1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức luận trong triết học trang tử và ý nghĩa lịch sử của nó

118 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về đề tài này đã được công bố theo hai hướng nghiên cứu như sau: Hướng nghiên cứu thứ nhất đó là những công trình nghiên cứu về điều kiện lịch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



TRẦN CÔNG TO

NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ

VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



TRẦN CÔNG TO

NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quý thầy cô trong Khoa Triết học, Phòng Sau đại học Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân vân - Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ triết học

Xin được chân thành biết ơn sâu sắc gia đình, những người thân, bạn bè

và đồng nghiệp đã luôn là động lực to lớn về mọi mặt để giúp tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ triết học này

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020

Học viên cao học

TRẦN CÔNG TO

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa được

ai công bố, dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Đình Đạt Kết quả công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ triết học là hoàn toàn trung thực Tư liệu, tài liệu

sử dụng trong luận văn thạc sĩ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và hợp lý

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020

Học viên cao học

TRẦN CÔNG TO

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7

6 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ9 1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 9

1.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc 9

1.1.2 Thành tựu về văn hóa và khoa học của Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc 21

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 24

1.2.1 Cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai trường phái nhập thế và xuất thế trong triết học Trung Quốc 24

1.2.2 Triết học của Lão Tử và Dương Chu 31

1.3 THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP VÀ TÁC PHẨM CỦA TRANG TỬ 48

1.3.1 Thân thế và sự nghiệp của Trang Tử 48

1.3.2 Về tác phẩm Nam Hoa Kinh 53

Kết luận chương 1 58

Chương 2 NỘI DUNG NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ - GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ 60

2.1 NỘI DUNG NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 60

2.1.1 Đối tượng nhận thức 60

Trang 6

2.1.2 Khả năng nhận thức 72

2.1.3 Con đường nhận thức 84

2.2 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ 91

2.2.1 Giá trị, hạn chế của nhận thức luận trong triết học Trang Tử và nguyên nhân của nó 91

2.2.2 Ý nghĩa lịch sử nhận thức luận trong triết học Trang Tử 97

Kết luận chương 2 104

KẾT LUẬN CHUNG 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước ta hiện nay với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Việc hội nhập, quan hệ quốc tế

đã mang lại những thuận lợi cho Việt Nam Từ khi cuộc cách mạng 4.0 ra đời đã thúc đẩy phát triển về số lượng lẫn về chất lượng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Song, mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như: ô nhiễm môi trường, lũ lụt, phân hóa sự giàu nghèo, bất ổn xã hội, vấn đề an toàn thực phẩm và dược phẩm, quyền con người, nạn tham nhũng,…những vấn đề này ảnh hưởng đến công cuộc đổi mới đất nước Trong những năm vừa qua, Việt Nam phải chịu ảnh hưởng

từ vấn đề lũ lụt, triều cường dâng cao Người dân phải đối mặt những hậu quả về vật chất và tinh thần của lũ lụt, triều cường gây ra Trong đó, đáng lưu ý là vấn đề ô nhiễm, nó không chỉ riêng Việt Nam gặp khó khăn, thách thức mà còn cả toàn cầu đang được quan tâm nghiên cứu để có những giải pháp tối ưu nhất làm hạn chế ô nhiễm môi trường

Ở phương Tây, tư tưởng triết học nổi bật với khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” Ở phương Đông, có Nho giáo với tư tưởng nổi bật quan tâm

về vấn đề “con người, chính trị - xã hội, giáo dục”; Phật giáo hướng con người “sống tốt đời đẹp đạo”; Pháp gia có “pháp trị” trị đất nước theo phương pháp luật pháp nhằm để ổn định đất nước thời loạn lạc; Đạo gia có nhiều giá trị về “an nhiên cuộc sống, yêu thiên nhiên, hòa mình vào tự nhiên, thuận theo tự nhiên” rất có ý nghĩa giáo dục cho những người lạm dụng quyền lực, độc tài, dục vọng, danh lợi, tha hóa tiêu cực vì lợi ích cá nhân ảnh hưởng đến bản thân, cộng đồng và thiên nhiên Vấn đề muôn thuở hướng đến là vì con người bảo vệ thiên nhiên, môi trường sinh thái Các trào lưu, tư tưởng, học thuyết trên đều có giá trị và hạn chế nhất định

Trang 8

Trang Tử là nhà triết học, ông sống thanh bạch, giản dị, ung dung Đặc biệt, nhận thức luận triết học của Trang Tử luôn đề cao thiên nhiên, yêu thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên, dưỡng sinh, tâm sáng và nhân văn

Nhận thức luận triết học Trang Tử có một số giá trị, hạt nhân phù hợp

và mang ý nghĩa nhất định Cũng như nhận thức luận trong triết học Trang

Tử nếu vận dụng một cách phù hợp với hoàn cảnh đất nước sẽ mang lại ý nghĩa to lớn cho sự vận động phát triển đất nước và bảo vệ môi trường sinh thái, con người trước tình trạng ô nhiễm, lũ lụt, triều cường, bất bình đẳng, an toàn thực phẩm,…nghiêm trọng như hiện nay Còn ngược lại, nếu vận dụng một cách phiến diện, cảm tính, thiếu tính lịch sử sẽ dẫn đến hậu quả khó lường đến bản thân con người, cũng như ảnh hưởng tiêu cực sâu sắc đến công cuộc đổi mới đất nước Việt Nam hiện nay Nhận thức luận trong triết học Trang Tử có ý nghĩa trong công cuộc phát triển đất nước gắn liền với việc bảo vệ môi trường Vận dụng những giá trị hạt nhân nhất định của nhận thức luận Trang Tử cùng với lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là kim chỉ nam cho mọi hành động trên tinh thần phát triển kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội chú trọng bảo vệ môi trường Trong văn kiện Đại hội XII khẳng định:

“Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ

sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, trang 69)

Với tất cả những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Nhận thức luận trong

triết học Trang Tử và ý nghĩa lịch sử của nó” làm luận văn tốt nghiệp thạc

sĩ triết học

Trang 9

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng về nhận thức luận trong lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại được trình bày, phân tích khá nổi bật và hệ thống ở trường phái triết học Đạo gia Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về đề tài này đã được công

bố theo hai hướng nghiên cứu như sau:

Hướng nghiên cứu thứ nhất đó là những công trình nghiên cứu về điều

kiện lịch sử - xã hội và tiền đề hình thành triết học Trung Quốc nói chung, nhận thức luận trong triết học Trang Tử nói riêng

Công trình nghiên cứu triết học phương Đông nói chung, triết học

Trung Quốc nói riêng, không thể bỏ qua công trình nghiên cứu Đại cương triết học Trung Quốc của Doãn Chính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, năm 1997 Trong đó, tác giả đã trình bày một cách hệ thống lịch sử

tư tưởng triết học từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ cận đại Qua đó, giúp người viết nghiên cứu một cách tổng quát về tư tưởng triết học Trung Quốc từng thời kỳ thông qua những phân tích sâu sắc của tác giả

Thêm vào đó, công trình nghiên cứu Lịch sử triết học phương Đông do

Doãn Chính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2015 Công trình nghiên cứu đồ sộ này được các tác giả phân tích sâu sắc với nhiều khía cạnh phong phú đa dạng Công trình này bao gồm 3 phần: Lịch sử triết học

Ấn Độ, Lịch sử triết học Trung Quốc và lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam Mỗi phần được tác giả trình bày, phân tích sâu sắc Trong đó, phần hai là lịch

sử triết học Trung Quốc, thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc nằm ở chương đầu tiên tiết thứ hai, tác giả đã trình bày khái quát về điều kiện lịch sử - xã hội, cũng như quá trình hình thành của từng trường phái triết học Trung Quốc cổ đại khá sâu sắc trên nhiều phương diện như bản thể luận, nhận thức luận, nhân sinh quan,… Ngoài việc trình bày, phân tích tiền đề hình thành tư tưởng nhận thức luận trong triết học Trang Tử Song, ở trang 304 đến 315, tác giả còn trình bày và phân tích cuộc đời, sự nghiệp, bản thể luận, nhận

Trang 10

thức luận, nhân sinh, chính trị - xã hội của tư tưởng Trang Tử một cách hệ thống Công trình nghiên cứu này có nhiều ý nghĩa cho việc giúp người nghiên cứu một cách sâu sắc hơn, rõ ràng hơn

Bên cạnh đó, Nguyễn Đăng Thục đã nghiên cứu công trình lớn mang

tên Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Hồng Đức, năm 2020 Lịch sử triết học phương Đông gồm những nội dung sau: Một là, triết học Trung Hoa từ thời kỳ khởi điểm đến thời kỳ hoàn thiện triết học Hai là, triết học Ấn Độ từ

Vệ Đà đến Phật giáo nguyên thủy Ba là, Triết học phương Đông nói chung

từ năm 241 trước Công nguyên đến 907 sau Công nguyên và triết học Trung Hoa cận đại Với quá trình biên soạn công phu, đầy huyết tâm và chỉnh sửa

bổ sung qua nhiều năm phụ trách giảng dạy, nghiên cứu Nguyễn Đăng Thục

đã xuất bản công trình nghiên cứu này Việc trình bày, phân tích ở phần triết học Trung Hoa, tác giả đã khái quát tổng quan từ thời kỳ khởi điểm đến thời

kỳ hoàn thiện triết học Có thể thấy rằng sự tổng quan lịch sử triết học của tác giả biên soạn nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc, qua đó góp phần cho người đọc, người nghiên cứu dễ dàng khái quát, phân tích tiền đề hình thành sự ra đời nhận thức luận trong triết học Trang Tử

Tương tự theo hướng nghiên cứu như trên, còn có các công trình nghiên

cứu như: Đại cương lịch sử thế giới cổ đại của Trịnh Nhu và Nguyễn Gia

Phu, Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, năm 1990, công trình nghiên cứu này đã khái quát, phân tích sâu sắc thêm về tiền đề kinh tế - xã hội thế giới, giúp cho người nghiên cứu một cách sâu sắc và nhìn nhận nhiều khía cạnh cho cơ sở hình thành nhận thức luận trong triết học Trang Tử

