hoảng, nhưng không còn là hướng đi mãnh liệt như hồiphong trào Hiện sinh (những năm 40 và 50) và phong trào cơ cấu (nhữngnăm 60 và 70) “Vậy phải bắt đầu lại từ đâu? Phải bắt đầu lại với Kant Tạisao bắt đầu lại từ đầu là bắt đầu lại với Kant Chúng ta có ba lần bắt đầutrong lịch sử triết học, nhưng chỉ với Kant, triết học mới thật sự đi vào đúnghướng của nó Nhưng sao Kant lại nói khó hiểu thế? Sao người ta hiểu Kantsai thế? Người ta nói muốn hiểu một cuốn sách khó, cần phải đọc ngược lại,
“có thể đọc xuôi và đọc ngược” Đối với Kant cũng thế, cũng vì triết củaKant quá mới mẻ ,đối với nhiều tác giả cũng đã bị nạn “cây to che khuất cảrừng” họ vấp phải cuốn phê phán lý tính thuần túy, họ dừng lại ở đó vàdường như coi đó là tất cả của triết học Kant Ngày nay, sau những nghiêncứu mới đây của nhiều triết gia và học giả, người ta đồng ý nhau về nhữngđiểm mà xưa kia không thể có sự đồng ý
- Trịnh Đình Bảy (1998), “Vấn đề niềm tin trong triết học I.Cantơ”,Tạp chí triết học, số 1 tháng 2 – 1998 Tác giả bàn về vấn đề cơ bản kháiniệm “triết học” của I.Cantơ chứa đựng trong ba tác phẩm “phê phán” nổitiếng của ông: nổi bật lên ở khái niệm đó là nội dung nhận thức luận của nó.Tuy nhiên, theo ông nội dung của nhận thức luận không bao hàm hết nộidung của triết học, triết học phải dạy cho con người sống như thế nào để trởthành con người I.Cantơ viết: “Muốn tồn tại một khoa học thật sự cần thiếtcho con người thì đó là khoa học …, từ đó có thể học được cái điều mà aicũng phải học để làm người Từ đó, ông đò hỏi triết học phải có nhiệm vụvượt ra ngoài khuôn khổ hoạt động nhận thức, vì nhận thức không phải làmục đích tự nó, mà phải phục vụ mục đích nhân đạo, vì con người
- Phạm Minh Lăng (1996), “Cái tiên nghiệm trong triết học I.Cantơ”,
Tạp chí triết học, số 2, tháng 4 – 1996
- Lê Công Sự (1998), “Quan niệm về “vật tự nó” của I.Cantơ và sự
đánh giá của một số nhà triết học tiêu biểu về quan niệm đó”, Tạp chí triết
học, số 1, tháng 02 – 1998
Trang 6- Vũ Văn Viên (1995),Quan niệm của I.Cantơ về bản chất của nhận
thức”, Tạp chí triết học, số 1 tháng 3 – 1995.
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ thực chất và vai trò của nhận thức luận
trong triết học I.Cantơ
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
- Phân tích thực chất của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
- Phân tích vai trò của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
- Cơ sở lý luận của đề tài là những nguyên lý của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được áp dụng vào nghiên cứu mộthọc thuyết triết học
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sự kết hợp các nguyên tắcnghiên cứu lịch sử triết học rút ra từ phép biện chứng duy vật với cácphương pháp chung như so sánh, phân tích, tổng hợp, chú giải theo từngmục và đặc biệt là phương pháp lôgíc và lịch sử
5 Đóng góp của khóa luận
Thông qua việc nghiên cứu nhận thức luận của I.Cantơ khóa luận đãgóp phần nâng cao trình độ tư duy triết học của bản thân, đồng thời giúpchúng ta có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về nhận thức luận
Khóa luận góp phần vào việc làm rõ những vấn đề thực chất, vai tròvới những cống hiến và hạn chế của nhận thức luận I.Cantơ
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận
có hai chương (5 tiết)
Trang 7Chương 1
THỰC CHẤT CỦA NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC
I.CANTƠ
1.1 Những vấn đề của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
Triết học I.Cantơ có một vị trí đặc biệt trong lịch sử triết học thế giới ông là người mở đầu cho một thời kỳ phát triễn rưc rỡ của triết học Triểthọc của I.Cantơ coi nó là một trong ba nguồn gốc hình thành chủ nghĩaMác: “Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch
sử tư tưởng Tây Âu và thế giới – nó ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại
Tư tưởng triết học cơ bản của I.Cantơ ở hai thời kỳ tiền phê phán vàphê phán Ở thời kỳ tiền phê phán, I.Cantơ chủ yếu tập trung vào triết học tựnhiên Chịu ảnh hưởng của các thành tựu khoa học tự nhiên, I.Cantơ thểhiện “như một nhà duy vật khoa học tự nhiên” ông đã đưa ra những dự đoánkhoa học có giá trị, đặc biệt là giả thuyết nguồn gốc vũ trụ luận” – nó đemlại một cách nhìn phát triển lịch sử về thế giới Ở thời kỳ phê phán I.Cantơchú ý tới những vấn đề xã hội Chính sự định hướng vào con người đã đưaI.Cantơ tới chổ đặt ra và giải quyết hàng loạt vấn đề mà căn bản đã cho phépngười ta gọi triết học của ông là “cuộc cách mạng Copecnich trong lịch sửtriết học loài người”
1.1.1. Vấn đề tri thức
I.Cantơ được coi là người đầu tiên trong lịch sử loài người nghiên cứu
về tri thức con người Tri thức con người thuộc loại tri thức nào? Con người
có thể tri thức những gì? Và không tri thức những gì? I.Cantơ cho rằng trithức của con người là do nhận thức của con người mang lại, kết quả nhậnthức của con người về thế giới Với I.Cantơ thì tri thức là một thể thống nhất
có 2 mặt:
Mặt thứ nhất, để có tri thức trước hết có những quan niệm, khuônhình của tri thức nhưng chỉ riêng quan niệm thì đó chỉ là khuôn hình trốngrỗng không có chất liệu nào cả, quan niệm từ chủ thể
Mặt thứ hai, là cảm giác kinh nghiệm có được từ đối tượng mà ra,trithức kinh nghiệm có thể lấy tính xác thực ở đâu ra nếu như tất cả các quytắc mà nó tuân thủ, đến lượt mình cũng là do kinh nghiệm mà có [14; 323]
Tri thức do từ chủ thể và khách thể tạo ra, mọi tri thức bắt đầu từ kinhnghiệm (cảm tính NGN), nhưng cho dù toàn bộ nhận thức của con ngườiđược bắt đầu từ kinh nghiệm thì điều đó hoàn toàn không có nghĩa là tri
Trang 8thức được sinh ra hoàn toàn từ kinh nghiệm Vậy, ngoài các thông số kinhnghiệm do các cơ quan cảm giác đem lại thì có tồn tại chăng loại nhận thứckhông phụ thuộc vào kinh nghiệm và thậm chí các ấn tượng do cảm giácđem lại theo I.Cantơ là tri thức tiên nghiệm và nó khác với tri thức kinhnghiệm [14; 326].
Tri thức theo quan niệm của I.Cantơ có hai cấp độ: kinh nghiệm cảmtính và tri thức khoa học I.Cantơ cho rằng khoa học phải dựa trên những trithức tiên nghiệm với hai đặc tính là phổ quát và tất yếu Trong khi đó thìmọi sự vật ở thế giới bên ngoài chỉ tồn tại dưới dạng đơn nhất, cá biệt vàngẫu nhiên Điều này buộc I.Cantơ phải lựa chọn một trong hai quan niệm:hoặc thừa nhận tri thức khoa học là sự phản ánh thế giới khách quan thì phảithừa nhận những tri thức này là tri thức kinh nghiệm, cảm tính, đơn nhất vàngẫu nhiên, hoặc khẳng định tính tiên nghiệm của chúng, tức là chúng vốnphổ quát và tất yếu, thì phải thừa nhận rằng chúng không phải là sự phảnánh sự vật bên ngoài chúng ta, mà là kết quả sáng tạo của riêng trí tuệ conngười [8; 259]
1.1.2 Vấn đề đối tượng
Đây là bộ phận xác định điều kiện, giới hạn và năng lực của nhậnthức từ đó xác định đối tượng nhận thức và các kết quả của nhận thức là trithức
Đối tượng của nhận thức là bản thân thế giới nhưng đây là thế giới trithức con người khác với thế giới nói chung Vào lúc không có con người thìthế giới đã có rồi “Thế giới chung” và khi con người đã có thì thế giới cũng
đã có rồi
Đối tượng nhận thức là thế giới hiện ra của con người chứ không phải
là thế giới chung mà thế giới bằng những năng lực của con người làm cho thếgiới hiện ra
Ví dụ: Con mắt tôi nhìn một gốc 120°, còn hai bên còn có 20° nữa làhai gốc mờ, thế phía sau còn có 120° nữa người ta không nhìn được là haiphần tối nữa Vậy thì thế giới đó diễn ra thuộc vào năng lực, khả năng cáchnhìn của con người và thế giới thôi Khả năng con người phản ánh thế giới
Đó là một phần của thế giới hiện ra trước con người chứ không phải tất cảcủa thế giới nói chung Tôi nhận thức ở đây chỉ là một phần của thế giớihiện ra, ta có thể nhận thức được, nhưng ta có thể nói rằng trong một lúcngười ta có thể nhìn một cách toàn diện Trong cách nhìn ấy thì thế iìới cóhai phần
Trang 9Phần thế giới hiện ra trước con người, “thế giới hiện tượng” thế giớinày chỉ tồn tại phụ thuộc vào năng lực của con người
Phần thế giới vật tự nó, I.Cantơ cho rằng thế giới nói chung, nguyên
là vật tự nó, thế giới này không phụ thuộc vào con người, không do conngười mà có, nhưng thế giới này tác vào giác quan con người thì lúc này thếgiới này xuất hiện, thế giới hiện tượng nó được sinh ra “tự nó – và sự tồn tạicủa giác quan con người”, nhưng thực ra chỉ nhận thức được thế giới thôngqua nhận thức con người mà thôi
Theo I.Cantơ, thế giới hiện tượng là thế giới hữu hình, hữu hạn, cógiới hạn của nó về mặt không gian và thời gian Đây là thế giới tuân theoquy luật, tuần hoàn theo những quy luật tất yếu thì thế giới tuân theo liên hệnhận quả, trật tự chi phối Do vậy, thế giới này không có tự do Nếu có thìI.Cantơ cũng chấp nhận một kiểu tự do tương đối khác, nhưng về sauI.Cantơ mới chấp nhận kiểu tự do tương đối mà thôi Đây là một thế giớithường nghiệm, sự sống trãi
Phần thứ hai của thế giới “thế giới câm”, tự nó mà có, tự bản thân nó
có, tự nó tồn tại, sự vật hữu hình “không có hình hài chứ không phải là siêuhình” Cho nên thế giới này không có không gian và thời gian Khi ta nóirằng: Một tập hợp số từ 01 đến vô cùng (vô hạn) ( Tồn tại bên ngoài khônggian và thời gian)
Nếu như thế giới hiện tượng tuân theo tự do thì ở thế giới này khôngtuân theo quy luật, không có liên hệ nhân quả, thì thế giới tự do “tự do nó”không bị ràng buộc
Thế giới này gọi là siêu nghiệm không thể sống trải và chúng tachẳng có kinh nghiệm nhận ra
1.1.3 Vấn đề năng lực nhận thức
Nếu tri thức thuộc vào đối tượng thì tri thức chỉ là đơn nhất thôi Đốitượng phải phụ thuộc vào tri thức của ta “lập trường duy tâm” Xuất phát từquan điểm đó ta nói đến năng lực nhận thức là cái gì?
Theo I.Cantơ thì con người ta nhận thức bằng lý tính, lý luận “lý tínhtiên thiên” năng lực này có 3 cấp độ Đó là cảm năng, trí năng và lý năng
Lý tính tiên thiên trong nhận thức gọi là lý tính nhận thức
Cảm năng là năng lực, khả năng đem lại cho con nguời ta tri thứckinh nghiệm cảm tính Đây là tri thức về những hình thức không gian vàthời gian Gọi là tri thức kinh nghiệm bên ngoài “tri thức không gian”, còn
Trang 10tri thức thời gian “trình tự, trật tự của các đối tượng” gọi là tri thức bênngoài.
