1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân lý luận và thực tiễn

87 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Nhận thức lý luận về trách nhiệm hình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Xuất phát

từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu Các số liệu, kết quả, trích dẫn nêu trong Luận văn Thạc sĩ có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và trung thực trong quá trình thu thập nghiên cứu và xin cam đoan Luận văn này chưa từng được ai công bố trước đây

Tác giả

Dương Văn Vũ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU………

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN TRONG LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.1 Nhận thức lý luận về trách nhiệm hình sự

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự

1.1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự

1.2 Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới

1.2.1 Nhận thức về pháp nhân trong pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới

1.2.2 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM PHÁP NHÂN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1 Quan điểm, chủ trưởng của Nhà nước và một số nhà khoa học về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

2.2 Cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân

2.2.1 Nhận diện ý tưởng khoa học pháp lý

2.2.2 Các vụ án môi trường, kinh tế - Cơ sở thực tiễn để nghiên cứu ở Việt Nam

2.2.3 Kiến nghị nhằm hoàn thiện Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

KẾT LUẬN………

Trang

1

5

5

5

14

17

17

27

42

42

48

48

55

70

75

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng là những công cụ chủ yếu mà Nhà nước dùng để đấu tranh phòng, chống tội phạm Bằng việc xác định những hành vi nào nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt đối với những người thực hiện hành vi nguy hiểm ấy, pháp luật hình

sự là cơ sở pháp lý thống nhất cho các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt người phạm tội và không làm oan người vô tội Thông qua đó, Nhà nước bắt buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi nguy hiểm cho xã hội - hành vi phạm tội do chính bản thân họ trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện Vậy trách nhiệm hình sự là gì ?

Trách nhiệm hình sự là một trong những thuật ngữ, chế định lớn và chủ yếu của luật hình sự, có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ trật tự pháp luật và pháp chế, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội và của công dân Trách nhiệm hình sự chỉ đơn giản là trách nhiệm của người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình Ngoài trách nhiệm hình sự của thể nhân được pháp luật hình sự các nước thừa nhận và áp dụng, khi xét đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân - đây là vấn đề đã và đang gây nhiều tranh luận trong giới khoa học hình sự từ thời La Mã cổ đại cho tới ngày nay Những tranh luận này về mặt lý luận và thực tiễn đã được các nước theo hệ thống pháp luật

“Common Law - Thông luật” điển hình nước Anh, Hoa Kỳ (Mỹ), Ôxtrâylia (Úc) vượt qua và chấp nhận từ rất sớm, chế định này tiếp tục được thiết lập phát triển hoàn thiện trở thành nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự không chỉ của những nước nói trên mà cả nhiều nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á điển hình nước Pháp, Canada, Trung Quốc, Singapore (Xingapo) Song do cơ sở lý luận và cách thức thừa nhận, cách thiết lập nguyên tắc trách nhiệm hình sự của pháp nhân ở mỗi nước có hệ thống chính trị khác nhau cũng có những sự khác nhau Ở Việt Nam, trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với thể nhân, còn pháp nhân là vấn đề mới đang được thực tiễn và khoa học pháp lý của nước ta

Trang 6

nghiên cứu, nên chúng ta không thể khẳng định việc quy định vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam là tất yếu nếu những khẳng định đó chưa được làm sáng tỏ bởi những luận điểm khoa học Luật hình sự Việt Nam có nhiệm vụ xác định những hành vi nguy hiểm cho

xã hội bị coi là tội phạm, đồng thời quy định hình phạt cũng như các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với những tội phạm này Để đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng của luật hình sự với đòi hỏi bất kể ai đã phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật và theo quy định của pháp luật bất cứ hành vi vi phạm pháp luật do chủ thể nào thực hiện nếu đã mang tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội của hành vi đều phải được quy định là tội phạm

và chủ thể đã thực hiện hành vi đó phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi của trách nhiệm hình sự

Từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam cũng như tác động của xu thế hội nhập quốc tế và những phân tích nêu trên, việc đầu tư nghiên cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề hết sức cấp thiết cả trên bình diện lý luận

và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm Đó chính là lý do tác giả lựa

chọn đề tài “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân - Lý luận và thực tiễn”

làm luận văn thạc sĩ luật học

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

So với thế giới, trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một vấn đề mang ý nghĩa lớn cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, là một vấn đề khá mới mẻ đối với luật hình sự Việt Nam Vấn đề này vẫn chưa có một tài liệu chuyên khảo nào nghiên cứu, mà chỉ dừng lại những bài viết trên các loại tạp chí, việc nghiên cứu tham khảo nội dung pháp luật của các nước và chỉ khai thác được một vài khía cạnh về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, về ô nhiễm môi trường, về trốn thuế, và về tội phạm môi trường, kinh tế đã có một vài công trình đề cập Trước hết, tác giả Trần Thuý Kiều nghiên cứu đề tài ở bình diện hẹp, cơ bản là khái quát một “bức tranh” về trách nhiệm hình sự của pháp nhân và tập trung lý giải sự cần thiết và tính hợp lý của vấn đề này đối với thực trạng ở Việt Nam; đến tác giả ThS Hoàng Thị Tuệ Phương “bức tranh” này được mở rộng ra, nhưng nhìn chung chỉ tập trung phân tích và luận giải những vấn đề

Trang 7

mang tính thực tiễn pháp luật hình sự của các nước trên thế giới quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, soi rọi những vấn đề lý luận và thực tiễn của luật hình sự thế giới và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam chứ chưa hình thành nên quy chuẩn, cũng như chưa đánh giá được thực trạng

vi phạm pháp luật do pháp nhân gây ra trong tình hình hiện nay Do vậy, việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu là hết sức cần thiết

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới và quan điểm của Nhà nước ta cũng như các nhà khoa học trong nước, luận văn đưa ra những luận cứ khoa học quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung

cơ bản sau:

- Nghiên cứu khái lược sự hình thành và phát triển các khái niệm liên quan đến trách nhiệm hình sự pháp nhân để có sự nhận thức đúng đắn về vấn

đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân

- Phân tích thực trạng và sự cần thiết của pháp luật hình sự Việt Nam phải quy định vấn đề trách nhiệm của pháp nhân

- Tham chiếu lý luận và thực tiễn pháp lý về trách nhiệm hình sự của pháp luật ở một số nước trên thế giới để xem xét, đánh giá, so sánh, đồng thời

đề ra những luận điểm khoa học về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam

4 Giới hạn phạm vi và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu trên các phạm vi cơ bản sau đây:

- Xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong mối tương quan với trách nhiệm hình sự của cá nhân mang tính chất truyền thống trên nền tảng các quan niệm của luật hình sự Việt Nam

- Xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân dưới góc so sánh luật hình

sự một số nước trên thế giới

Trang 8

- Đồng thời, khảo sát thực tiễn các vụ án kinh tế, môi trường điển hình từ năm 2002 đến nay

4.2 Phương pháp nghiên cứu

biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -

Lê nin về Nhà nước và pháp luật, từ đó cho phép tác giả nhận thức rõ hơn bản chất của vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân và những đòi hỏi từ thực tiễn đối với vấn đề này - điểm mấu chốt để xây dựng những lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phương pháp lịch sử, thống kê để nghiên cứu đề tài

5 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn này mang ý nghĩa lớn trên một số phương diện Về lý luận, đề tài đã nghiên cứu những lý luận về trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam và các học thuyết về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trên thế giới nhằm đưa ra những đề xuất, những điều chỉnh về mặt lý luận liên quan đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân Trên cơ sở những phân tích về đòi hỏi của thực tiễn và những vướng mắc của pháp luật hình sự Việt Nam khi quy định trách nhiệm hình sự cho pháp nhân, những đề xuất của đề tài đã đặt nền tảng cho sự nhận thức đúng đắn về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, góp phần định hướng cho việc quy định hợp lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự Việt Nam

6 Cơ cấu của luận văn

Cơ cấu của luận văn được quyết định bởi mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh sách các tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục gồm hai chương sau:

- Chương 1 Nhận thức lý luận về trách nhiệm hình sự và vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

- Chương 2 Cơ sở quy định trách nhiệm pháp nhân trong luật hình sự Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ VẤN ĐỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN TRONG PHÁP LUẬT

HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Nhận thức lý luận về trách nhiệm hình sự

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự

1.1.1.1 Định nghĩa trách nhiệm hình sự

Trên cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn đời sống xã hội, thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu theo nghĩa chung nhất là nhiệm vụ phải gánh vác về phần mình, sự chịu kết quả về công việc của mình trước ai1; là hậu quả bất lợi của một người đã thực hiện hành vi vi phạm bổn phận, nghĩa vụ phải gánh chịu trước người khác, trước Nhà nước hay trước xã hội2

Còn thuật ngữ “hình sự” hình sự là việc thuộc phạm vi luật hình3

Trách nhiệm hình sự là một thuật ngữ của khoa học luật hình sự tồn tại song song với các khái niệm tội phạm và hình phạt, đóng vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng chống tội phạm, vì là cơ sở pháp lý để nhận thức, xây dựng nội hàm các khái niệm, là một dạng của trách nhiệm pháp lý chứa đựng tính nghiêm khắc nhất so với các loại dạng trách nhiệm Khi nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự, thấy giữa các nhà khoa học vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về trách nhiệm hình sự

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích4 Trong hệ thống khoa học pháp luật của Liên Xô (trước đây), được PGS.TSKH Lê Văn Cảm trích dẫn rằng trách nhiệm hình sự là một giai đoạn nhất định của việc thực hiện các quyền và các nghĩa vụ bởi các chủ thể của

1

Nguyễn Lân (2000), Từ điển: Từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr 1870

2 Trịnh Tiến Việt (2010), Sách chuyên khảo: Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 40

3 Nguyễn Lân (2000), Từ điển: Từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr 835

4 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Phần Luật hình sự, Luật

Tố tụng hình sự), NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 126

Trang 10

quan hệ pháp luật hình sự khi mà người phạm tội bị cưỡng chế đối với việc phải chịu những sự tước bỏ nhất định 5

Trong quá trình nghiên cứu khoa học luật hình sự một số nước khác, TS Trịnh Tiến Việt ghi nhận trích dẫn, về cơ bản thuật ngữ trách nhiệm hình sự

đó là sự phản ứng hay sự lên án của Nhà nước hay xã hội đối với người thực hiện hành vi phạm tội và thể hiện ở bản án mà trong đó họ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tước bỏ hoặc hạn chế các quyền hay lợi ích nhất định 6