Về những thành tựu văn hóa và khoa học là cơ sở hình thành nên nhận thức luận trong triết học Trang Tử có thể đề cập trong các công trình lớn như

sau: Cội nguồn văn hóa Trung Hoa do Đường Bắc Dương (chủ biên), Nxb

Hội Nhà văn, năm 2003 Công trình này rất đồ sộ tập trung giải quyết vấn đề văn hóa Trung Hoa Công trình này giúp cho người nghiên cứu phân tích sâu

Trang 11

sắc hơn về thành tựu về văn hóa và khoa học của thời Xuân thu – Chiến quốc

là cơ sở hình thành nhận thức luận trong triết học Trang Tử

Lịch sử văn hóa Trung Quốc do tác giả Đàm Gia Kiện (chủ biên), Nxb

Khoa học xã hội, năm 1999 Đây là công trình nghiên cứu sâu sắc về vấn đề

cơ bản của lịch sử văn hóa Trung Quốc, công trình này giúp cho người viết một góc nhìn toàn diện về tư tưởng thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Với công trình này, người nghiên cứu có thể phân tích một cách sâu sắc hơn về sự ảnh của thành tựu văn hóa Trung Quốc cho sự hình thành nhận thức luận trong triết học Trang Tử

Bộ Lịch sử triết học Trung Quốc (2 tập) của Phùng Hữu Lan, Nxb Khoa học xã hội, 2006 và Tinh thần triết học Trung Quốc - Tân nguyên đạo

của Phùng Hữu Lan, Nxb Khoa học xã hội, năm 2013 là hai công trình nghiên cứu nổi bật nhất của Phùng Hữu Lan Với hai công trình này, tác giả

đã tập trung nghiên cứu và phân tích rõ ràng về nguyên nhân làm nên sự phát triển ở thời Tử học, nội dung tư tưởng của các trường phái triết học như Nho gia, Đạo gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia,… Trong đó có tư tưởng Trang Tử

Bộ sách đứng đầu nhị thập tứ sử là Sử ký Tư Mã Thiên, với hơn 200

hình vẽ, cách trình bày sinh động, độc đáo, bố cục hợp lý do Phạm Hồng dịch, Nxb Văn học, năm 2019,…Giúp cho người nghiên cứu có cách nhìn tổng quan về Trung Quốc nói chung và tiền đề hình thành nhận thức luận trong triết học Trang Tử nói riêng Từ đó, người nghiên cứu dễ dàng phân tích, đánh giá trong quá trình nghiên cứu

Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn rất nhiều các công trình khác

sẽ được đề cập trong luận văn thạc sĩ triết học

Hướng nghiên cứu thứ hai đó là những công trình nghiên nội dung nhận

thức luận trong triết học Trang Tử và giá trị, hạn chế, ý nghĩa của nó

Về tư tưởng triết học Trang Tử, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

như: Tư tưởng Lão Trang của tập thể tác giả Triệu Kỳ Bân, Hầu Ngoại Lư,

Trang 12

Đỗ Quốc Tường, Nxb Sự thật, năm 1959; “Cách nhìn nhận về tư tưởng triết học của Trang Tử” của Trình Nghi Sơn (tạp chí nghiên cứu triết học, Bắc Kinh, số 9/1980) và đặc biệt là luận án tiến sĩ tư tưởng triết học của Trang

Tử trong tác phẩm Nam Hoa Kinh của Cung Thị Ngọc năm 2002, đây là

công trình nghiên cứu khá đầy đủ và sâu sắc

Về dịch thuật văn bản gốc ra tiếng Việt, những nhà nghiên cứu như Nhượng Tống, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần,…đã

nghiên cứu, phân tích và là dịch giả của bộ Trang Tử Nam Hoa Kinh Với việc các tác giả dịch tác phẩm Nam Hoa Kinh đã giúp cho người nghiên cứu

dễ dàng tìm hiểu trong việc nghiên cứu nội dung nhận thức luận trong triết học Trang Tử, và ý nghĩa lịch sử của nó

Về góc độ văn hóa, những công trình nghiên cứu về Trang Tử nổi bật

như là tập kỷ yếu “Đạo gia và văn hóa”, Nxb Văn hóa Thông tin, Trung

tâm Trung Quốc học - Đại học Sư phạm Hà Nội, đây là tập hợp những công trình nghiên cứu về Đạo gia của các nhà nghiên cứu trong hai năm 1999 -

2000, “Địa vị lịch sử của Đạo gia trong văn hóa truyền thống” của Lý Cẩm

Toàn (Tạp chí triết học, Hà Nội, số 2/1992)

Triết lý phương Đông - Giá trị và bài học lịch sử của Doãn Chính (chủ

biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2005, công trình nghiên cứu này giúp cho người nghiên cứu tổng quan về những giá trị, bài học và ý nghĩa của các triết lý phương Đông qua các trường phái Nho gia, Mặc gia, Pháp gia, Đạo gia… Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử triết học phương Đông khác được đề cập trong luận văn thạc sĩ triết học

Như vậy, tư tưởng của Trang tử đã có nhiều công trình tư liệu bài viết

đề cập nghiên cứu, vì nhận thức luận trong tư tưởng triết học Trang Tử còn một số vấn đề chưa phân tích rõ ràng sâu sắc, nên trong luận văn tác giả chỉ

tập trung nghiên cứu về “Nhận thức luận trong triết học Trang Tử - Giá

trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử”

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn nhằm làm sáng tỏ nội dung nhận thức luận trong triết học của Trang Tử; từ đó, khái quát những giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch

sử trong tư tưởng triết học của ông

Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần phải thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thứ nhất: Trình bày khái quát những điều kiện kinh tế, chính trị - xã

hội, tiền đề lý luận hình thành nhận thức luận của Trang Tử

Thứ hai: Phân tích quan điểm, tư tưởng triết học cơ bản của Trang Tử

và nhận thức luận trong triết học của ông

Thứ ba: Rút ra những giá trị, hạn chế, nguyên nhân và ý nghĩa lịch sử

trong nhận thức luận của Trang Tử

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Để thực hiện mục đích và hoàn thành nhiệm vụ trên, tác giả đã dựa trên

cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp cụ thể như phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, quy nạp và diễn dịch, đối chiếu và so sánh, để nghiên cứu và trình bày luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học

Luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn nhận thức luận của Trang Tử

Trang 14

Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần nhắc nhở và khuyến cáo con người trong quá trình tác động tự nhiên cần phải tôn trọng tự nhiên của các sự vật và hiện tượng Ngoài ra, luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu triết học Trung Quốc và triết học phương Đông

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương 5 tiết

Trang 15

Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ

LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN

TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ

1.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội của Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc

Theo nguyên lý mối liên hệ phổ biến đã chỉ ra rằng; các sự vật và hiện tượng trong thế giới này luôn tồn tại trong mối liên hệ, vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là vô cùng phong phú và đa dạng Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng mang tính khách quan, tính phổ biến, tính phong phú và tính đa dạng Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập và cô lập

Vì vậy, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học trong quá trình hình thành và phát triển luôn chịu sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc bởi những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Những luồng tư tưởng lịch sử nói chung và tư tưởng triết học nói riêng đều được hình thành và phát triển trên mảnh đất có những căn cứ của lịch sử nhất định, thời kỳ cổ đại đến hiện đại trong tư tưởng triết học phương Đông và phương Tây đã chứng minh một điều, đó là không có một luồng tư tưởng, học thuyết nào có thể nảy nở trên một vùng đất hoang vu, mà nó luôn gắn liền với tình hình lịch sử cụ thể Vì thế, những tư tưởng, cũng như các học thuyết của các nhà triết học ra đời đều xuất phát từ nền tảng điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nhất định Những tư tưởng triết học ra đời là một sản phẩm của lịch sử, dân tộc, của thời đại; đồng thời, những tư tưởng, học thuyết của những nhà triết học cũng đã phản ánh phần nào của đời sống xã hội lúc bấy giờ của lịch sử đang diễn ra

Trang 16

Nhiều nhà nghiên cứu khoa học nổi tiếng ở Trung Quốc cũng đã khẳng định rằng:

“Phàm đã gọi là một học thuyết quyết thể không là một cái gì từ trên trời rơi xuống Nếu nghiên cứu tỉ mỉ hơn chúng ta tất sẽ tìm ra được nhiều nguyên nhân đã xảy ra trước hậu quả về sau của nó” (Hồ Thích (Minh Đức dịch), 2004, trang 53)

“Nhà tư tưởng thường chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh trong đó nhà tư tưởng sống Cảnh trí chung quanh khiến cho nhà tư tưởng có ý thức về cuộc sống theo một lối nào, và triết học của nhà tư tưởng, do đó, sẽ có những điểm nhấn mạnh hay không đề cập tới, làm thành những nét đặc biệt của một triết học” (Phùng Hữu Lan (Nguyễn Văn Dương dịch),

1999, trang 32)

Khi nghiên cứu một tư tưởng, học thuyết nhà tư tưởng nào đó, nếu bỏ qua điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội lịch sử thời kỳ đương thời thì sự nghiên cứu này chưa được mang tính chất khoa học, chủ quan, duy ý chí, phi lịch sử Từ đó, những nghiên cứu này, sẽ thiếu đi sự đúng đắn, logic,

xa rời thực tiễn, xa rời quan điểm triết học mácxít

Do vậy, quá trình hình thành và phát triển của các học thuyết, trường phái của những nhà tư tưởng triết học Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc cũng không thoát được tính quy định nói trên, những trào lưu tư tưởng nói chung và tư tưởng triết học nói riêng ra đời không phải ngẫu nhiên, hay

từ một ý muốn chủ quan nào của các nhà triết học là do sự chi phối những hoàn cảnh, cũng như do những yếu tố khách quan, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của thời đại Trung Quốc cổ đại, cụ thể là thời Xuân thu - Chiến quốc

Vì vậy, chỉ dựa vào những cơ sở phân tích điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội mới có thể lý giải được một cách khoa học, logic trong những

tư tưởng, học thuyết của các nhà triết học thời Xuân thu - Chiến quốc nói

Trang 17

chung và tư tưởng nhận thức luận trong triết học Trang Tử nói riêng

Tại sao tư tưởng triết học Trang Tử nói chung và tư tưởng nhận thức luận trong triết học của ông nói riêng được các nhà nghiên cứu lịch sử, triết gia, trường phái thời Xuân thu - Chiến quốc và hiện nay tập trung nghiên cứu? Những quan điểm của nhà nghiên cứu cho rằng Lão Tử là thầy của Trang Tử và những tư tưởng triết học của Trang Tử và Lão Tử có sự tương đồng và điểm khác biệt như thế nào? Trên cơ sở nào mà Trang Tử hình thành tư tưởng nội dung nhận thức luận? Đặc biệt, nội dung nhận thức luận trong tư tưởng triết học Trang Tử có những giá trị, hạn chế gì? Nguyên nhân nào dẫn đến ưu, nhược điểm trong nhận thức luận của ông? Từ những giá trị, hạn chế đó, những nhà nghiên cứu khoa học và tiếp cận đến triết học Trang Tử có thể rút ra những ý nghĩa cho sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay như thế nào?