Cấp độ lý tính luận thực chất là lý tính tiên thiên được đưa vào lĩnh vựcnhận thức
Trí năng là năng lực đem lại cho con người những tri thức khoa họcvới hai đặc tính phổ quát và tất yếu Tri thức này là tri thức về quy luật, tínhliên hệ tất yếu, nhân quả nên nó tất yếu
Lý năng: đây không phải là năng lực tri thức mà đây là năng lực đemlại cho con người những ý tưởng, cái tuyệt đối, không phải là cái hữu hìnhnằm ngoài quy luật, cái tuyệt đối chính là vật tự nó, tuyệt đối siêu nghiệm,
đó là những ý niệm siêu nghiệm Đối với I.Cantơ những ý niệm về tuyệt đốithì chỉ là những ước vọng của con người về cái tuyệt đối, cho nên nó khôngcho con người ta bất kì một hiểu biết nào, không cung cấp hiểu biết nào
1.1.4 Quá trình nhận thức
Con người ta có tri thức là nhờ vào hoạt động của năng lực nhận thức,nhưng có hay không là nhờ vào quá trình nhận thức đó là quá trình thựchiện, triển khai phát huy năng lực này thì mới có tri thức Còn có năng lựcnhận thức nhưng chưa có thể phát huy được năng lực ấy
Từ đó cho rằng năng lực phát sinh ra quá trình nhận thức, chủ thểnhận thức năng lực của mình,mọi tri thức con người không do kinh nghiệmnhưng nó lại đi liền với kinh nghiệm
Quá trình hoạt động của cảm năng bằng cảm tính, kết quả của tri thứckinh nghiệm cảm tính đó là tri thức không gian và thời gian
Để tạo ra tri thức không gian, thời gian phải làm những gì? Nếu tôibiết được trật tự các sự vật xuất hiện trong không gian thì tri thức ấy gọi làtri thức thời gian, nó phản ánh không gian, thời gian của sự vật Tri thức đócách thừa nhận giửa Mác và I.Cantơ là giống nhau
Đối tượng ban đầu thể hiện ra trước mắt con người dưới dạng nhữngcảm giác mờ mờ mịt mịt, không có khuôn hình, không có trật tự, tức là cảmgiác không phản ánh được không gian của sự vật và không phản ánh đượcthời gian của sự vật Nên những cảm giác đó chưa phải là tri thức, chưa cótrật tự nhưng khi cảm năng hoạt động thì nó vốn có một bộ máy tiên thiên
“bộ công cụ tiên thiên của nhận thức thì được gọi là tiên nhiệm”, bộ công cụnày được đưa vào trong nhận thức Và quá trình cảm tính đã áp dụng bộcông cụ này vào cảm giác vô hình vô định đó, làm cho những cảm giác từchổ vô hình trở nên có khuôn hình, hình hài cụ thể, từ chổ không có trật tự
Trang 11trở nên có trật tự Từ chổ thế gi`ới xuất hiện trước con người vô hình, vôđịnh giờ người ta đã có cảm giác nhờ vào quá trình áp dụng bộ công cụkhông gian tiên thiên và thời gian tiên thiên Từ bộ máy công cụ không gian
và thời gian, xuất phát từ quan niệm nhìn đối tượng với gốc độ không gian,thời gian vốn không phải của đối tượng mà bằng cảm giác, từ chổ các cảmgiác chưa có khuôn hình, trật tự, từ làm như thế nào để có trật tự thì phải ápdụng bộ công cụ để bằng cảm giác áp dụng vào làm cho cảm giác từ không
có trật tự trở nên có khuôn hình, trật tự
Bộ công cụ được áp dụng trong quá trình nhận thức là bộ công cụkhông gian và thời gian tiên thiên Bộ công cụ không gian và thời gian lànhững kinh nghiệm của con người đã có về không gian và thời gian, không
và thời gian ấy vốn không phải là cái hiện thực Để có khuôn hình thì cầnđưa không gian và thời gian vào cảm giác để nó có khuôn hình và có trật tự.Vậy không gian từ chủ thể mà ra, không gian và thời gian từ chủ thể mà ra khingười ta biết đưa công cụ tiên thiên vào cảm giác, cảm giác có khuôn hình trật
tự, cảm giác kinh nghiệm, tri thức kinh nghiệm
Tri thức không gian và tri thức thời gian “cái tự nó” Thế giới này tựthân nó tồn tại thì nó không thể mất đi là “vật tự nó” Còn thế giới nếu có sựphụ thuộc cái khác thì nó sẻ mất đi
Tri thức kinh nghiệm cảm tính không gian và thời gian Đối tượnghiện ra không có không gian và thời gian thì ngay ban đầu nó là “vật tự nó”
Do đâu mà nó có không gian và thời gian, thế giới hiện tượng khi nó sảnsinh ra khi nó tác động vào cảm giác con người, lúc đó có sự lệ thuộc củacon người
Thế giới ban đầu xuất hiện là “vật tự nó” không thuộc vào ai cả, vậylàm như thế nào để biết được thế giới bằng không gian và thời gian Thì khi
đó thế giới được phản ánh thông qua bộ công cụ phụ thuộc vào cảm năngcủa con người Khi con người ta có cảm năng thì con người đã có bộ công
cụ cảm năng ấy rồi Thế khi đứng trước thế giới thì những cảm giác đókhông có không gian và thời gian thì bộ cảm giác đó chưa cho ta biết gì cả.Khi đưa quan niệm không gian, thời gian vào cảm giác “có khuôn hình” quátrình cảm tính I.Cantơ đúng ở chỗ nào? Đó là những năng lực nhận thức,các cảm giác, tri thức phải có khuôn hình và nội dung, những tri thức màkinh nghiệm cảm tính là những tri thức khuôn hình có trật tự, I.Cantơ sai ởchỗ khi thừa nhận không gian-thời gian thuộc về chủ thể “không cần nhậnthức mà có” mà nó có sẵn
Trang 12Quá trình họat động của trí năng gọi là giác tính kết quả là tri thứckhoa học có tính phổ quát, tất yếu thuộc về quy luật tất yếu nhân quả.
Vậy bằng cách nào trí năng sản sinh ra Bản thân trí năng đã có sẵnmột bộ công cụ tiên thiên “những phạm trù tiên nghiệm” có trước kinhnghiệm, không được sinh ra từ kinh nghiệm
Phạm trù tiên thiên này làm cơ sở; chất lượng;số lượng;tương quan;tríthức Với những phạm trù của tính năng, bộ công cụ này chưa phải là tríthức những phạm trú, những khuôn hình trống rỗng chưa có nội dung
Ví dụ: khi nói rằng một kiến trúc sư vẽ ra bản vẽ về ngôi nhà nhưngchưa trở thành ngôi nhà vì chưa có vật liệu
Ngay trong phạm trù tiên thiên có tính phổ quát và tính tất yếu “trongbản thân sự vật rồi” khi giác tính áp dụng các phạm trù và những tri thứckinh nghiệm cảm tính thì những tri thức kinh nghiệm cảm tính trở thànhnhững tri thức phổ quát và tất yếu Từ tri thức kinh nghiệm cảm tính là sảnphẩm tri thức không gian thời gian Đây là những tri thức có thể đơn nhấtkhông phải tri thức về quy luật, quan hệ nhận quả vì nó thiếu tính phổ biến.Thế nhưng với I.Cantơ tri thức kinh nghiệm phổ biến, những tri thức này là
cá thể đơn nhất cho nên nó phải phổ biến Các phạm trù tiên thiên khi ápdụng vào tri thức kinh nghiệm cảm tính từ đơn nhất trở thành phổ quát “tiênthiên” Các “quy luật tất yếu nhận quả” có được từ các phạm trù tiên thiên
Có được do ta gắn cho nó khi ta nhìn được sự vật
I.Cantơ đã đúng khi cho rằng tri thức phải có nội dung, đã nói tri thứckhoa học là quy luật, liên hệ nhân quả, thừa nhận rằng các phạm trù là công
cụ nhận thức của con người, khi giác tính áp dụng các phạm trù vào kinhnghiệm cảm tính thì từ cái đơn nhất trở thành cái phổ biến, lúc đó mọi trithức xuất hiện
I.Cantơ đã sai khi lý giải nguồn gốc tri thức khoa học từ chủ thể, vàcoi quy luật quan hệ nhân quả do bản thân nó, và cho rằng những phạm trù
là có sẵn
Quá trình hoạt động lý năng được coi là quá trình nhận thức, nhưngcoi quá trình nhận thức phải đem lại tri thức, thì hoạt động lý năng khôngđem lại tri thức
Quá trình đem lại cho con người ta một kết quả, kết quả này khôngđem lại cho con người ta tri thức thì gọi là lý tính Lý tính khẳng định về cáituyệt đối “siêu nghiệm” tôi chẳng bao giờ không có một sự sống trãi thì
Trang 13không có cái tuyệt đối Lý năng không có bất kỳ một công cụ nào,vì những
ý niệm này chẳng phải tri thức
Ý niệm về cái tuyệt đối có 3 phương diện
Ý niệm về cái tuyệt đối ở bên ngoài ta “có cái tuyệt đối ở ngoài ta” lýnăng hướng tới cái tuyệt đối bên ngoài con người, vươn vượt hết thảy mọikhông gian, thời gian, vượt hết thảy mọi khuôn hình, mọi trật tự, đạt tới vũtrụ vô hạn “không có giới hạn” không có khởi đầu và kết thúc Yêu cầu lýnăng phải vượt ra khỏi không gian và thời gian đó, nên anh bị đóng khungtrong giới hạn không gian và thời gian Khi anh có thể đưa lý năng vươnvượt qua cái không gian và thời gian đó “có nghĩa là vũ trụ này không cókhông gian và thời gian”
Lý năng hướng tới cái tuyệt đối ở trong ta, nhưng vượt hết thảy mọicảm giác khách thể “thì đạt đến linh hồn bất tử” Ta không bao giờ có mộtcuộc sống kinh nghiệm vũ trụ vô hạn cả, mà chỉ có một vũ trụ kinh nghiệmcủa một vũ trụ giới hạn mà thôi Thế thì linh hồn là cái gì? Có thấy đượckhông? Anh có quan niệm về linh hồn bất tử là linh hồn không có giới hạn
về thời gian “linh hồn bất tử anh chỉ có ý niệm mà thôi” , tôi có linh hồn bất
tử nhưng tôi không chứng minh được, vì chứng minh nó thì tôi phải có trithức!
Cái tuyệt đối cả trong ta và ngoài ta, khi lý năng hướng đến cái trong
ta và ngoài ta, khi vươn vượt mọi quan hệ nhận quả thì có nguyên nhân nào
đó, bản thân nó là kết quả nào đó
Vật tự nó chính là vũ trụ vô hạn, linh hồn bất tử và chúa trời I.Cantơcho rằng con người có ý niệm về vật tự nó nhưng lý tính một mặt chỉ đemlại cho người ta cái tuyệt đối, mà lý tính còn có sự ham muốn hiểu biết vềcái tuyệt đối
Lý tính tạo ra cái mường tượng mà nó còn có sự ham muốn về sự cótri thức về cái tuyệt đối nhưng không chỉ ước vọng như thế mà muốn thựchiện nó nên nó muốn thực hiện ham muốn này thì phải tìm kiếm công cụ,nhưng công cụ đã có sẵn đâu? Do vậy nên phải mượn lại bộ công cụ của cácphạm trù lí năng “công cụ không phải để nhận thức cái tuyệt đối” mà đểnhận thức hiện tượng thôi “không phải là công cụ để nhận thức cái tự nóđược” Ở đây, nó nảy sinh mâu thuẩn, vấp phải những Antromia “nhữngmâu thuẩn của lý tính” Do chổ những công cụ này không phù hợp ấy, dovậy gặp phải Antromia mâu thuẩn của lý tính, vấp phải những mệnh đề toànthể phủ định nhau nhưng có thể chứng minh đúng hoặc sai như nhau:
Trang 14A=1 và Ā=1 theo lôgic hình thức
A=0 và Ā=0 A=1 thì Ā=0
A=0 thì Ā=1Đây là những sai lầm của lý tính, những cái gốc của sai lầm đó là sửdụng công cụ không phù hợp với đối tượng Nên I.Cantơ nói vật tự nó là bấttri, tức là con người không có tri thức về nó Không có khả năng nhận thức
về nó nhưng lại khả tri “khả niệm” ý niệm về nó Mọi lý thuyết trước đâychứng minh về sự tồn tại của chúa trời, của linh hồn bất tử đều là lý thuyếtgiả dối
Vì sao tri thức về vật tự nó, con người ta muốn có tri thức về vật tự
nó, nhưng khi sử dụng công cụ thì gặp phải Antromia, lý tính rơi vào sailầm Anh chỉ có tri thức sai, không có tri thức đúng, do vậy không nhận thứcđược vật tự nó Bởi vì lý năng không tự nó có bộ công cụ của mình, do vậy
nó mượn công cụ, ý tưởng là ý tưởng mới mà không có công cụ do vậy phảimượn công cụ, do vậy nó sai
Vật tự nó là vật bất khả tri Con người đến bây giờ vẫn bất lực trướcvật tự nó Lập trường của I.Cantơ duy tâm tiên nghiệm “tri thức có trướcnăng lực” I.Cantơ cho rằng con người có khả năng nhận thức trước khi nhậnthức Khác với Hêghen “muốn tập bơi thì phải nhảy xuống nước” ĐếnHêghen và Mác thì không có vật tự nó, các sự vật đều có không gian và thờigian Ở I.Cantơ và Hêghen “vật tự nó” không phải là vật chất, không đượchiểu theo nghĩa “vật tự nó” tồn tại khách quan, ngoài ý thức con người là vậtchất”
I.Cantơ xuất phát từ lập trường nhất nguyên nhưng lại rơi vào nhịnguyên, ở chổ thế giới theo I.Cantơ vừa là thế giới hình tượng vừa là vật tự
nó Nhị nguyên ở công cụ nhận thức, ở nguồn gốc tri thức, ở tính bất khả tri
Vì I.Cantơ nói tôi mượng tượng được chúa trời là có, là tồn tại nhưng tôikhông chứng minh được, nên ông mới bác bỏ hết các lý thuyết trước đây về
sự tồn tại của chúa trời Vì bất khả tri mà ông đã biết được những cái màngười khác không biết được Với I.Cantơ chỉ mường tượng, ông không thểchứng minh được nó Từ quan niệm của I.Cantơ chúng ta hiểu gì? Và cónhận xét gì ở đây
Quan niệm của Hêghen khi đánh gìá về I.Cantơ: Hêghen khi đưa raquan niệm về “vật tự nó” thì quả nhiên bao chứa trong đó vật tự nó khôngthể nhận thức được vật tự nó Vì sao? Là vì vật tự nó ở ngoài không gian và
Trang 15thời gian, vật tự nó nằm ngoài quan hệ nhân quả, vật tự nó không có quy luật thìlàm gì mà tìm quy luât.