Ở Việt Nam, sau một thời gian dài nghiên cứu, cuối cùng các nhà khoa học và các luật gia luật hình sự nước ta đã ghi nhận thuật ngữ trách nhiệm hình sự trên nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau trong khoa học luật hình

sự, nào là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định7

; nào là việc thực hiện chế tài pháp lý hình

sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội8 Song suy cho cùng, các nhà khoa học hình sự đều thống nhất về nội hàm của thuật ngữ trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định 9

Mặc dù có nhiều cách khác nhau nhận thức về trách nhiệm hình sự, nhưng so dưới chế định tội phạm và hình phạt, thì các quan điểm nêu trên có nội hàm hẹp hơn, chưa đảm bảo được tính thống nhất vừa là cái “nội hàm” vừa là cái “ngoại biên” điều chỉnh cả chế định tội phạm và hình phạt, là chế định mang tính mắc xích xuyên suốt của khoa học luật hình sự, hễ mà tội

5 Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr 605; Trịnh Tiến Việt (2010), Sách chuyên khảo: Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 42

6 Trịnh Tiến Việt (2010), Sách chuyên khảo: Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nộ, tr 43

7

Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr 609

8 Trịnh Tiến Việt (2010), Sách chuyên khảo: Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 45

9 Trịnh Tiến Việt (2010), Sách chuyên khảo: Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 44

Trang 11

phạm xuất hiện, hình phạt được áp dụng, đồng thời cũng có mặt của trách nhiệm hình sự và giữa chúng đều có chung bản chất

Từ những nhận thức trên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, tác giả

nghiên cứu cho rằng: Trách nhiệm hình sự có thể được hiểu tổng quát đó là một dạng, một bộ phận của trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định đối với người phạm tội theo một trình tự, thủ tục nhất định

1.1.1.2 Các đặc điểm của trách nhiệm hình sự

Xuất phát từ nội hàm, ngoại biên trong định nghĩa trên, thì trách nhiệm hình sự có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự là một bộ phận, một dạng của trách nhiệm

pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác, là

hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm Bản chất xã hội và pháp lý của

tội phạm luôn gắn liền với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật Trong thực tế khách quan nếu không có việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc nếu thực hiện những nghĩa vụ theo yêu cầu pháp luật hình sự, thì hậu quả pháp lý sẽ không xảy ra Hậu quả pháp lý của trách nhiệm hình sự chỉ xuất hiện khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội mà pháp luật hình sự coi là tội phạm Ngược lại, không phải bất kỳ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội cũng bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự Cũng có những hành vi về mặt khách quan rất nguy hiểm, đe dọa xâm hại những quan hệ xã hội nhưng vì trường hợp được loại trừ tính chất phạm tội, nên kéo theo hệ quả được loại trừ trách nhiệm hình sự, hoặc và thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự khi người bị pháp luật hình sự coi là tội phạm có một hoặc một số căn cứ nhất định Mặt khác, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự là chỉ xử lý những vi phạm pháp luật trong những lĩnh vực phi hình sự hoặc những trường hợp được loại trừ, hoặc miễn trách nhiệm hình sự Nhưng tính nghiêm khắc của nó không bằng so với lĩnh vực hình sự, nên trách nhiệm hình sự chính là

Trang 12

bộ phận, một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất trong bất kỳ các dạng của trách nhiệm pháp lý khác

Thứ hai, trách nhiệm hình sự được xác lập thông qua chức năng hoạt

động và quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng bằng một trình tự thủ tục đặc biệt do pháp luật hình sự quy định Cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là cơ quan đại diện quyền lực của Nhà nước thực hiện các hoạt động, chức năng nhằm đấu tranh chống tội phạm, giáo dục răn đe những kẻ đã và có ý định phạm tội Không bất kỳ một trong những cơ quan trong nước và ngoài nước nào được phép quy kết trách nhiệm hình sự cho một công dân Việc áp dụng thẩm quyền trên không đặt ra một cách tuỳ tiện, luôn tuân thủ theo một trình tự đặc biệt do pháp luật

tố tụng hình sự quy định và chỉ đặt ra khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm xâm hại, đe dọa các quan hệ xã hội do Nhà nước bảo vệ, pháp luật quy định - coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm

Thứ ba, trách nhiệm hình sự luôn được thực hiện trong phạm vi của quan

hệ pháp luật hình sự và tố tụng hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt do giai cấp thống trị tổ chức ra

và sử dụng để thực hiện sự thống trị đối với xã hội trên các lĩnh vực như kinh

tế, chính trị và tư tưởng Nhằm “ Thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội, chống các biểu hiện dân chủ cực đoan Thực hiện chuyên chính đối với những phần

tử có hành vi phản bội Tổ quốc, phá hoại an ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích nhân dân ”10, nên Nhà nước đã ban hành ra pháp luật nhằm giữ vững trật tự,

kỷ cương, trấn áp, ngăn ngừa và phòng chống tội phạm Điều này rõ hơn với nhận định: “Nhà nước, mà đại diện cho nó là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền có quyền xử lý người phạm tội, nhưng phải có nghĩa vụ chỉ được

xử lý dựa trên các căn cứ và trong các giới hạn do pháp luật quy định”11 Nghĩa là, trách nhiệm hình sự không được xác lập bởi chủ thể - người bị tội phạm xâm hại mà là chính bản thân Nhà nước xác lập Trong quá trình xác

10 Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 57-58

11 Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr 611

Trang 13

định trách nhiệm hình sự, cơ quan nhân danh nhà nước có thẩm quyền sử dụng nguyên tắc nhân đạo làm lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội, không cần đo lường giữa lợi ích dành cho người phạm tội với lợi ích của người bị tội phạm xâm hại Việc thực hiện nhân đạo này không thoát ra tầm kiểm soát của nguyên tắc pháp chế Cơ quan tư pháp hình sự phải thực hiện nghĩa vụ tiến hành tố tụng trong khuôn khổ căn cứ do pháp luật hình sự quy định tương xứng với hành vi nguy hiểm của tội phạm Người phạm tội được quyền yêu cầu sự tuân thủ từ phía Nhà nước luôn đảm bảo tất cả các quyền và lợi ích hợp pháp mà Hiến pháp quy định, đồng thời họ thực hiện nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền tự do nhất định Tuy nhiên cũng có trường hợp chủ thể bị xâm hại cũng có quyền yêu cầu, đề nghị đối với cơ quan tư pháp hình sự để làm thay đổi trách nhiệm hình sự - khởi tố theo yêu cầu của người bị hại Nói cách khác, quyền của Nhà nước chính là nghĩa vụ của người phạm tội và nghĩa vụ của nhà nước chính là quyền của người phạm tội mà Nhà nước phải nhất nhất tuân thủ

Thứ tư, trách nhiệm hình sự chỉ mang tính chất cá nhân và chỉ được áp

dụng đối với bản thân người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà

Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm Trong giai đoạn hiện nay, căn cứ vào

sự phát triển của các quan hệ xã hội và các điều kiện cụ thể tương ứng về kinh

tế, xã hội, chính trị pháp lý, văn hoá lịch sử, nhà làm luật nước ta mới chỉ quy định đối với riêng bản thân người phạm tội là cá nhân, mà chưa quy định đối với pháp nhân (cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, đơn vị kinh tế đã có lỗi gián tiếp cho người đại diện thực hiện tội phạm vì lợi ích, lợi nhuận cho pháp nhân) là chủ thể của tội phạm như pháp luật hình sự một số nước trên thế giới theo hệ thống pháp luật Thông luật, châu Âu lục địa và Xã hội Chủ nghĩa hiện đại như các nước Anh, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Singapore Do đó, khi nói đến trách nhiệm hình sự, không thể không khẳng định sự có mặt mang tính hiến định và pháp định của các quy phạm pháp luật và các chế định được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự và trong Bộ luật Hình sự Xuất phát

từ bản chất là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, việc bị áp dụng trách nhiệm hình sự sẽ hạn chế hoặc dần tước bỏ những quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 14

người phạm tội Việc áp dụng trách nhiệm hình sự một cách chính xác, thật sự tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là một đòi hỏi bắt buộc Sự chặt chẽ này đảm bảo cho hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự được tiến hành một cách khách quan, trung thực từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử cho đến thi hành án, đồng thời giúp tránh những trường hợp bỏ lọt hành vi phạm tội, hoặc làm oan sai, hoặc lạm quyền, tuỳ tiện từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng

Thứ năm, trách nhiệm hình sự được thể hiện rõ ràng trong bản án của

Toà án đã có hiệu lực pháp luật bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định trên

cơ sở tính chất công Đoạn 1 Điều 72 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”; Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật” Từ quy định này, nên người phạm tội chỉ được coi là có tội khi có bản án kết tội của Tòa án thông qua quá trình xét xử - tuyên án tại phiên tòa và chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền làm việc này Các

cơ quan khác như cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không có quyền này mà chỉ

có quyền điều tra và truy tố theo luật định Do đó, trước khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật, nếu có đơn kháng cáo của người phạm tội hoặc của công dân hoặc các văn bản kháng nghị của cơ quan bảo vệ pháp luật được ban hành trước trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự trước khi công dân đó chính thức bị coi là người có tội, thì công dân đó chưa được xem là có tội và phải chịu hình phạt Giai đoạn này chỉ là các văn bản áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hoạt động tố tụng trước khi tiến đến trách nhiệm hình sự sau này, chứ chưa phải là các văn bản mà trong đó trách nhiệm hình sự sẽ được thực hiện Trách nhiệm hình sự chỉ được chính thức thực hiện khi bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và trách nhiệm hình sự được thực hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Bộ luật Hình sự quy định -

có thể là hình phạt, hoặc và biện pháp tư pháp Mặt khác, nếu việc quy kết

Trang 15

trách nhiệm hình sự mà Nhà nước không quản lý, không có sự gàn buộc trách nhiệm, thì dẫn đến những giáo điều, quy kết tràn lan theo ý chí chủ quan, hoặc chỉ theo hành vi khách quan mà không tuân thủ luật định Vấn đề này được thể hiện rất đúng với nhận định “…nếu chỉ biết hành vi mà không thừa nhận các yếu tố khác về mặt chủ quan, thì sẽ rơi vào hình thức chủ nghĩa, quy kết trách nhiệm tràn lan Nhưng nếu chỉ vì yếu tố chủ quan mà truy cứu trách nhiệm hình sự, thì sẽ phạm vào đàn áp tư tưởng…”12