Thời Xuân thu - Chiến quốc bắt đầu từ năm 770 Tr.CN (Trước công nguyên) và kết thúc vào năm 221 Tr.CN, triều đại thời Đông Chu (770 - 256 Tr.CN) là thời kỳ giao thoa giữa hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ suy tàn và hình thái kinh tế - xã hội phong kiến sơ kỳ đang lên Thời kỳ này, triết học Trung Quốc phát triển rực rỡ Theo Đàm Gia Kiện cho rằng:

“Tiên Tần - đặc biệt thời Xuân thu - Chiến quốc là ngọn nguồn đầu tiên một cao trào của sự phát triển triết học Trung Quốc, đã xuất hiện đông đảo các nhà tư tưởng triết học thành một cục diện đông đảo các nhà tư tưởng triết học thành một cục diện trăm nhà đua tiếng” (Đàm Gia Kiện ,

1993, trang 433)

Ngoài ra, đề cập đến những sự kiện lịch sử diễn ra dồn dập và phát triển ảnh hưởng sâu sắc cho sự ra đời của những nhà triết gia thời kỳ trong lịch sử Trung Quốc Nguyễn Tài Thư cho rằng:

“Có một thời kỳ trong lịch sử Trung Quốc mà ngày nay nhớ đến có người còn xốn xang bởi sự sôi động của nó, bởi nhiều sự kiện lịch sử

Trang 18

xuất hiện dồn dập, nhiều học thuyết triết học và chính trị - xã hội ra đời, nhiều khối óc tài ba làm nên sắc thái văn hóa và tư tưởng của Trung Quốc sau này” (Nguyễn Tài Thư, 2005, trang 13)

Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã hình thành và phát triển lần lượt thời kỳ triều đình nhà Hạ sang nhà Thương, bắt đầu bước vào giai đoạn khủng hoảng, dần dần suy tàn ở cuối thời kỳ Tây Chu

Chính nhờ sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà xã hội lúc này có biến đổi và suy tàn, hình thành nên một giai đoạn mới có thể xem

là tiến bộ hơn

Ở giai đoạn này, Trung Quốc đã trải qua một thời kỳ giao thời, chuyển đổi từ chế độ tông tộc sang chế độ gia trưởng, những giá trị, tư tưởng đạo đức, lối sống con người ở xã hội cũ cũng bị mục nát, bên cạnh đó, tư tưởng, đạo đức mới manh nha và trên con đường được hình thành

Những biến đổi sâu sắc toàn diện ở thời kỳ này từ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đã tạo một tiền đề cho những luồng tư tưởng, học thuyết của những nhà triết học ra đời và là giải phóng con người thoát khỏi sự chi phối thế giới quan thần thoại, tôn giáo đã kìm hãm sự phát triển xã hội Trung Quốc hàng nghìn thế kỷ đã qua

Vì thế, có thể thấy rằng mọi sự vận động, biến đổi, phát triển mang tính khách quan, dù muốn hay không muốn nó vẫn diễn ra thực tế khách quan, con người hay thế lực không thể ngăn chặn

Về mặt kinh tế, thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ

thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Sắt là loại kim loại được dân tộc Di phát hiện, đây là một tộc người sinh sống ở phía Đông của người Hoa Lúc bấy giờ, dân tộc Di đã biết sử dụng sắt và biết kỹ thuật công nghệ đúc sắt, nên người Hoa đã tiếp thu những tinh hoa công nghệ đúc của dân tộc Di, người Hoa đã sản xuất rất nhiều công cụ lao động bằng sắt để phục vụ đời sống họ

Trang 19

Từ khi xuất hiện đồ sắt nói chung và công cụ lao động bằng sắt nói riêng, nền nông nghiệp phát triển vượt bậc về số lượng lẫn về chất lượng của sản phẩm Sự ra đời của sắt như là một cuộc cách mạng, soi sáng con đường

sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc cổ đại đương thời, từ khi công cụ lao động bằng sắt ra đời đã thúc đẩy mạnh mẽ cho nền kinh tế nói chung và lĩnh vực nông nghiệp ở nước Trung Quốc nói riêng

Về lĩnh vực nông nghiệp, từ khi đất nước Trung Quốc hình thành, nền

kinh tế nông nghiệp là ngành đặc thù với điều kiện tự nhiên - xã hội, nên việc chú trọng phát triển nông nghiệp là điều hợp theo quy luật hoàn cảnh của đất nước Trung Quốc lúc bấy giờ Từ khi đồ sắt ra đời, hệ thống thủy lợi kênh rạch chằng chịt dần dần được trải dài khắp khu vực Trường Giang, đất canh tác nông nghiệp cũng được mở rộng diện tích, việc cải tiến công

cụ lao động bằng đồng sang đồ sắt, công cụ lao động được nâng cấp, kéo theo kỹ thuật lao động của những người nông dân lúc bấy giờ đòi hỏi cũng được nâng cao, nhờ đó mà tỉ lệ sản phẩm làm ra tăng gấp nhiều lần hơn trước, mặc dù thời gian làm việc và đòi hỏi sức cơ bắp con người cũng giảm đáng kể

Theo quan điểm mácxít, con người luôn luôn năng động và sáng tạo cải tạo tự nhiên, luôn đòi hỏi nhu cầu chất lượng cuộc sống cao hơn, tương tự như vậy, nên người Trung Quốc cũng tìm tòi, cải tiến công cụ lao động ngày càng tinh vi, nâng cao tay nghề trong quá trình lao động, từ đó họ đã tiếp thu nhiều tri thức mới trong thực tiễn ngày càng hoàn thiện, nâng cao đời sống vật chất của bản thân Cụ thể, họ không ngừng tiếp thu và vận dụng sách Quản Tử, chia đất đai toàn quốc theo độ phì nhiêu làm ba cấp: thượng, trung,

hạ Trong đó, mỗi cấp họ chia làm sáu loại và chỉ ra giống cây thích hợp với mỗi loại đất trên Do mùa màng thuận lợi và tiến bộ vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến thay đổi sâu sắc quan hệ sản xuất ở Trung Quốc thời Xuân Thu Giai cấp quý tộc chủ nô từ việc nắm toàn bộ của cải của nông nô

Trang 20

làm ra dưới thời Tây Chu, thì lúc này, công xã giao hẳn đất công cho hộ gia đình nông nô dài hạn Từ đây, những nông nô có điều kiện canh tác, ra sức lợi dụng những kỹ thuật canh tác mà từng học hỏi để tăng năng suất sản phẩm cho chính bản thân họ, sự phân chia đất công diễn ra mạnh mẽ từ một số quý tộc chuyển sang tay thương nhân giàu có, một phần do các chư hầu một số nước thưởng tướng có công trạng, một phần quý tộc chiếm ruộng tư và một số phần còn lại là do đất tự nhiên bỏ hoang nên người dân lạm dụng khẩn hoang canh tác làm của riêng Từ đó, chế độ tỉnh điền dần dần bị tan rã và thay vào

đó là một chế độ mới được gọi là chế độ tư hữu ruộng đất từng bước hình thành Qua đó, giai cấp địa chủ phong kiến hình thành từng bước thay thế giai cấp quý tộc chủ nô

Theo chế độ “tỉnh điền” ruộng đất của công xã chia thành chín ô như hình chữ “tỉnh”, những nông nô cày cấy tám ô xung quanh, còn khu ở giữa gọi là công điền được tám nhà họp lại cày cấy để đóng thuế cho triều đình, khi xuất hiện chế độ tư hữu ruộng đất, diện tích ruộng đất của mỗi nông nô

có sự chênh lệch, nên triều đình ra một chế độ thuế mới gọi là thuế sơ mẫu, tức là thu thuế vào từng mẫu ruộng mà nông nô sở hữu, nước đầu tiên thi hành loại thuế này là nước Lỗ (năm 594 Tr.CN)

Về lĩnh vực thủ công nghiệp: Từ khi công cụ lao động bằng đồng

được thay thế bằng sắt thì nền nông nghiệp thuận lợi, phát triển và đã chuyển mình thay đổi cả về chế độ tỉnh điền chuyển dần sang chế độ tư hữu ruộng đất, thúc đẩy mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm Cùng với sự phát triển vượt bậc từ nông nghiệp đã thúc đẩy nền thủ công nghiệp cũng có sự thay đổi đáng kể Điều đó, góp phần có ý nghĩa rất lớn cho việc sự phân công lao động ngày càng mang tính chuyên môn cao, đưa đến một trình độ chuyên nghiệp mới, thúc đẩy một số ngành nghề thủ công ra đời, phát triển như nghề luyện sắt, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm đồ gốm,… Cuối thời Xuân Thu ở Trung Quốc cổ đại, nước Ngô đã cho dựng lò luyện sắt với số

Trang 21

thợ thi công lên đến 300 người Bên cạnh đó, nước Tấn trưng mua sắt để đúc đỉnh hình, để chứng minh điều này trong sách Doãn Chính đã đề cập như sau:

“Thợ mộc chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…” (Doãn Chính, 2004, trang 33)

Do trình độ còn hạn chế nên thợ thuyền chưa có ảnh hưởng gì lớn đến

xã hội Sự phát triển đa dạng của nhiều nhóm ngành nghề thủ công nghiệp đã

có nhiều ý nghĩa sâu sắc như giải phóng lao động, phá vỡ nền kinh tế nông nghiệp cổ truyền, nâng cao đời sống cho người dân Trung Quốc cổ đại lúc bấy giờ