Hêghen nhận xét rằng: không có vật tự nó kể cả tinh thần của ta đềunằm trong không gian và thời gian, tuân theo quy luật không gian mà mọingười hiểu chỉ là một không gian có hình hài cụ thể Nhưng có những khônggian không có hình hài cụ thể “siêu hình” có hình hài nhưng không cụ thể
Con người chỉ nhận thức được hiện tượng chứ không nhận thức đượcvật tự nó I.Cantơ hy vọng con nguời ta đạt đến tự do, đến vật tự nó có điềukhông bằng con đường nhận thức
1.2 Nội dung cơ bản của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
I.Cantơ là nhà triết học vĩ đại của thời cận đại, là người mở đầu chotriết học cổ điển Đức-một trong những cội nguồn của triết học Mácxít Lýluận nhận thức chiếm một vai trò quan trọng trong hệ thống triết họcI.Cantơ, chính ở đó ông đã có nhiều cống hiến, đã đặt ra nhiều vấn đề màcho đến tận ngày nay chúng ta vẫn cần phải trở lại nghiên cứu Một trongnhững vấn đề cốt yếu mà I.Cantơ đề cập đến là vấn đề thực chất của nhậnthức
Thực chất của nhận thức là vấn đề trung tâm đối với nhận thức luậntrước I.Cantơ Có thể nhận thấy rằng cả ở trong các hệ thống chủ nghĩa duy
lý cổ điển lẫn trong các học thuyết chủ nghĩa kinh nghiệm duy vật, nhậnthức được xem như kết quả hoạt động tư duy của chủ thể nhằm thấu hiểuthế giới bên ngoài Nhưng nếu như chủ nghĩa kinh nghiệm cố gắng nghiêncứu những tư tưởng của con người từ phía nội dung của chủ nghĩa duy lý cổđiển lại chú trọng nghiên cứu khía cạnh lôgíc của các tư tưởng, các hìnhthức khác nhau của nó I.Cantơ muốn tổng hợp những thành tựu đó Đặt chomình nhiệm vụ này I.Cantơ nhận thấy sự khác nhau giữa kinh nghiệm và tưduy lôgíc khái niệm trùng với sự khác nhau giữa nội dung và hình thức lôgíccủa tri thức Vậy I.Cantơ đặt ra vấn đề mới phải làm gì để tìm ra những hìnhthức lôgíc mà nhờ lý tính của con người nắm bắt được nội dung của nhậnthức nhờ kinh nghiệm [17]
Theo I.Cantơ, triết học trước ông là giáo điều với nghĩa rằng nó tiếpcận đến các vấn đề nhận thức xuất phát từ các tiền đề và các phán đoán đã
có sẵn mà không nghiên cứu chính bản thân hoạt động nhận thức và giớihạn của nó Khác hẳn với những người đi trước, I.Cantơ cho rằng để hiểuđược bản chất của nhận thức thì phải nghiên cứu chính bản thân tri thức.Xuất phát từ điều này ông đã xây dựng nên một quan niệm mới về nhận
Trang 16thức và có ý định làm cho quan điểm nhận thức của mình trở thành quanniệm đối với triết học nói chung [17].
Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, I.Cantơ đã đặt ra vấn đề tínhkhách quan ở chủ thể hiện nhận thức
Trong tác phẩm phê phán lý tính thuần túy, một trong những nội dung
cơ bản của triết học lý luận được I.Cantơ nêu ra là: tri thức khoa học chânchính có khả năng đến đâu? Hay “các mệnh đề tiên nghiệm xuất phát nhưthế nào?” Với cách đặt vấn đề này, I.Cantơ muốn tìm xem tư duy khoa họcduy lý có những hạn chế của nó hay không? Và để trả lời, I.Cantơ cụ thểhóa vấn đề này thành ba nội dung riêng biệt: khả năng của toán học? Khảnăng của vật lý học (khoa học tự nhiên) và khả năng của siêu hình học (triếthọc)? [14; 300]
Với ba lĩnh vực này, I.Cantơ đã nêu ra ba định hướng quan niệm khácnhau về khả năng của chúng I.Cantơ tin tưởng sâu sắc vào tính chất khoahọc của toán học và các khoa học tự nhiên Ông tìm cách giải thích tínhkhoa học của khoa học đó trong sự chi phối và quy định của tư duy kinhnghiệm và nhận thức ở trình độ kinh nghiệm Nhưng với siêu hình học, tức
là với triết học thì I.Cantơ đã đặt ra câu hỏi liệu siêu hình học nói chung cókhả năng tồn tại như là khoa học hay không? Và ông đã trả lời phủ định vớicâu hỏi này I.Cantơ viết “Siêu hình học từ trước tới giờ luôn ở trong tìnhtrạng bấp bênh không đáng tin cậy và mâu thuẫn chỉ bởi một nguyên do lànhiệm vụ (xác định khả năng của tri thức khoa học) và thậm chí cả việc tìm
ra sự khác biệt giữa các suy lý phân thích và tổng hợp cũng vẫn chưa đượcbàn đến ”
I.Cantơ cho rằng, tính xác thực của tri thức khoa học nghĩa là có thểtin cậy được và đó chỉ có thể tri thức khách quan, tức là mang tính kháchquan Tính khách quan ở đây mang tính đồng nhất với tính phổ quát và tấtyếu Do vậy tri thức muốn đạt tới sự xác thực thì nó cần phải đạt tới trình độtất yếu và phổ quát, có gìá trị chung mang tính phổ biến
Về tính khách quan của tri thức, theo I.Cantơ được quy định bởi cấutrúc của chủ thể siêu nghiệm, bởi những thuộc tính và phẩm chất siêu cánhân của chủ thể nhận thức I.Cantơ lý giải, mỗi chủ thể đang nhận thức,trong bản tính của mình, luôn vốn có một trình độ nhất định của nhận thứcthiên bẩm (tiền kinh nghiệm), điều này đã được I.Cantơ phân tích kỹ thôngqua các khái niệm không gian, thời gian.v.v mà ông coi là những hình thứcchủ quan tiền kinh nghiệm của nhận thức cảm tính I.Cantơ phân biệt,
Trang 17không gian là hình thức bên ngoài còn thời gian là hình thức bên trong củakinh nghiệm cảm tính Các biểu tượng không gian, theo ông, là cơ sở của trithức, hình học, thời gian – của các tri thức số học và đại số.
Vấn đề là ở chỗ, những vấn đề làm nên tính xác thực của tri thức,theo I.Cantơ, được tạo ra bởi những hình thức tiền kinh nghiệm của nhậnthức cảm tính Đó là trình độ nhận thức thứ nhất của nhận thức [14; 301]
Theo I.Cantơ nhận thức kinh nghiệm là khởi đầu của nhận thức quynạp, nhưng tính xác thực của các khái quát quy nạp nhờ kinh nghiệm lạikhông nằm trong kinh nghiệm mà ở lý trí (nó mang tính tiên nghiệm) Nếumột phán đoán nào đó có tính phổ biến một cách nghiêm ngặt, có nghĩa làkhông cho phép có ngoại lệ, thì nó không được rút ra từ kinh nghiệm mà làcác phán đoán tiên nghiệm một cách vô điều kiện Theo I.Cantơ, thì “ tínhtất yếu và tính phổ biến nghiêm ngặt thực chất là những dấu hiệu đầu tiêncủa tri thức tiên nghiệm và chúng liên quan mật thiết, không tách rời nhau”.I.Cantơ đã đặt ra câu hỏi: Tri thức kinh nghiệm có thể lấy tính xác thực ởđâu ra nếu như tất cả các quy tắc mà nó tuân thủ, đến lượt mình, cũng là dokinh nghiệm mà có? Do vậy nó cũng ngẫu nhiên? Để thoát khỏi vòng luẩnquẩn này theo I.Cantơ, cần giả định là có khả năng nhận thức thuần túy củachúng ta cùng vơi những dấu hiệu đặc trưng của nó, và không chỉ trong cácphán đoán, mà thậm chí cả trong các khái niệm cũng có thể tìm thấy nguồngốc tiên nghiệm của một số trong chúng Khái niêm “kinh nghiệm” ở đây,theo I.Cantơ, chính là kết quả của nhận thức cảm tính (màu sắc, mùi vị, độnặng nhẹ, tính thẩm thấu ), tất cả những tính chất mà chúng ta nhận biếtđược nhờ kinh nghiệm Do vậy ta không thể lấy đi ở nó một tính chất mà tasuy nghĩ về nó như một bản thể, hay như cái gì đó gắn vào bản thể Bởi vì taphải thừa nhận rằng nó hiện diện trong khả năng nhận thức của chúng tamột cách tất yếu và xác thực [14; 323 – 324 ]
Khi nói về sự khác nhau giữa trực quan tiên nghiệm thuần túy vớitrực quan kinh nghiêm Và theo I.Cantơ “trực quan thuần túy nằm trong cơ
sở của trực quan kinh nghiệm, và vì vậy tự chúng không bao giờ có thể bịloại bỏ, nhưng vì chúng là những trực quan thuần túy và điều đó đã chứngminh rằng chúng thực chất chỉ là những hình thức của giác tính chúng ta.Những hình thức trước đó có bất kì trực quan kinh nghiệm nào, có nghĩa là
nó có trước tri giác về các sự vật thực [14; 325]
I.Cantơ cho rằng, sở dĩ toán học thuần túy có thể có được chỉ vì rằng:
“nó có quan hệ đặc biệt với các đối tượng cảm tính mà trực quan kinh
Trang 18nghiệm về chúng dựa trên trực quan kinh nghiệm thuần túy (về không gian,thời gian) và hơn nữa nó có thể xây dựng dựa trên trực quan thuần túy nhưvậy vì rằng trực quan đó chỉ là hình thức của giác tính – hình thức có trướchiện thực của các sự vật ”.