Trách nhiệm hình sự chính là loại trách nhiệm pháp lý có mức độ nghiêm khắc nhất định thể hiện trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình

sự để xử lý tội phạm và phải tuân thủ hiến định Việc áp dụng các loại trách nhiệm pháp lý khác ngoài chế tài hình sự để xử lý những hành vi nguy hiểm xâm hại các quan hệ xã hội, trong trường hợp này sẽ không đảm bảo tính nghiêm khắc răn đe, giáo dục của hình phạt và ý thức tôn trọng pháp luật đối với người phạm tội, trái lại còn kéo theo hệ lụy người phạm tội coi thường pháp luật và sẵn sàn tiếp tục tái phạm Do vậy, để đạt được những mục đích tuân thủ pháp luật và ngăn ngừa người vi phạm không tái phạm nữa, đòi hỏi mức độ trách nhiệm pháp lý được áp dụng phải tương xứng với mức độ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội trong hành vi nguy hiểm mà người này đã thực hiện Chỉ có như vậy mới đảm bảo được tính công bằng trong xử lý, tính pháp chế và nhân đạo trong xác lập trách nhiệm hình sự

1.1.1.3 Hình thức của trách nhiệm hình sự

Ngoài bản chất của trách nhiệm hình sự là việc Nhà nước buộc người phạm tội phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do đã thực hiện hành vi phạm tội mà pháp luật hình sự cấm đoán nhằm giáo dục, cải tạo, ngăn ngừa họ phạm tội mới, thì trách nhiệm hình sự còn được thể hiện thông qua hình thức khác, đó là hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích

Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà

nước Tuy nhiên, bên cạnh hình phạt thể hiện tính nghiêm khắc thông qua việc tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền và lợi ích của người phạm tội hoặc

12 Trịnh Tiến Việt (2010), Sách chuyên khảo: Chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 50

Trang 16

người bị kết án như tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình, thì tính nghiêm khắc của nó còn được biểu hiện ở mức độ cưỡng chế cao hơn tất cả các chế tài pháp lý khác Điển hình là hình thức phạt tiền, khi nhìn từ góc độ chế tài hành chính, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2004, mức phạt tiền áp dụng tối thiểu là năm nghìn đồng và tối đa là năm trăm triệu đồng Và cũng trường hợp này, nếu xét trên góc độ hình sự, khoản 3 Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999, mức phạt tiền này được quyết định tùy tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không thấp hơn một triệu đồng, tức là hình thức phạt tiền phải có mức tối thiểu thấp nhất là một triệu đồng và không giới hạn mức tối

đa Nhưng suy cho cùng hình phạt không phải là hình thức biểu hiện duy nhất của trách nhiệm hình sự, vì bên cạnh hình phạt, còn được thể hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế hình sự khác, đó là biện pháp tư pháp và án tích

Thứ hai, các biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được Bộ luật

hình sự quy định do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt13, hoặc là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt

do pháp luật hình sự quy định và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt14 Theo đó, theo quy định tại các Điều 41, 42, 43, 44, 70 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, các biện pháp tư pháp bao gồm tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh; giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng

Cùng với hình phạt, các biện pháp tư pháp cũng là chế định quan trọng của pháp luật hình sự, chỉ xuất hiện khi có cơ sở nhất định, thể hiện chính

13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,

Hà Nội, tr 194

14 Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr 679

Trang 17

sách hình sự của nhà nước Song khác với hình phạt, thì các biện pháp tư pháp tùy trường hợp cụ thể mà cả Tòa án và cơ quan tư pháp hình sự khác, hoặc chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội Đồng thời là biện pháp tư pháp đóng vai trò “hỗ trợ hình phạt” trong những trường hợp cần thiết phải xử lý cơ bản toàn diện người phạm tội về hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, đảm bảo tính công minh của pháp luật, và đồng thời loại bỏ những điều kiện phạm tội, mang lại sự bình yên, đảm bảo trật tự an toàn xã hội - có thể do cơ quan tư pháp hình sự khác có thẩm quyền áp dụng đối với người phạm tội nói chung và cả người bị kết án Và với bản chất là “thay thế hình phạt”15 để loại bỏ nguyên nhân điều kiện dẫn đến hành vi nguy hiểm cho xã hội - do Tòa án áp dụng đối với người

bị kết án nói riêng

Thứ ba, án tích là bộ phận của hình thức trách nhiệm hình sự có kèm

theo việc quyết định hình phạt, là một tình trạng pháp lý bất lợi về hình sự đối với người phạm tội thể hiện ở sự ảnh hưởng của nó đến việc đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi được coi là tội phạm trong thời gian người đó mang án tích, là điều kiện để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm nếu họ phạm tội mới và chỉ kết thúc khi người phạm tội được xoá án tích theo quy định pháp luật hình sự, bởi vì “xóa án tích là việc chấm dứt trách nhiệm hình sự của người bị kết án do người đó được xóa theo các quy định của pháp luật hình sự trên cơ sở có sự xem xét và có quyết định riêng của Tòa án công nhận là chưa bị án tích”16 Vì vậy, khi nói đến hình phạt, biện pháp tư pháp, thì chúng ta không thể không thừa nhận án tích, và khi nói đến án tích, chúng

ta phải hiểu rõ ràng án tích, hết án tích và xóa án tích như thế nào để giải quyết vụ việc một cách đúng đắn, góp phần đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của công dân, người phạm tội trên tinh thần cải cách tư pháp Là vì, việc quy định án tích có tác dụng khuyến khích người đã bị kết án tuân thủ pháp luật để

15

Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr 680; Trường đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 196

16 Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr 831

Trang 18

thực sự trở thành người có ích cho xã hội và là chế định mang tính nhân đạo của luật hình sự

1.1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Ở phần trên chúng ta đã tìm hiểu về trách nhiệm hình sự, những hình thức của nó, nhưng để có cái nhìn đầy đủ, sâu sắc, lý giải vấn đề tại sao một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chịu trách nhiệm hình

sự và dựa vào đâu cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quyền xử lý đối với

họ, thì cơ sở của trách nhiệm hình sự là vấn đề được cân nhắc nhất, bao gồm

cơ sở triết học và cơ sở pháp lý

1.1.2.1 Cơ sở triết học của trách nhiệm hình sự

Để trả lời cho câu hỏi: Trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc con người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của họ ?17, khoa học luật hình sự đã dựa vào mối quan hệ biện chứng giữa tự do và trách nhiệm

Theo triết học Mác - Lê nin, tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là giới tự nhiên Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người, vì con người là một bộ phận của tự nhiên, là kết quả của quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài của môi trường tự nhiên Bất kỳ quan hệ nào mà con người là thành viên, thì đó là chất liệu hình thành nên bản chất của con người, đồng thời con người luôn đảm bảo mối quan hệ giữa tự nhiên, xã hội và với chính bản thân mình Không có giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội, thì không tồn tại con người, bởi vì con người

là sản phẩm của lịch sử Song điều quan trọng hơn cả là con người luôn luôn

là chủ thể của lịch sử, xã hội; thông qua hoạt động thực tiễn con người tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của xã hội và lịch sử Con người khác với con vật ở chỗ biết cải tạo xã hội, làm ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình, biết tư duy, ngôn ngữ

và xác lập quan hệ xã hội Tuy nhiên, những hoạt động tư duy của con người được thực hiện thông qua thúc đẩy thực hiện hành vi trên cơ sở tổng hợp những yếu tố khách quan bên ngoài và sự tự do bên trong Theo John Locke,

17 Trường đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà

Nội, tr 102

Trang 19

“mục đích của luật pháp không phải là loại bỏ và hạn chế tự do, mà là bảo vệ

và phát triển tự do” Và Montesquieu cũng khẳng định, “tự do chính trị tuyệt đối không phải là muốn làm gì thì làm Trong một nước có pháp luật, tự do chỉ có thể là được làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điều không nên làm Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà luật cho phép Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh ta không còn được tự do nữa, vì nếu anh ta được tự do làm thì mọi người đều được làm trái luật cả”18

Con người được tự do lựa chọn, tự do quyết định và tự do thực hiện những gì mình muốn Sự tự do của con người được pháp luật cho phép phát triển và bảo vệ, không hạn chế hay kìm hãm Con người sống trong xã hội cần phải biết lựa chọn những cách thức xử sự phù hợp với quy định của pháp luật và nghiêm chỉnh thực hiện đúng những đòi hỏi của xã hội Nếu như hành vi xử sự trái với pháp luật và chiều hướng phát triển của xã hội, xâm phạm đến các lợi ích được pháp luật bảo vệ trong khi họ có đủ điều kiện cả về khách quan lẫn chủ quan và thời gian lựa chọn để thực hiện hành vi đó, thì sự tự do ấy không được pháp luật chấp nhận, phải bị trừng trị bằng sự áp đặt trách nhiệm hình sự

từ phía xã hội mà đại diện là Nhà nước Vấn đề này càng rõ hơn khi đến với nhận định, “tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho con người khi họ có tự do”19

Mặt khác, khi bàn đến trách nhiệm hình sự, mức độ, sự tự do, không thể không bàn đến tính “cường độ” của nó Xét trên phương diện đại số, nếu sự tự

do vượt quá phạm vi khuôn khổ kiểm soát dẫn đến thiệt hại càng lớn, thì cường độ và trách nhiệm hình sự đối với con người càng cao Ngược lại, trách nhiệm sẽ không được đặt ra nếu như xử sự của con người không có tự do hoặc

tự do không đầy đủ Nói cách khác, cường độ trách nhiệm tỷ lệ thuận và tùy thuộc vào mức độ tự do và trách nhiệm chỉ đặt ra cho con người có lỗi khi con người có những xử sự trái với lợi ích của nhà nước và cộng đồng xã hội trong lúc họ có tự do Và trách nhiệm hình sự là một loại, một dạng, hoặc một bộ

Trang 20

phận của trách nhiệm pháp lý cũng chỉ được đặt ra khi có sự tự do của con người Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi và phải gánh chịu trách nhiệm hình sự, nếu kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong hành vi khi họ có đầy đủ điều kiện khách quan mà gây thiệt hại cho xã hội và

họ đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi khách quan đó Và bản chất nội dung của lỗi trong pháp luật hình sự đó là sự phủ định chủ quan những đòi hỏi của

xã hội được thể hiện qua các đòi hỏi cụ thể của luật hình sự Sự phủ định chủ quan đó được thể hiện ở sự tự do lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự khách quan gây thiệt hại cho xã hội và trái pháp luật hình sự Trong khi đó, chủ thể này có nhiều lựa chọn khả năng xử sự sao cho phù hợp với lợi ích của

xã hội, hoặc là khả năng xử sự gây thiệt hại cho xã hội Nếu chủ thể lựa chọn cách thức xử sự gây thiệt hại cho xã hội biểu hiện sự chủ động xem thường những lợi ích của xã hội, họ phải chịu trách nhiệm hình sự