Về lĩnh vực thương nghiệp: Trong quá trình phát triển thủ công nghiệp,

trên cơ sở đó đã tạo tiền đề cho sự phát triển của thương nghiệp, trong quá trình trao đổi buôn bán, tiền tệ ra đời Với sự phát triển thương nghiệp, trong

xã hội đã xuất hiện một số thương nhân giàu có, có địa vị như Huyền Cao, Phạm Lãi (nước Trịnh), Tử Cống (học trò của Khổng Tử), các thương nhân kết giao với chư hầu, quan lại có tầm ảnh hưởng lớn đến chính trị - xã hội Tuy nhiên, do tình trạng xã hội diễn ra phức tạp, rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, đường xá chằng chịt đi lại gặp nhiều khó khăn, nạn chư hầu cát

cứ nên lãnh thổ bị chia năm xẻ bảy Do đó, dẫn đến việc kinh doanh rất khó khăn, đòi hỏi phải do những người tháo vát, kiên trì, có lòng quả cảm và dám mạo hiểm trước những khó khăn Đặc biệt, theo quan niệm người Trung Quốc cổ đại lúc bấy giờ cho rằng, buôn bán là nghề rẻ mạt nhất, bị người đời xem thường, họ quan niệm “nông bản, thương mạt” Vì thế, thương nghiệp chưa thực sự phát triển, mặc dù vậy, trong quá trình thương nghiệp hình thành, buôn bán đã phân hóa rõ rệt giữa người giàu và người nghèo, từ đó xã hội xuất hiện một tầng lớp mới, tầng lớp này dần dần chiếm thế lực ngày càng to lớn đối với xã hội lẫn chính trị, họ tìm cách tranh giành quyền lực

Trang 22

với tầng lớp quý tộc cũ, tầng lớp mới này là tiền thân cho một bộ phận giai cấp địa chủ sau này

Về mặt chính trị - xã hội, kinh tế là nguyên nhân cơ bản cho mọi sự

biến đổi nói chung và lĩnh vực chính trị - xã hội nói riêng

Nếu thời Tây Chu chế độ tông pháp nghiêm ngặt vừa mang ý nghĩa về kinh tế, chính trị - xã hội ràng buộc huyết thống mang giá trị tích cực cho

sự hưng thịnh lâu dài của nhà Chu Nhưng đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp không còn được tôn trọng, tôn ti trật tự vua - tôi, cha - con, vợ - chồng,…đảo lộn, quyền uy của thiên tử giảm đáng kể, thiên tử không thể giải quyết được những tranh chấp giữa các chư hầu như trước nữa Một số chư hầu lợi dụng, lấy nguyên cớ khôi phục địa vị tông chủ của nhà Chu đề

ra khẩu hiệu “tôn vương bài di”, để khởi binh chừng phạt với nhau nhằm mục đích mở rộng thế lực, diện tích đất đai, thôn tính và tranh giành làm bá chủ thiên hạ

Thời Xuân Thu, Trung Quốc cổ đại trong 242 năm đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh từ lớn nhỏ, tính ra một năm có khoảng 2 cuộc chiến tranh, đầu thời Tây Chu có hàng nghìn nước đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn khoảng một trăm nước, trong số đó có Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần là những nước hùng mạnh và thay nhau làm chủ thiên hạ với trị vì “bá đạo” dựa trên sức mạnh bạo lực đối lập hoàn toàn với “vương đạo” Thời Xuân Thu các vị lãnh chúa tàn nhẫn bóc lột nhân dân lao động một cách mang rợ, những người dân phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt của các quý tộc, thuế khóa nặng nề Hệ quả đó dẫn đến nạn cướp bóc hoành hành, thiên tai xảy ra thường xuyên Do đó, thời kỳ này người dân Trung Quốc bị bóc lột,

áp bức đến cùng cực khổ sở, đời sống xã hội rối ren, nạn chiến tranh, tranh chấp liên miên, thiên tai thường xuyên xảy ra dẫn đến đời sống nhân dân khốn khổ lại thêm khốn khổ hơn Những con người khốn khổ này phải chịu đựng, vì phải đáp ứng nhu cầu quy luật tự nhiên (ăn, mặc, ở)

Trang 23

Các nước thôn tính lẫn nhau giữa các lãnh chúa, các nước chư hầu, không chỉ bóc lột dân chúng tàn khóc mà còn dẫn đến sự diệt vong hàng lọt các nước chư hầu nhỏ bé, mà còn tàn phá lễ nghĩa nhà Chu Dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị ngày càng trở nên sâu sắc, những lễ nghi tôn nghiêm chế độ tông pháp trước đây dần dần bị xem thường Tam cương, ngũ thường bị đảo lộn, đạo đức suy đồi, tình trạng “tiếm ngôi việt vị” cao trào Các nước còn vị thế tự xưng “thiên tử” để bắt các nước nhỏ cống nạp lễ vật quanh năm Trong xã hội, diễn ra cảnh quân thần giết vua cướp ngôi, con hại cha, anh

em đanh đua ganh tị đánh nhau, vợ chồng chia lìa xảy ra Tử viết:

“Tề Cảnh Công vấn chính ư Khổng Tử Khổng Tử đối viết: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” Công viết: Thiện tai! Tín như quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử, tuy hữu túc, ngô đắc nhi thực chư?” (Khổng Tử (Đoàn Trung Còn dịch), 2009, trang 188)

Đoàn Trung Còn dịch:

“Vua Cảnh Công nước Tề hỏi Đức Khổng Tử về cách cai trị Ngài đáp rằng: “Phải làm sao cho mỗi người đều làm tròn chức vụ mình: Vua ở hết phận vua, tôi ở hết phận tôi, cha ở hết phận cha, con ở hết phận con” Vua Cảnh Công khen rằng: Ngài nói phải thay! Nghĩ như vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, ở trong tình cảnh hỗn loạn như thế, dầu ta có lúa đầy kho, có chắc được ngồi yên mà

ăn chăng?” (Khổng Tử (Đoàn Trung Còn dịch), 2009, trang 189)

Lúc này, chế độ tông pháp nhà Chu không được xem là lễ nghi, tôn nghiêm để cai trị đất nước, cai trị các nước chư hầu lớn nhỏ nữa mà giờ đây, chế độ tông pháp của nhà Chu đã trở thành thủ đoạn ngoại giao để thôn tính các nước với nhau

Trước những hệ lụy mà chiến tranh gây ra, sự bóc lột nặng nề, nạn thiên tai đưa đến nhân dân lao động cùng cực, còn các vương hầu, các lãnh chúa quý tộc sống cuộc sống sa hoa, ăn chơi sa đọa, xây cung điện trang nghiêm

Trang 24

hùng vĩ trên của cải, mồ hôi, giọt máu của nhân dân lao động Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và bị trị ngày trở nên gây gắt đã nhanh chóng thúc đẩy chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc đến giờ phút cáo chung

Trong thời Xuân Thu, một mặt các cuộc chiến tranh xảy ra thường xuyên giữa các nước với nhau; mặt khác, trong nội bộ của từng nước diễn ra nhiều cuộc xung đột do nạn giành đất đai, địa vị giữa các quý tộc Năm 403 Tr.CN ở nước Tấn, có ba dòng họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy, lúc bấy giờ Trung Quốc đã bước vào thời kỳ Chiến Quốc Trong khi đó, còn bảy nước lớn hùng mạnh được gọi là “thất hùng” là nước Tề, Sở, Yên, Tần, Hàn, Triệu, Ngụy Trong đó, nước Tần ở phía tây Hàm Cốc quan, sáu nước còn lại

ở phía đông ải quan đó hay còn gọi sáu nước còn lại này là “Sơn Đông lục quốc”, các nước này thường xuyên gây xung đột, mượn nguyên cớ gây chiến tranh với thủ đoạn làm bá chủ thiên hạ

Thời Chiến Quốc có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế Trong đó; nghề luyện sắt đã đạt đến trình độ khá cao so với thời Xuân Thu, họ sản xuất ra những đồ dùng, dụng cụ bằng sắt như: lưỡi cày, liềm, cuốc, rìu, dao, trong số dụng cụ này, dao là công cụ được sử dụng nhiều nhất, phổ biến khắp rộng cả nước Bên cạnh đó, những trung tâm lớn được hình thành do các nước xây dụng như: Hàm Đan nước Triệu, Đường Khuê nước Hàn, Lâm Truy nước Tề các nước đều có kinh đô đồ sộ, kinh đô nước Yên lúc trước, do nơi này có vị trí địa lý, phong thủy nên được người Trung Quốc lấy làm thủ đô Bắc Kinh hiện nay Các công trình thủy lợi được xây dựng khắp nơi trên lưu vực sông Hoàng Hà đến lưu vực sông Trường Giang và từ Biển Đông đến tận vùng Tứ Xuyên Cùng với sự phát triển đó, kéo theo đó thủ công nghiệp trên đà vượt bậc với các ngành nghề: làm đồ gốm, nghề trồng dâu, nuôi tầm, dệt lụa, chạm trổ vàng bạc, tiền tệ bằng kim loại xuất hiện Bên cạnh đó, thương nghiệp cũng có tiến triển phát triển, các trung tâm của các đô thành buôn bán

và trao đổi hàng hóa ngày càng hưng thịnh Các đô thành, thành ấp, trục lộ

Trang 25

biến thành đô sầm uất như Hàm Dương nước Tần, Thọ Xuân nước Sở, Lâm Truy nước Tề và Khai Phong nước Ngụy Mặc dù, sự phát triển vượt bậc về kinh tế, nhưng những cuộc chiến tranh diễn ra liên miên tàn khóc đã phá hoại cảnh quan thiên nhiên, quan trọng là nó hủy hoại con người một cách tàn nhẫn, dẫn đến đời sống nhân dân cơ cực vô cùng Mạnh Tử thấy thế phải đau lòng thay, ông viết:

“Tranh địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã Tranh thành dĩ chiến, sát nhân doanh thành” (Mạnh Tử (Đoàn Trung Còn dịch), 2009, trang 26)

Đoàn Trung Còn dịch:

“Đánh nhau giành đất, giết người thay phơi đầy đồng Đánh nhau tranh thành, giết người thay chất đầy thành” (Mạnh Tử (Đoàn Trung Còn dịch), 2009, trang 27)

