1/- Mở đầu Các kỹ thuật tách sắc ký là những phương pháp tách trong đó các thành phần của mẫu được phân bố vào hai pha: một pha tĩnh và một pha động.. Khi cho dung môi nguyên chất ethe
Trang 1Sắc ký lớp mỏng
Biên soạn: PGS TS Võ thị Bạch Huệ
Trang 21/- Mở đầu
Các kỹ thuật tách sắc ký là những phương pháp tách trong đó các thành phần của mẫu được phân
bố vào hai pha: một pha tĩnh và một pha động
2
Pha tĩnh có thể là một chất rắn,
cũng có thể là một chất lỏng
được giữ trên một chất rắn hay
một gel Pha tĩnh có thể được
nhồi vào một cột, hoặc trải
thành một lớp, hay phân tán
thành một lớp phim v.v Pha
động có thể là chất khí, chất
lỏng hay chất lưu siêu tới hạn
(còn được gọi là chất lỏng siêu
tới hạn)
http://www.instructables.com/id/EW1YDCYF4REC0IU /
Trang 31/- Mở đầu
Sự tách sắc ký có thể dựa trên các cơ chế khác nhau như
- hấp phụ,
- phân bố khối lượng (hay phân chia),
- trao đổi ion,
- hoặc dựa trên sự khác nhau về các tính chất lý
hoá của các phân tử như kích thước, khối lượng, thể tích, v.v…
Trang 51/- Mở đầu
Khi cho dung dịch các sắc
tố thực vật trong ether
dầu hỏa lên một cột được
nhồi bởi bột mịn calci
carbonat, ông nhận thấy
sắc tố bị hấp phụ trên
đầu cột Khi cho dung
môi nguyên chất (ether
dầu hỏa) lên cột, các sắc
tố di chuyển trong cột và
tách thành những vòng
màu xếp chồng lên nhau
Phương pháp này sau đó
Trang 6Các kỹ thuật
1938 Izmailov và Schraiber đã xây dựng và sau đó năm 1958 Stahl đã hoàn thiện phương pháp sắc ký lớp mỏng
6
Trang 7Các kỹ thuật
Sắc ký tiếp tục phát triển không ngừng nhờ vào
suốt những năm thập niên 40 và 50 của thế kỷ 20 Hai ông đã đưa ra những nguyên tắc và kỹ thuật cơ bản của sắc ký phân bố làm động lực cho sự phát triển của nhiều phương pháp sắc ký khác nhau như sắc ký giấy (PC), sắc ký khí (GC) và sắc ký lỏng cao
áp (HPLC)
Trang 83/- Nguyên tắc sắc ký lớp mỏng:
Sắc ký lớp mỏng là một kỹ thuật tách các chất được tiến hành khi cho pha động di chuyển qua pha tĩnh trên đó đã đặt hỗn hợp các chất cần tách
8
Trang 93/- Nguyên tắc sắc ký lớp mỏng:
Pha tĩnh là chất hấp phụ được chọn phù hợp theo từng yêu cầu phân tích, được trải thành lớp mỏng đồng nhất và được cố định trên các phiến kính hoặc phiến kim loại
Trang 103/- Nguyên tắc sắc ký
lớp mỏng:
Pha động là một hệ dung
môi đơn hoặc đa thành
phần được trộn với nhau
theo tỷ lệ quy định trong
từng chuyên luận Trong
quá trình di chuyển qua
lớp hấp phụ, các cấu tử
trong hỗn hợp mẫu thử
được di chuyển trên lớp
mỏng, theo hướng pha
Hazards* Dipole Elution
Stength ()
Flammable Toxic
Toluene
C 6 H 5 CH 3
C7H8 92.13
110.6 0.867
Flammable Toxic
Diethyl ether
CH 3 CH 2 OCH 2 CH 3
C 4 H 10 O 74.12
34.6 0.713
Flammable Toxic, CNS Depressant
Toxic, Irritant Cancer suspect
Ethyl Acetate
CH 3 CO 2 CH 2 CH 3
C4H8O288.10
77.1 0.901
Flammable Irritant
Acetone
CH 3 COCH 3
C 3 H 6 O 58.08
56.3 0.790
Flammable Irritant
Butanone
CH 3 CH 2 COCH 3
C4H8O 72.10
80.1 0.805
Flammable Irritant
1-Butanol
CH 3 CH 2 CH 2 CH 2 OH
C 4 H 10 O 74.12
117.7 0.810
Flammable Irritant
Propanol
CH3CH2CH2OH
C 3 H 8 O 60.09
82.3 0.785
Flammable Irritant
Ethanol
CH 3 CH 2 OH
C 2 H 6 O 46.07
78.5 0.789
Flammable Irritant
Methanol
CH3OH
CH 4 O 32.04
64.7 0.791
Flammable Toxic
Water HOH
H 2 O 18.02
100.0 0.998
Trang 114/- Cơ chế