1.1.2.2 Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự

Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự là những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được ghi nhận trong luật hình sự có tính bắt buộc chung, mà thông qua đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải dựa vào để buộc con người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình Cơ sở để coi một người có phải là tội phạm hay không và có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, thể hiện ở hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật coi là tội phạm và quy định trong Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, để kết luận hành vi đã được thực hiện của người nào đó có phải là tội phạm hay không và tội đó là tội gì, hình phạt áp dụng đối với họ ra sao, cần phải xác định hành vi đó đã thoả mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể chưa ? Nếu thoả mãn tức là người ấy đã thực hiện tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự và người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự (hình phạt), nên “cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự, là điều kiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự Việc tuyên bố người nào đó là phạm tội và buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể dựa trên cơ sở pháp lý là cấu thành tội phạm mà không thể dựa vào cơ sở nào

Trang 21

khác”20 Vì vậy, cấu thành tội phạm là sự tổng hợp những dấu hiệu chung mang tính đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự gồm có khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và là cơ sở

có tính chất khuôn mẫu pháp lý duy nhất để xác định tội phạm và trách nhiệm hình sự

1.2 Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới

1.2.1 Nhận thức về pháp nhân trong pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Khái niệm pháp nhân trong pháp luật Việt Nam

Pháp luật của mọi nhà nước trên thế giới đều phải bảo vệ những giá trị cốt lõi, bảo vệ trật tự công cộng và những lợi ích chính đáng của nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác, trong đó Nhà nước cũng điều chỉnh cả thuật ngữ pháp nhân Nghiên cứu cổ luật Việt Nam cho thấy, trong hệ thống pháp luật nước ta chưa tồn tại khái niệm pháp nhân Song thuật ngữ pháp nhân chỉ xuất hiện tại nước ta qua hình thức du nhập, mà đặc biệt hơn là từ thời kỳ Pháp thuộc, theo đó quan điểm pháp nhân được hình thành và phát triển qua sự thay đổi lớn của từng thời kỳ là:

Thứ nhất, trong thời kỳ Pháp thuộc Thuật ngữ pháp nhân được đề cập

lần đầu tiên với khái niệm được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự Bắc kỳ năm

1931 và Bộ luật Dân sự Trung kỳ năm 1936 -1939 Tuy nhiên, xét về cái gốc

và sự tiến bộ của khoa học pháp lý cũng như về cơ bản đây là những bộ luật

có nội dung được xây dựng từ Bộ luật Dân sự nước Pháp ở châu Âu Theo đó, Điều 284 của Bộ luật Dân sự Bắc kỳ quy định những hội thương mại đã thành lập hợp lệ đều có tư cách pháp nhân Bộ luật Dân sự Bắc kỳ và Bộ luật Dân

sự Trung kỳ đều quy định các pháp nhân có thể “thủ đắc tất cả các quyền lợi

và đảm nhiệm tất cả những nghĩa vụ không hệ thuộc vào tư cách thiên nhiên của người ta như nam - nữ tính, tuổi hay họ hàng” (Điều 286 Bộ luật Dân sự Bắc kỳ và Điều 239 Bộ luật Dân sự Trung kỳ) Ý chí pháp nhân do các cơ quan của pháp nhân phát biểu và hành vi của các cơ quan này có giá trị đối

20 Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,

Hà Nội, tr 165

Trang 22

với pháp nhân (Điều 286 Bộ luật Dân sự Bắc kỳ và Điều 294 Bộ luật Dân sự Trung kỳ)21 Như vậy, có thể thấy điều kiện là pháp nhân được quy định khá thông thoáng với hầu hết các đoàn thể trong hoạt động Năng lực pháp lý và tính độc lập của pháp nhân được khẳng định

Thứ hai, thời kỳ kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung Do hậu quả

lịch sử chiến tranh thời gian dài, nên Đảng và Nhà nước ta quyết định xây dựng nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung nhằm củng cố kiến thiết đất nước Giai đoạn này pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng không phát triển, thuật ngữ pháp nhân ít được đề cập đến, dù tư cách pháp nhân được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật ngay khi nước ta giành được chính quyền đối với một tổ chức nhưng vẫn hạn chế vì không nêu

rõ chỉ dẫn, thuộc tính như thế nào, chẳng hạn tại Điều 2 của Điều lệ về chế độ Hợp đồng kinh tế ban hành kèm theo Nghị định số 54-CP ngày 10 tháng 3 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ chỉ quy định gián tiếp là các tổ chức sau buộc phải ký kết hợp đồng kinh tế trong mọi hoạt động kinh tế có liên quan với nhau: Các tổ chức quốc doanh; các tổ chức công tư hợp doanh; các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị bộ đội, các tổ chức xã hội; hợp tác xã các loại; các tổ chức sản xuất tiểu thủ công nghiệp được phép kinh doanh và có tài khoản ngân hàng

Tuy nhiên Chỉ thị số 17-TTg/HĐ ngày 20 tháng 01 năm 1967 của Thủ tướng chính phủ về việc ký kết Hợp đồng kinh tế, thì hợp tác xã chỉ được phép ký kết hợp đồng kinh tế khi thỏa mãn điều kiện bắt buộc là “hợp tác xã cấp cao” Thông tư số 525-HĐ ngày 23 tháng 6 năm 1975 của Hội đồng Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn việc ký kết hợp đồng kinh tế này có đủ

tư cách pháp nhân với điều kiện: Được Nhà nước thành lập và thừa nhận; có tài sản riêng và có trách nhiệm độc lập về tài sản đó; có tài khoản ngân hàng Còn các tổ chức xã hội chỉ được coi có đủ tư cách pháp nhân khi thỏa mãn điều kiện được Nhà nước công nhận và có tài khoản ở ngân hàng Và đây là điểm mốc đầu tiên quyết định sự hình thành chế định pháp nhân trong pháp

21 Ngô Huy Cương (2001), “Pháp nhân”, Nghiên cứu lập pháp, (01), tr 25; Nguyễn Băng Tú (2005), Luận văn: Tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành-Những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 29

Trang 23

luật Việt Nam dù chỉ ở phạm vị hẹp kể từ khi hệ thống pháp luật thời kỳ Pháp thuộc tại nước ta bị bãi bỏ

Thứ ba, thời kỳ kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Vào những năm

cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XIX, từ đường lối, chính sách và chủ trương đổi mới của Đảng, nước ta bước vào nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và đạt được những chuyển biến tích cực Giai đoạn này các văn bản pháp luật quy định về pháp nhân thêm dần xuất hiện nhằm định hình những quan hệ kinh tế ngày càng phát triển đa dạng Theo đó Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 được ban hành có ghi nhận pháp nhân là chủ thể của hợp đồng kinh tế Và lần đầu tiên Nghị định số 17/HĐBT ngày 16 tháng 01 năm

1990 hướng dẫn thi hành chi tiết Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế đã ấn định khái niệm chính thức bằng các dấu hiệu đặc trưng đối với pháp nhân là các tổ chức kinh tế là: Được thành lập hợp pháp; có tài sản riêng và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản đó; có quyền quyết định độc lập về hoạt động (sản xuất kinh doanh); tự mình tham gia các quan hệ pháp luật Tiếp theo, hình ảnh của pháp nhân được hiện ra trong Pháp lệnh Hợp đồng dân sự ngày 01 tháng 7 năm

1991 bằng những quy định một tổ chức được coi là có tư cách pháp nhân phải hội đủ các điều kiện: Có tài sản riêng, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trước tòa án; được thành lập hợp pháp và được pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập Như vậy, các văn bản này, nhìn chung chỉ mô tả các dấu hiệu đặc trưng cho pháp nhân chủ yếu mang tính chất chung và bao quát các pháp nhân ở mọi dạng, thể loại; chưa làm nổi bật lên tính chủ thể độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật khác mà chỉ có lĩnh vực hợp đồng kinh tế, dân sự và phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các cơ quan tài phán Qua một thời gian thi hành, các văn bản trên đã bộc lộc những thiếu sót, hạn chế, nên Nhà nước ta đã ban hành liên tiếp hai Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005 nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật cho phù hợp với nhu cầu phát triển, hội nhập Và có thể nói rằng đây là lần đầu tiên chế định pháp nhân được ghi nhận trong Bộ luật - một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao đóng vai trò quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội được xác lập

Trang 24

trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể với nhau Điều 94 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Điều 84 Bộ luật Dân sự năm

2005 mô tả một tổ chức có tư cách pháp nhân ở các dấu hiệu sau: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận (còn Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Được thành lập hợp pháp); có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác

và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Qua các văn bản nêu trên, theo Giáo trình Luật dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2003, pháp nhân được khái niệm là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập

1.2.1.2 Các điều kiện (dấu hiệu) của pháp nhân

Như Bộ luật Dân sự đã nêu hoặc Luật Doanh nghiệp đã đưa ra Để một

tổ chức được công nhận là pháp nhân, có tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật, theo quy định tại Điều 84 Bộ luật Dân sự năm 2005 hiện hành, về cơ bản

một tổ chức đó phải thỏa mãn các điều kiện cũng như dấu hiệu pháp lý sau:

Thứ nhất, tổ chức đó phải được thành lập hợp pháp Một tổ chức được

thừa nhận là thành lập hợp pháp nếu một tổ chức đó được thành lập theo trình

tự, thủ tục tương ứng do pháp luật quy định cho loại pháp nhân và được Nhà nước thừa nhận Đó là những trình tự thủ tục về thành lập, cho phép thành lập, đăng ký, hoặc công nhận sự thành lập các tổ chức này Điều này thể hiện tính nhân văn rất cao trong kỹ thuật lập pháp trước xu thế mở cửa hội nhập thế giới của nước ta, là xác định cụ thể mục đích, nhiệm vụ rất nhất định “hợp pháp, mở rộng” việc công nhận đối với các loại hình tổ chức được coi là pháp nhân Chú trọng đến việc phát triển các loại hình doanh nghiệp và việc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh đối với mỗi loại pháp nhân, vì Nhà nước chi phối các tổ chức tồn tại trong xã hội Ngược lại những pháp nhân được thành lập không hợp pháp, tức là không đúng với trình tự, thủ tục luật định, không được Nhà nước thừa nhận, thì không được coi là pháp nhân Bởi