Kinh tế hàng hóa phát triển, chiến tranh liên miên là một trong những nguyên nhân làm cho công xã nông thôn tan rã, chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần dần đã trở thành quan hệ sở hữu thống trị Trước đây, việc thu thuế dựa theo sản lượng sản phẩm thu hoạch được, nhưng bây giờ hình thức thu thuế dựa vào tỉ lệ ruộng đất sở hữu canh tác Mua bán ruộng đất tự do, điều này đã mở đường cho sự tập trung ruộng đất vào tay những lãnh chúa

và người địa chủ giàu có

Do đó, hệ lụy của việc làm này gây ra cho những người nghèo mất hết ruộng đất, phải đi làm thuê, làm mướn Trong lòng xã hội đã hình thành một chế độ mới đó là chế độ phong kiến quận, huyện, mâu thuẫn giai cấp trở nên gây gắt, vì lợi ích, quyền lợi nên dẫn đến các cuộc đối kháng, phong trào diễn ra khắp nơi như phong trào “biến pháp” ở các nước như Ngụy, Triệu, Hàn, Tề, Tần Từ đây, thế giới quan trên đã một phần ảnh hưởng đến sự hình thành nhận thức luận trong triết học Trang Tử

Đến năm 362 Tr.CN, trong tất cả các nước lớn thời kỳ Trung Quốc cổ đại, trong đó, nước Tần là quốc gia hùng mạnh nhất so với các nước nhỏ lớn

Trang 26

trên mảnh đất Trung Quốc lúc bấy giờ Dưới sự cai trị của thời vua Tần Hiếu Công (381 - 338 Tr.CN), ông đã tích cực triển khai nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, củng cố binh lực Ngoài ra, nhờ vận dụng học thuyết của Thương Ưởng (352 - 338 Tr.CN), trong những năm 359 đến 349 Tr.CN đã hoàn toàn thay đổi, phá vỡ về lĩnh vực kinh tế, tổ chức hành chính, tiền tệ, pháp luật, chế độ gia trưởng và công xã nông thôn do sự cải cách và sử dụng pháp trị, nước Tần trở thành quốc gia mạnh nhất trong “thất hùng” Lúc bấy giờ, đã nảy sinh những phương kế ngoại giao như thuật “hợp hoành” và “liên hoành” Trong đó, đại diện cho thuật hợp hoành là Tô Tần (382 - 284 Tr.CN), còn lại Trương Nghi (373 - 310 Tr.CN) đề xuất thuật liên hoành Thuật “hợp hoành” tức là hợp nhiều nước yếu nhằm để đánh nước mạnh; ngược lại, thuật “liên hoành” là tôn một nước hùng mạnh để đánh những nước yếu Nước Tần áp dụng thuật “liên hoành” đã kéo quân lần lượt hạ sáu nước ở phía đông là nước Hàn, Triệu, Sở, Ngụy, Tề, Yên Thống nhất Trung Quốc, chấm dứt chiến tranh loạn lạc, liên miên, tàn khóc, xây dựng nên một quốc gia phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Trung Quốc năm 221 Tr.CN Cùng thời với triều đại nhà Tần lúc này là học thuyết pháp trị, nổi bật

là Hàn Phi Tử (280 - 233 Tr.CN), người có công lao lớn thừa hưởng các tiền bói đi trước và sáng tạo nên học thuyết pháp trị lên một đỉnh cao mới giúp nhà Tần thống nhất giang sơn và trị vì Mặc dù vậy, Tần Thủy Hoàng (259 -

210 Tr.CN), ông đã chủ trương “chôn nho”, “đốt sách” và cấm tất cả các học thuyết đương thời, chỉ cho truyền bá lĩnh vực y học, nông học, chiêm tinh và huy động xây dựng Vạn Lý Trường Thành

Do điều kiện lịch sử quy định, đất nước không còn phù hợp với lối trị vì bằng pháp luật tuyệt đối mãi được, nhu cầu lịch sử cần phải có thêm những phương pháp trị nước khác Thêm vào đó, hình phạt quá tàn nhẫn và bóc lột tàn nhẫn về của cải, mồ hôi, sức lực, giọt máu, mạng sống của quần chúng nhân dân vào công việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành Hệ lụy kéo theo

Trang 27

đó, dưới cuộc khởi nghĩa nông dân hùng mạnh do Lưu Bang (265 - 195 Tr.CN) lãnh đạo đã lật đổ nhà Tần Nhà Tần sụp đổ rất sớm trong vòng 15 năm từ khi thành lập 221 đến năm 206 Tr.CN Năm 206 Tr.CN, nhà Hán được hình thành Sự biến cố, thay đổi của lịch sử sâu sắc thúc đẩy những trường phái, tư tưởng, học thuyết, các nhà triết học ra đời, trong đó có nhận thức luận trong triết học Trang Tử

Trước bối cảnh về kinh tế, chính trị và xã hội trên đã đặt ra cho các nhà

tư tưởng, các trường phái triết học cả về mặt thế giới quan đến nhận thức luận con người để giúp con người có thế giới quan, nhận thức luận, nhân sinh quan

để đối nhân xử thế và phát triển kinh tế - xã hội, ổn định tôn ti trật tự xã hội trong bối cảnh loạn lạc diễn biến phức tạp của thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc Nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội lúc bấy giờ, từ yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan thúc đẩy nhận thức luận trong triết học Trang Tử hình thành để đáp ứng nhu cầu một phần của thời đại lúc bấy giờ đặt ra

1.1.2 Thành tựu về văn hóa và khoa học của Trung Quốc thời Xuân thu - Chiến quốc

Những tri thức khoa học, văn hóa phong phú đa dạng thời Xuân thu - Chiến quốc ở Trung Quốc như lĩnh vực thiên văn học, y học, toán học, nông học, sinh vật học, văn học và sử học không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội mà còn là cơ sở hình thành tư tưởng nhận thức luận trong triết học Trang Tử

Về lĩnh vực thiên văn học: Thế kỷ IV Tr.CN, Thạch Nhân là nhà thiên

văn đã sáng tạo ra bảng mục về các vì sao, gồm 800 tinh tú Người Trung Hoa trong những biên niên sử thế kỷ II Tr.CN đã chế tạo, sử dụng la bàn và

có những cuộc du lịch trên bộ Bên cạnh đó, ở Trung Quốc đã ghi chép được

các hành tinh cổ nhất thế giới trong sách Cam thạch tinh kinh Họ cũng đã

chia được bầu trời thành 28 túc, bằng chứng là dựa vào vị trí 28 ngôi sao trên xích đạo thiên cầu Đồng thời, họ còn biết hệ quy chiếu của mặt trời đến túc

Trang 28

và đã phân biệt được các tiết trong năm ra làm lập xuân, xuân phân; lập thu, thu phân; lập hạ, hạ chí; lập đông, đông chí Lúc bấy giờ, họ đã tính được nguyệt thực, nhật thực

Về lĩnh vực y học: Hai bộ sách Hoàng Đế nội kinh và Thần Nông bổn thảo kinh vào thời Chiến Quốc, đây là hai bộ sách được xem là quan trọng

nhất trong lĩnh vực y học Hai quyển sách này cung cấp những tri thức y học

đa dạng và phong phú được đúc kết từ những kinh nghiệm lịch sử đến thực tiễn trong cuộc sống Đối với người dân Trung Quốc cổ đại bấy giờ đây là hai cuốn sách quý báu nhất về y học của họ Ở thời kỳ này, người Trung Quốc đã biết giải phẫu cơ thể con người, biết rõ từng cơ quan nội tạng và hệ tuần hoàn cơ thể con người Ngoài ra, họ đi sâu nghiên cứu những nguyên nhân gây bệnh tật để kịp thời ngăn chặn điều trị và sử dụng thành thạo các phương pháp liều trị như nghe, hỏi, nhìn và có khả năng bắt mạch rất tài tình Bên cạnh đó, họ còn sử dụng các phương pháp như bấm nguyệt, châm cứu

và sử dụng thuốc nam như những lá cây, thân cây, rễ cây tốt cho sức khỏe, phù hợp với từng loại bệnh của cơ thể để sắc thuốc uống và xông hơi Quan điểm này gần với chủ nghĩa duy vật biện chứng trong cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả Đi ngược lại là những nhà siêu hình

Về lĩnh vực toán học: Người Trung Quốc cổ đại đã tính được diện tích

các hình, cụ thể như trong tam giác vuông, bình phương của cạnh huyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông Họ còn biết phép đo lường,

có số thập phân và tính toán bằng phân số

Về lĩnh vực nông học và sinh vật học: Bộ Kinh thi là bộ sách thi ca bao gồm 305 bài, đề cập 200 loại thảo mộc, tuyển tập Kinh thi được sáng tác

trong vòng khoảng 500 năm, đây là bộ sách có khối lượng đồ sộ và chi tiết,

nó thể hiện đầy đủ tri thức đa dạng phong phú về sinh vật học của người Trung Quốc đương thời Trong quá trình lao động sản xuất nông nghiệp từ đời này sang đời khác và đúc kết từ những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn,

Trang 29

họ đã biết sử dụng hệ thống phương pháp canh tác chuyên canh, phương pháp bón phân cho đất, phương pháp trồng trọt và chia các chu kỳ, một chu

kỳ là ba năm, người dân Trung Quốc đã sử dụng được kỹ thuật “dẫn thủy nhập điền” tức là, công trình thủy lợi dẫn nước vào ruộng dẫn đến nền nông nghiệp ngày càng mở rộng và phát triển

Về lĩnh vực văn học: Thời Tần đã để lại cho nhân loại nói chung, người

Trung Quốc nói riêng rất nhiều tác phẩm, khi đề cập đến văn học thì không

thể bỏ qua hai tác phẩm nổi tiếng là Kinh Thi và Sở Từ

Kinh Thi bao gồm ba phần chính: Phong, Nhã, Tụng, được nhiều tác giả

viết, điển hình là nhân dân lao động Bộ sách này phản ánh tình hình kinh tế, chính trị, cũng như tập quán, phong tục, đời sống, tâm tư tình cảm và nguyện vọng của nhân dân lao động từ thời Tây Chu đến thời Xuân Thu

Sở Từ được nhà thơ Khuất Nguyên (340 - 278 Tr.CN) viết, Sở Từ gồm

có cửu ca, chiêu hồn, thiên uẩn, cửu chương và ly tao Sở từ là tập dân ca nước Sở, nội dung là phản ánh những đặc điểm trong thời kỳ Chiến quốc và địa phương nước Sở