của sự chia tách có thể là cơ chế hấp phụ, phân bố, trao đổi ion, sàng lọc phân tử hay sự phối hợp đồng thời của nhiều cơ chế tùy thuộc vào tính chất của chất làm pha tĩnh và dung môi làm pha động
http://www.rpi.edu/dept/chem-eng/Biotech-Environ/CHROMO/be_types.htm
Trang 125/- Cách tiến hành
5.1/- Dụng cụ
- Bình triển khai, thường bằng thuỷ tinh trong suốt
có kích thước phù hợp với các phiến kính cần dùng
và có nắp đậy kín
12
Trang 14- Tủ sấy điều nhiệt để hoạt hóa và sấy bản mỏng và sắc ký đồ, hoặc để sấy nóng đối với một số phản ứng phát hiện
- Tủ hút hơi độc
- Máy sấy dùng để sấy khô sắc ký đồ và cho phép chấm nhanh nhiều lần những dung dịch pha loãng chất cần phân tích
- Một máy ảnh thích hợp (với ống kính Macro) có thể chụp lưu giữ sắc ký đồ ở ánh sáng ban ngày với khoảng cách 30-50 cm
- Tủ lạnh để bảo quản những thuốc thử dễ hỏng
- Micropipet nhiều cỡ từ l, 2, 5, 10 đến 20 ml, các ống mao quản hoặc dụng cụ thích hợp
- Bản mỏng tráng sẵn chất hấp phụ có chất phát
Trang 155.2/- Chuẩn bị bình khai triển:
Các bình khai triển thường là bình thủy tinh, hình hộp hay hình trụ, có nắp đậy kín, kích thước thay đổi tùy theo yêu cầu của các bản mỏng sử dụng Bão hòa hơi dung môi trong bình bằng cách lót giấy lọc xung quanh thành trong của bình, rồi rót một lượng vừa đủ dung môi vào bình, lắc rồi để giấy lọc thấm đều dung môi Lượng dung môi sử dụng sao cho sau khi thấm đều giấy lọc còn lại một lớp dày khoảng 5
mm đến 10 mm ở đáy bình Ðậy kín nắp bình và để yên 1 giờ ở nhiệt độ 20 - 25oC
Trang 165.2/- Chuẩn bị bình khai triển:
Muốn thu được những kết quả lặp
lại, ta chỉ nên dùng những dung
môi thật tinh khiết, loại dùng cho
sắc ký Những dung môi dễ bịến
đổi về hóa học chỉ nên pha trước
khi dùng Nếu sử dụng những hệ
pha động phức tạp phải chú ý đến
những thành phần dễ bay hơi làm
thay đổi thành phần của hệ pha
động dẫn đến hiện tượng không
lặp lại của trị số Rf
16
Trang 175.3/- Chấm chất phân tích lên bản mỏng:
Lượng chất hoặc hỗn hợp chất đưa lên bản mỏng có
ý nghĩa quan trọng đối với hiệu quả tách sắc ký, đặc bịệt ảnh hưởng rất lớn đến trị số Rf
Trang 18Lượng chất quá lớn làm cho vết sắc ký lớn và kéo dài, khi đó, vết của các chất có trị số Rf gần nhau sẽ bị chồng lấp
Lượng chất nhỏ quá có thể không phát hiện được do
độ nhạy của thuốc thử không đủ (thông thường độ nhạy của các thuốc thử trên 0,005 mg) Lượng mẫu thông thường cần đưa lên bản mỏng là 0,1 - 50 mg
ở dạng dung dịch trong ether, cloroform, nước hay dung môi thích hợp khác
Trang 195.3/- Chấm chất phân tích lên bản mỏng:
Thể tích dung dịch từ 0,001 ml đến 0,005 ml đối với
trường hợp đưa mẫu lên bản mỏng dưới dạng
điểm và từ 0,l - 0,2 ml khi đưa mẫu lên bản mỏng
dưới dạng vạch như trong trường hợp sắc ký điều
chế
Ðối với sắc ký điều chế thì lượng chất có thể lên tới
10 - 50 mg Ðối với các dung dịch có nồng độ rất loãng thì có thể làm giàu trực tiếp trên bản mỏng bằng cách chấm nhiều lần ở cùng một vị trí và sấy khô sau mỗi lần chấm
Trang 205.3/- Chấm chất phân tích lên bản mỏng:
Ðường xuất phát phải cách mép dưới của bản mỏng 1,5cm - 2 cm và cách bề mặt dung môi từ 0,8 - 1
cm Các vết chấm phải nhỏ, có đường kính 2 - 6
mm và cách nhau 15 mm Các vết ở bìa phải cách
bờ bên của bản mỏng ít nhất 1 cm để tránh hiệu ứng bờ
20