Khái niệm “tiên nghiệm” được nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm: cónghĩa là tiên nghiệm có trước kinh nghiệm, nó không vượt ra khỏi khuônkhổ kinh nghiệm, không vượt cao hơn kinh nghiệm Nhưng tiên nghiệm lạiđược áp dụng với kinh nghiệm (cảm tính) làm cho kinh nghiệm có thể cóđược gìống như phương pháp, cách thức hệ thông hóa tri thức kinh nghiệmthành tri thức khoa học
I.Cantơ khẳng định rằng: mọi nhận thức đều bắt đầu từ kinh nghiệm(cảm tính) Nhưng, cho dù toàn bộ nhận thức của con người được bắt đầu từkinh nghiệm, thì điều đó không hoàn toàn không có nghĩa là tri thức đượcsinh ra hoàn toàn từ kinh nghiệm Có nghĩa ngoài các thông số kinh nghiệm
do các quan cảm giác đem lại thì có tồn tại chăng loại nhận thức phụ thuộcvào kinh nghiệm và thậm chí vào các ấn tượng do cảm giác đem lại Trithức loại đó theo I.Cantơ là tri thức tiên nghiệm và nó khác với tri thức kinhnghiệm
Từ việc phân tích khái niệm tiên nghiệm là cơ sở để I.Cantơ trả lờicâu hỏi: toán học thuần túy và khoa học tự nhiên thuần túy có được như thếnào? Bởi vì chúng mới cho phép chúng ta hình dung đối tượng trong trựcquan và thông qua nó, trong trường hợp nhận thức có thể chỉ ra tính chânthực của nó hoặc tương ứng giữa nó với khách thể [14; 327]
Vậy với câu hỏi: toán học có thể có như thế nào? Trước tiên I.Cantơcoi toán học là một môn khoa học có tương lai và tri thức của nó có tính xácthực cao nhất, và không dựa vào bất cứ kinh nghiệm nào – đó là sản phẩmcủa lý tính tính thuần túy và nhận thức mang tính tổng hợp - tiên nghiệm.Toán học cần thể hiện các khái niệm của mình trong trực quan thuần túy màkhông phải là kinh nghiệm – do vậy các phán đoán toán học luôn mang tínhtrực giác Cho nên, trong cơ số của toán học cần có một sự trực quan thuầntúy Trực quan thuần túy tiên nghiệm là cơ sở của các phán đoán tổng hợptiên nghiệm mà do vậy nó có tính tất yếu xác thực; còn các phán đoán tổnghợp kinh nghiệm thì chỉ xác thực về mặt kinh nghiệm, vì nó chỉ chứa các sựkiện gặp trong kinh nghiệm ngẫu nhiên
Vấn đề đặt ra: trực quan thuần túy có thể thực hiện bằng cách nào?Khi nói đến trực quan đó là biểu tượng liên quan trực tiếp đến một đối
Trang 19tượng nào đó? Do vậy, dường như không có trực quan thuần túy Vì khi đó,trực quan được thực hiện mà không có đối tượng nào Nhưng I.Cantơ chorằng, có những khái niệm mà chúng có thể hình thành một cách thuần túy
mà không có bất kì mối quan hệ trực tiếp nào với đối tượng Ví dụ như cáckhái niệm độ lớn, nguyên nhân nhưng cả những khái niệm như vậy để cónghĩa cũng cần đến một sự áp dụng vào vấn đề trực quan nào đó mà đem lạicho chúng ta một đối tượng nào đó I.Cantơ đặt ra: làm thế nào có thể trựcquan một đối tượng có trước chính đối tượng? Vậy, I.Cantơ cho rằng: đểtrực quan của ta có trước sự vật như là một nhận thức thuần túy, thì chỉ cóthể có một trường hợp duy nhất, nếu sự trực quan này không chứa bất cứ cái
gì ngoài giác tính – những hình thức có chứa bất kì ấn tượng nào trong chủthể của chúng ta Như vậy, chúng ta có thể trực quan một đối tượng nào đómột cách apriori chỉ bằng cách nhờ vào hình thức trực quan cảm tính, màtrong đó chúng ta có thể nhận thức đối tượng chỉ như là nó hiện ra cho cảmgiác của chúng ta, mà không phải như nó vốn có Các hình thức giác tính đó
là không gian và thời gian – đối tượng của những trực quan mà toán họcthuần túy đưa vào các phán đoán của mình Vì đó là những phán đoán đúngmột cách tất yếu [14; 328]
Theo I.Cantơ, không gian và thời gian như là cơ sở của toán học vàkhoa học tự nhiên thuần túy “không thể là các tính chất của các sự vật như
nó vốn có, mà chỉ là các hình thức của giác tính chúng ta tất cả các sự vậttrong không gian thực chất chỉ là các hiện tượng, có nghĩa là không phải sựvật như nó vốn có, mà chỉ là những biểu tượng trực quan cảm tính củachúng ta” 1, tính khách quan của không gian, thời gian có được không phải
do chúng ta tồn tại ngoài và độc lập với ý thức chúng ta, mà do chúng cótính phổ biến và tất yếu [14; 329]
Để trả lời cho câu hỏi: khoa học tự nhiên thuần túy có thể có đượcbằng cách nào, trước hết I.Cantơ xác định rằng chúng ta quả thực đã chiếmlĩnh được khoa học tự nhiên thuần túy, khoa học đó cho chúng ta biết về cácquy luật điều khiển giới tự nhiên Mà ở đây được I.Cantơ đồng nhất với toàn
bộ các đối tượng của kinh nghiệm có thể có I.Cantơ viết: “nhưng ở đâychúng ta không thể nói đến các sự vật như nó vốn có (chúng tôi gạt chúngsang một bên cùng với tất cả các tính chất của chúng) mà chỉ nói đến các sựvật như là các đối tượng của kinh nghiệm có thể có, và tổng thể của tất cảcác đối tượng này là cái mà chúng ta ở đây gọi là giới tự nhiên” [14; 330]
Trang 20Vấn đề về khả năng của nhận thức kinh nghiệm (kinh nghiệm khoahọc) đối với tự nhiên này, làm thế nào có thể nhận thức quy luật tất yếu củacác sự vật như là đối tượng của kinh nghiệm một cách Apriori? Ở đây giới
tự nhiên được coi như là một đối tượng toàn vẹn của toàn bộ kinh nghiệm
có thể có (giới tự nhiên ở đây là hiện tượng, chứ không phải là các sự vậtnhư nó vốn có) Vấn đề là bằng cách nào mà những điều kiện tiên nghiệmthực chất là những nguồn gốc mà từ chúng tất cả các quy luật của giới tựnhiên cần phải rút ra
I.Cantơ thừa nhận có hai trình độ của kinh nghiệm; một kinh nghiệmđược xây dựng trên cơ sở những tri giác cảm tính, nhưng để kinh nghiệm có
ý nghĩa là kinh nghiệm khoa học thì kinh nghiệm cảm tính cần phải đượckết hợp với những khái niệm đặc biệt có nguồn gốc nguyên thủy của mìnhhoàn toàn Apriori trong lý trí thuần túy Mỗi tri giác đầu tiên cần phải đượcđem đối chiếu với những khái niệm của lý trí thuần túy và khi đó các kháiniệm – tri giác mới có thể biến thành kinh nghiệm khoa học Như vậy theoI.Cantơ, thì “ý nghĩa khách quan và tính phổ biến, tất yếu thực chất là nhữngkhái niệm đồng nhất, dù chúng ta không biết khách thể như nó vốn có lànhư thế nào, nhưng khi ta cho phán đoán tính phổ biến và thông qua nó làtất yếu, thì chúng ta đã cho nó ý nghĩa khách quan”, tính khách quan đó cóđược theo I.Cantơ là nhờ các khái niệm của lý trí thuần túy [14; 332]
Để đảm bảo tính tất yếu và phổ biến của tri thức khoa học và tri thứctriết học, theo I.Cantơ thừa nhận sự vật phải phù hợp với nhận thức củachúng ta chứ không phải nhận thức của chúng ta phải phù hợp với vật Luậnđiểm có tính chất nền tảng trong nhận thức luận của I.Cantơ là: “tư tưởngthiếu nội dung thì trống rỗng, mà trực quan thiếu khái niệm thì mù quáng”.Luận điểm này cho thấy I.Cantơ tìm cách dung hòa giữa hai quan niệm.Theo ông, tri thức vừa có nguồn gốc từ lý trí tiên nghiệm vừa có nguồn gốc
từ kinh nghiệm, để bảo đảm tri thức có nội dung từ hiện thực khách quan.Điều đó buộc I.Cantơ phải thừa nhận “vật tự nó” là nguồn gốc tạo ra cáckinh nghiệm Nhưng đó chỉ là hiện tượng thể hiện sự tồn tại của “vật tự nó”chứ không phải là bản thân “vật tự nó” Về nguyên tắc theo I.Cantơ thì trithức không phản ánh được “vật tự nó” và chỉ phản ánh được hiện tượng do
“vật tự nó” sinh ra [14; 336]
Sự lĩnh hội của ta về cái đa tạp của hiện tượng bao giờ cũng có tínhtiếp diễn Những biểu tượng về các bộ phận tiếp diễn nhau trật tự Nhưngliệu chúng có tiếp diển nhau ở bên trong đối tượng hay không là điểm thứ
Trang 21hai cần phải suy nghĩ vì điểm thứ nhất Sự lĩnh hội chưa chứa đựng sẵn điềunày Tất nhiên người ta có thể gọi tất cả, kể cả từng biểu tượng hay chừngmực ta có ý thức về nó,là đối tượng “đối tượng” này có ý nghĩa là gì? nơinhững hiện tượng-không phải trong trong chừng mực nó là những đối tượng(như là những biểu tượng) mà chỉ biểu thị (bản thân) một đối tượng Vậytrong chừng mực chúng chỉ như là những biểu tượng – đồng thời là nhữngđối tượng của ý thức, chúng không có gì khác biệt với sự lĩnh hội, tức là sựtiếp thu vào trong sự tổng hợp của trí tưởng tượng, và như vậy phải nói rằng
“cái đa tạp của những hiện tượng luôn luôn được tạo ra một cách tiếp diễntrong tâm thức ta” Còn nếu những hiện tượng là những vật tự thân, chắcchắn không ai có thể - từ sự tiếp diễn của những biểu tượng và cái đa tạp(trong tâm thức) – lượng đoán chúng được nối kết với nhau như thế nàotrong đối tượng (vật – tự - thân) Bởi vì, ta chỉ làm việc với những biểutượng của ta thôi, còn vật tự thân như thế nào (không xét đến những biểutượng qua đó chúng tác động vào ta) là hoàn toàn nằm ngoài phạm vi nhậnthức của ta Thế thì mặc dù những hiện tượng không phải là những vật tựthân nhưng lại là cái duy nhất có thể mang lại cho ta để trở thanh nhận thức.Vậy thì, ở đây loại kết nối nào trong thời gian thuộc về cái đa tạp nơi bảnthân của những hiện tượng, trong khi biểu tượng về cái đa tạp này trong sựlĩnh hội bao giờ cũng có tính tiếp diễn Ví dụ: sự lĩnh hội về cái đa tạp tronghiện tượng một ngôi nhà đang đứng trước mắt tôi là có tính tiếp diễn (tôi cóthể nhìn ở gốc độ khác nhau, từ nóc xuống nền, từ ngoài vào trong, ) Vậycái đa dạng có tiếp diễn trong bản thân ngôi nhà không, nhưng nếu tôi nângkhái niệm của tôi về một đối tượng lên một ý nghĩa siêu nghiệm về nó tathấy rằng ngôi nhà không phải là vật tự thân, mà chỉ là một hiện tượng, tức
là biểu tượng, còn đối tượng siêu nghiệm của nó không thể biết được Ở đây(trong trường hợp ngôi nhà) cái gì nằm ở trong sự lĩnh hội tiếp diễn của tôiđược xem là biểu tượng, còn hiện tượng (ngôi nhà) được mang lại cho tôi dùkhông gì khác hơn là một tổng thể của những biểu tượng này được xem làđối tượng của những biểu tượng ấy Và khái niệm của tôi (về ngôi nhà)được rút ra từ những biểu tượng của sự lĩnh hội phù hợp với đối tượng Vìnhận thức phải trùng hợp với đối tượng mới tạo nên chân lý Nếu hiện tượngphục tùng một quy luật phân biệt nó với sự lãnh hội khác làm cho phươngcách kết nối cái đa tạp trở nên tất yếu Ở hiện tượng, cái chứa đựng điềukiện cho quy luật tất yếu của sự lãnh hội, đó chính là đối tượng [9; 460 –461]
Trang 22I.Cantơ chỉ ra muốn nắm được cái hệ thống, cái toàn thể của đốitượng nào thì phải giả định các khái niệm, biểu tượng của chúng ta là thốngnhất, mà sự thống nhất này phải có cơ sở của nó là sự đồng tính (hay gọi làtính đồng nhất về chất) của toàn bộ hệ thống, của tất cả các khái niệm, biểutượng I.Cantơ nói: “Trong sự thâu gồm một đối tượng vào trong một kháiniệm, biểu tượng về đối tượng phải đồng tính với khái niệm, có nghĩa là,khái niệm cần bao chứa cái đã được hình dung ra bằng biểu tượng trong đốitượng được thân gồm” 1, tức là nhận thức khái niệm về đối tượng, thì phảitìm ra cái chung, cái bản chất trong tất cả những mặt, những thuộc tính đadạng của nó, chứng tỏ được sự đồng tính của những cái đa dạng Tuy nhiên
ở đây cần phải làm thế nào để phát hiện ra sự đồng tính, đồng chất, tức làcái chung, cái bản chất ấy, nghĩa là phải bắt đầu từ đâu Theo I.Cantơ “làmthế nào để thâu gồm trực quan vào khái niệm thuần túy, tức là làm sao cóthể áp dụng các phạm trù vào những hiện tượng được?” và I.Cantơ đã tìmcâu trả lời: “Câu hỏi rất tự nhiên, nhưng rất nghiêm trọng ấy chính là lý docho thấy sự cần thiết của học thuyết siêu nghiệm về năng lực phán đoán, vì