Trang 25

lẽ, việc quy định pháp nhân được thành lập hợp pháp sẽ tạo điều kiện giúp cho tư cách chủ thể của pháp nhân được phát sinh và tồn tại Khi đó, pháp nhân có những quyền và lợi ích nhất định trong quan hệ pháp luật với các tổ chức, pháp nhân khác; là cơ sở pháp lý để Tòa án, cơ quan tài phán xem tính hợp pháp của pháp nhân cũng như đảm bảo việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến sự thành lập và tồn tại của các pháp nhân được nhanh chóng, kịp

thời và bình đẳng

Thứ hai, tổ chức đó phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ Khi bàn đến tổ

chức, các nhà khoa học ngầm hiểu đó là một tập thể người được hình thành,

bố trí theo một hệ thống nhất định, đảm bảo trật tự trong quá trình thực hiện chức năng, lĩnh vực hoạt động của tổ chức đó bao gồm cả tổ chức chỉ có một thành viên mà thuật ngữ tổ chức ở đây chính là hình thái tổ chức của pháp nhân Đảm bảo tính tổ chức, tính chặt chẽ và tính hiệu quả cao khi được thành lập nhằm biến một tập thể người thành một thể thống nhất có khả năng thực

hiện những nhiệm vụ nhất định Tổ chức đó phải hiện rõ các yếu tố sau:

+ Tồn tại dưới hình thái tổ chức nhất định Trên cơ sở mục đích, nhiệm

vụ, tài sản và vốn góp, hoặc cả tính chất truyền thống về loại hình, sự ấn định tên gọi như công ty, trường đại học, hiệp hội, các quỹ và có quyền chọn lựa

ra loại hình thức tổ chức phù hợp với quy định của pháp luật Sự phù hợp này luôn được thể hiện trong những thủ tục pháp lý như quyết định thành lập, điều

lệ mẫu, điều lệ của những tổ chức, điều lệ của từng tổ chức đơn lẻ, nội quy tổ chức và trong các văn bản pháp luật liên quan, tạo thành tính thống nhất cho suốt thời gian hoạt động của tổ chức đó và sẽ chấm dứt khi có quyết định tuyên bố phá sản, hoặc giải thể theo luật định Đồng thời không phụ thuộc vào

sự thay đổi của các thành viên trong tổ chức

+ Tồn tại với cơ cấu hoàn chỉnh, thống nhất Điểm này yêu cầu pháp nhân phải có một bộ máy hoạt động tương đối hoàn bị, có đầy đủ các chức năng và các đơn vị chuyên môn và bộ phận nghiệp vụ nhằm đảm bảo được nhiệm vụ chính và công việc chung Đồng thời cũng cần phải có sự liên hệ chặt chẽ giữa các bộ phận của pháp nhân tạo thành một chỉnh thể thống nhất,

Trang 26

nhịp nhàng, đồng bộ, phụ thuộc lẫn nhau, hỗ trợ nhau và chịu lãnh đạo thống nhất từ người đứng đầu pháp nhân

+ Tồn tại với tính độc lập về mặt tổ chức Nghĩa là cơ cấu chặt chẽ chỉ được công nhận khi nó hoàn toàn tách biệt với các cá nhân, tổ chức khác về tính độc lập ổn định trong cơ cấu tổ chức và nó không bị ảnh hưởng khi có sự thay đổi về các thành viên hay tài sản, trừ trường hợp sự thay đổi đó lớn đến nỗi làm thay đổi cơ cấu hoặc làm chấm dứt pháp nhân, đồng thời cũng phải đảm bảo về tính tách biệt trong tư cách chủ thể của pháp nhân với các tổ chức, chủ thể khác

Thứ ba, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách

nhiệm bằng tài sản đó So với các dấu hiệu trên, dấu hiệu về tài sản là tiền đề quan trọng đánh dấu khả năng tài chính thuộc sở hữu riêng của pháp nhân Để xác định một tổ chức có tài sản độc lập, tổ chức đó cần thỏa mãn tiêu chí là phải có khối lượng tài sản nhất định, có những quyền và nghĩa vụ độc lập đối với tài sản; phải có sự độc lập tuyệt đối giữa tài sản của pháp nhân đối với tài sản của các thành viên, cơ quan chủ quản của pháp nhân, cơ quan nhà nước

và với tài sản của tổ chức khác Tài sản độc lập này được thành lập hay thu nhận từ nhiều nguồn vốn, nguồn kinh phí, kinh doanh, sản xuất khác nhau chẳng hạn nguồn vốn góp của các thành viên; tài sản được Nhà nước giao cho

tổ chức để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình; tài sản tặng cho, thừa kế, viện trợ Và loại tài sản độc lập này tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau có thể

là tài sản dưới dạng vật chất, các khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ, khoản lợi nhuận, các khoản đầu tư góp vốn, mua bán cổ phiếu, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, giá trị quyền sử dụng đất, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi nhận trong Điều lệ của tổ chức đó Chính yếu tố tài sản độc lập đã giúp tổ chức có thể tự mình tham gia vào các quan hệ pháp luật để thực hiện các hoạt động chức năng trong phạm vi quyền hạn và nghĩa vụ phát sinh từ các quan

hệ pháp luật và tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của tổ chức mình - trách nhiệm hữu hạn Các thành viên, các cơ quan chủ quản và tổ chức khác không phải chịu trách nhiệm thay hoặc trách nhiệm bổ sung cho pháp nhân, tổ chức Nói cách khác, sự độc lập về tài sản của pháp nhân luôn thể hiện sự

Trang 27

rạch ròi, sòng phẳng, tiềm lực tài chính, quyền sở hữu trong khối tài sản riêng của pháp nhân với sản nghiệp của thành viên, các tổ chức khác Tự chịu trách nhiệm bằng khối tài sản độc lập riêng biệt đó với trách nhiệm hữu hạn đối với các rủi ro tài chính trong khi thực hiện các giao dịch theo luật định Đây là điểm hoàn toàn khác với tính chịu trách nhiệm vô hạn

Thứ tư, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc

lập Sau khi đảm bảo tính tư cách chủ thể tài sản độc lập, pháp nhân, tổ chức

có quyền nhân danh chính mình, sử dụng tên gọi của mình, không sử dụng danh nghĩa Nhà nước, tổ chức khác, hay thành viên khác hoặc cơ quan chủ quản của mình Điều này cũng không ngoại lệ đối với các pháp nhân là những

cơ quan tổ chức, đơn vị vũ trang, doanh nghiệp Nhà nước được thành lập từ nguồn vốn đầu tư của nhà nước Đồng thời, khi có tư cách pháp nhân của một chủ thể độc lập, pháp nhân được quyền tham gia vào các quan hệ pháp luật có

tư cách riêng biệt Nếu pháp nhân thực hiện những quyền hạn nghĩa vụ trong giới hạn pháp luật cho phép nhưng bị những cá nhân hoặc pháp nhân khác xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của mình, thì được pháp luật ủng hộ, bảo vệ, và pháp nhân bị xâm hại sẽ trở thành nguyên đơn có quyền khởi kiện trước tòa án Nếu pháp nhân vì lợi ích cá nhân của mình đã thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ không phù hợp với quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho những cá nhân, pháp nhân khác, thì pháp nhân đó có thể trở thành bị đơn trước tòa án theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân

sự năm 2004

Như vậy, các dấu hiệu (điều kiện) của pháp nhân là yếu tố mang tính bắt buộc cần và đủ để xác lập tổ chức, đơn vị đó có tư cách pháp nhân, vì là giữa chúng luôn có mối liên hệ chặt chẽ gàn buộc nhau Nếu thiếu một trong các dấu hiệu trên, thì tổ chức, đơn vị đó sẽ có thể được chuyển sang một hình thức khác và không được coi là có tư cách pháp nhân Qua đó nhà làm luật nước ta căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ cũng như những dấu hiệu trong việc xác định

tư cách pháp nhân đối với một tổ chức và hình thức sở hữu khác nhau.Theo

đó Điều 100 Bộ luật Dân sự năm 2005 phân loại pháp nhân gồm các loại sau: Các pháp nhân là cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang; các pháp nhân là tổ chức

Trang 28

chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; các pháp nhân tổ chức kinh tế; các pháp nhân là tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và các quỹ xã hội, quỹ từ thiện

1.2.1.3 Khái niệm pháp nhân trong pháp luật một số nước trên thế giới

Pháp nhân là một khái niệm dùng để ám chỉ chủ thể pháp lý độc lập, để phân biệt với chủ thể khác là con người (bao gồm cá nhân và tập thể người)22 Nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thế giới cho thấy, sau một thời gian rất dài đấu tranh về tư tưởng, thuật ngữ pháp nhân dần được xuất hiện với nhiều quan điểm Song cuối cùng, thuật ngữ “pháp nhân” đã được thừa nhận từ rất sớm ở các nước với nghĩa tích cực Cụ thể sau:

Thứ nhất, pháp nhân theo pháp luật Anh-Mỹ Theo Từ điển Luật học

Merriam Webster Dictionnary, nhà xuất bản Macmillian năm 1996 của nước

Mỹ, thì thuật ngữ pháp nhân - Juridical Person được hiểu là một thực thể được pháp luật ban cho được hưởng các quyền và phải gánh vác các trách nhiệm; những quyền lợi và nghĩa vụ này của pháp nhân độc lập và tách biệt hẳn với thể nhân là những chủ thể sáng lập ra pháp nhân đó Một thực thể pháp lý có

tư cách pháp nhân mang một số đặc trưng nhất định như chủ thể vô hình; phi vật chất, nhân tạo hình thành bởi luật pháp, thường được tạo lập thông qua sự thỏa thuận của các thành viên; được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ tương

tự như con người nhưng nó tồn tại vĩnh cửu và chịu trách nhiệm hữu hạn Và

Từ điển Luật học Oxford, nhà xuất bản Oxford University Press năm 2002 của nước Anh ghi nhận thuật ngữ pháp nhân là một thực thể chẳng hạn một thực thể được thừa nhận có tư cách pháp nhân - corporation, nghĩa là, nó có năng lực và khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý Thực thể này ngược lại với con người được đề cập đến như là người bình thường tự nhiên - natural person Còn trong Encyclopedia-wordiQ Dictionaty23, cho rằng pháp

22

Nguyễn Như Phát (2002), Lý luận chung về Luật kinh tế, Luật kinh tế Việt Nam, Chương I, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 36; Nguyễn Băng Tú (2005), Luận văn: Tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành-Những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ

Chí Minh, tr 20

23 Http://www.Wordiq.Com/Definition; Nguyễn Băng Tú (2005), Luận văn: Tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành-Những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Trường Đại học Luật

Thành phố Hồ Chí Minh, tr 21

Trang 29

nhân hay con người nhân tạo “artificial person” là một cấu trúc pháp lý để tham gia hợp đồng, đi kiện hoặc bị khởi kiện Đó là một thực thể, thường là tổ chức mà điển hình là công ty đối lập hoàn toàn với con người tự nhiên… và tách biệt với những thành viên hoặc con người đã tạo nên chúng