Trang 220.8 cm 3.0 cm
0.8 cm 5.0 cm
3.0 cm 5.0 cm
0.8 cm 5.0 cm D
x
Rf (D) = 4.0 cm = 0.80
5.0 cm
4.0 cm
Trang 235.4/- Triển khai sắc ký:
Ðặt bản mỏng gần như thẳng đứng với bình triển khai, các vết chấm phải ở trên bề mặt của lớp dung môi khai triển Ðậy kín bình và để yên ở nhiệt độ không đổi Khi dung môi đã triển khai trên bản mỏng được một đoạn theo quy định trong chuyên luận, lấy bản mỏng ra khỏi bình, đánh dấu mức dung môi, làm bay hơi dung môi còn đọng lại trên bản mỏng rồi hiện vết theo chỉ dẫn trong chuyên luận riêng
Trang 24Quan sát các vết xuất hiện, tính giá trị Rf hoặc Rr và tiến hành định tính, phát hiện tạp chất hoặc định lượng như quy định trong chuyên luận riêng
Việc sắc ký lớp mỏng được tiến hành trong điều kiện chuẩn hoá cho kết quả có độ tin cậy cao hơn Hiện nay người ta thường tiến hành sắc ký với sự giúp đỡ của hệ thống sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao
24
Ðại lượng đặc trưng cho mức độ di
chuyển của chất phân tích là hệ số
di chuyển Rf được tính bằng tỷ lệ
giữa khoảng dịch chuyển của chất
thử và khoảng dịch chuyển của
dung môi:
Trang 25a là khoảng cách từ điểm xuất phát đến tâm của vết mẫu thử, tính bằng cm
a’ là khoảng cách từ điểm xuất phát đến tâm của vết mẫu đối chiếu, tính bằng cm
b là khoảng cách từ điểm xuất phát đến mức dung môi đo trên cùng đường đi của vết, tính bằng cm
Rf: Chỉ có giá trị từ 0 đến l
Trang 265.5/- Phương pháp phát hiện và thu nhận kết quả trong sklm điều chế:
5.5.1/- Phun xịt với thuốc thử đặc trưng :
Giúp biết được vị trí của vết mẫu trên tấm bản
26
Trang 275.5/- Phương pháp phát hiện và thu nhận kết quả trong sklm điều chế:
5.5.2/- Soi bản dưới đèn UV :
Nhanh, tiện lợi, nhìn được vết mà
không gây hao hụt mẫu
Tuy nhiên, vết có thể ở vị trí x
trên bản, nhưng mắt lại nhìn
thấy vị trí biểu kiến của nó, nghĩa
là ở một vị trí khác Cần kiểm tra
một vài lần bằng cách che môt
phần bản và phun xịt các thuốc
thử để nhìn rõ vị trí của các vết.
Trang 285.5/- Phương pháp phát hiện và thu nhận kết quả trong sklm điều chế:
5.5.3/- Hơ hơi iod :
Đặt bản trong một buồng có hơi iod, khi thấy vết hiện lên trên bản, lấy bản ra khỏi buồng, đánh dấu vị trí của vết, phơi bản ngoài quạt hơi iod sẽ bay đi mất
28
Trang 296/- Ưu nhược điểm và khả năng ứng dụng :
6.1/- Ưu điểm
Kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, có thể thực hiện ở mọi phòng thí nghiệm
Thời gian thực hiện nhanh, tối đa vài giờ
Do cách thực hiện đơn giản nên có thể dùng SKLM để khảo sát các hệ dung môi cho các phương pháp sắc ký khác
Nhìn chung SKLM là phương pháp có tính ứng dụng rất cao, thông dụng nhất hiện nay
Nhanh, dễ tìm được các dung môi thích hợp để tách các chất
Các vùng có chứa chất cần thiết sẽ tập trung tại 1 vị trí nhất định dễ dàng phát hiện, dễ dàng nhận biết
SKLM tách tốt là nhờ tỷ lệ lớn giữa chất tách : chất hấp thu silicagel từ 1:1000 đến 1:10000 trong khi tỷ lệ này ở sắc ký cột là 1:50 đến 1:100
Trang 33TLC - Optimizing for column chromatography
Optimum: 0.2 < R f < 0.5
Trang 3434
Trang 35Thin-Layer Chromatography: A
Two-Component Mixture
More polar! Less polar!
Trang 36The R f value is a decimal
fraction, generally only
reported to two decimal
places
Trang 37Thin-Layer Chromatography:
Qualitative Analysis
A B unknown