Về lĩnh vực sử học: Thời cổ đại người Trung Quốc đã sáng tạo ra nhiều

bộ sử mang nhiều giá trị to lớn, điển hình nhất là như: Xuân Thu, Tả Truyện, Quốc Ngữ Ngoài ra còn có Chiến quốc sách của Lưu Hướng

Xuân Thu, phản ánh một cách chi tiết, sinh động tình hình xã hội loạn lạc từ thời Xuân Thu đến thời Chiến Quốc Xuân thu không chỉ nội dung sử

học, mà nó còn mang tính chất tư tưởng triết học, cụ thể là đề cập đến quan điểm “chính danh định phận” của Khổng Tử

Tả Truyện, nói về sử Trung Quốc cổ đại khá sâu sắc và nổi bật khắc

đậm nét riêng sử học Trung Quốc đương thời

Quốc Ngữ, ghi chép những sự kiện thời Xuân Thu, mặc dù, cũng là sách

ghi chép lại những sự kiện, nhưng nó có điểm khác với Tả truyện ở chỗ, Quốc ngữ chép sử theo địa phương, theo từng khu vực, từng nước

Trang 30

Nhiều quan điểm cho rằng, Tả Truyện và Quốc Ngữ là do Tả Khâu

Minh (556 - 452 Tr.CN) sáng tác, bên cạnh đó, trong cuốn sách Tư Mã Thiên cũng có đề cập như sau:

“Tả Khâu bị mù, bèn làm Quốc ngữ” (Tư Mã Thiên, 1988, trang 29)

Nhưng thực chất, Quốc ngữ là sách được nhiều tác giả biên soạn

Như vậy, những thành tựu khoa học, văn hóa đã góp phần thúc đẩy sự phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người Trung Quốc cổ đại Ngoài ra, đây cũng là tiền đề cho quá trình phát triển nhận thức vượt bậc, là cơ sở cho thế giới quan triết học nảy nở và nhân sinh đặc sắc của nhận thức luận trong triết học Trang Tử

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC TRANG TỬ

1.2.1 Cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai trường phái nhập thế và xuất thế trong triết học Trung Quốc

Theo quan điểm triết học mácxít, bất cứ các tư tưởng học thuyết triết học nào ra đời cũng được nảy sinh trên cơ sở tồn tại xã hội, đồng thời có kế thừa chọn lọc những tiền đề lý luận trước đó Triết học nhận thức luận của Trang Tử cũng không nằm ngoài quy luật nói trên Cuộc đấu tranh giữa các

tư tưởng trường phái đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhận thức luận trong triết học Trang Tử, trước hết là;

Nho gia là trường phái triết học được hệ thống hoàn thiện ở Trung Quốc

cổ đại Trường phái triết học Nho gia được Khổng Tử (551 - 479 Tr.CN) sáng lập vào cuối thời Xuân Thu, suốt cuộc đời mong muốn được giáo hóa đạo đức cho con người và cải biến xã hội, bình thiên hạ, ông đi buôn ba từ nước Vệ, Tống, Trịnh rồi quay về quê hương của mình là Lỗ thì đã 68 tuổi, nhưng học thuyết “đức trị” của ông không được trọng dụng, ông mở trường dạy học, san định kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, trước tác là Kinh Xuân Thu, đến năm 479 Khổng Tử qua đời Sau thời Xuân Thu là Chiến Quốc

Trang 31

được Mạnh Tử, Tuân Tử tiếp thu và phát triển Trong quan điểm về thế giới,

họ cho rằng vạn vật trong vũ trụ luôn sinh thành, phát triển không ngừng theo đạo, chúng biến đổi, vận động dưới sự tương tác giữa hai cực “âm” và

“dương” trong một chỉnh thể thống nhất là “thái cực” Lực vô hình, mạnh mẽ giữ cho âm - dương, trời - đất, “trung hòa” nhằm để vạn vật sinh hóa không ngừng Khổng Tử gọi là “đạo”, “thiên lý”, đó là thịnh của trời đất Trung là cái gốc của thiên hạ, do đó vạn vật sẽ sinh sản, nảy nở, biến hóa Hòa là đạo thông đạt của thiên hạ, nên mọi vật nhờ vào đó mà luôn được phồn thịnh Vì thế, “đạo”, “thiên lý” là vi diệu, sâu kín, màu nhiệm, mạnh mẽ, luôn vận hành toàn vũ trụ, định một phép sống cho con người lẫn vạn vật không thể thoát ra tầm kiểm soát và cưỡng lại được, nên Khổng Tử gọi đó chính là

“thiên mệnh”, họ tin vào “thiên mệnh” coi nó chi phối vạn vật trong vũ trụ Mặc dù, Khổng Tử tin vào “thiên mệnh” nhưng ông lại không tán thành con người cứ dựa vào “thiên mệnh” mà quyết định số mệnh bản thân, ông luôn chủ trương và khuyến khích con người ra sức nỗ lực học tập, tận tâm, tận lực trong cuộc sống còn thành hay bại, lúc đó mới do ý trời Đây là quan điểm có nhiều tiến bộ vượt bậc, giá trị của ông

Khổng Tử tin rằng có quỷ thần và cho rằng quỷ thần được khí thiêng của trời đất tạo thành, quỷ thần không thể nhìn thấy, nhưng luôn hiện diện, không chi phối được đời sống con người Mặc dù tin vào quỷ thần, nhưng ông phê phán con người không nên mê tín hay sùng bái quỷ thần, sự thông minh của con người luôn đối lập với quỷ thần, ông luôn kêu gọi mọi người chú trọng công việc của mình

Như vậy, quan điểm về thế giới, tư tưởng triết học Khổng Tử luôn mang tính chất mâu thuẫn Một mặt, ông cho rằng, trời có chí và luôn chi phối vận mệnh của con người, vạn vật Mặt khác, ông chống lại chủ nghĩa thần bí, thừa nhận các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn vận động, biến đổi không phụ thuộc vào vận mệnh của thiên mệnh Đây là yếu tố duy

Trang 32

vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát, tư tưởng của ông được xem là một bước tiến quan trọng chống lại chủ nghĩa duy tâm thần bí, tôn giáo thời thượng cổ lúc bấy giờ

Trong quẻ Thuần Càn, trong Kinh dịch quẻ đầu tiên thể hiện cái đức lớn của trời là “nguyên, hanh, lợi, trinh”; nguyên có nghĩa là nguồn gốc, hanh được hiểu là thông đạt, lợi là thích đáng, trinh là bền bỉ sáng suốt Còn đức lớn ở con người là nhân, lễ, nghĩa, trí Do đó, Khổng Tử cải biến xã hội, bình thiên hạ bằng phương pháp “đức trị” nhằm để củng cố lại tôn ti trật tự chế độ tông pháp của nhà Chu lúc bấy giờ Với lý tưởng muốn khôi phục lại tông pháp nhà Chu, Khổng Tử và Mạnh Tử đã truy tìm những nguyên nhân, cũng như hiện trạng tại sao nhà Chu lại suy yếu, rối loạn Khổng Tử cho rằng, nguyên nhân thầm kín là do mọi người chưa thực hiện cái chính danh của chính mình, tức là danh chưa phù hợp với thực Vì thế, Khổng Tử đưa ra học thuyết nhân, lễ, nghĩa, trí, tín nhằm để bình ổn xã hội rối ren lúc bấy giờ Bên cạnh đó, để thực hiện học thuyết ông đưa ra, con người phải thực nghiêm túc thực hiện lễ, phép tắc của nhà Chu Nhưng lý tưởng và mục đích của Khổng

Tử đã không thành hiện thực, họ chỉ thấy nguyên nhân ở mặt đạo đức, mà không nhận thấy được nguyên nhân từ sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự thay đổi quan hệ sản xuất qua đó làm thay đổi hình thái kinh tế xã hội Từ đó, cơ sở hạ tầng thay đổi cũng kéo theo sự thay đổi của kiến thức thượng tầng Đây là giai đoạn của sự quá độ của một hình thái kinh tế - xã hội, cụ thể là sự quá độ hình thái kinh tế - xã hội phong kiến trong giai đoạn còn phôi thai và non trẻ

Như vậy, trong trường phái Nho gia có phạm trù “nhân, lễ, trí, dũng” và học thuyết “chính danh định phận” có nhiều nội dung phong phú, đa dạng mang giá trị đầy tính nhân văn, học thuyết đó đã thâm nhập vào đời sống của quần chúng nhân dân lúc bấy giờ, nhất là tiền đề lý luận cho sự hình thành các nhà tư tưởng triết học sau này và ảnh hưởng đến triết lý nhân sinh to lớn

Trang 33

đến hiện nay Song, do hạn chế bởi điều kiện lịch sử và lợi ích giai cấp, nên học thuyết Nho gia, Khổng Tử nói riêng, học thuyết của ông còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn đan xen giữa yếu tố duy vật và yếu tố duy tâm, giữa những

tư tưởng tiến bộ và tư tưởng bảo thủ Học thuyết mang tiếng nói của một bộ phận quý tộc cũ mang tư tưởng nhà Chu và mong muốn khôi phục lại chế độ cai trị, cũng như địa vị nhà Chu lúc bấy giờ Học thuyết của Khổng Tử đã phần nào phản ánh tâm trạng bị giằng xé của ông trước những biến cố lịch sử trước thời cuộc lúc bấy giờ

Thời Xuân Thu được xem là những trường phái triết học hình thành nổi trội và rực rỡ, các trường phái xuất hiện nhằm để bình an, ổn định xã hội Các trường phái triết học đều có chung về mục đích hướng đến, mặc dù vậy, mỗi trường phái triết học có một con đường, cách thức, phương pháp riêng

để đi đến mục đích đó Cụ thể là các trường phái đều có một học thuyết riêng

để tu luyện làm bàn đạp hướng đến mục đích cuối cùng Bên cạnh đó, các trường phái đấu tranh trên nền tư tưởng quyết liệt với nhau, ngoài Nho gia, xuất hiện một trường phái đấu tranh với Nho gia, trường phái này gọi là trường phái Mặc gia, được Mặc Tử sáng lập