được pháp luật dân sự nước Nhật Bản thừa nhận là những chủ thể có quyền năng, tồn tại bên cạnh thể nhân Do có sự du nhập từ Bộ luật Dân sự của nước Đức vào cuối thế kỷ XIX, nên pháp luật dân sự nước này luôn có sự hình thành theo hai hướng, một là được thành lập theo trình tự luật định, một là được thừa nhận Theo đó, Điều 33, 34, 35 Bộ luật Dân sự Nhật Bản lần lượt quy định pháp nhân chỉ có thể được công nhận nếu được thành lập phù hợp với quy định của pháp luật, gồm có pháp nhân doanh nghiệp - tổ chức liên kết nhiều người, và pháp nhân tài chính - tổ chức hợp vốn để thực hiện những mục đích nhất định; trong đó, doanh nghiệp bao gồm các tổ chức có mục đích công cộng hoặc các tổ chức kinh tế có mục đích thu lợi nhuận Riêng những

tổ chức được liên kết không nhằm hai mục đích nêu trên (gọi là doanh nghiệp không có quyền năng), ví dụ như các Hội nghề nghiệp, các Tổ chức công đoàn, không được công nhận là pháp nhân nếu không có văn bản pháp luật chuyên ngành quy định ngược lại Nhìn từ góc độ giới hạn nghiên cứu của đề tài, pháp nhân là doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam có những điểm tương đồng so với pháp nhân doanh nghiệp nhằm mục đích thu lợi nhuận của Nhật Bản

Thứ ba, pháp nhân theo pháp luật dân sự và thương mại Thái Lan Bộ

luật Dân sự và Thương mại Thái Lan không đưa ra khái niệm chung về pháp nhân mà chỉ quy định những đối tượng nào được coi là pháp nhân Theo đó, Điều 68, 69, 70, 72 Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan, do Bộ Tư Pháp, nhà xuất bản Chính trị quốc gia của Việt Nam dịch xuất bản năm 1995, ghi nhận: Một pháp nhân có thể được thành lập chỉ căn cứ vào những quy định của Bộ luật này hoặc luật khác; một pháp nhân có những quyền và nghĩa vụ

24 Xem Bộ Tư pháp (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà

Nội, tr 63-71

Trang 30

theo đúng những quy định của luật pháp trong phạm vi mục đích hoạt động của pháp nhân đó như được chỉ ra trong điều lệ hoặc văn bản thành lập; quyền

và nghĩa vụ của pháp nhân được quy định tương tự như thể nhân trừ những quyền và nghĩa vụ mang tính đặc thù mà chỉ có thể dành cho hoặc ràng buộc thể nhân, và ghi nhận những tổ chức công, tu viện, những hội có đăng ký, những công ty trách nhiệm hữu hạn, các hiệp hội đoàn thể, những quỹ được cấp phép là đối tượng được coi là pháp nhân

luật Dân sự Trung Quốc có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1987 và chế định pháp nhân được ghi nhận từ Điều 36 đến Điều 53 của bộ luật Theo đó, nước Trung Quốc ghi nhận pháp nhân là một tổ chức có năng lực pháp luật và năng lực hành vi, có thể tự mình được hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ một cách độc lập khi tham gia vào quan hệ dân sự Năng lực pháp luật, năng lực hành vi của pháp nhân xuất hiện khi pháp nhân được thành lập và chấm dứt khi pháp nhân kết thúc Một pháp nhân phải thỏa mãn dấu hiệu sau, đó là được thiết lập theo quy định của pháp luật; được quyền chiếm hữu và kiểm soát một vài tài sản hoặc một quỹ cần thiết; có tên gọi riêng, cơ cấu tổ chức và

có trụ sở giao dịch; có khả năng chịu trách nhiệm dân sự một cách độc lập Riêng đối với doanh nghiệp, một chủ thể được gọi là doanh nghiệp khi ở đó kết hợp được một số nhân tố như có sự kết hợp giữa các thành viên là chủ sở hữu, có quỹ nhất định đáp ứng theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có tên gọi và trụ sở giao dịch, có khả năng chịu trách nhiệm dân sự một cách độc lập, được thành lập và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền

Tóm lại, mặc dù có sự công nhận thuật ngữ pháp nhân là chủ thể của pháp luật dân sự, kinh tế nhưng chưa có một nước nào đưa ra khái niệm về pháp nhân một cách toàn diện, chỉ dừng ở các dấu hiệu xác định tư cách pháp

lý của pháp nhân như pháp nhân tồn tại độc lập không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng thành viên trong pháp nhân đó; tài sản của pháp nhân và của các thành viên trong pháp nhân luôn tồn tại riêng và độc lập với nhau, không có

25 WWW.Dictionary.Reference.Com/Partnership; Nguyễn Băng Tú (2005), Luận văn: Tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành-Những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Trường Đại

học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 25-27

Trang 31

sự phụ thuộc lẫn nhau; pháp nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản và thực hiện những hành vi pháp lý nhân danh mình, tự chịu trách nhiệm độc lập về tài sản đó; nhân danh mình độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách nguyên đơn, bị đơn trước cơ quan đại diện của Nhà nước và những quy định chung chung, trong đó có pháp luật dân sự Việt Nam

Từ nhận thức trên, tác giả đưa ra khái niệm pháp nhân như sau: Pháp nhân có thể hiểu là một tổ chức được thành lập một cách hợp pháp theo quy định của pháp luật; hoạt động trong khuôn khổ, trình tự, thủ tục thống nhất với một cơ cấu chặt chẽ nhằm đảm bảo cho việc thực hiện được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp mục tiêu đặt ra

1.2.2 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

1.2.2.1 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự của Vương Quốc Anh (gọi tắt là nước Anh)

Thứ nhất, phạm vi áp dụng và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với

pháp nhân

- Pháp nhân là chủ thể của tội phạm Trong pháp luật hình sự nước Anh

đã quy định chủ thể của trách nhiệm hình sự bao gồm thể nhân và pháp nhân, trong đó thực thể có tư cách pháp nhân có thể là tổ chức “pháp nhân liên kết”, hoặc cá thể “pháp nhân đơn lẻ” Trong đó: Pháp nhân liên kết là các công ty đăng ký theo Luật công ty năm 1985 gồm một nhóm các thành viên có thể thay đổi về mặt số lượng theo thời gian26

, là một tổ chức được các cá nhân liên kết lại thành lập nhằm mục đích kinh doanh hoặc mục đích khác Mục I (2) (a,b,c) Luật công ty năm 1985 có ba loại công ty: Công ty cổ phần hữu hạn là loại công ty mà trong đó các cổ đông có trách nhiệm hữu hạn đối với công ty của họ; công ty bảo chứng là loại công ty mà trong trường hợp tự giải thể, trách nhiệm của các thành viên công ty được giới hạn trong số tiền được quy định tại điều lệ thành lập công ty; công ty trách nhiệm vô hạn là loại công

ty có đăng ký kinh doanh và các thành viên trong công ty có trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Các công ty này được Nhà nước công nhận

26 Bộ Tư Pháp (2005), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước, Tổng biên tập Hoàng Thế Liên, Hà Nội, tr 17

Trang 32

là có tư cách pháp nhân thông qua việc đăng ký thành lập theo luật công ty, hoặc theo luật tư pháp, hoặc xin giấy phép thành lập của Hoàng gia Và theo luật hình sự của nước Anh, tất cả các pháp nhân này đều có thể là chủ thể của trách nhiệm hình sự Còn pháp nhân đơn lẻ là loại pháp nhân chỉ có một thành viên và những người kế thừa thành viên đó27, ví dụ điển hình là Nữ hoàng

“Crowns” và theo luật nước Anh, những thực thể mang tính chất đơn lẻ này cũng có tư cách pháp nhân và cũng có thể chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội

Ngoài ra chủ thể của tội phạm theo luật của nước Anh gồm cả những thực thể không có tư cách pháp nhân như những nhóm hội, hiệp hội không có khả năng hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ pháp lý Song yếu tố

“không có tư cách pháp nhân” không là điều kiện ảnh hưởng đến việc xác định tư cách chủ thể của tội phạm Vậy với cách hiểu về thuật ngữ “pháp nhân”, “tư cách pháp nhân” theo pháp luật nước Anh rộng và bao hàm hơn rất

nhiều so với pháp luật dân sự hay thương mại

- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với những tội phạm cụ thể Do

ảnh hưởng của học thuyết cùng những án lệ, nên theo pháp luật nước Anh, pháp nhân sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm và có thể bị quy kết theo những loại sau:

+ Loại tội phạm do chế độ trách nhiệm tuyệt đối hay trách nhiệm khách quan “Strict liability” Là loại trách nhiệm hình sự khách quan có bản chất không đòi hỏi sự có mặt của yếu tố lỗi Trách nhiệm này được áp dụng cho cả

cá nhân và pháp nhân Tuy nhiên, so với luật thành văn, ở lĩnh vực thông luật, trách nhiệm khách quan được áp dụng hẹp hơn, vì chỉ liên quan đến một số loại tội phạm như tội gây nguy hại cho công cộng; tội phỉ báng, bôi nhọ; tội coi thường toà án Đến luật thành văn, trách nhiệm khách quan có phạm vi áp dụng mở rộng hơn, thể hiện những xử sự phạm tội hoặc liên quan chủ yếu đến lĩnh vực ma tuý, giao thông và môi trường, ví dụ hành vi sở hữu chất ma túy (Missuse of drugs Act 1971), hành vi sở hữu vũ khí quân dụng không có phép

27 Bộ Tư Pháp (2005), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước, Tổng biên tập Hoàng Thế Liên, Hà Nội, tr 19

Trang 33

(Firearms Act 1968), cấm sử dụng các loại xe ô tô không đúng theo những đòi hỏi an toàn của pháp luật (Road Traffic Act 1988)

+ Loại tội phạm theo chế độ trách nhiệm thay thế hoặc các tội phạm theo chế độ trách nhiệm đối với hành vi của người khác “Vacarious liability" Là loại trách nhiệm pháp lý mà pháp nhân phải gánh chịu về hành vi phạm tội do người làm công, người ký hợp đồng, người đại lý độc lập thực hiện cho dù pháp nhân không phải là người có lỗi - trách nhiệm pháp lý của một người về hành vi phạm tội của người khác và có thể áp dụng cho những khía cạnh: Tội phạm liên quan lĩnh vực tài chính mà một số đạo luật quy định phải