nó sẽ chỉ ra khả năng làm thế nào để áp dụng các khái niệm thuần túy củagiác tính vào những hiện tượng nói chung” Nó có nghĩa tìm ra các khởiđiểm để từ đó tiến lên nắm được cái chung bản chất và cuối cùng nắm đượctoàn bộ đối tượng Theo I.Cantơ cho rằng: con đường tổng hợp là quá trìnhdiễn ra theo nguyên tắc nhân quả, tiến dần từ yếu tố khởi điểm ấy đến chổđạt được cái thống nhất, cái chỉnh thể Theo I.Cantơ tổng hợp là năng lựcriêng của lý tính, một quá trình không có nguồn gốc hiện thực Mà đây làquá trình lý tính tự triển khai, tự đặt sự thống nhất của các khái niệm, cácbiểu tượng bên trong nó Chính năng lực này đưa lại khả năng nhận thứcđược sự thống nhất của cái đa dạng của các đối tượng kinh nghiệm (hiệnthực) [14; 103 – 104]
Song I.Cantơ còn giải thích, làm thế nào chủ thể lại có thể nhận thức
cả đối tượng hiện thực, sau khi đã tạo ra trong tư duy siêu nghiệm khái niệmtiên nghiệm về “đối tượng nói chung” Thực vậy, vì “đối tượng nói chung”được tạo ra bởi tư duy siêu nghiệm, tức là bởi cái gì đó thuần túy tư tưởng.Trong khi đó đối tượng kinh nghiệm tồn tại hiện thực ngoài tư duy và cáckhái niệm về nó: Điều này nói đến mối quan hệ giữa các đối tượng với “cácđối tượng nói chung”, thì trong triết học I.Cantơ mọi đối tượng chỉ tồn tạinhư là đối tượng của ý thức, còn tất cả những gì nằm ngoài khuôn khổ ấyđều được I.Cantơ coi là “vật tự nó” Vì thế mọi đối tượng đối với I.Cantơ
Trang 23đều là hiện tượng, tức là sản phẩm của ý thức con người Vậy thì thế giới đódiễn ra phụ thuộc vào năng lực, khả năng cách nhìn của con người về thếgiới thôi, khả năng con người phản ánh thế giới Đó là một phần của thế giớihiện ra trước con người chứ không phải tất cả (của thế giới nói chung) Bởi
vì thế giới nói chung, nguyên là vật tự nó thì thế giới này không lệ thuộcvào con người, không do con người mà có, nhưng khi thế giới này tác vàogiác quan con người thì lúc này thế giới xuất hiện, thế giới hiện tượng nóđược sinh ra “tự nó” – và sự tồn tại của giác quan của con người, nhưngthực ra chỉ nhận thức được thế giới thông qua nhận thức con người mà thôi.Bởi vì, luận điểm cơ bản của I.Cantơ là: Có một “vật tự nó” ở bên ngoài tầmnhìn lý tính của chúng ta, chúng ta phải có cách nhận thức khác (ngoài lýtính) mới có thể hiểu được bản chất sâu xa của sự vật Theo bản chất củagóc nhìn, thì lý tính của con người chỉ có sức mạnh và có hiệu lực cao trongphạm vi 160˚, ngược lại là “điểm mù” của lý tính cũng chiếm 160˚, còn lại
là “giải tần mờ” đó là điểm chuyển hóa giữa phạm vi thấy được của lý tính
và điểm mù của nó Nhận thức của con người luôn mở rộng, nhưng vì gốcnhìn của lý tính là một hằng số nên lý tính càng mở rộng thì điểm mù của nó(cũng là một hằng số) cũng càng mở rộng (càng biết nhiều thì càng biếtrằng còn nhiều điều mình chưa biết)[14; 319]
Vậy từ quan điểm đó ta nói đến năng lực nhận thức là cái gì? “Tôi cóthể nhận biết được cái gì?” Nếu trả lời được câu hỏi này thì sẽ tạo tiền đề lýluận cơ bản để đi tới việc trả lời câu hỏi “Con người là gì”
Theo quan điểm của I.Cantơ, sai lầm của các nhà siêu hình học củ kể
từ Arixtốt đến Đềcáctơ, Lépnít là ở chổ, khi nhận thức thế giới, họ rơi vàochủ nghĩa kinh nghiệm, tuyệt đối hóa vai trò của cảm giác, của kinh nghiệmtrong quá trình nhận thức; hoặc rơi vào chủ nghĩa duy lý, đề cao vai trò lýtính, của tư duy trong quá trình nhận thức Nếu dừng lại ở chủ nghĩa kinhnghiệm, chúng ta không bao giờ đạt được tri thức mang tính phổ quát, tấtyếu bởi kinh nghiệm bao giờ cũng chỉ cho chúng ta biết những tri thứcmang tính ngẫu nhiên, đơn lẻ Nếu dừng lại ở chủ nghĩa duy lý, chúng ta sẽrơi vào tình trạng phủ nhận sự tồn tại khách quan của đối tượng nhận thứccủa thế giới nói chung[14; 312]
Từ đối tượng của nhận thức, nảy sinh năng lực nhận thức thế nào?Được thực hiện nhờ khả năng nhận thức ở trình độ nhận thức lý tính Ở trình
độ này lý trí đó chính là tư duy với hệ thống các khái niệm và các phạm trùcủa mình đã thực hiện các phán đoán để xây dựng đối tượng nhận thức Đối
Trang 24tượng không phải là nguồn gốc của tri thức về nó dưới dạng các khái niệm,phạm trù Ngược lại, chính các hình thức của lý trí đã kiến tạo nên đối tượngcủa nhận thức Điều này còn là lý do giải thích tại sao con người chỉ có thểhiểu được những gì do nó sáng tạo ra, tức hiểu được những gì nằm trongphạm vi bao quát của hệ thống phạm trù tiên nghiệm vốn có của con người.Vươn vượt ra khỏi giới hạn đó hiện thực thuộc về thế giới “vật tự nó” TheoI.Cantơ khái niệm, phạm trù cơ sở chỉ mang tính phổ quát và tất yếu, bởi vìtrước hết chúng không phụ thuộc vào ý thức cá nhân (được hình thành bởikinh nghiệm) Chúng chính là những hình thức siêu nghiệm của nhận thức.Tri thức vì thế theo I.Cantơ luôn là cơ sở cho chính nó, có sẵn dưới dạng cáctri thức siêu nghiệm, nó được làm gìàu thêm, được phát triển thêm cũng nhờchính bản thân của tri thức kinh nghiệm và siêu nghiệm Quá trình đó nằmngoài và không phụ thuộc vào ý thức cá nhân, cá thể Do vậy I.Cantơ chorằng tri thức có tính khách quan.
Quan niệm của I.Cantơ, lý tính điều chỉnh tri giác của con ngườitrong suốt quá trình nhận thức, dẫn dắt tri giác vào khuôn khổ của các hìnhthức tất yếu và phổ quát của nhận thức Lý tính quy định tính khách quancủa tri thức, nhưng cái gì đã tạo ra khả năng đó của lý tính? Tại sao lý tínhlại có thể đưa tri giác vào các hình thức tiên nghiệm như vậy Và cuối cùngthì cái gì đã gắn kết các phạm trù và các khái niệm vào một chỉnh thể tronghiện thực? Theo I.Cantơ: tất cả những thao tác đó là do đặc thù của chủ thểquy định cơ sở sâu xa tạo nên sự thống nhất trong nhận thức luận mà nếuthiếu sự thống nhất đó thì lý tính không thực hiện được chức năng của nó –
đó là hành vi tự nhận thức của chủ thể: cái tôi đang tư duy I.Cantơ gọi hành
vi này là sự thống nhất siêu nghiệm của tri giác hay sự kết hợp của các trigiác nằm ngoài giới hạn của kinh nghiệm
Vậy, lý tính, theo I.Cantơ cũng là khả năng của chủ thể ở trình độcao Khả năng này quy định và điều khiển mọi hoạt động tư duy của conngười, thậm chí còn đặt ra mục đích nhận thức cho con người Còn tư tưởngtheo quan niệm của ông, đó là bản chất siêu cảm giác của sự tồn tại hiệnthực của lý tính, tư tưởng được hiện hình bằng những quan niệm về mụcđích, về nhiệm vụ mà nhận thức của chúng ta đặt cho nó và hướng tới nó vàthông qua tư tưởng, lý tính thực hiện chức năng điều chỉnh đối với hoạtđộng nhận thức và đánh thức chủ thể vươn vượt ra ngoài giới hạn của kinhnghiệm, để vươn tới cái tuyệt đối, không phải là cái hữu hình, nằm ngoài
Trang 25quy luật “cái tuyệt đối chính là vật tự nó” tuyệt đối với cái siêu nghiệm, đóchính là những ý niệm siêu nghiệm[14; 303].
Theo I.Cantơ có lẽ trong tâm tưởng sâu xa của ông không hoàn toànđánh gìá thấp khả năng nhận thức của con người, mặc dù ông cho rằng cáckhái niệm và các phạm trù, tức là những hình thức tư duy không có khảnăng làm cho chủ thể vượt ra ngoài giới hạn của kinh nghiệm Về hình thứcthì quan niệm này dường như hạ thấp sức mạnh của tư duy con người,nhưng thực chất thì quan niệm này cho phép nhìn thẳng vào những nan giải
to lớn của nhận thức và làm lộ ra những mâu thuẫn vốn có thuộc về bản chấtcủa tư duy Mặc dù I.Cantơ là một đại biểu của chủ nghĩa bất khả tri, nhưngbất khả tri của I.Cantơ là ở điểm tận cùng của nhận thức, là bất khả tri củanhững tham vọng nhận thức và cải tạo không có điểm dừng, không có giớihạn đối với thế giới Đây là cách thể hiện độc đáo những ước mơ, khao khátcủa ông hướng tới trình độ sâu sắc hơn nữa của những nhận thức con người.Đồng thời qua đây ông cũng nói lên những giới hạn có thật đối với tư duy
và nhận thức[14; 304]
Ở giai đoạn nhận thức lý tính tư duy con người bắt gặp ba ý niệm cơbản đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người Linh hồn -đối tượng nghiên cứu chủ yếu của tâm lý học duy lý; vũ trụ - đối tượngnghiên cứu chủ yếu của siêu hình học duy lý; thượng đế - đối tượng nghiêncứu chủ yếu của thần học tiên nghiệm Khi lý tính muốn đi sâu tìm hiểu bảnchất của ba đối tượng này thì nó vấp phải những antinomi (luật tương phảnhay nghịch lý của nhận thức) mà vế chính đề được khái quát lên từ các quanđiểm duy tâm – thần học, còn vế phản đề, được khái quát lên từ các quanđiểm duy vật – vô thần Cả hai vế antinomi tuy đối lập nhau nhưng nó cócăn cứ gìống nhau, chúng có thể cùng đúng hoặc cùng sai, chứ không phảihoàn toàn phủ định nhau Theo lý giải của I.Cantơ, các antinomi lý tính lànhững mâu thuẩn phản ánh bản chất lý tính của con người khi muốn vươnlên nhận thức những đối tượng tối cao tuyệt đối Cơ sở để lý giải những mâuthuẫn đó không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm, cũngkhông phải chủ nghĩa kinh nghiệm hay chủ nghĩa duy lý, mà là chủ nghĩaduy tâm tiên nghiệm, dựa trên phương pháp luận của thuyết bất khả tri, vớiquan điểm nhìn nhận thế giới như một thế giới lưỡng phân Thế giới hiệntượng là thế giới của các sự vật, hiện tượng khả nghiệm, khả giác Thế giớivật tự nó là thế giới các sự vật, hiện tượng khả niệm, bất khả giác
Trang 26Vậy, linh hồn, vũ trụ, thượng đế ba đối tượng của siêu hình học, mà
lý tính – cấp độ cao nhất của nhận thức con người đã nhiều lần muốn vươntới nhưng gặp phải antinomi Điều đó chứng tỏ rằng nhận thức con ngườ cógiới hạn và con người chỉ nhận thức được những gì nằm trong khuôn khổcủa thế giới hiện tượng, vượt ra ngoài thế giới đó là vương quốc của thế giớivật tự nó Đó là lời giải đáp cho câu hỏi: “Tôi có thể nhận biết được cáigì?”[14; 314–315]
Theo I.Cantơ hiểu “vật tự nó” theo các cái nghĩa sau: thứ nhất, đó lànhững hiện tượng (được I.Cantơ đồng nhất với các kinh nghiệm), mà chúng
ta chưa nhận thức được; thứ hai, đó là bản chất của mọi sự vật tồn tại bênngoài chúng ta, thuộc về lĩnh vực siêu nghiệm và về nguyên tắc chúng takhông thể nhận thức được; thứ ba, “vật tự nó” là những lý tưởng, chuẩnmực của mọi sự hoàn hảo tuyệt đối mà con người không thể đạt được, lànhững điều mà nhân loại hằng mơ ước – đó là chúa, tự do, sự bất tử của linhhồn[14;336]
I.Cantơ quan niệm như vậy về “vật tự nó” thể hiện rõ tính chất nhịnguyên trong quan niệm của ông về thế giới đồng thời thể hiện rõ quan niệmcủa ông về giới hạn nhận thức của con người Một mặt khẳng định “vật tựnó” có các sự vật tồn tại bên ngoài chúng ta, thể hiện như một nhà duy vật.Còn mặt khác “vật tự nó” thể hiện sự tồn tại của chúa, sự bất tử của linhhồn, trên gốc độ này I.Cantơ là nhà duy tâm
Từ quan niệm “vật tự nó” I.Cantơ xây dựng lý luận về nhận thức luậncủa mình Ông cho rằng, nhận thức không phải là sự phản ánh sự vật tronghiện thực khách quan mà là quá trình con người tạo ra tri thức nhờ tư duycủa ta vận dụng khái niệm vào lĩnh vực kinh nghiệm (giác tính) Do vậy,theo I.Cantơ đối tượng lý luận về nhận thức là nghiên cứu hoạt động nhậnthức của con người trong phạm vi hiện tượng luận để tạo ra tri thức, xácđịnh những quy luật hoạt động của trí tuệ và giới hạn trí tuệ của con người.Với I.Cantơ, con người phải được coi là chủ thể, chủ động tạo ra tri thức,còn tự nhiên, hiện thực khách quan phải phục tùng những quy luật do trí tuệcon người tạo ra, chứ không phải con người chỉ tiếp nhận thụ động của sựtác động các sự vật trong thế giới khách quan Theo I.Cantơ cho rằng ở mỗicon người, mỗi chủ thể nhận thức đều có năng lực sử dụng phép suy diễntiên nghiệm nhờ hoạt động trí tuệ giác tính của mình, nhờ năng lực hoạtđộng trí tuệ của con người mà ông gọi là “khả năng tưởng tượng có hiệuquả” đây là năng lực bẩm sinh được tạo hóa phú cho con người, nếu thiếu
Trang 27nó thì không thể có gì bù đắp được, và lúc đó con người sẽ không có nănglực hoạt động tư duy[14;337].
Thế giới ban đầu xuất hiện (hay vật tự nó) không phụ thược vào ai cả,khi nó tác vào các giác quan, tạo ra trong chúng ta những cảm giác lộn xộnkhác nhau, những cảm giác mờ mờ, không có khuôn hình, những cảm giác
đó chưa có trật tự, chưa có tri thức Nhưng khi cảm năng hoạt động nhờ nóvốn có một bộ công cụ tiên thiên (tiên nghiệm) bộ công cụ này được đưavào trong nhận thức là quá trình cảm tính đã ứng dụng bộ công cụ vào cảmgiác vô hình vô định làm cho các cảm giác được sắp xếp một cách có trình
tự trong không gian và thời gian của tri giác Đối với I.Cantơ, không gian vàthời gian vốn không phải là hình thức tồn tại của các sự vật trong hiện thựckhách quan, mà là những hình thức tiên thiên bên ngoài và bên trong củacảm tính Những tri giác vẫn còn mang tính chủ quan và đơn lẻ Để trởthành kinh nghiệm có tính khách quan thì các tri giác cảm tính phải đượcđưa vào trong các khái niệm Vốn dĩ không gian và thời gian ấy vốn khôngphải là hiện thực Để có khuôn hình thì cần phải đưa không gian và thờigian vào cảm giác để có khuôn hình và trật tự Vậy không gian từ chủ thể
mà ra và thời gian từ chủ thể mà ra khi con người biết đưa công cụ tiên thiênvào cảm giác
Với những phạm trù của trí năng: chất lượng, số lượng, tương quan,tri thức Các phạm trù là những khái niệm của giác tính có trước kinhnghiệm, có đặc tính phổ quát và tất yếu I.Cantơ cho rằng, đây là nhữngkhái niệm cơ bản định trước của con người về sự vật Từ đó triển khai thànhnhững phạm trù mới, đáp ứng những đòi hỏi của khoa học và hoạt động củacon người Tính phổ quát và tất yếu vì chúng dựa trên cơ sở tự ý thức tạo racái chủ thể tư duy, cái có khả năng tạo ra mọi quan niệm còn lại Nhưngtheo I.Cantơ các phạm trù này mới chỉ là những hình thức trống rỗng của tưtưởng, chưa bao chứa một nội dung nào cả Vậy để có nội dung và trở thànhtri thức khoa học, các phạm trù phải được vận dụng vào kinh nghiệm để quy
tụ các tài liệu cảm tính đa dạng Có như vậy mới đảm bảo tư tưởng có nộidung không còn trống rỗng nữa, và trực quan không còn mù quáng [14; 339]
Khâu trung gian gắn liền các phạm trù với kinh nghiệm TheoI.Cantơ, là thời gian – hình thức bên trong của cảm tính Ở đây con ngườivừa là chủ thể nhận thức vừa là người sáng tạo ra các quy luật của tự nhiện.Với I.Cantơ, tự nhiên ở đây không phải là “vật tự nó” mà là những hiệntượng do “vật tự nó” đem lại Có nghĩa ông không phủ nhận sự tồn tại khách
Trang 28quan của tự nhiên Mà muốn khẳng định rằng con người như một chủ thểnhận thức được những gì mà nó sáng tạo ra thông qua hoạt động của giáctính Giác tính xây dựng lên sự vật, vận dụng các phạm trù giác tính tạo ra
để thống nhất các tài liệu, các kinh nghiệm do sự vật trong thể giới kháchquan tác động lên giác quan đưa lại, từ đó hình thành nên tri thức khoa học
có tính phổ quát và tất yếu Do vậy, theo I.Cantơ, kinh nghiệm – tài liệu cảmtính chỉ là biểu hiện của sự tồn tại của “vật tự nó” chứ không phải bản thânvật tự nó Cho nên theo I.Cantơ, tự nhiện, sự vật của thế giới bên ngoài phảiphù hợp với nhận thức thì lúc đó tôi mới có thể nhận thức được nó I.Cantơcho rằng thế giới tự nhiên mà chúng ta nhận thức được là thế giới hiệntượng chủ quan Theo ông thì những hiện tượng tự nhiên – đối tượng nhậnthức của chúng ta – sở dĩ tồn tại được chỉ là do ý thức của chúng ta tạo rachúng
Giai đoạn nhận thức lý tính thuần túy Lý tính kết hợp với các phạmtrù tiên thiên có thể cho ta tri thức về sự vật, hiện tượng Lý tính thuần túytheo I.Cantơ có thể cho ta ý niệm về cái tuyệt đối, đó là ý niệm về “tâm lýhọc”; ý niệm về “vũ trụ học” và có ý niệm về “thần học” Những ý niệm đótheo ông có nhiệm vụ nhưng không có khả năng cho chúng ta những hìnhảnh hoàn chỉnh, tổng hợp, toàn vẹn, tất yếu về linh hồn, về vũ trụ và vềthượng đế với tư cách là một chỉnh thể tuyệt đối, vô điều kiện Nói khác đichỉ có khoa học về những hiện tượng trực quan cảm tính hữu hạn chứ khôngthể có khoa học về tâm lý, về vũ trụ và thượng đế được với tư cách là cáichỉnh thể vô điều kiện Khi lý tính lý luận thuần túy muốn xâm nhập vàonhận thức “vật tự nó”, nhận thức vũ trụ sẽ vấp phải bốn nghịch lý(antinomi), những luận đề mà lý tính lý luận thuần túy vừa có thể chứngminh Thế giới này là hữu hạn hay vô hạn trong không gian và thời gian? Cóthể phân chia những vật phức tạp thành những vật giản đơn hay không?Trong thế giới có sự thống trị của cái tất yếu tuyệt đối hay là có tự do?Trong thế giới có một thực thể tuyệt đối tất yếu với tư cách là một bộ phận,hay là nguyên nhân của thế giới hay không? Theo I.Cantơ, con người khôngthể bằng lý tính lý luận thuần túy để tiếp cận nhận thức “vật tự nó” Vậy đểtiếp cận và nhận thức được “vật tự nó”, theo I.Cantơ thì con người phảithông lý luận “thực tiễn” – khả năng có tính chất tiên nhiên của con người
tự quyết định về những hành vi đạo đức của mình Nhưng lại là hiện thựctiễn không phù hợp với những ý niệm của lý tính Những ý niệm ấy vốn chỉ
có trong lý tính thuần túy Khi mà lý tính thuần túy tìm cách đem hiện thực
Trang 29đặt dưới nhứng ý niệm của nó thì nó lại mâu thuẫn với chính ngay bản thânnó.
Có thể nói, bốn nghịch lý (antinomi) mà I.Cantơ gọi, một mặt phảnánh sự bất lực của lý tính lý luận thuần túy trong việc nhận thức “vật tự nó”,mặt khác thể hiện tinh thần biện chứng của ông Tuy nhiên, chính ông cũngchưa hiểu rằng “mỗi khái niệm, mỗi phạm trù cũng có tính chất antinomi”.Ông khẳng định rằng, khi trả lời những câu hỏi trên, lý tính nhận định rơivào cái vòng tương phản không thể thoát khỏi được Mà ông nói rằng có thểchứng minh bằng những lý lẽ chặt chẽ như nhau rằng thế giới là hữu hạn vàthế giới là vô hạn, rằng một vật thể có thể phân chia được và nó không thể
có tự do, có một thực thể tuyệt đối hay không có thực thể tuyệt đối 66]
[17;65-Ở đây lại có câu hỏi đặt ra: tại sao lại có những giới hạn của nhậnthức ấy Bởi vì trong quan niệm về vật tự nó, I.Cantơ cho rằng giữa “hiệntượng” với “vật tự nó” là hoàn toàn khác biệt nhau Hoạt động nhận thứccủa con người thông qua giác tính chỉ diễn ra trong phạm vi hiện tượngluận, không bước sang được lĩnh vực bản chất của sự vật, không thể nhậnthức được vật tự nó Mà con người chỉ dựa vào niềm tin mới tiếp cận được
“vật tự nó” Con người chỉ nhận thức được cái mà do con người tạo ra,không thể nhận thức được bản chất của sự vật đây cũng là một hạn chếtrong quan niệm về giới hạn của nhận thức điều này trái với quan niệm triếthọc Mác - Lênin Triết học Mác – Lênin cho rằng nhận thức của con người
vừ vô hạn vừa không vô hạn Lịch sử quá trình nhận thức cho thấy không cócái gì con người không thể nhận thức được, chỉ có cái con người chưa nhậnthức được mà thôi Nhưng trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định thì nhậnthức của con người là có hạn I.Cantơ chỉ nhận thức trong một giai đoạnnhất định, chưa có quan điểm phát triển đúng đắn cho mọi thời đại, nênkhông tránh khỏi những hạn chế về mặt lịch sử
Bên cạnh những hạn chế về quan niệm bản chất và giới hạn của nhậnthức, thì có những mặt hợp lý, có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển lýluận nhận thức cả đối với đương thời và đối với những giai đoạn lịch sửnày
Một là: I.Cantơ đã phân biệt một cách rõ ràng nhận thức lý luận vànhận thức kinh nghiệm Quá trình vận động biến đổi của nhận thức lý luậntuân theo những quy luật đặc thù của nó, không thể đồng nhất nhận thức lýluận và nhận thức kinh nghiệm
Trang 30Hai là: I.Cantơ đã nhấn mạnh vai trò của tư duy trừu tượng, hay củanhận thức lý tính đối với nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính hướng dẫnnhận thức cảm tính, làm cho tri giác của con người mang tính tự giác, cóphương hướng xác định, chủ động.
Ba là: I.Cantơ nhấn mạnh đến vai trò của chủ thể con người trong quátrình nhận thức Con người chỉ có thể tạo ra tri thức của mình, chứ khôngchỉ là sự tiếp nhận của thế giới bên ngoài, không phải thụ động phụ thuộc vàothế giới bên ngoài
Bốn là: ông đưa ra quan niệm về “vật tự nó”, bên cạnh việc thừa nhậngiới hạn nhận thức con người thì I.Cantơ còn muốn khẳng định tính phứctạp đầy mâu thuẫn của quá trình con người nhận thức thế giới, cũng như vềmối quan hệ giữa con người với thế giới nói chung[14; 341 – 342]
Thực chất từ những vấn đề được I.Cantơ đưa ra trong nhận thức luận,thì những vấn đề đó liên quan với nhau một cách lôgíc, nhằm tạo ra nét đặcbiệt riêng của triết học I.Cantơ, mở ra những quan niệm mới cho sự pháttriển lý luận nhận thức mà mãi cho đến tận bây giờ người ta vẫn đang quantâm và bàn đến
Trang 31Chương 2
VAI TRÒ CỦA NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌCI.CANTƠ
2.1 Vị trí của nhận thức luận trong triết học I.Cantơ
Nhận thức luận, nó là phương pháp luận của triết học I.Cantơ Vấn đềđộc đáo đã được đặt ra đó là về đối tượng nghiên cứu của triết học như thếnào và phương pháp tư duy nghiên cứu triết học ra sao? Đó chính là ở chỗI.Cantơ đã chuyển đối tượng nghiên cứu của triết học từ thế giới bên ngoàivào trong chính bản thân con người, đồng thời đưa ra phương thức nghiêncứu và tư duy của chủ thể, được xem như là cuộc cách mạng Côpécníchtrong lịch sử phát triển của triết học Có thể nói triết học của chúng ta ngàynay một phần vẫn đang tiếp tục kế thừa và phát triển những vấn đề màI.Cantơ đã đặt ra chưa kịp hoàn thành Từ việc nhận thức và lý giải mộtcách sâu sắc về phương pháp tư duy mang tính chủ thể của I.Cantơ có ýnghĩa to lớn trong việc nghiên cứu triết học
Phương thức tư duy mang tính chủ thể của I.Cantơ đầu tiên là phươngthức tự phê phán đối với bản thân lý tính để khảo sát năng lực phát sinhquan hệ với ngoại giới với chủ thể, tức là phạm vi, mức độ và trình độ chủthể, nắm bắt ngoại giới, từ tính đa dạng và phong phú nội tại của bản thânchủ thể để qua đó bộc lộ tính đa dạng và phong phú của con người và thếgiới [14; 49]
Trong thời kì này, “tất cả tôn giáo,quan niệm tự nhiên” xã hội, chế độnhà nước đều bị phê phán một cách vô cảm “tính giác ngộ của tư duy trởthành thước đo duy nhất cho tất cả” lý tính là ngọn cờ thách thức được đem
ra làm vũ khí phê phán lịch sử, phê phán hiện thực, để xây dựng hiện thực,phát triển tương lai đã thúc đẩy cuộc cách mạng chính trị của giai cấp tưsản, đồng thời cũng là nội dung chủ yếu của cuộc cách mạng triết họcđương thời Phương thức tư duy nhận thức luận về bản chất là một phươngthức tư duy lý tính
Theo I.Cantơ, những người đi trước đều bàn về nhận thức nhưngkhông một ai đi sâu xem xét năng lực nhận thức của con người, họ vận dụng
sự phê phán lý tính đi theo đối tượng chứ không hề tiến hành sự phê phánvới bản thân lý tính Nhiệm vụ ông đặt ra là trước khi nhận thức thì phải xétnăng lực nhận thức của con người, trước khi phê phán lý tính đối với ngoạigiới thì hãy xem xét với tính phê phán đối với lý tính đã Ông nói “sản phẩm
Trang 32này của lý tính thuần túy trong siêu nghiệm của nó là hiện tượng khiếnngười ta chú ý nhiều nhất Hiện tượng này có sức mạnh thức tỉnh triết học rakhỏi sự tối tăm của chủ nghĩa giáo điều, đồng thời thúc đẩy nó theo đuổimột sự nghiệp gian nan: tiến hành sự phê phán đối với lý tính” Từ chổ chútrọng nhận thức, đối tượng chuyển sang chú trọng nhận thưc chủ thể, từ chỗchú trọng nhận thức kết quả chuyển sang chú trọng nhận thức năng lực, từchỗ vận dụng sự phê phán lý tính đi theo đối tượng sang phê phán chính bảnthân lý tính (của con người) Điều này có thể coi như một cuộc cách mạngCôpécních trong lịch sử nhận thức nhân loại Kết quả của cuộc cách mạngnày đã chuyển tiêu điểm trọng tâm của triết học từ khách thể trung tâm, đốitượng trung tâm sang chủ thể trung tâm, tự ngã trung tâm (cái tôi); là đã xáclập một phương thức tư duy mang tính chủ thể [14;51].
Đặc điểm của phương thức tư duy mang tính chủ thể là căn cứ từ gốc
độ năng lực, phạm vi và giới hạn của chủ thể để đi tìm câu trả lời cho cuộctranh luận giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là vấn đề bảnnguyên của thế giới Theo I.Cantơ “tất cả mọi vật được coi là đối tượngmang lại cho ta, đều buộc phải cho ta trực quan Nhưng bất cứ trực quan nàocủa con người cũng đều chỉ có thể phát sinh thông qua cảm quan Cảm quancủa con người vĩnh viễn và không có chút gì có thể khiến chúng ta nhậnthức được vật tự nó mà chỉ nhận thức được hiện tượng của vật tự nó màthôi” [14;52]
Trong vấn đề nhận thức luận, dù thuyết duy lý hay duy kinh nghiệm
có phân tích rất nhiều vấn đề, nhưng cơ bản chung giữa chúng là điều đứng
từ gốc độ khách thể để giải thích tri thức, kiên trì quan điểm tri thức phảiphù hợp với đối tượng, khách thể chiếm một vị trí trung tâm trong mối quan
hệ giữa chủ thể và đối tượng khách thể
Đặc trưng cơ bản nhất của phương pháp tư duy chủ thể tích củaI.Cantơ là lấy chủ thể làm trục xuyên suốt để giải quyết vấn đề nhận thứcluận, đem tính năng động trong nhận biết của chủ thể để giải thích cho khảnăng nhận thức, để cho khách thể vận động xoay quanh chủ thể
I.Cantơ cho rằng nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt được những trithức mang tính tất nhiên phổ biến, nhưng loại tri thức này chỉ được cấuthành bởi “phán đoán tổng hợp tiên thiên”, nhiệm vụ của nhận thức luận làphải giải quyết được vấn đề, khả năng nào để có được phán đoán tiên thiêntổng hợp Tri thức này chỉ có được từ trực quan cảm tính và thông qua đãnảy sinh quan hệ với thế giới
Trang 33Giới tự nhiên, hiện tượng là sự biểu hiện của vật tự nó thì lại có thểnhận thức được, nhưng bản thân chúng lại cố định tiêu cực không đủ khảnăng chuyển đổi thành tri thức tất nhiên, phổ biến, mà chỉ bằng cảm quancủa chủ thể nắm bắt và chuyển hóa thành kinh nghiệm trực quan cảm tính.
Vì thông qua việc xử lý của chủ thể để chỉnh lý tri thức đó có hệ thống,lôgíc nhất định Kinh nghiệm cảm tính là phân tán, rời rạc và cô lập Vậy cóchỉnh lý và nâng cấp thành tri thức tất nhiên phổ biến hay không còn phụthuộc vào khả năng của chủ thể tiếp nhận và xử lý nó hay không: Ở đây tathấy rằng nhận thức trước đây là không xem xét năng lực nhận thức của chủthể mà đã giản đơn tuyên bố tính khả năng của nhận thức và tính có thểnhận biết của thế giới, từ đó khiến cho mọi kiểu tư duy đều rơi vào cựcđoan Còn phương thức tư duy chủ thể của I.Cantơ là trước khi nhận thứcthì phải xem xét có tính phê phán với năng lực nhận thức của con người,đồng thời từ phạm vi giới hạn trong năng lực nhận thức của chủ thể để giảithích cho tính khả năng và phạm vi của nhận thức
Theo I.Cantơ cho rằng, suy cho cùng tính khả năng của tri thức tấtnhiên, phổ biến ở tính năng động trong nhận thức chủ thể, nghĩa là tồn tạimột “cái tôi tiên nghiệm” ở đây nói về nhận thức của chúng ta trong quan hệvới năng lực nhận thức mà thôi Và để con người có thể hoạt động nhậnthức được là vì trước khi hoạt động nhận thức đã có đầy đủ năng lực nhậnthức đối tượng, tức là tính tự giác của chủ thể nhận thức Vậy chủ thể phải
có năng lực gì mới có thể nâng cấp, chỉnh sữa kinh nghiệm cảm tính thànhtri thức có tính tất nhiên phổ biến Điều này được I.Cantơ phân thành bacấp bậc hoặc ba hình thức của qua trình nhận thức
Một là, giai đoạn năng lực trực quan và nhận thức cảm tính Đây lànăng lực do chúng ta tác động vào hiện tượng của đối tượng để tiếp thu biểutượng, có nghĩa chủ thể thông qua các hình thức cảm tính để tiến hành cảmnhận biểu tượng về sự vật và hình thành năng lực kinh nghiệm cảm tính.Một khi năng lực trực quan cảm tính của chủ thể nâng lên thành kinhnghiệm cảm tính điều này có ý nghĩa tiền đề cho sự nắm bắt khách thể, vì làđiều kiện tất yếu trong giai đoạn cảm tính của nhận thức nhân loại
Hai là, năng lực tư duy giác tính và giai đoạn giác tính của nhận thức.I.Cantơ cho rằng, chủ thể không chỉ có năng lực trực quan cảm tính mà còn
có năng lực tư duy giác tính, đó chính là “năng lực khiến tôi có thể tư duy”.Đối tượng trực quan cảm tính “tức ngộ tính” Năng lực trực quan cảm tínhtrực tiếp quan hệ với đối tượng, khiến đối tượng chuyển hóa thành kinh
Trang 34nghiệm cảm tính, cung cấp tài liệu cảm tính cho tri thức phổ biến tất nhiên.Năng lực trực quan cảm tính chủ yếu vận dụng không gian và thời gian đểchỉnh lý tài liệu cảm tính, còn năng lực tư duy giác tính lại chủ yếu dùngnhững hình thức khái niệm, phạm trù để thực hiện chỉnh lý tài liệu cảm tính,thông qua lôgíc hóa để bộc lộ ra tính tất nhiên, nhân quả, quy luật của sự vật
và từ đó hình thành nên tri thức tất nhiên phổ biến, hình thành “phán đoántổng hợp tiên thiên” Năng lực tư duy giác tính phải kết hợp với năng lựctrực quan cảm tính mới bảo đảm tính khách quan, phổ biến và tất nhiên củatri thức và thông qua trực quan cảm tính để đảm bảo mối liên hệ với đốitượng, tính khách quan của tri thức thông qua tư duy giác tính khiến chokinh nghiệm cảm tính được nâng cấp, làm cho tri thức đạt tới tính tất yếu,phổ biến nhằm khắc phục những hạn chế của thuyết kinh nghiệm, khắc phục
cả hạn chế của thuyết duy lý thông qua việc phát huy tính năng động củachủ thể để biến tri thức phổ biến thành có khả năng
Ba là, I.Cantơ cho rằng, năng lực tổng hợp của lý tính và giai đoạn lýtính của nhận thức Ông nói: “Tất cả các tri thức của tôi bắt đầu từ cảm quantiến tới giác tính và kết thúc ở lý tính, và ngoài lý tính thì không có năng lựcnào cao hơn” Sự “chỉnh lý những chất liệu trực quan và khiến chúng lệthuộc vào sự thống nhất tối cao của tư duy” Năng lực lý tính là năng lực tốicao của chủ thể, nhận thức lý tính là giai đoạn nhận thức tối cao của chủ thểnhận thức Năng lực tổng hợp lý tính không thể trực tiếp ứng dụng vào đốitượng cụ thể và kinh nghiệm cảm tính mà chỉ ứng dụng vào khái niệm, phánđoán và quy luật của tư duy giác tính, nó thông qua phương thức suy luậngián tiếp, đem phần lớn những tri thức phong phú mà tư duy cảm tính cóđược quy kết về những nguyên lý cơ bản, quan trọng nhất, khiến cho trithức giác tính đạt tới sự thống nhất tôi cao của lý tính Vì thế nói rằng nănglực tư duy giác tính là trực tiếp, tương đối, hữu hạn, có điều kiện thì nănglực tư duy giác tính kiềm chế những thứ gián tiếp, vô điều kiện, tuyệt đối,
vô hạn, nhằm đạt tới tri thức thống nhất tối cao tiên thiên Đây chính là cái
mà I.Cantơ gọi là giai đoạn ý nghiệm hay cấp bậc lý tính Thể thống nhấthoàn chỉnh nhất mà năng lực tổng hợp lý tính gồm có ba thứ: thứ nhất, linhhồn là sự thống nhất tối cao của mọi hiện tượng tinh thần; thứ hai là vũ trụ,
là sự thống nhất tối cao của mọi hiện tượng vật lý; thứ ba là thượng đế, nóthống quản tất cả mọi hiện tượng tinh thần và hiện tượng vật lý, là ý niệmtối cao Từ đó hình thành nên ba loại tri thức tối cao tương ứng là Tâm lýhọc lý tính, Vũ trụ luận lý tính và Thần học lý tính Khi lý tính cố tình vận
Trang 35dụng phạm trù giác tính để giải thích các ý niệm tối cao như linh hồn, vũ trụ
và thượng đế thì sẽ vấp phải sự tự mâu thuẫn sâu sắc, đây chính là hai luật
đi ngược nhau mà mọi người đều quen thuộc: cụ thể như khi chúng ta vậndụng phạm trù giác tính để nghiên cứu ý niệm vũ trụ học thì sẽ xuất hiệnbốn chính đề và phản đề có thể đồng thời tồn tại Thứ nhất, thế giới có mởđầu (có giới hạn) trong không gian và thời gian; thế giới vô hạn trong thờigian và không gian Thứ hai, tất cả trên thế giới đều do những vật đơn nhấtcấu thành, không có vật đơn nhất, tất cả đều phức hợp Thứ ba, tất cả thếgiới có nguyên nhân tự do; không có tự do, tất cả đều là tự nhiên Thứ tư,trong hệ thống thế giới có tồn tại thể tất nhiên nào đó, không có thứ gì tấtnhiên cả, trong hệ thống ấy tất cả đều là ngẫu nhiên I.Cantơ cho rằng nhữngchính đề và phản đề này bản thân chúng chống đối với nhau nhưng chúnggìống nhau ở chỗ có thể được chứng minh, đây chính là tính mâu thuẫn nộitại của ý niệm lý tính, là những ảo ảnh tất yếu xuất hiện sau khi lý tính tách
ra khỏi phạm vi kinh nghiệm Sự tồn tại tất yếu của những ảo ảnh đó đã bộc
lộ sự hạn chế của năng lực nhận thức của chủ thể Những ý niệm này là lĩnhvực mà nhận thức của con người không thể với tới được, là thứ nằm ngoàiphạm vi tri thức con người, không thể đưa vào lý tính con nguời để tìmkiếm mà chỉ có thể dùng tín ngưỡng để giải quyết, là vật tự nó thuộc về thếgiới bên kia, bất khả tri
Có thể khẳng định rằng, việc nghiên cứu hệ thống về năng lực nhậnthức của chủ thể của I.Cantơ đã có những đóng góp tích cực cho lý luận vàthực tiễn Ông ý thức rất rõ vị trí năng động của chủ thể nhận thức trongviệc xây dựng và thực hiện mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, thôngqua việc khảo sát toàn diện năng lực trực quan cảm tính, năng lực tư duygiác tính và năng lực tổng hợp lý tính của chủ thể để cung cấp căn cứ nội tại
và chứng minh cho tính năng động tự giác trong hoạt động nhận thức củachủ thể, đồng thời từ đó làm rõ quá trình biện chứng và tiến hóa phát triển
từ trực quan cảm tính thông qua tổng hợp giác tính hướng đến tổng hợp lýtính của nhận thức “Antinomi” mà I.Cantơ đưa ra thực chất đã tiếp nhậnđược bản chất biện chứng của hoạt động nhận thức nhân loại và quy luậtbiện chứng của lý tính nhân loại, nhưng cuối cùng I.Cantơ vẫn không thoát
ra khỏi phương thức tư duy siêu hình, ông chỉ lý giải phép biện chứng trên
ý nghĩa tiêu cực của nó, đem quan điểm năng lực lý tính hạn chế ra để giảiquyết mâu thuẫn biện chứng trong nhận thức Vấn đề này không chỉ về mặtbản thể luận dẫn tới nhị nguyên và hương đến chủ nghĩa duy tâm mà về mặt
Trang 36nhận thức cũng không thể quán triệt đến cùng thuyết khả tri của I.Cantơ vàtrở nên một thứ bất khả tri luận không triệt để Phương thức tư duy chủ thểtính của I.Cantơ cũng không tránh khỏi sự mang màu sắc duy tâm và siêuhình[14; 56 – 57 – 58].
Vị trí của phương pháp luận đặt trong mối quan hệ với triết học thựctiễn I.Cantơ không chỉ áp dụng nguyên tắc và phương thức tính năng độngcủa chủ thể vào giải quyết vấn đề nhận thức mà còn dùng nó để giải quyếtvấn đề đạo đức, đưa ra và phân tích vấn đề tính chủ thể trong thực tiễn đạođức
I.Cantơ cho rằng, tính chủ thể của con người không chỉ thể hiện tronghoạt động nhận thức mà còn tồn tại trong thực tiễn đạo đức Hơn nữa, tínhnăng động của chủ thể trong hoạt động nhận thức do chỗ ít nhiều bị chế ướcbởi khách thể nên trình độ phát huy cuối cùng cũng bị hạn chế, còn ý chí tựlực tự thân của con người trong thực tiễn đạo đức về cơ bản là vô hạn, cóthể được phát huy và thực hiện hết mức Do vậy, nghiên cứu năng lực chủthể, không chỉ hạn chế trong việc xem xét năng lực nhận thức của chủ thể ấy
mà còn phải khảo sát cả năng lực thực tiễn đạo đức của họ “Đồng thời vìmục đích ấy mà phê phán toàn bộ năng lực thực tiễn của lý tính” “Lý tínhthực tiễn mà I.Cantơ gọi là để đối lập với “lý tính tư biện” hay “lý tính lýluận”, cả hai đều là hình thức tồn tại của lý tính thuần túy, nhưng lý tínhthực tiễn có tính ưu tiên hơn so với lí tính lý luận I.Cantơ nói: “khi lý tính
tư biện thuần túy và lý tính thực tiễn thuần túy kết hợp trong cùng một nhậnthức, nếu như sự kết hợp này không phải là ngẫu nhiên, tùy ý, mà nó đượckiến lập một cách tiên thiên trên bản thân lý tính, vì thế mà trở thành tấtnhiên, thì những cái ở cuối, ở sau sẽ chiếm vị trí ưu tiên” Đây chính lànguyên tắc “ưu tiên lý tính thực tiễn” nổi tiếng được I.Cantơ chủ trương Ởđây về cơ bản nó thể hiện tính chủ thể đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, triệt để hơn
so với lý tính lý luận trong hoạt động nhận thức của con người
I.Cantơ quan tâm và coi trọng đối với lý tính thực tiễn về bản chấtchính là thể hiện sự quan tâm, coi trọng đối với tính chủ thể của con người,
nó khiến cho việc nghiên cứu tính chủ thể từ nhận thức luận được nâng caođến mức thực tiễn luận, đạo đức luận, biến nó từ vấn đề nhận thức thuần túytrở thành vấn đề thực tiễn đạo đức, biểu lộ rõ phạm vi rộng lớn và nội hàmsâu sắc của tính chủ thể hoạt động: vậy tính chủ thể trong thực tiễn đạo đứccon người là cái gì? Về mặt tổng thể, chính là con người dựa trên quy luật
Trang 37đạo đức, phát huy sức mạnh đức tính, thực hành tự luật đạo đức, gánh váctrách nhiệm đạo đức, thực hiện ý chí thiện lương, đạt tới ý chí tự do.
Quy luật đạo đức là nền tảng và chổ dựa cho con người trong thựctiễn đạo đức Theo I.Cantơ, “Trên thế giới chỉ có hai loại quy luật, hoặc làquy luật tự nhiên hoặc là quy luật tự do Những hiểu biết về quy luật tựnhiên gọi là vật lý học, những hiểu biết về quy luật tự do gọi là luân lý yhọc Cái trên là học thuyết tự nhiên, cái dưới là học thuyết đạo đức” Luậtđạo đức còn có thể gọi là luật thực tiễn, là nguyên tắc và chổ dựa cho conngười trong thực tiễn đạo đức, chủ yếu giải quyết vấn đề hành vi đạo đứccủa con người nên nó trở thành thứ nguyên tắc khách quan thích hợp với tất
cả mọi người, nó vừa dựa vào tính tất nhiên khách quan lại vừa thể hiện tínhnăng động của chủ thể
Vấn đề tự luật là cách thức thực hiện tính năng động tự giác trongthực tiễn đạo đức của chủ thể Tự luật là cái đối lập với tha luật Tha luật là
bị động, tự luật là chủ động, là một hành vi mang tính chất chủ thể Phép tắcđạo đức tiên thiên thích hợp với mọi lĩnh vực nào? Riêng đối với loài người
nó trở thành một thứ mệnh lệnh đạo đức, tuân theo mệnh lệnh đạo đức đó sẽhình thành nghĩa vụ đạo đức, trách nhiệm đạo đức của mỗi cá nhân Đemmệnh lệnh đạo đức này chuyển hóa thành ý chí đạo đức và lựa chọn đạo đức
tự chủ của mình, dựa trên mệnh lệnh đó mà gánh vác nghĩa vụ đạo đức, thựcthi trách nhiệm đạo đức, sáng tạo gìá tri đạo đức, thực hiện ý chí thiệnlương, đó chính là tự luật “Tự luật ý chí là nguyên lý duy nhất mà tất cảphép tắc đạo đức đều phải dựa vào, là nguyên lý duy nhất mà nghĩa vụ phùhợp với những phép tắc ấy phải dựa vào”, cái mà nó đạt được là ý chí tự docủa chủ thể
I.Cantơ bàn đến ý chí thiện lương và ý chí tự do vừa là mục tiêu, mụcđích của con người phát huy tính chủ thể trong thực tiễn đạo đức cũng vừa
là kết quả và hiệu ứng của những điều ấy Ông cho rằng: “sứ mệnh chânchính của lý tính hoàn toàn không phải là công cụ sản sinh ra để hoàn thành
ý đồ nào đó mà ý chí thiện lương được sinh ra từ chính bản thân lý tính.Loại ý chí này không phải là cái thiện duy nhất, cái thiện hoàn toàn, nhưnglại là cái thiện cao nhất, nó là điều kiện cho tất cả mọi vật, thậm chí còn làđiều kiện cho đòi hỏi về hạnh phúc” Thiện chí là cái đối lập với cái ác,giống như chân thành đối lập với giả dối ý chí thiện lương là ý chí cho sựchuẩn tắc hành vi phù hợp với phép tắc đạo đức Ta thực hiện ý chí thiệnlương cũng tức là thực hiện ý chí tự do, luật đạo đức chính là luật tự do, vậy
Trang 38ý chí thiện lương cũng tự do Nó xem như là mục tiêu tối cao của lý tính conngười, cũng là hạnh phúc của đời người Chỉ có sự kết hợp của đức tính vàhạnh phúc thì mới có thể đạt được thiện chí, thông qua sức mạnh đức tính
để gìành lấy ý chí tự do, và thông qua ý chí tự do để thực hiện thiện chí, đó
la điều tất nhiên của đạo đức tiên thiên
Chủ trương của I.Cantơ là phát huy tính chủ thể của con người trongthực tiễn đạo đức, nhấn mạnh đến việc phát huy sức mạnh đức tin, thôngqua tự luật đạo đức của chủ thể để tuân theo quy luật đạo đức, đạt tới ý chí
tự do, thực hiện ý chí thiện lương Đây là những kết luận tích cực đượcI.Cantơ rút ra khi vận dụng phương thức tư duy chủ thể để xem xét phêphán đối với vấn đề đạo đức và năng lực đạo đức của con người Thếnhưng, điều này vẫn liên quan đến hạn chế nhị nguyên luận, duy tâm và siêuhình vốn có của ông, hạn chế năng lực đạo đức của con người, hạn chế và
hạ thấp hạnh phúc hiện thế, và đưa cái thiện chí vào trong thế giới bên kiachỉ có thể mong mỏi chứ không bao giờ vươn tới Điều này đã được Mácnhận xét khi bàn về học thuyết đạo đức của I.Cantơ và giới hạn của nó:
“Tình trạng nước Đức cuối thế kỷ XVIII hoàn toàn được phản ánh trong phêphán lý tính thực tiễn của I.Cantơ Khi ấy, giai cấp tư sản Pháp đã trải quamột cuộc cách mạng thiết lập địa vị thống trị to lớn nhất trong lịch sử, vàgiành được cả châu Âu, nhưng tầng lớp thị dân yếu ớt và bất lực của nướcĐức chỉ có “ý chí thiện lương” I.Cantơ đã đem việc thực hiện ý chí thiệnlương ấy cùng với sự điều hòa giữa chúng với những nhu cầu và dục vọng
cá nhân đẩy sang thế giới bên kia Do đó mà đã bộc lộ rõ sự hạn chế củaphương thức tư duy của chủ thể và thiếu sót trong lý luận đạo đức củaI.Cantơ[14; 60 – 61 – 62]
Vị trí phương pháp luận đặt trong mối quan hệ với triết học thẩm mỹ.Theo I.Cantơ, con người là động vật theo đuổi và sáng tạo nên thếgiới lý tưởng Nhu cầu về sự thống nhất giữa chân – thiện – mỹ và trong trithức tình cảm và ý chí là nội dung quan trọng trong hoạt động chủ thể củacon người I.Cantơ cho rằng, chủ thể tính của con người không chỉ biểu hiệntrong họat động nhận thức, cũng không chỉ biêu hiện trong thực tiễn đạođức, mà nó còn bộc lộ trong hoạt động thẩm mỹ Sự thể nghiệm và sáng tạothẩm mỹ mang tính chủ thể được thực hiện thông qua năng lực phán đoánthẩm mỹ và năng lực thưởng ngoạn thẩm mỹ Do vậy việc xem xét có tínhphê phán đối với chủ thể ta không nên chỉ giới hạn ở các mặt năng lực củanhận thức và năng lực ý chí mà phải có cả phương diện năng lực phán đoán
Trang 39thẩm mỹ Đưa vấn đề tự phản tự của chủ thể mở rộng sang lĩnh vực đạo đứcthẩm mỹ, đây chính là chổ đóng góp quan trọng trong phương thức tư duychủ thể luận mà người khai sáng là I.Cantơ.
Theo I.Cantơ đưa ra: tính năng động chủ thể trong hoạt động nhậnthức của con người dựa vào năng lực nhận thức tiên thiên của họ, tính năngđộng chủ thể trong thực tiễn đạo đức thì dựa vào năng lực ý chí tiên thiên,tính năng động chủ thể trong hoạt dộng thẩm mỹ của con người dựa vàonăng lực phán đoán thẩm mỹ tiên thiên của họ I.Cantơ trong cuốn phê phánnăng lực phán đoán, ông đã đem hoạt đông tâm linh của con người chia làm
ba mặt cơ bản: “Cơ năng nhận thức, cơ năng tình cảm và cơ năng khát vọng
từ vui sướng đến không vui sướng” Cơ năng nhận thức thông qua hoạtđộng tự giác của chủ thể từ cảm tính đến giác tính để giải quyết vấn đề phánđoán tổng hợp làm sao có thể trở thành khả năng, mong muốn cơ năngthông qua tự luật đạo đức thể hiện ý chí tự do Cụ thể, “tình dục khoái lạcnằm trong khoảng cơ năng nhận thức và cơ năng khát vọng, giống như sứcphán đoán giới hạn trong khoảng giác tính về lý tính” Ở đây một mặt nóliên quan tới hoạt động nhận thức của chủ thể, là mặt thụ cảm trước khi kíchthích ngoại giới và sự tác động của đối tượng, còn mặt khác, lại có liên quantới hoạt động khao khát, là một thứ xung động và thể nghiệm nội tại của chủthể Thực chất nó có vai trò quá độ từ cơ năng nhận thức sang cơ năng khátvọng Như vậy, I.Cantơ đã nhờ đến năng lực nhận thức và năng lực ý chícủa con người để giải thích tính tương đối hợp lý về vai trò của sức phán đoánthẩm mỹ trong các năng lực của chủ thể nhận thức
Vấn đề ông bàn đến là mỹ cảm – cảm giác vui sướng là một loại thụcảm của chủ thể I.Cantơ nói: “Để phân biệt một đối tượng là đẹp hay khôngđẹp, chúng ta không đem biểu tượng dựa trên giác tính của nó liên hệ vớikhách thể để có được tri thức mà dựa trên sức tưởng tượng (hoặc sức tưởngtượng kết hợp với giác tính) để liên hệ với chủ thể và cái khoái cảm haykhông khoái cảm của nó” Được coi là một loại thụ cảm mang tính chủ thể,
mỹ cảm không chỉ có đặc trưng phi lôgíc hóa và phi khách thể hóa mà còn
có đặc trưng vươn lên tính công lợi, đây là mặt quan trọng để phân biệt nóvới năng lực khát vọng Năng lực thưởng thức thẩm mỹ là một năng lực caocấp của chủ thể Chỉ có con người có đầy đủ năng lực thẩm mỹ mới có khảnăng mỹ cảm Năng lực thưởng thức mỹ cảm là một trong những điều kiệnbắt buộc chủ thể thẩm mỹ phải có đầy đủ, chính ở điểm này nó trở thành nộidung chủ yếu của I.Cantơ trong triết học phê phán