Trường phái Mặc gia là trường phái mang tư tưởng phản ánh lợi ích nhân dân lao động, là đại biểu cho những tư tưởng của người tiểu thủ công nghiệp lúc bấy giờ Mặc Tử (480 - 420 Tr.CN), họ là Mặc, tên là Địch, Mặc

Tử là người nước Tống, xuất thân trong một gia đình quý tộc, ông theo học đạo nho tiếp thu học thuyết Khổng Tử, từng làm quan đại phu nhà Tống, nhưng sau này bị giáng xuống làm thợ công, bị gọi là một kẻ hèn hạ Do sự tác động của lịch sử - xã hội, cũng như hoàn cảnh chủ quan dẫn đến tư tưởng Mặc Tử đi ngược lại với tư tưởng Nho gia, Mặc Tử dần dần được tiếp cận với những người dân lao động nhiều hơn, tư tưởng của ông đã phản ánh, thay lời tiếng nói chung cho tầng lớp nhân dân lao động lúc bấy giờ Ông là đại diện cho tầng lớp bình dân khác hẳn với Khổng Tử đại diện cho tầng lớp quý

Trang 34

tộc, những tư tưởng của Nho gia ông đã học hỏi và tiếp thu, nhưng cuối cùng ông không phát triển tư tưởng đã học Theo nhận định của Will Durant về Mặc Tử:

“Mặc Tử là người vị tha, một nhà lý luận thời cổ, có tinh thần Kitô và đả đảo chiến tranh” (Will Durant (Nguyễn Hiến Lê dịch), 2013, trang 95) Trái ngược với Khổng Tử, Mặc Tử cho rằng không hề có thiên mệnh,

chỉ có “thiên chí và minh quỷ” Ông tôn sùng vua Vũ nhà Hạ và đã phá vỡ

tôn ti, trật tự, thứ bậc, nếp sống lễ nghĩa của Nho gia Mặc Tử gọi thiên chí là

ý trời, trời là vị đấng tối cao, trời luôn công bằng, công minh, luôn yêu người hiền và trừng phạt những kẻ ác, trời không phân biệt kẻ hèn - giàu, trên - dưới Để con người thực hiện được ý trời, Mặc Tử đã đề xuất chủ trương kiêm ái, thượng hiền, thượng đồng, thiên chí, minh quỷ, phi công, phi thân, phi mệnh, tiết dụng, tiết táng Mặc Tử cho rằng con người không biết làm theo ý trời, nên dẫn đến xã hội loạn lạc, chiến tranh liên miên Vì thế, ông đã

mở ra một học thuyết “kiêm ái” nhằm để xây dựng một xã hội lý tưởng mới, nên đây không có sự phân biệt kẻ sang - hèn, trên - dưới, giàu lòng vị tha, yêu thương nhau, biết cộng sinh cùng phát triển Bên cạnh đó, ông chủ trương kêu gọi con người nâng cao đạo đức, đả đảo chiến tranh, yêu chuộng hòa bình, mong muốn làm thay đổi được cục diện xã hội lúc bấy giờ

Tư tưởng trường phái Mặc gia mang nhiều giá trị sâu sắc đối với xã hội

đương thời: một là, tư tưởng xóa bỏ sự phân biệt đẳng cấp, lễ nghi hà khắc của Nho gia; hai là, hướng đến một xã hội tương lai tốt đẹp nơi đó có sự yêu thương, hợp tác phát triển, bình đẳng; ba là, chống lại chiến tranh, yêu

chuộng hòa bình Do điều kiện lịch sử quy định nên dẫn đến một số hạn chế nhất định; thêm vào đó, lòng tin vào quỷ thần nên đi vào con đường chủ nghĩa duy tâm trong tư tưởng và mang tính cải lương

Pháp gia là một trường phái triết học lớn nhất trong triết học cổ đại thời Tiên Tần Những đại biểu chủ yếu của Pháp gia chia làm bốn phái: phái

Trang 35

trọng thuật do Quản Trọng (725 - 645 Tr.CN), Lý Khôi (? - 231 Tr.CN), Ngô Khởi (440 - 381 Tr.CN); phái trọng thuật do Thân Bất Hại (395 - 337 Tr.CN); phái trọng pháp và biến pháp do Thương Ưởng (390 - 338 Tr.CN) Sau này, Hàn Phi Tử (280 - 233 Tr.CN) là người thừa kế và phát triển “pháp trị” dựa trên nền tảng “pháp”, “thuật” và “thế” Hàn Phi Tử phát triển học thuyết pháp trị, theo phương pháp này có thể thấy rằng, ông chủ trương khác hẳn với trường phái Nho, Mặc Ông cho rằng các trường phái này chưa tìm ra được sự bất ổn xã hội do đâu và giải quyết vấn đề đạo đức là phương pháp chưa hợp lý

và hiệu quả nhất Tư tưởng pháp trị, cũng được như là nguyên tắc và công cụ điều chỉnh hành vi đạo đức con người và ổn định xã hội Pháp gia như một tiếng nói chung cho tầng lớp quý tộc mới đấu tranh những tàn dư xã hội nhà Chu chế độ tông pháp huyết thống, tư tưởng Pháp gia phê phán mạnh mẽ quan điểm đạo đức và phương pháp trị nước bằng đạo đức, cụ thể là Nho gia Theo Hàn Phi Tử, lịch sử xã hội luôn vận động, biến đổi không ngừng Vì thế, những nhà thống trị phải hiểu được những nhu cầu xã hội, cũng như điều kiện

xã hội một cách khách quan mới có thể ổn định và cai trị đất nước Tư tưởng này thể hiện chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng duy vật, nhưng hạn chế không đứng trên khoa học kỹ thuật để phân tích chỉ nhìn nhận một cách khá phiến diện Lịch sử đã chứng minh học thuyết mang nhiều giá trị đương thời,

cụ thể là Tần Thủy Hoàng (259 - 210 Tr.CN) sau khi ông thống nhất đất nước, ông là người sử dụng học thuyết này đã mang lại nhiều thành tựu và bình an

xã hội khắp trên toàn lãnh thổ Trung Quốc Sau này, do điều kiện kinh tế - xã hội quy định nên học thuyết không còn phù hợp với Trung Quốc lúc bấy giờ, nhưng Tần Thủy Hoàng tuyệt đối hóa không thay đổi và bổ sung phương pháp trị nước dẫn đến đất nước bị khủng hoảng và suy vong

Khác với Nho gia và Mặc gia, Pháp gia, Đạo gia do Lão Tử sống vào khoảng (571 - 471 Tr.CN) sáng lập, ông cho rằng “đạo” là bản nguyên thế giới, là sự hình thành, biến đổi, con đường và chi phối của vạn vật trong vũ

Trang 36

trụ Con đường chuyển hóa là sự liên hệ và tương tác giữa một hoặc nhiều sự vật, hiện tượng này với một hoặc đa số sự vật, hiện tượng khác theo luật quân bình và phản phục Theo quan điểm về thế giới quan, Đạo gia đã phủ nhận quan điểm thượng đế, quỷ thần sáng tạo thế giới Đạo có trước thượng

đế, quỷ thần, trời đất “Đạo vô danh”, đạo không phải là đạo mà chỉ tạm gọi

là “đạo”, nếu đã đặt tên hay áp đặt đạo thì không phải là nó nữa, “đạo tự nhiên” hóa thân thành đạo sống trong cuộc sống của con người là đạo vô vi

Vô vi không phải không làm gì, hoặc không phải bơ đi để sống, vô vi ở đây có nghĩa là sống đúng với bản tính tự nhiên, không thái quá, không bất cập, không can thiệp vào tự nhiên, bảo tồn quy luật tự nhiên, giữ gìn tính tự nhiên của vạn vật Do đó, Đạo gia chủ trương lối sống thuận thiên Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, trị nước theo phương pháp đạo vô vi, không cần thể chế, pháp luật, đạo đức hay kỹ xảo chính trị Bên cạnh đó, Lão Tử chủ trương bất bạo động, phản đối chiến tranh, bạo lực

Lão Tử nói rằng:

“Vi học giả nhật ích,

Vi đạo giả nhật tổn

Tổn chi hữu tổn dĩ chí ư vô vi

Vô vi nhi vô bất vi

Trang 37

Quan điểm của Đạo gia gần giống như hình thức thời kỳ xã hội nguyên thủy, trạng thái đạo đức của một đứa trẻ sơ sinh như tư tưởng đạo đức lý tưởng trong học thuyết của trường phái Đạo gia Trang Tử chủ trương sống hòa thuận với tự nhiên, không phân biệt giữa tốt - xấu, vật - ta, phải - trái, sinh - diệt, giàu - nghèo,…đó cũng chính là hoài mong và nỗi lòng thay lời tiếng nói chung của tầng lớp quý tộc sa sút, lãng quên giữa sự biến đổi sâu sắc của Trung Quốc cổ đại trước thời cuộc lúc bấy giờ

Trước bối cảnh xã hội loạn lạc, tôn ti trật tự bị đảo lộn, lúc này vấn đề cấp thiết cần những tư tưởng học thuyết, nhà tư tưởng ra đời để nhận thức điều chỉnh, ổn định xã hội, giải quyết mối khủng hoảng sâu sắc Với những yêu cầu xã hội đặt ra, trường phái Nho gia, Mặc gia, Pháp gia, Đạo gia xuất hiện để tìm ra con đường mới xã hội thoát khỏi tình trạng loạn lạc, thoái trào đạo đức

Nho gia, Mặc gia, Pháp gia và Đạo gia đều mong muốn xã hội bình ổn, hướng đến tốt đẹp, mỗi trường phái có cách thức, phương pháp khác nhau để

đi đến mục đích đó Dựa vào tính chất và biện pháp các trường phái đề ra, có thể chia làm hai phái: nhập thế (hữu vi), xuất thế (vô vi) Nho, Mặc, Pháp đại diện cho phái hữu vi, Đạo gia đại diện cho phái vô vi Tuy cách thức, phương pháp, cũng như quan điểm tư tưởng khác nhau, đôi lúc trái ngược nhau, mâu thuẫn đấu tranh với nhau, nhưng những trường phái luôn thúc đẩy, đan xen và bổ trợ lẫn nhau tạo thế giới quan cho sự hình thành các nhà triết học ra đời Từ đó, thúc đẩy nhận thức luận trong triết học Trang Tử hình thành, phát triển

1.2.2 Triết học của Lão Tử và Dương Chu

Thời đại Xuân thu - Chiến quốc đến nay đã trải qua khoảng 2500 năm, những tư liệu lúc bấy giờ đến nay cũng đã thất lạc, chỉ còn một số tư liệu, cụ thể là sách ghi chép lịch sử Trung Quốc cổ đại của Tư Mã Thiên Chính vì thế, những nhà nghiên cứu Trung Quốc cổ đại nói chung, các nhà tư tưởng

Trang 38

triết học nói riêng sau này có rất ít nguồn tư liệu khi nhắc đến cuộc đời và sự nghiệp của các nhà triết học thời Tiên Tần Do lịch sử kéo dài và các tư liệu cũng đã thất lạc, điều này đã gây khó khăn cho việc nghiên cứu các nhà tư tưởng triết học cổ đại, cũng như cơ sở hình thành các học thuyết của nhà tư tưởng triết học, trong đó có học thuyết của Trang Tử Tư tưởng triết học của Trang Tử hình thành đã chịu ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp của các học thuyết đương thời từ Nho gia, Mặc gia và Đạo gia, Bên cạnh các học thuyết này, Trang Tử chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đạo gia Đạo gia do Lão

Tử (571 - 471 Tr.CN) sáng lập vào khoảng VI Tr.CN ở thời Xuân Thu Theo

Sử ký Tư Mã Thiên, Lão Tử là người nước Sở, huyện Khổ, làng Lệ, xóm

Khúc Nhân lúc bấy giờ, hiện nay là Lộc Ấp, tỉnh Hà Nam Lão Tử được người Trung Hoa gọi một cách kính trọng là Lão Đam và xem Lão Tử là ông

tổ của Đạo gia Lão Tử sống cùng thời với Khổng Tử Có câu chuyện kể rằng, Khổng Tử được một lần đến chịu kiến Lão Tử, Lão Tử chỉ vài câu đàm đạo với Khổng Tử, sau khi về Khổng Tử hết lời khen Lão Tử và Khổng Tử xem Lão Tử rất kính cẩn

Lão Tử là người đọc rất nhiều sách, trí cao, hiểu rộng, thích đi nhiều nơi, cuộc sống ung dung, tự tại và đặc biệt thích sống ẩn dật Ông từng làm quan sử giữ nhà chứa sách của nhà Chu, toàn bộ nội dung tư tưởng của Lão

Tử được tập trung ngắn gọn trong tác phẩm Đạo Đức Kinh, tác phẩm với nét

bút kỹ xảo, điêu luyện và ít chữ Song, chứa đựng một tri thức khổng lồ mang tầm nhân loại, nếu xem xét dưới góc độ phiến diện siêu hình máy móc rất khó thấu hiểu tinh hoa trong tác phẩm Đạo Đức Kinh, đòi hỏi người nghiên cứu đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Mác - Lênin mới có thể lĩnh hội toàn bộ những tri thức đồ sộ mà

Lão Tử đã để lại cho nhân loại Tác phẩm Đạo Đức Kinh có thể được chia làm vấn đề căn bản: Tư tưởng về “đạo” (bản thể luận), tư tưởng về phép biện

chứng, học thuyết “vô vi” (đạo đức nhân sinh, chính trị - xã hội) Tư tưởng

Trang 39

về “đạo” chiếm vị trí vai trò quan trọng, nó là nền tảng và là trải dài, chi phối, như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ trong học thuyết của ông Với cách trình bày súc tích, cô động bằng những hình ảnh, biểu tượng, ẩn dụ, châm ngôn, tư tưởng triết học của ông mang đầy tính chất biến ảo, huyền diệu, thần kỳ, gợi mở, sâu sắc đạt đến trình độ người biết thì không nói, người nói thì không biết ví như đại ý trong sách Đạo đức kinh như sau:

“Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” (Lão Tử (Vũ Thế Ngọc dịch), 2018, trang 156)

Trang Tử được xem là người kế tục, phát triển học thuyết của Lão Tử lên một đỉnh cao, giữa Lão Tử và Trang Tử phần lớn học thuyết đề cập đến vấn đề đạo đức có nội dung tương đối gần nhau

Quan niệm về đạo, vô vi, sự biến hóa của vạn vật của Trang Tử có nét tương đồng của Lão Tử Mặc dù vậy, giữa Trang Tử và Lão Tử vẫn có nét riêng biệt Ở Lão Tử cho rằng:

“Nhân chi sinh dã nhu nhược kỳ tử,

Dã hằng nhận kiên cường

Vạn vật thảo mộc chi sinh dã dã nhu thúy,

Kỳ tử dã khô cảo

Cố viết kiên cường giả tử chi đồ dã

Nhu nhược vi tế sinh chi đồ dã

Binh cường tắc bất thắng

Mộc cường tắc hằng

Cường đại cư hạ

Nhu nhược vi tế cư thượng” (Lão Tử (Vũ Thế Ngọc dịch), 2018, trang 197)

Dịch Việt ngữ:

“Con người sinh ra mềm yếu, đến chết thì cứng khô Vạn vật thảo mộc sinh ra thì mềm dẻo, đến chết thì khô kiệt Cho nên cứng rắn là con

Trang 40

đường chết, yếu mềm nhỏ bé là con đường sống Vì vậy binh mạnh không thể thắng, cây cứng ắt mạng cùng Mạnh lớn ở dưới, mềm yếu nhỏ bé ở trên” (Lão Tử (Vũ Thế Ngọc dịch), 2018, trang 197 - 198) Lão Tử chỉ ra con đường cho con người để tránh khỏi đồ nát mòn gãy:

“Thực nhi doanh chi, bất dược kỳ dĩ

Đoán nhi duẫn chi, bất khả trường bảo dã

Kim ngọc doanh thất, mạc chi năng thủ dã

Quý phú nhi kiêu, tự di cữu dã

Công toại thân thoái, thiên chi đạo dã” (Lão Tử (Vũ Thế Ngọc dịch),

2018, trang 56)

Dịch Việt ngữ:

“Cố giữ cho đầy chậu chẳng bằng ngừng đúng lúc Mài cho thật sắc cũng không thể sắc mãi được Vàng ngọc đày nhà há được giữ lâu dài Giàu sang thì kêu ngạo, chỉ tự hại mình mà thôi Xong việc thì rút lui đó

là Thiên đạo” (Lão Tử (Vũ Thế Ngọc dịch), 2018, trang 56)

Đối với Trang Tử lại chú trương “vô chung thủy, ngoại tử sinh” tức là,

ở chỗ nào Lão Tử thắc mắc, chăm chú và cố gắng lý giải thì Trang Tử lại nhìn nhận dưới góc độ thản nhiên, lạnh lùng và không đáng kể nhắc đến Dấu ấn khác biệt của Lão Tử và Trang Tử khi quan niệm giữa “vật và ngã”, “sinh và tử”, “trước và sau”, “trên và dưới”, “cứng và mềm”, “trống và mái”,… Lão Tử chủ trương quý mềm, mái, còn riêng Trang Tử chủ trương

“huyền đồng vật ngã”, tức là hòa hợp giữa người - vật

Quan niệm giữa các mặt đối lập và mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ của Lão Tử cho rằng chúng đều được bao hàm những yếu tố mang tính tương phản Tương phản được xem là cơ sở của sự tồn tại, vận động, biến đổi của sự vật trong vũ trụ Có và không, dễ và khó, ngắn và dài, trước và sau,…chúng tương trợ cùng nhau, nương tựa vào nhau để làm tiền đề cho nhau nhằm tồn tại Theo Lão Tử, muôn vật trong vũ trụ đều

Ngày đăng: 09/08/2021, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C. Scott Littleton. (2009). Trí tuệ phương Đông. Hà Nội: Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ phương Đông
Tác giả: C. Scott Littleton
Năm: 2009
2. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1995). Toàn tập. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Năm: 1995
3. Cao Xuân Huy (Nguyễn Huệ Chi soạn, chú, giới thiệu). (1994). Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu. Hà Nội: Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu
Tác giả: Cao Xuân Huy (Nguyễn Huệ Chi soạn, chú, giới thiệu)
Năm: 1994
4. Cung Kim Tiến. (2001). Từ điển triết học. Hà Nội: Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học
Tác giả: Cung Kim Tiến
Năm: 2001
5. Đại học Sư phạm Hà Nội - Trung tâm Trung Quốc học. (2000). Đạo gia và văn hóa. Hà Nội: Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo gia và văn hóa
Tác giả: Đại học Sư phạm Hà Nội - Trung tâm Trung Quốc học
Năm: 2000
6. Đàm Gia Kiện . (1993). Lịch sử văn hóa Trung Quốc. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Đàm Gia Kiện
Năm: 1993
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1987). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1987
8. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1991). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội. Hà Nội : Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1993). Văn kiện Hội nghị Trung ương 4 khóa VII. Hà Nội: Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương 4 khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
10. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
11. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
12. David E. Cooper (Lưu Văn Hy dịch). (2010). Các trường phái triết học trên thế giới. Hà Nội: Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường phái triết học trên thế giới
Tác giả: David E. Cooper (Lưu Văn Hy dịch)
Năm: 2010
13. Đỗ Minh Hợp. (2003). Triết học đại cương. Hà Nội: Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học đại cương
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Năm: 2003
14. Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Kim Lai. (2006). Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay
Tác giả: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Kim Lai
Năm: 2006
15. Doãn Chính. (2002). Tuyển tập triết học Trung Quốc cổ đại. Hồ Chí Minh: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập triết học Trung Quốc cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2002
16. Doãn Chính. (2004). Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2004
17. Doãn Chính. (2009). Từ điển triết học Trung Quốc. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2009
18. Doãn Chính. (2015). Lịch sử triết học phương Đông. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Đông
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2015
19. Đường Đắc Dương, Tạ Duy Hòa (Nguyễn Thị Thu Hiền dịch). (2003). Cội nguồn văn hóa Trung Hoa. Hà Nội: Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn văn hóa Trung Hoa
Tác giả: Đường Đắc Dương, Tạ Duy Hòa (Nguyễn Thị Thu Hiền dịch)
Năm: 2003
20. Dương Duy Cần . (2015). Lão Tử - Đạo Đức Kinh. Hồ Chí Minh: Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão Tử - Đạo Đức Kinh
Tác giả: Dương Duy Cần
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w