áp dụng loại trách nhiệm này khi giải quyết, ví dụ Điều 202 Luật về dịch vụ

tài chính (Financial Services Act) năm 1986 quy định “ trong khi xác định

có một tội phạm quy định trong đạo luật này được thực hiện bởi một công ty với sự thuận tình hoặc thông đồng của một loạt những người được liệt kê như

là những người có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, hoặc quyết định, hoặc vì lý

do khinh xuất của những người đó thì pháp nhân cũng sẽ bị trừng phạt về tội phạm đó ”; quy kết trách nhiệm hình sự theo nguyên tắc ủy quyền đối với người chủ trong một số tình huống đặc biệt, ví dụ nếu một chủ sở hữu một quán rượu nhận một giấy phép để bán đồ uống có cồn, sau đó giao cho một nhân viên bán hàng thuê chịu trách nhiệm về quán rượu này, trong trường hợp người nhân viên bán hàng thuê phạm tội vì bán rượu bia cho trẻ em, thì đồng thời người chủ quán rượu cũng bị chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đó của nhân viên này theo nguyên tắc ủy quyền; trách nhiệm Thẩm phán trong giải thích mở rộng để quy kết tội phạm cho cả người đứng đầu công ty, hoặc người chủ của công ty, hoặc chính pháp nhân và nhân viên của pháp

nhân trong trường hợp án lệ có quy định ẩn, ví dụ vụ án “Green v Burnet”

được quyết định bởi Queen’s Bencle Division - High Court of Justice: Burnett

là nhân viên của công ty được giao lái xe con thuộc sở hữu của công ty, trong khuôn khổ hoạt động của công ty, Burnett đã gây ra tại nạn giao thông do hệ thống phanh xe bị hỏng Hệ thống phanh này không đáp ứng với những đòi hỏi của pháp luật, Điều 101 Motor Vehicles (Construction and Use) Regulation năm 1951 quy định “hành vi sử dụng xe, mà xe này trong tình

Trang 34

trạng không đúng với những yêu cầu an toàn mà pháp luật quy định, là tội phạm, từ “use” sử dụng trong điều luật cho phép nhận định là nhà làm luật đã mong muốn ghi nhận chế độ trách nhiệm thay thế, và như vậy trong trường hợp này trách nhiệm thay thế được đặt ra và công ty sở hữu xe phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của Burnett28

+ Loại tội phạm thống nhất yếu tố hành vi khách quan và yếu tố lỗi hay

cần chứng minh yếu tố lỗi (mens rea) Thực tiễn xét xử cùng học thuyết pháp

lý của nước Anh, cho thấy trách nhiệm hình sự của pháp nhân được áp dụng với hầu hết các loại tội phạm trong thông luật hoặc luật thành văn, không phân biệt các tội được thực hiện với ý định phạm tội rõ ràng, hoặc với sự vô ý

do cẩu thả, hoặc khinh xuất và phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự bằng lý thuyết đồng nhất hóa

Ngoại trừ các tội nghiêm trọng mà luật đòi hỏi phải được áp dụng bằng những hình phạt tù hoặc tử hình nhưng không phải là hình phạt tiền29 và một

số tội phạm khác do bản chất của nó, nên pháp nhân không thể thực hiện được, ví dụ: Tội vi phạm chế độ một vợ một chồng (bigamy offence); tội cưỡng dâm (rape offence) trong Luật xâm phạm tình dục năm 1976; tội khai gian trước tòa trong Luật về tội khai gian trước tòa năm 1911, và những tội

28 Bộ Tư Pháp (2005), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước, Biên soạn Trịnh Quốc Toản, Hà Nội, tr 10; Trịnh Quốc Toản (2011), Sách chuyên khảo: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 29

29 Bộ Tư Pháp (2005), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước, Biên soạn Trịnh Quốc Toản, Hà Nội, tr 11

Trang 35

cá nhân đó cần phải là quan trọng, cần đặt nó trong mối quan hệ giữa nội dung ủy quyền và các hoạt động của pháp nhân, như vậy sự uỷ quyền cũng được coi là quan trọng Trên cơ sở thực tiễn của Tòa án, nên vào năm 1989,

Uỷ ban pháp luật của Anh đã soạn thảo Dự án Bộ luật hình sự đầu tiên của Anh và xứ Wales đã đưa trách nhiệm hình sự của pháp nhân thành một chế định chính thức Mục 30 của Dự án Bộ luật này quy định: Pháp nhân chịu trách nhiệm cùng một tư cách như cá nhân về những tội phạm theo chế độ trách nhiệm khách quan và trách nhiệm thay thế [Mục 30 (1)]; pháp nhân phải chịu trách nhiệm về những tội phạm khác, nếu những tội phạm này do một trong những “controlling officer” thực hiện trong khuôn khổ chức năng của pháp nhân với mức độ lỗi cần thiết [Mục 30 (2)]; một pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm đối với những tội mà sự thực hiện nó có thể bị phạt tiền [Mục 30 (7)]

Theo đó, “controlling officer” trong Dự án bộ luật này hiểu là tất cả những người tham gia giám sát, kiểm tra pháp nhân với tư cách là giám đốc điều hành “director manager”, thư ký “secretary” hoặc nhân viên khác “other person”30, đảm nhiệm những chức năng được xác định dựa trên chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như những hoạt động thực tế của họ chứ không đơn thuần dựa vào chức danh và hình thức bổ nhiệm [Mục 30 (3) (a)] Đồng thời, để lý giải “một nhân viên quản lý cao cấp sẽ được coi là hành động trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân”, thì [Mục 30 (6)] Dự án Bộ luật hình sự đưa ra ba điều kiện bắt buộc: Những nhân viên này cần phải hành động với tư cách của một nhân viên quản lý cao cấp chứ không phải tư cách

cá nhân; nếu hành động với tư cách là người được ủy quyền, những nhân viên này phải phạm một tội trong khuôn khổ các chức năng, nhiệm vụ mà họ được

ủy quyền bởi pháp nhân; những nhân viên này không được hành động với mục đích gây thiệt hại cho pháp nhân

Như vậy, trên cơ sở các học thuyết trách nhiệm hình sự của pháp nhân, các Toà án Anh đã vận dụng nguyên tắc đồng nhất hoá để quy kết tội phạm

30 Bộ Tư Pháp (2005), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước, Biên soạn Trịnh Quốc Toản, Hà Nội, tr 13

Trang 36

cho pháp nhân, đồng thời hành vi của những người chủ yếu có quyền quyết định trong pháp nhân, có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của pháp nhân chẳng hạn như các thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Giám đốc, đã được pháp luật đồng nhất với hành vi của chính pháp nhân, cho nên nếu hành động đó là hành vi phạm tội được thực hiện trong khuôn khổ của pháp nhân, thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi được coi như là chính mình thực hiện

Thứ ba, hình thức trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Theo luật pháp nước Anh, thì hình thức trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với những pháp nhân có hành vi phạm tội đều chủ yếu dựa trên các

cơ sở pháp lý quan trọng, đó là các án lệ và luật hình sự nước Anh đã được các Thẩm phán, nhà lập pháp nhiều năm kinh nghiệm đúc kết Tuy nhiên, xét

về góc độ văn bản cụ thể mang tính chất hướng dẫn xử lý, thì nhà lập pháp nước này không quy định trong những trường hợp nào pháp nhân sẽ bị xử lý bằng những biện pháp cụ thể, mặc dù hành vi phạm tội của pháp nhân có quy định trong các đạo luật chuyên ngành Cho nên việc áp dụng những hình thức

xử lý nào sẽ thuộc thẩm quyền của Thẩm phán giải quyết vụ việc đó quyết định dựa trên hệ thống các án lệ

1.2.2.2 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (gọi tắt là nước Mỹ)

Thứ nhất, phạm vi áp dụng và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với

pháp nhân

- Pháp nhân là chủ thể của tội phạm Điều 2.07 Bộ luật hình sự mẫu Mỹ bao gồm các công ty và hiệp hội, các tập đoàn và các hiệp hội khác; ngoại trừ các công ty, các tập đoàn và các hiệp hội được thành lập bởi Chính phủ hoặc được thành lập với tư cách là một cơ quan Nhà nước nhằm mục đích thực hiện các chương trình của nhà nước, “đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình

sự”31 Nguyên nhân pháp nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự là vì

31 Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 642; Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý (2002), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, Tổng biên tập Hoàng

Thế Liên, Hà Nội, tr 43

Trang 37

chính bản thân pháp nhân không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật quy định bắt buộc pháp nhân phải thực hiện, hoặc do sự sơ xuất trong hành vi của Ban lãnh đạo, hoặc người đại diện của pháp nhân nên đã dẫn đến phạm tội

- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với những tội phạm cụ thể Nhìn chung, pháp luật hình sự Mỹ không giới hạn phạm vi tội phạm được thực hiện bởi pháp nhân kể cả góc độ liên bang đến các tiểu bang, mà bao gồm tất cả các tội phạm từ khinh xuất, cẩu thả cho đến những tội đòi hỏi cần chứng minh yếu tố lỗi

Thứ hai, điều kiện áp dụng trách nhiệm hình sự của pháp nhân - lý thuyết trách nhiệm thay thế và đồng nhất hóa

Nhà làm luật Mỹ linh động áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân theo cấp độ khác nhau Ở liên bang, lý thuyết trách nhiệm thay thế được

áp dụng nhiều nhất, còn ở các tiểu bang là lý thuyết đồng nhất hóa Sự khác biệt này xuất phát từ đặc điểm, nhu cầu quan tâm đối với loại đối tượng mà pháp nhân mong muốn hướng đến để thực hiện tội phạm Điển hình, ở cấp độ liên bang những tội xâm phạm đến các lĩnh vực an toàn, sức khỏe lao động; còn các hoạt động khác như hoạt động kinh doanh thương mại qua lại các tiểu bang thuộc trường hợp cần và bắt buộc phải được chứng minh yếu tố lỗi là thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật tiểu bang

Ngoại trừ những quy định trực tiếp về pháp nhân trong các đạo luật khác của liên bang và tiểu bang, thì pháp nhân chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn trong những dấu hiệu: Khi tổ chức không thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy định cho tổ chức phải thực hiện; khi người đại diện

có thẩm quyền của tổ chức thay mặt cho nó thực hiện hành vi trong giới hạn các chức năng của mình vì lợi ích của tổ chức nhưng hành vi đó do sự sơ xuất

đã dẫn đến vi phạm điều cấm của pháp luật hình sự; hành vi đó được người đại diện có thẩm quyền thực hiện vì lợi ích của tổ chức không đáp ứng các yêu cầu cần được đặt ra, nhưng đã được tổ chức nhất trí hoặc phê chuẩn32

Thứ ba, hình thức trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

32 Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 644

Trang 38

Các nhà lập pháp hình sự Mỹ không xác lập hệ thống hình phạt riêng biệt của liên bang và của các tiểu bang cho thể nhân và pháp nhân mà luôn ấn định chung cho cả nước khi những thực thể này phạm tội đều phải được trừng trị xử lý về mặt hình sự Ngoài các hình phạt cho thể nhân trong cùng điều luật, thì hình phạt được áp dụng cho pháp nhân có thể bao gồm hình phạt tiền

và thử thách Đây là những hình phạt chính được sử dụng hầu như thường xuyên, hiệu quả và có tính giáo dục cao đối với pháp nhân Mức phạt tiền có thể thay đổi theo từng trường hợp khác nhau từ trọng tội, khinh xuất, vi cảnh Theo Điều 3571 trong phần XVIII của Bộ tổng luật Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, thì các mức phạt tiền được áp dụng cho các tổ chức bị buộc tội là không quá 500.000 USD đối với trọng tội hoặc khinh tội dẫn đến chết người; không quá 100.000 USD đối với bất kỳ một khinh tội nào khác; không quá 10.000 USD đối với tội vi cảnh33

Mức phạt tiền được áp dụng đối với pháp nhân là không quá 2 lần mức phạt tiền (250.000 USD) dành cho thể nhân34 Và mức phạt tiền này luôn tăng giảm theo tỷ lệ nhất định, “có thể giảm xuống còn 95% hoặc tăng lên đến 400%”35 phụ thuộc vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của pháp nhân cũng như những tác động mang tính chỉ đạo, điều hành, quản lý của những người đại diện, lãnh đạo công ty, tập đoàn hoặc pháp nhân như: Những cá nhân giữ vai trò lãnh đạo cao cấp trong pháp nhân có tham gia hoặc chấp nhận hành vi phạm tội hay không; có hay không có việc hành vi phạm tội xảy ra bất chấp một chương trình hiệu quả để phòng chống và phát hiện những vi phạm pháp luật; pháp nhân có nỗ lực để báo cáo hành vi vi phạm khi pháp nhân nhận thức được hành vi đó hay không

Tuy nhiên, hình phạt này chỉ là những hiệu quả mang lại cho nhà nước Hoa Kỳ đối với những công ty nhỏ lẻ mà hoàn toàn vô tác dụng đối với những

33 Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình

sự (Phần chung), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 643

Trang 39

pháp nhân lớn Cho nên nước này đã hướng đến việc áp dụng những biện pháp khác nghiêm khắc hơn như giám sát tư pháp; hoặc buộc pháp nhân phải tái cấu trúc lại nội bộ của mình, hoặc buộc phải tham gia vào các dự án vì cộng đồng; thu hồi giấy phép hoạt động của pháp nhân Nhưng suy cho cùng, đây cũng chỉ là biện pháp áp dụng kèm theo hình phạt tiền mà nó không được

áp dụng thường xuyên như hình phạt tiền, vì là do hệ lụy trong tính nghiêm khắc của hình phạt này

1.2.2.3 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình các Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là nước Trung Quốc)

Thứ nhất, phạm vi áp dụng và việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với

pháp nhân

- Pháp nhân là chủ thể của tội phạm Mục 4 Điều 30 Bộ luật hình sự Trung Quốc năm 1997 quy định: “Công ty, xí nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, pháp luật coi là đơn vị phạm tội

và phải chịu trách nhiệm hình sự”36 Từ điều luật này, cho thấy chủ thể chịu trách nhiệm hình sự rất rộng so với pháp luật dân sự và kinh tế, là vì nhà làm luật nước này đã không xác định phạm vi tư cách chủ thể cụ thể Với liệt kê trên, có thể hiểu, chủ thể của tội phạm là những tập hợp con người có cơ cấu,

bộ máy, tính năng hoạt động và tính tổ chức nhất định bao gồm thực thể có tư cách và không có tư cách pháp nhân, chứ không phải là những nhóm, hội chuyên tụ họp vì mục đích nào đó như biểu tình, đình công nhằm tẩy chai hoặc tăng lương hoặc thay đổi giờ giấc và chế độ đãi ngộ khác

- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với những tội phạm cụ thể

Điều 14, 15 Bộ luật hình sự năm 1997, trách nhiệm hình sự đặt ra cho cả thể nhân và pháp nhân đối với mọi hành vi phạm tội với lỗi cố ý Còn lỗi vô ý, thì trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra trong những trường hợp mà pháp luật quy định

Ở phần các tội phạm được thể hiện từ Điều 102 đến Điều 451 trong mười chương của Bộ luật hình sự năm 1997, thấy không có quy định nào riêng biệt cho pháp nhân Nhà làm luật nước này đã quy định chung với các tội phạm do

36 Đinh Bích Hà (2007), Dịch và giới thiệu: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997, NXB Tư Pháp, Hà Nội, tr 49; Bộ Tư Pháp (1998), Số chuyên đề về Luật hình sự của một số nước trên thế giới, Dân chủ và Pháp luật, Hà Nội, tr 7

Trang 40

thể nhân thực hiện Theo đó “cũng như thể nhân, pháp nhân sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tất cả những tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý và chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với tội có lỗi vô ý khi pháp luật có quy định”37, trừ các tội nhạy cảm trong các chương I, IV, IX, X - các tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội xâm phạm quyền tự do thân thể, quyền dân chủ của công dân; tội không làm tròn trách nhiệm; tội vi phạm chức trách của quân nhân

Vì rằng, những nhóm tội này thường thể hiện tính chất văn hóa, thuần phong

mỹ tục, quyền lực và sự tồn vong của đất nước, nên pháp luật hình sự nước này chưa mạnh dạng đưa vào để xử lý Với cách xác lập này, các nhà làm luật Trung Quốc có hai phương pháp quy kết trách nhiệm hình sự cho pháp nhân,

đó là: Quy định trách nhiệm hình sự cho pháp nhân tại điều luật cuối cùng của chương, của mục, ví dụ tại chương III về Tội xâm phạm trật tự kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, mục 1 về các Tội sản xuất và bán hành giả, hàng kém chất lượng, ở Điều 150 Bộ luật hình sự năm 1997 quy định “Đơn vị nào

vi phạm các quy định tại các điều từ Điều 140 đến Điều 149, thì đơn vị đó bị phạt tiền ”38; quy định đồng thời trong cùng một điều luật nhưng nằm sau trách nhiệm hình sự của thể nhân, ví dụ trong chương VII về Tội gây nguy hại cho lợi ích quốc phòng, ở Điều 375 đoạn 3 Bộ luật hình sự năm 1997 quy định “ Đơn vị nào phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền ”39

Thứ hai, điều kiện áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Ngoài quy định loại chủ thể và loại tội phạm mà pháp nhân bị truy cứu, thì nhà làm luật hình sự Trung Quốc đã không có quy định nào làm cơ sở điều kiện quy kết trách nhiệm hình sự cho pháp nhân Chỉ thể hiện Điều 31 Bộ luật hình sự năm 1997 là “Đơn vị nào phạm tội sẽ bị phạt tiền; người phụ trách trực tiếp và những người có trách nhiệm trực tiếp khác của đơn vị cũng phải chịu trách nhiệm Nếu Phần riêng của Bộ luật này và những quy định có liên

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bùi Kiên Điện (2009), “Vai trò của các khoa học pháp lý ứng dụng và vấn đề giải quyết nhiệm vụ của chung ở giai đoạn hiện nay”, Luật học, (8), tr.36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của các khoa học pháp lý ứng dụng và vấn đề giải quyết nhiệm vụ của chung ở giai đoạn hiện nay”," Luật học
Tác giả: Bùi Kiên Điện
Năm: 2009
4. Bộ Tư pháp (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
5. Bộ Tư Pháp (1998), Số chuyên đề về Luật hình sự của một số nước trên thế giới, Dân chủ và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số chuyên đề về Luật hình sự của một số nước trên thế giới
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Năm: 1998
7. Bộ Tư Pháp (2005), Báo cáo đánh giá hệ thống của Việt Nam trên tinh thần Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Nxb. Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá hệ thống của Việt Nam trên tinh thần Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Nhà XB: Nxb. Phụ Nữ
Năm: 2005
10. Bộ Tư Pháp (2005), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước, Tổng biên tập Hoàng Thế Liên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Năm: 2005
11. Bộ Tư Pháp (2005), Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước, Biên soạn Trịnh Quốc Toản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình sự một số nước
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Năm: 2005
12. Bùi Xuân Hải (2011), “Tự do kinh doanh-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà nước và pháp luật, (5), tr. 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do kinh doanh-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2011
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1994
16. Đào Trí Úc (1995), Tội phạm học, Luật hình sự và Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học, Luật hình sự và Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
17. Đào Trí Úc (1999), “Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc về trách nhiệm cá nhân và lỗi trong việc xử lý trách nhiệm hình sự”, Nhà nước và pháp luật, (9), tr. 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức đúng đắn hơn nữa các nguyên tắc về trách nhiệm cá nhân và lỗi trong việc xử lý trách nhiệm hình sự”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Đào Trí Úc
Năm: 1999
18. Đào Trí Úc (2002), Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tư pháp và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
19. Đinh Bích Hà (2007), Dịch và giới thiệu: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997, NXB Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch và giới thiệu: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997
Tác giả: Đinh Bích Hà
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2007
20. Hoàng Thế Liên (2008), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Tập I
Tác giả: Hoàng Thế Liên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2008
21. Hoàng Thị Tuệ Phương (2006), Luận văn: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân, Trường Đai học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Tác giả: Hoàng Thị Tuệ Phương
Năm: 2006
22. Hoàng Thị Tuệ Phương (2006), “Một số học thuyết về Trách nhiệm hình sự của pháp nhân”, Khoa học pháp lý, (2), tr. 58-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số học thuyết về Trách nhiệm hình sự của pháp nhân”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Hoàng Thị Tuệ Phương
Năm: 2006
23. Hồ Trọng Ngũ (2006), Tội phạm có tổ chức. Lịch sử và vấn đề hôm nay, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm có tổ chức. Lịch sử và vấn đề hôm nay
Tác giả: Hồ Trọng Ngũ
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2006
24. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), NXB Đại học quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2005
25. Nguyễn Băng Tú (2005), Luận văn: Tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành-Những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn: Tư cách pháp nhân của Doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành-Những bất cập và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Băng Tú
Năm: 2005
26. Nguyễn Lân (2000), Từ điển: Từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển: Từ và ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
28. Nguyễn Thị Thu Hương (2011), Luận án: Tội phạm hóa, Phi tội phạm hóa; Hình sự hóa, Phi hình sự hóa những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án: Tội phạm hóa, Phi tội phạm hóa; Hình sự hóa, Phi hình sự hóa những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm