1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm văn xuôi nguyễn thị thụy vũ

94 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 846,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về đề tài nữ quyền trong văn chương của bà, Tạ Tỵ trong bài viết Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay đã có những nhận xét cụ thể như sau: ''Sự xuất hiện của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ như một kỳ lạ,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NGUYỄN THỊ THỤY VŨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ HỒNG LÊ

ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NGUYỄN THỊ THỤY VŨ

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 822.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 8

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp mới của luận văn 9

7 Cấu trúc của luận văn 9

Chương 1: VỊ TRÍ CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ TRONG VĂN XUÔI ĐÔ THỊ MIỀN NAM 1954-1975 10

1.1 Khái niệm Văn xuôi đô thị miền Nam 1954-1975 10

2.1 Sơ lược về các chặng đường phát triển và thành tựu của văn xuôi đô thị miền Nam 1954-1975 12

2.1.1 Các chặng đường phát triển 12

2.1.2 Thành tựu nổi bật 14

3.1 Nguyễn Thị Thụy Vũ trong làng văn nghệ miền Nam 16

3.1.1 Sơ lược về tiểu sử, cuộc đời của Nguyễn Thị Thụy Vũ 16

3.1.2 Các chặng đường sáng tác 17

3.1.3 Vị trí của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong văn học nữ miền Nam nói riêng và văn học miền Nam 1954-1975 nói chung 18

Chương 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ NHỮNG ĐỀ TÀI - CHỦ ĐỀ NỔI BẬT TRONG VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ 20

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 20

2.1.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người 20

2.1.2 Những thay đổi đáng chú ý trong quan niệm về con người của Văn xuôi đô thị miền Nam 1954-1975 22

2.2 Những nét chính trong quan niệm về con người của văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ 26

Trang 4

2.2.1 Con người có cái nhìn thách thức, thậm chí xấc xược đối với những quy

ước xã hội, những quy tắc đạo đức phi tự nhiên 26

2.2.2 Con người bị ám ảnh bởi dục tình, buông thả vào những cuộc tình tội lỗi, bế tắc 27

2.3 Các đề tài - chủ đề chính 31

2.3.1 Cuộc sống xưa cũ của người nông dân Nam Bộ 31

2.3.2 Sự tự khẳng định của ý thức nữ quyền trong bối cảnh hỗn nhập văn hóa 33

2.3.3 Thân phận nổi nênh của những cô gái kiếm sống bên lề cuộc chiến tranh 39

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT VỀ NGHỆ THUẬT CỦA VĂN XUÔI NGUYỄN THỊ THỤY VŨ 49

3.1 Nghệ thuật tạo dựng không gian, thời gian 49

3.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 49

3.1.2 Không gian trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ 50

3.1.3 Khái niệm thời gian nghệ thuật 56

3.1.4 Nghệ thuật miêu tả thời gian trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ….57 3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 61

3.2.1 Cá tính hóa nhân vật 61

3.2.2 Thả nhân vật vào tình huống kịch tính 65

3.3 Ngôn ngữ kể chuyện 69

3.3.1 Ngôn ngữ bình dân dễ cảm, rặt ròng chất Nam Bộ 69

3.3.2 Ngôn ngữ “bụi” thô ráp và khiêu khích 71

3.4 Giọng điệu 73

3.4.1 Giọng chua chát, gây sự 73

3.4.2 Giọng dằn vặt, trăn trở 74

3.4.3 Giọng đồng cảm, sẻ chia 77

3.4.4 Giọng khách quan, táo bạo 82

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ 1954 đến 1975 bên cạnh nền văn học ở miền Bắc Việt Nam xã

hội chủ nghĩa có một nền văn học song song tồn tại và phát triển với nhiều đặc điểm khác biệt Đó là văn học đô thị miền Nam

Từ 1954, trong số những người từ miền Bắc di cư vào Nam, có nhiều nhà văn, nhà thơ Một số tác giả đã viết trước đó và tiếp tục sáng tác như Nhất Linh, Vũ Bằng, Vi Huyền Đắc trong khi nhiều người bắt đầu sự nghiệp văn chương tại miền Nam như Thanh Tâm Tuyền, Lê Tất Điều, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Doãn Dân Hoạt động của họ trên văn đàn ở giai đoạn đầu

có tác dụng kích thích, gây hào hứng cho bầu không khí sáng tác chung; làm cho đội ngũ viết văn, làm báo của miền Nam đông đúc hơn, đa dạng hơn, nhiều thành phần và phức tạp hơn Bên cạnh lực lượng sáng tác là những nhà lý luận, nghiên cứu, phê bình, khảo cứu văn hóa mà hoạt động của họ có tác động đến

sự phát triển văn học như Nguyễn Hiến Lê, Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Lữ Phương, Đặng Tiến, Nguyễn Nhật Duật, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh Cùng với những cây bút có quá trình hoạt động văn chương xuyên suốt nhiều thời kỳ là lớp nhà văn trẻ xuất hiện từ sau 1964 như

Hồ Minh Dũng, Nguyễn Mộng Giác, Trần Hoài Thư, Lê Văn Thiện, Hoàng Ngọc Tuấn Họ đã trẻ hóa và làm linh hoạt, nhộn nhịp các diễn đàn văn xuôi Văn xuôi giai đoạn 1954-1975 ở các vùng đô thị miền Nam phát triển vượt bậc so với thơ cả về số lượng lẫn chất lượng nhất là ở các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, tạp bút Tác phẩm văn xuôi giai đoạn này phát triển dồi dào về số lượng, nguyên nhân chính là do tác động của báo chí và hoạt động của các nhà xuất bản Phần lớn tác phẩm trước khi in thành sách đều đã đăng trên báo, tạp chí; và hầu hết các loại báo và tạp chí đều có phần dành cho văn chương Được nhiều người đọc nhất là loại tiểu thuyết nhiều kỳ đăng thường xuyên trên nhật báo (còn gọi là Feuilleton), thứ nữa là truyện

Trang 6

ngắn, rồi tới tùy bút, đoản văn Thị trường báo chí sôi động, lôi cuốn các nhà văn chuyên nghiệp và cả những người không chuyên vào cuộc Tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đã đáp ứng được khá linh hoạt nhu cầu của người đọc tại các vùng đô thị bởi văn chương chủ yếu dựa vào chất liệu từ hiện thực cuộc sống và hướng tới hiện thực cuộc sống Ở làng quê và các vùng nông thôn xa xôi, sách và báo chí chưa có điều kiện đến gần, nhưng nhiều người nông dân

vì chiến tranh, vì mưu sinh phải từ giã ruộng đồng đến sống ở thành phố, hình thành nên một lớp độc giả mới của đô thị Lớp độc giả này có đời sống tinh thần mới, thị hiếu thẩm mĩ mới và nhu cầu giải trí cao điều đó kéo theo sự tìm kiếm đề tài mới trong văn học

1.2 Đời sống văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 trên các phương diện

từ lý luận, phê bình văn học, đến thực tế sáng tác đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học trước và sau 1975, cả trong Nam ngoài Bắc và hải ngoại đề cập Những công trình nghiên cứu hoặc các bài báo về vấn đề này, với những quy mô khác nhau, xuất phát từ những “điểm nhìn”, quan điểm chính trị, thẩm mỹ khác nhau cùng với tính phức tạp vốn có của đối tượng nghiên cứu đã đem đến cho người đọc những thông tin đa chiều về một bộ phận văn học hết sức đặc biệt

Phải thừa nhận rằng sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, do cách nhìn thành kiến, đố kỵ và sự ấu trĩ, do bị chi phối bởi các yếu tố ngoài văn học và các yếu tố tâm lý xã hội thiếu cởi mở, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học (ở cả miền Nam và miền Bắc) có biểu hiện né tránh, ngại đi vào lĩnh vực có

vẻ còn nhiều “chông gai” bởi đã và vẫn đang tồn tại nhiều quan điểm trái chiều Nói đến văn học đô thị miền Nam giai đoạn này, nhiều người nghĩ ngay đến những “đặc trưng cơ bản” của nó là văn học nô dịch phản động, văn học đồi trụy khiêu dâm và xếp nó vào loại văn học thực hiện âm mưu nô dịch của kẻ thù Tuy vậy, các nhà nghiên cứu vẫn khẳng định bên cạnh những tác phẩm “văn học thực dân mới”, văn học đô thị miền Nam còn có các tác phẩm văn học yêu nước tiến bộ cần được đánh giá cao Văn học đô thị miền Nam có

Trang 7

lúc gần như bị gạt khỏi văn học dân tộc, bị lãng quên, trong khi các bộ phận khác của văn học dân tộc lại được quan tâm nghiên cứu tỉ mỉ và sâu sắc Qua thời gian đã nửa thế kỷ, nhiều tác phẩm văn học không những không được tái bản mà còn không được quan tâm lưu trữ Do vậy, nguồn tư liệu, theo thời gian đang là trở ngại cho giới nghiên cứu Văn học đô thị miền Nam dù thế nào đi nữa, cũng là một bộ phận của văn học dân tộc, có quá trình phát triển hơn 20 năm, không thể bỏ qua Chúng ta cần phải tiến hành nghiên cứu đầy

đủ về văn học đô thị miền Nam, từ đó đưa ra những đánh giá khách quan, khoa học để những gì có giá trị thực sự, có đóng góp vào thành tựu chung của cộng đồng, dân tộc thì phải được ghi nhận xứng đáng

1.3 Là một trong năm nhà văn nữ có tiếng ở miền Nam trước 1975,

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ chuyên viết về những nhân vật và bối cảnh rặt chất Nam Kỳ, bằng tất cả vốn sống của một công dân Vĩnh Long thứ thiệt Những năm gần đây nhiều độc giả lớp trước của văn học miền Bắc và rất nhiều độc giả trẻ lớn lên sau chiến tranh mới biết đến Nguyễn Thị Thụy Vũ Do những nguyên nhân chính trị, một thời tác phẩm của bà cũng như của nhiều nhà văn miền Nam khác cố tình bị quên lãng Nhưng với thời gian, khi sự công bằng

và khách quan trong đánh giá được khôi phục, người ta nhận ra những giá trị lớn trong sáng tác của bà Nhiều bài viết nghiên cứu và phê bình về văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã lần lượt xuất hiện trên các báo, tạp chí

Và mới đây mười tác phẩm của bà từng xuất bản trước 1975 đã được Nxb Hội Nhà văn và Phương Nam Books tái bản làm hai đợt

Từ những lí do trên chúng tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu đánh giá văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ là việc làm cần thiết, vì với hành động đó, chúng ta không chỉ có cơ hội hiểu rõ hơn về văn chương của bà mà còn hiểu được phần nào văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975

2 Lịch sử vấn đề

Qua khai thác các nguồn tư liệu sách, báo (báo viết và báo mạng), chúng tôi đã tìm được các bài phê bình, bài giới thiệu rất đáng chú ý sau đây:

Trang 8

- Du Tử Lê, “Cá tính mạnh mẽ của Nguyễn Thị Thụy Vũ từ văn chương

tới đời thường”, trang web http://www.dutule.com (11/03/2010 03:44 PM)

- Du Tử Lê, “Sự khác biệt về tính dục trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ

và các nhà văn nữ khác”, trang web http://www.dutule.com (10/27/2010

10:08 AM)

- Đặng Tiến Vinh, “Đọc “Khung rêu” của Nguyễn Thị Thụy Vũ”, trang web http://www.talawas.org, 9.5.2008

- Hồ Trường An, “Tổng quan văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ”

- Lý Đợi, “Bị chụp mũ đồi trụy, chưa hẳn đã xui xẻo”, trang web - http://www.bbc.com/vietnamese, 4 tháng 4 2017

- Nguyễn Ngọc Chính, “Nhà văn nữ trước 1975: Nguyễn Thị Thụy Vũ”, trang web http://chinhhoiuc.blogspot.co.nz/ Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012

- Nguyễn Tà Cúc, “Nguyễn Thị Thụy Vũ - "Qua trận gió kinh thiên",

trang web http://huyvespa.blogspot.com, 8 tháng 5, 2014

- Nguyễn Thị Thanh Xuân, “Nguyễn Thị Thụy Vũ đã trở lại”, trang web http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ 19 Tháng 3 2017

- Phan Ngọc Như An, “Ðọc tập truyện Chiều mênh mông của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ”, trang web https://il.aaescritores.com, 28.3.2008

Chúng tôi nhận thấy những người viết nêu trên đã có nhiều khái quát đúng đắn, khách quan về cả phong cách viết lẫn cảm quan hiện thực của Nguyễn Thị Thụy Vũ thể hiện qua toàn bộ sáng tác của bà Tiêu biểu là các nhận định sau:

Nhà văn, họa sĩ Tạ Tỵ trong Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (xuất bản tại Sài Gòn năm 1973) viết: “Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà văn phái nữ, hiện diện giữa khung trời văn nghệ với sắc thái đặc thù Những ý nghĩ bỏng cháy và rẫy rụa về thân xác trong mỗi tác phẩm, đôi khi vượt qua ý nghĩ của nhiều người” [40]

Nhà phê bình Nguyễn Đình Tuyến nhìn thấy ở văn chương Nguyễn Thị

Thụy Vũ những giá trị có tính thời đại: "Truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ thật

Trang 9

là táo bạo Đọc xong truyện, tôi nghĩ đây mới thật là những truyện trình bày những sự kiện sống thực nhất của thời đại chúng ta Thời đại này rồi sẽ đi qua Những cái gì của thời này nếu không ghi kịp thì ngày mai sẽ mất"

Võ Phiến trong Văn học Miền Nam tổng quan [28] cho rằng sách của Thụy Vũ là dạng sách mà "các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết"

Hồ Trường An trong Tổng quan văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ có nhận xét: "Văn chương của Thụy Vũ thật khó xác định Chị viết về tâm sự cô đơn của các cô gái già, chị viết về xã hội các cô gái buôn hương bán phấn về sinh hoạt của gia đình nhiều biến cố có liên quan đến thời cuộc và đến những khúc quanh của lịch sử Đó là thứ văn chương hiện thực xã hội pha trộn một chút bóng dáng văn chương nổi loạn vốn là tàn dư sót muộn của văn chương hiện sinh"[1] Sau khi khái quát các tác phẩm của Thụy Vũ ông còn rút ra nhận xét: ''Nếu bình tâm mà xét, trong mười tác phẩm gồm truyện ngắn lẫn truyện dài thì chỉ có ''Cho Trận Gió Kinh Thiên'' (truyện dài) cùng ba truyện ngắn '' Trôi Sông'', ''Đêm Tối Bao La'' và ''Lòng Trần'' là đáng nói hơn vì những tác phẩm này đập mạnh vào cõi ấn tượng độc giả bằng những nhát búa khốc liệt Những truyện ngắn lẫn truyện dài khác, kể cả quyển ''Khung Rêu'' đã từng đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1970 cũng chỉ xây được cái nền mống và các rường cột cho ngôi nhà văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ mà thôi Chính 1 truyện dài và 3 truyện ngắn mà tôi vừa

kể mới thắp hào quang cho văn nghiệp kia, mới làm rạng ngời thần trí sáng tạo của tác giả Nhã Ca viết về cảnh hậu phương xa tầm lửa đạn khói súng Văn chương quá hiền Túy Hồng rống la tru tréo thân phận đàn bà bị thiệt thòi Cũng còn hiền thôi Trùng Dương và Nguyễn Thị Hoàng chạy theo gót văn chương mệt mỏi, chán chường, bồn nôn, bợn dạ, ói mửa lung tung của chủ nghĩa hiện sinh Cũng vẫn còn hiền Nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ qua 3 truyện ngắn và 1 truyện dài kia có thể cứa mạnh vào tâm khảm độc giả những nhát dao độc địa, những lằn roi tàn nhẫn Còn ngoài ra những tác phẩm

Trang 10

truyện dài truyện ngắn khác chỉ đọc dược thôi, không khởi sắc, không làm khách thưởng ngoạn sành điệu khác khởi hứng bao nhiêu'' [1] Người viết đã

cho thấy được đặc sắc của văn chương Thụy Vũ so với các nhà văn cùng thời

Nguyễn Thị Thanh Xuân trong bài Nguyễn Thị Thụy Vũ đã trở lại (trong trang http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/v) có nhận xét rằng: ''Quan sát tận tường, miêu tả táo bạo, phơi mở nhiều cảnh huống, dõi theo nhiều số phận, chạm khắc những tâm trạng, tung hứng nhiều lời thoại dí dỏm… tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ nói với chúng ta

bà là nhà văn bẩm sinh Đọc bà, sẽ hiểu cái dung nham sáng tạo ấy đã cuồn cuộn trong lòng bà từ thời thơ bé, dù bà nói rằng thuở ấy những bài tập làm văn của bà thường bị thầy chê trách và phải nhận những điểm xoàng Có thể người thầy ấy khắt khe vì biết Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất thân trong một gia đình có truyền thống văn chương, nhưng nhiều phần đúng hơn là bà cá tính quá: cái cá tính phản kháng, hoài nghi, không chịu khép mình vào lề thói, lại hay nói huỵch toẹt ra những sự thật mà đời thường cấm kỵ…'' [53] Bài viết còn cho thấy Thụy Vũ là một cây bút tả chân sâu sắc: ''Gần như không bị điều kiện hóa bởi bất kỳ không gian, hoàn cảnh nào, cái Ngọn - núi – băng – cao - vút kia (Nguyễn Thị Băng Lĩnh, tên cúng cơm của bà) tự mình đổi tên thành Cơn - mưa - lành (Nguyễn Thị Thụy Vũ, bút danh), và từ 1965 đến 1975 những cơn mưa văn chương rào rạt chảy, hồn nhiên mà tưới tắm, mà xói đất,

mà làm nổi lên những bèo bọt, rác rưởi của những kiếp phù sinh một thời ly loạn Nhưng đây là bèo bọt rác rưởi của nhân sinh, mưa nào phân biệt Cơn- mưa- lành chỉ biết nâng lên thành chữ nghĩa, thành văn chương: công chúng đón đọc từng ngày qua báo chí và mười cuốn sách lần lượt ra đời khẳng định một khuôn mặt văn chương nữ độc đáo của Việt Nam về bút pháp tả chân'' Nguyễn Ngọc Chinh trong bài viết Nguyễn Thị Thụy Vũ trước 1975 (đăng

trong trang nguyen-thi-thuy-vu.html ) có nhận xét như sau: ''Nguyễn Thị Thụy Vũ viết rất

Trang 11

http://chinhhoiuc.blogspot.co.nz/2012/11/nha-van-nu-truoc-1975-''bạo'' đến độ một số nhà phê bình xếp tác giả vào loại những cây bút khiêu dâm'' [6] Đây là một trong những nét đặc sắc cũng là làm nên những thành

công của bà trong đề tài nữ quyền

Du Tử Lê trong bài viết Sự khác biệt về tính dục trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ và các nhà văn nữ khác (trên trang http://www.dutule.com/D_1-2_2- 111_4-2926_5-4_6-1_17-46_14-2/) đã so sánh và tìm ra nét khác biệt của Thụy Vũ với nhà văn khác ở đề tài nữ quyền, trong việc lưạ chọn nhân vật:

''Nhân vật của cõi-giới văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng không đặt vấn đề thượng đế đã chết hay vẫn còn sống? Họ không hề thao thức, trằn trọc trước lằn ranh ăn thua đủ với Thượng đế, như trong truyện của Trùng Dương Họ chỉ sống Thản nhiên, sống Như không hề cật vấn, tại sao được sinh ra?!!" [21]

Về đề tài nữ quyền trong văn chương của bà, Tạ Tỵ trong bài viết Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay đã có những nhận xét cụ thể như sau: ''Sự xuất hiện của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ như một kỳ lạ, giữa khung trời nghệ thuật miền Nam Việt Nam Thụy Vũ viết truyện ngắn với nhiều thể tài, mỗi thể tài đều hàm chứa sự cuồng nhiệt của tuổi trẻ trong vấn đề tình yêu, cũng như nỗi nhức mỏi về thân phận, thân phận người con gái với những ước mơ táo bạo

về dục tình Thụy Vũ hãy còn trẻ lắm, nên những sự việc đề cập tới dù ở khía cạnh nào, dù ở trạng huống nào, cũng chỉ để tỏ bày, để nói ra những gì mình nghĩ, một cách ngay tình không dùng những ẩn dụ nào che đậy, hay có ý khuyến dụ ai, chìm khuất phía sau những dòng chữ Bởi vậy, văn của Thuỵ Vũ thiếu chiều sâu ý thức Người đọc Thuỵ Vũ, có thể nhất thời, bị lôi cuốn vào guồng máy, nhưng sau khi đọc đến dòng cuối, bắt gặp cái khoảng trắng mênh mông, người đọc không còn phải thắc mắc, hay suy nghĩ về trường hợp vừa được nói đến Đó là cái bản chất văn chương của Nguyễn Thị Thuỵ Vũ và nhà văn, chắc cũng chẳng mấy bận tâm về điều đó''[41]

Từ những tư liệu mà chúng tôi bao quát, có thể nhận thấy tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ vẫn chưa được khám phá tương xứng với tầm vóc và ý

Trang 12

tưởng của nó Từ những khoảng trống đó, đề tài khoa học mà chúng tôi đang thực hiện hi vọng sẽ cung cấp một cái nhìn hệ thống, những đánh giá khoa học để tìm nhận đặc điểm văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ

3 Đối tượng và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là đặc điểm văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ (trên cả hai phương diện nội dung và hình thức)

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Chúng tôi khảo sát toàn bộ 10 tác phẩm (gồm truyện ngắn và truyện dài)

của Nguyễn Thị Thụy Vũ vừa được Nxb Hội Nhà văn tái bản: Chiểu xuống

êm đềm, Lao vào lửa, Mèo đêm, Ngọn pháo bông, Trôi sông, Chiều mênh mông, Khung rêu, Cho trận gió kinh thiên, Nhang tàn thắp khuya

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung tìm hiểu đặc điểm của văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ

để có cơ sở đánh giá những đóng góp đặc sắc của tác gia này cho Văn xuôi đô thị miền Nam 1954 – 1975 cũng như cho văn xuôi Việt Nam hiện đại

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định vị trí của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong văn xuôi đô thị miền Nam 1954 – 1975

- Phân tích, làm rõ quan niệm con người và các đề tài – chủ đề nổi bật trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ

- Phân tích, làm rõ những đặc điểm về hình thức văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp chính sau:

- Phương pháp hệ thống – cấu trúc

- Phương pháp loại hình

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn đi sâu khám phá quan niệm con người, hệ thống đề tài – chủ đề nổi bật trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng như những thành công của

bà trong việc tạo dựng một không gian nghệ thuật riêng biệt cùng những con người đậm cá tính Nam Bộ hay thể hiện rõ thái độ thách thức thời cuộc Những phân tích cụ thể về các đặc điểm nổi bật trên đã góp thêm căn cứ khẳng định giá trị thực sự của những cuốn sách mà nhà văn Nguyễn Thị Thụy

Vũ đã viết ra trong một bối cảnh đặc biệt của văn học và của đời sống đất nước

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Vị trí của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong văn xuôi đô thị miền Nam 1954-1975

Chương 2: Quan niệm về con người và những đề tài - chủ để nổi bật trong văn xuôi của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Chương 3: Đặc điểm nổi bật về nghệ thuật của văn xuôi Nguyễn Thị Thụy

Trang 14

Chương 1

VỊ TRÍ CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ TRONG VĂN XUÔI ĐÔ THỊ MIỀN NAM 1954-1975

1.1 Khái niệm Văn xuôi đô thị miền Nam 1954-1975

"Văn học đô thị miền Nam" là cụm từ dùng để định danh cho một bộ phận của văn học Việt Nam hiện đại, tồn tại chủ yếu ở đô thị miền Nam dưới

sự kiểm soát của chính thể Việt Nam cộng hòa, trong thời kỳ đất nước bị chia cắt sau hiệp định Geneve năm 1954 Tại sao chỉ dùng cụm từ "văn học đô thị"

để gọi bộ phận văn học nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ Sài Gòn giai đoạn 1954-1975? Ta thấy đô thị miền Nam, cụ thể là Sài Gòn, trong giai đoạn này đã tạo nên một sắc màu tương phản với những vùng nông thôn rộng lớn xung quanh vốn rất nghèo khổ và thiếu thốn trong chiến tranh Đồng thời, nó cũng tương phản với các đô thị miền Bắc cùng thời, do điều kiện chiến tranh

và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã bị xoá nhoà ranh giới với nông thôn Trong văn học, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa phổ biến cho toàn miền nên không tạo được đặc trưng riêng cho vùng đất mang danh đô thị Ngược lại, Sài Gòn lúc này giàu có, xa hoa bậc nhất vùng Đông

Á Đi kèm với nó là vũ trường, cờ bạc, ma tuý, thất nghiệp, và những con người đói rách tận cùng Về mặt văn học, các tư tưởng, lý thuyết, phương pháp sáng tác từ phương Tây, mà cụ thể là Âu Mỹ du nhập vào Sài Gòn khá nhiều Giới trí thức Sài Gòn cập nhật gần như cùng lúc tất cả những sự kiện, trào lưu, trường phái văn học cùng thời ở Mỹ và Tây Âu, khiến cho họ có nhiều con đường để lựa chọn Những điều trên cho thấy văn học Sài Gòn 1954-1975 mang đậm tính đô thị, dù đó chỉ là đô thị thuộc địa, chứ không phải là đô thị công nghiệp như ở các nước phương Tây

Tuy nhiên, điều này không đủ để giải thích lý do của việc tồn tại một cách gọi “Văn học đô thị” chỉ dành riêng cho bộ phận văn học này trong riêng giai đoạn này Đây là cách gọi một thời của các nhà phê bình miền Bắc dành cho

Trang 15

văn học ở thành thị miền Nam Trong cuốn Tổng quan văn học miền Nam

[27] khi đề cập đến văn chương miền Nam, đặc biệt trong thời chiến, giới nhận định, biên khảo trong nước, đều gọi là: Văn chương đô thị, văn học đô thị, văn chương thành thị… làm như cái nôi văn học miền Nam xuất phát từ Sài Gòn, làm như văn chương miền Nam là thứ văn chương đô thị hóa, là thứ văn chương hiện sinh, đồi trụy… Tên gọi "Văn học đô thị miền Nam" không phải có sau 1975 Nó xuất hiện truớc 1975, đồng nghĩa với "văn học nô dịch", "văn học đồi trụy", "văn học hiện sinh", "văn học thực dân kiểu mới",

"nọc độc văn hóa" (Trần Hoài Thư)

Dù muốn dù không, ta cũng cần thừa nhận cách định danh này mang nhiều nội dung chính trị hơn là văn học Sài Gòn trước 1954 giàu có, xa hoa, thậm chí trụy lạc như nhiều người nhận xét không phải đến thời chính quyền Ngô Đình Diệm mới có và tầng lớp người lao động bị bần cùng hoá, bị đẩy ra đường cũng không phải đến giai đoạn này mới xuất hiện Thế nhưng không ai gọi văn học Sài Gòn giai đoạn 1945-1954 là văn học đô thị cả Điều này xuất phát từ cái nhìn khác nhau của những người ở hai bên chiến tuyến, đi theo những con đường văn học khác nhau, dẫn đến ít nhiều hiểu lầm nhau và hiểu lầm khá nhiều về các tư tưởng, lý thuyết văn học thế giới như chủ nghĩa hiện sinh, văn học thuộc địa…

Như vậy, không tồn tại một khái niệm văn học đô thị với những đặc trưng chung ở mọi khu vực và giai đoạn văn học Ở vùng Đông Á thời trung đại, trong đó có Việt Nam, văn học đô thị phát triển dựa trên sự ra đời của thành thị thương nghiệp, nhu cầu giải trí đã kéo văn học thoát ra khỏi khuôn khổ của cung đình đầy ắp những vấn đề đạo đức, lý tưởng Thời hiện đại, khoảng cách kinh tế, văn hoá giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn, cộng thêm sự ra đời của các siêu đô thị, đã tạo ra những thế hệ công dân hoàn toàn đặc thù với lối sống đô thị, quen thuộc với sản phẩm nhân tạo nhiều hơn thế giới tự nhiên

Xã hội này đã sinh ra nền văn học tương ứng Việt Nam chưa hoàn toàn thoát khỏi đặc trưng nông thôn nên văn học viết về đời sống đô thị vẫn chưa thật sự

Trang 16

mang đầy đủ những đặc điểm của dòng văn học này Khái niệm "văn học đô thị" ở Việt Nam thường được sử dụng để gọi văn học ở Sài Gòn giai đoạn 1954-1975, một phần vì nền văn hoá, văn học ở Sài Gòn thời điểm này chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hoá đô thị các nước phương Tây, một phần vì sự phân biệt có tính chính trị ở Việt Nam thời điểm đó, khiến khái niệm "đô thị" phần nào mang màu sắc tiêu cực

2.1 Sơ lược về các chặng đường phát triển và thành tựu của văn xuôi

đô thị miền Nam 1954-1975

2.1.1 Các chặng đường phát triển

Diễn trình văn xuôi đô thị miền Nam trong hai mươi năm không thẳng một đường, hướng tới một đích như văn học Cách mạng mà quanh co, biến hóa khác thường

Theo Võ Phiến trong Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 (Phần Tổng quan) [27], trong thời kỳ đầu từ 1954 đến 1963, còn gọi là thời "Đệ nhất

Cộng hòa" hay thời Ngô Đình Diệm, văn học mới hình thành có vẻ rất hào hứng, tràn trề hy vọng nhưng rồi nhanh chóng thất vọng Mai Thảo và một số nhà văn từ miền Bắc vào từ chỗ rất tin vào khí thế "lên đường" của văn học mới, tưởng rằng họ sẽ gặt hái toàn những mùa "sáng tạo" bội thu, cuối cùng nhận ra mình đã quá ảo tưởng Không chỉ Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền mà cả Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Khắc Khoan đều có tâm trạng chua chát ấy Họ vẫn hoạt động, vẫn đi trên con đường văn chương nhưng đã làm rơi mất niềm tin tích cực về nó ngay sau khi khởi hành Vấn đề còn lại là viết để mưu sinh và viết theo quan niệm cá nhân của mỗi người

Từ 1963 trở đi, nhất là khi Mỹ đổ quân vào miền Nam thì cả đời sống chính trị và đời sống văn chương đều biến đổi dữ dội Sau 1963, văn chương miền Nam biến thái cùng với một mối ám ảnh thường xuyên, khốc liệt: ám ảnh chiến tranh và tất cả những gì xung quanh chiến tranh Văn chương thể hiện sự ưu tư thân phận đất nước Có khá nhiều văn thơ xuất hiện trên báo chí, một số thi phẩm mang những nội dung này, nhưng ngày nay không được

Trang 17

nhắc nhở, có thể do đề tài nói lên cảm nghĩ quen thuộc ai cũng biết như vậy vào thời đó, cái thời mà đi đâu cũng thấy bóng quân đội Mỹ trong khi chiến

sự xảy ra khắp nơi và hằng ngày Họ quay về cảnh sống bình yên của nông thôn ngày trước, hoài niệm quá khứ hoặc quay lưng lẩn tránh thực tại Một số nhà văn khác lại phản ứng với hiện thực bằng cách thể hiện nhân vật trong tác phẩm có thái độ thách thức, hành động ngược lại với những qui ước đạo đức vốn sẵn có Hàng loạt tác phẩm viết về chiến tranh ra đời Nhưng vẫn chưa thấy có tác phẩm nào đủ tầm, đủ sức khái quát toàn bộ cuộc chiến, nhất là nói cho đúng nguyên nhân sâu xa và tác động của nó đối với người dân Việt hai miền

Giai đoạn 1968 đến 1975 là thời kỳ bi quan, khủng hoảng Trên văn đàn hầu như chỉ thể hiện rõ hai khuynh hướng tư tưởng: một là chán nản, tuyệt vọng, phá phách; hai là chống Mỹ, đề cao dân tộc Các báo và tạp chí thay nhau giải thể, tan rã, rồi thành lập mới, nhiều nhà văn ngừng viết, nhiều người mới nhập cuộc Diện mạo văn xuôi nhìn chung không thay đổi nhưng đã có

sự hoán vị âm thầm về đề tài, thể loại và vị trí nhà văn Sau hiệp định Paris văn chương thời tạm lắng, nền chính trị thì suy yếu, nhưng miền Nam vẫn giữ được tình trạng sống an phận, không đến nỗi hỗn độn tao loạn Hình như người ta đã quen sống chịu đựng do cuộc chiến tranh quá dài, hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác Nhưng những người trí thức, những nhà văn, những nhà báo, thì không thể an phận trước viễn tượng bất ổn về quân sự, suy yếu về chính trị Do đó văn chương không còn phải là than thở nỗi oan trái dân tộc,

mà là dấn thân đòi làm trong sạch hàng ngũ, đối thoại với chính quyềnViệt Nam Cộng hòa nhằm xây dựng chính phủ mạnh về chính trị Vì vậy văn chương thời kỳ này là những bài báo mạnh dạn của các Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Hữu Thanh, các nhà văn trong ban biên tập của tạp chí Trình Bầy, Ðối Diện - hậu thân của các tạp chí Ðất Nước, Hành Trình thuộc giai đoạn trước Các bài báo chính luận chưa phải là sáng tác văn chương Các bài báo chính văn đăng trong Trình Bầy, Ðối Diện mới thuộc về

Trang 18

văn học như Giã từ nền văn chương trú ẩn của Nguyên Sa, Văn nghệ trước những mưu đồ bất chính của hệ thống chiến tranh lạnh của Thế Nguyên Và

những nhàvăn nhà thơ ngoài nhóm Trình Bày-Ðối Diện có những sáng tác phản ánh giai đoạn tạm lắng sau Hiệp định Paris Đời sống xã hội trở về nề nếp ít xáo trộn vì quân đội Mỹ và đồng minh đã rút đi cuốn theo hết những

là đời sống tinh thần của người dân

2.1.2 Thành tựu nổi bật

Có thể nói, văn học miền Nam như một cánh rừng bạt ngàn Nó dung chứa hết thảy hình thức văn chương, từ bình dân đến cao cấp, từ hữu khuynh đến tả khuynh, từ cổ điển đến hiện đại Nhiều trào lưu, khuynh hướng chống đối nhau vẫn cùng hiện diện Nội dung và đề tài hết sức phong phú từ tình yêu, thân phận, những thao thức, dằn vặt cá nhân, ám ảnh tình dục cho đến tệ

Trang 19

nạn xã hội, hiện tượng tham nhũng, sự suy đồi đạo đức, sự khao khát hòa bình, niềm mơ ước thống nhất Sự đa dạng và mở khiến văn học miền Nam xuất hiện nhiều hiện tượng văn học độc đáo, vẫn còn ảnh hưởng lâu dài về sau Hiện tượng thơ: thơ Nguyên Sa, thơ Thanh Tâm Tuyền, thơ Bùi Giáng, thơ Nguyễn Đức Sơn, thơ Phạm Thiên Thư ; hiện tượng văn: văn Mai Thảo, văn Dương Nghiễm Mậu, văn Lê Xuyên ; hiện tượng biên khảo: các tác phẩm của Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Nguyễn Văn Trung, Nhất Hạnh ; hiện tượng nhà văn nữ: Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ Các nhà văn nữ không chỉ táo bạo trong đề tài, cách xử lý cốt truyện và nhân vật, mà còn trong việc cách tân ngôn ngữ Họ mở ra một cánh cửa để nhìn vào thế giới nội tâm tuy đơn giản bên ngoài nhưng lại vô cùng phức tạp, tinh tế bên trong của nữ giới, nhất là nữ giới trong thời hiện đại

Cũng theo Võ Phiến trong Hai mươi năm văn học miền Nam 1954-1975 (Phần Tổng quan) [27], nhìn tổng thể, văn học đô thị miền Nam 1954- 1975

là khu vực văn học phức tạp với đội ngũ sáng tác đông đảo, đa dạng Đội ngũ

ấy phát triển nhanh, đông đảo về số lượng (theo thống kê của một số công trình nghiên cứu, giai đoạn từ 1954- 1975, văn học đô thị miền Nam có khoảng hơn 200 tác giả) Thành phần tác giả cũng đa dạng: có tác giả từ miền Bắc di cư vào, có tác giả của miền Nam; có tác giả đã từng hoạt động và nổi danh từ giai đoạn trước tiếp tục sáng tác, có tác giả mới bắt đầu sự nghiệp văn chương; có nhà báo, giáo sư đại học, có chuyên nghiệp, có không chuyên Đội ngũ tác giả ấy lại được chia thành nhiều văn nhóm: nhóm Người Việt (sau là Sáng Tạo), nhóm Quan Điểm, nhóm Văn Hoá Ngày Nay, nhóm Nhân Loại, nhóm Khởi Hành, nhóm Thời Tập, nhóm Tuổi Ngọc, nhóm Văn Mỗi nhóm có một tờ báo, hoặc tạp chí để giới thiệu tác giả, tác phẩm: Đời Mới, Nhân Loại, Tiếng chuông, Sài Gòn Mới, Văn Nghệ Mới, Bách Khoa, Đất Đứng, Sáng Tạo, Tự Do, Ngôn Luận, Văn Nghệ, Hiện Đại, Chỉ Đạo, Phụng

Sự, Tiền Tuyến vv Văn học đô thị miền Nam trong 21 năm ấy có tốc độ phát triển nhanh chóng và phân hoá thành nhiều khu vực: có truyền thống, có

Trang 20

cách tân Ở mỗi bộ phận văn học lại chia thành nhiều khuynh hướng Trong văn học truyền thống có khuynh hướng phong tục, khuynh hướng luận đề, khuynh hướng xã hội, khuynh hướng luân lý, khuynh hướng tôn giáo Trong dòng văn học cách tân có khuynh hướng hiện sinh, khuynh hướng phân tâm học, khuynh hướng tiểu thuyết mới, khuynh hướng lãng mạn Tuy nhiên, bộ phận văn học cách tân càng về sau càng phát triển mạnh mẽ hơn, và khuynh hướng ảnh hưởng văn học hiện sinh, văn học theo trường phái phân tâm học chiếm vị trí quan trọng trên văn đàn Giữa các khuynh hướng sáng tác có sự đan cài, kết hợp Việc báo chí và xuất bản phát triển mạnh cũng hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của sáng tác văn học thời kỳ này Nói chung, không thời nào trong văn học nước nhà mà tính cách riêng biệt của tác giả và sự đa dạng của khuynh hướng sáng tác lại được thể hiện một cách sắc nét và độc đáo như thời kỳ hai mươi năm văn học miền Nam Chắc chắn, bộ phận văn học này sẽ còn thu hút sự quan tâm tìm hiểu của các nhà nghiên cứu, phê bình Không chỉ thế, các nhà văn cũng sẽ còn tìm đến nó để học hỏi, rút tỉa những kinh nghiệm bổ ích cho hành trình sáng tạo – cách tân của họ

3.1 Nguyễn Thị Thụy Vũ trong làng văn nghệ miền Nam

3.1.1 Sơ lược về tiểu sử, cuộc đời của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Thụy Vũ sinh ra trong một gia đình yêu chuộng văn chương và tương đối khá giả Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô của bà là thi sĩ Phương Đài, cả hai đều hoạt động kháng chiến Năm 1965 bà lên Sài Gòn từ bỏ nghiệp giáo viên

và đi vào nghiệp viết văn, bên cạnh đó với vốn ngoại ngữ của mình bà còn kiêm việc dạy tiếng Anh cho những cô gái bán bar hoặc những cô gái lấy Mỹ Hiện nay đời sống của bà tương đối ổn định khi bà về Bình Phước dựng nhà trên mảnh đất mà cha mẹ để lại Đó là sau khi bà nhận được sự giúp đỡ từ những bạn văn cũ qua một bài viết mô tả cuộc sống lay lắt khốn khó của mấy

mẹ con, vào đầu thập niên 2000 Bà đang sống với gia đình con trai, là một

Trang 21

người tu tại gia và cùng với họ là cô con gái út ngoài bốn mươi tuổi vẫn sống đời sống thực vật

Sau 1975, dù là con gái một cán bộ kháng chiến, Nguyễn Thị Thụy Vũ không thể tiếp tục cầm bút do tác phẩm bị quy là đồi trụy, bà phải bươn chải với những công việc cực nhọc để nuôi bốn đứa con, trong đó có một người sống đời thực vật Bà từng buôn bán vặt, làm lơ xe đò, làm rẫy, chăn dê, trồng

cà phê…, những công việc mà trước đó không ai hình dung nhà văn nữ này

có thể kham được

3.1.2 Các chặng đường sáng tác

Trong 10 năm từ 1965 đến 1975, Thụy Vũ đã xuất bản 10 tác phẩm gồm

ba tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tiểu thuyết: Ngọn pháo bông, Thú hoang, Khung rêu (Giải thưởng Văn học Toàn quốc năm 1971), Như thiên đường lạnh, Nhang tàn thắp khuya, Chiều xuống

êm đềm, Cho trận gió kinh thiên Bốn cuốn đã được tái bản cuối năm 2016,

sáu cuốn còn lại trong tháng 3 năm 2017

Về hành trình văn chương của Thụy Vũ có thể được chia làm hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất Thụy Vũ mở đầu văn nghiệp bằng những truyện

ngắn đăng rải rác trên các tạp chí văn nghệ Năm 1963, trên tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn, người đọc thấy xuất hiện một số truyện ngắn của một cây bút

nữ lạ lẫm, lạ về bút danh, lại lạ về cả nội dung nữa Đó là những truyện ngắn

ký tên Nguyễn Thị Thụy Vũ Lúc đó đã xuất hiện những nhà văn nữ có tác phẩm và tên tuổi nổi tiếng: một Nhã Ca từng xác lập được vị trí văn học vững vàng, cả về thơ lẫn truyện; một Túy Hồng tạo dựng hình ảnh của mình bằng một văn phong chua cay mang phong vị Huế; một Trùng Dương luôn hào hứng nói về triết lý Hiện sinh, ý chừng muốn nối tiếp bước đi của Francoise

Sagan (tác giả Buồn ơi, chào mi!) ở Pháp Và đó cũng là thời điểm Nguyễn Thị Hoàng làm xôn xao dư luận bằng tác phẩm Vòng tay học trò… Tuy xuất

hiện có phần muộn hơn một chút so với những cây bút nữ vừa kể, nhưng tác

Trang 22

giả Mèo đêm Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng đã khẳng định được nét độc đáo

trong văn chương của mình

Giai đoạn thứ hai của hành trình văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ được

đánh dấu bằng tập truyện đầu tay Mèo đêm Mèo đêm của Nguyễn Thị Thụy

Vũ gồm 4 truyện ngắn được coi là tiêu biểu cho thời kỳ thăm dò cánh rừng văn chương Cả bốn truyện đều đầy ắp mùi tình dục Không phải đợi tới lúc Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện, tình dục mới chiếm vị trí nổi bật, hay trở thành "thương hiệu" của thế giới văn chương nữ giới miền Nam Việt Nam Trước bà, người ta đã được đọc một Nguyễn Thị Hoàng với những trang văn xuôi đề cập chuyện tình dục một cách táo bạo Nguyễn Thị Thụy Vũ là một

cô giáo tại Vĩnh Long, một thành phố thuộc Nam kỳ Lục tỉnh ngày xưa nằm giữa sông Tiền và sông Hậu Năm 1961 cô giáo Nguyễn Thị Băng Lĩnh lên Sài Gòn và sớm bước vào làng văn như một "hiện tượng văn học nữ" với bút danh Nguyễn Thị Thụy Vũ

3.1.3 Vị trí của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong văn học nữ miền Nam nói riêng và văn học miền Nam 1954-1975 nói chung

Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện giữa văn học Miền Nam với một phong cách văn xuôi đặc thù Sự suy nghĩ và diễn tả ráo riết về thân xác trong từng tác phẩm khiến nhiều người ngạc nhiên Thụy Vũ mới ngoài ba mươi tuổi đời, tuổi nghề còn ít, nhưng tự tạo cho riêng mình một thế đứng, một cương vị trong nền văn học Việt Nam hiện đại Người ta đã hỏi nhau, bàn tán, phê bình

về bút pháp cũng như nội dung mỗi truyện của Thụy Vũ, vì nó không nằm trong "tính cách" thông thường của một người phụ nữ, nhất là phụ nữ Á Đông

Thụy Vũ xuất hiện muộn nhưng vẫn chiếm cho mình một chỗ đứng trong danh sách những nhà văn nữ nổi tiếng bên cạnh bốn "cây đại thụ": Nhã Ca, Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng (Việc phân loại và xếp hạng này từ lâu đã được các nhà văn, nhà nghiên cứu và tầng lớp độc giả từng sống

ở miền Nam trước đây khẳng định Cho đến nay, dường như chưa có một sự

Trang 23

đánh giá khác mang tính phủ định đủ sức thuyết phục) Nguyễn Thị Thụy Vũ

đã biết tự khai thác điểm mạnh và thế mạnh của mình mà những nhà văn nữ

đi trước không có Ở giai đoạn đầu, Thụy Vũ lăn lộn với những mảnh đời

"trôi sông lạc chợ" của các cô gái bán bar, đĩ điếm để bước vào nghề viết và sau này lại quay hẳn sang một khía cạnh hoàn toàn trái ngược: tôn giáo, tâm linh, cụ thể là triết lý Phật giáo

Sau một thời gian dài bặt tiếng, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã tái xuất với 10 tác phẩm được in lại trang trọng Đây quả là một sự kiện đối với nhà văn và cũng là một sự kiện của việc tiếp nhận di sản văn học đô thị miền Nam 1954 –

1975 Có nhiều cách lý giải về sự tái xuất này, nhưng trên hết, người ta dễ đồng thuận với nhau rằng: Nguyễn Thị Thụy Vũ là một tên tuổi không thể quên được trong làng văn Việt Nam hiện đại Và từ Nguyễn Thị Thụy Vũ, người ta có thể nghĩ đến một lộ trình khôi phục lại diện mạo còn thiếu khuyết của bức tranh lịch sử văn học mà mấy chục năm qua đã được vẽ nên với một thái độ không thể nói là không thiên kiến

Trang 24

Chương 2

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

VÀ NHỮNG ĐỀ TÀI - CHỦ ĐỀ NỔI BẬT TRONG VĂN XUÔI

CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

2.1.1 Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm nghệ thuật về con người (có thể nói gọn là quan niệm con người) là một khái niệm rất quan trọng của thi pháp học Dù chưa được các

nhà nghiên cứu định nghĩa một cách thống nhất, nhưng phần nào nó đã gợi

mở cho chúng ta hướng đến đối tượng chủ yếu của văn học Theo đó “Văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính chất quan niệm rất cụ thể” và “Hình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành là mang tính chất quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái vô thức Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng” [30;23]

Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người chính là một phương tiện cần thiết của sáng tạo nghệ thuật Do vậy, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học miền Nam 1954-1975 nói riêng và văn học Việt Nam nói chung, chính là việc làm cần thiết thực để chúng ta có thể khám phá chiều sâu của các tác phẩm và tìm hiểu các giai đoạn văn học

Marxim Gorki đã từng viết "Văn học là nhân học" Đó là nghệ thuật miêu

tả, biểu hiện con người Bởi thế con người chính là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các nhân vật, văn học đều nhằm mục đích miêu tả và thể hiện vào con người Thực

tế cho thấy, không có một tác phẩm, một tác giả hay một nền văn học nào lại chỉ đơn thuần nói về thiên nhiên mà không liên quan đến con người Nói cách khác, mục đích miêu tả của nhà văn là nhằm hướng đến thể hiện con người Đối với cảnh vật, thiên nhiên cũng vậy Đó không phải là miêu tả đơn thuần, mà là sự bộc lộ những tâm tư, tình cảm của nhân vật trữ tình cũng

Trang 25

như chủ thể tác giả Tóm lại, trong văn học, yếu tố con người được nói đến như một điều tất yếu Con người chính là nhân vật trung tâm của văn học Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn Có thể nói, nó giống như là một chiếc chìa khóa vàng góp phần gợi

mở cho chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời đại nói riêng Giáo sư Trần Đình Sử cho

rằng: "Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [31;15] Có thể nói rằng, khái

niệm quan niệm nghệ thuật về con người giúp người nghiên cứu đi vào phân tích, đối tượng con người đã được hóa thân thành các hình tượng nghệ thuât

Từ đó, người đọc thấy được giá trị của hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm văn học Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình

bằng một nhận định bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”

Về khái niệm/ thuật ngữ quan niệm nghệ thuật về con người, Từ

điển Thuật ngữ văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con

người là hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật” [16;20]

Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái niệm trên đều nói lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người Theo đó, chúng ta có thể khái quát cách hiểu quan niệm nghệ thuật về con người như sau: Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong mỗi tác phẩm Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ

Trang 26

thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng

Như vậy, vì trung tâm của văn học là con người nên con người cũng chính nó

là đối tượng thẩm mĩ thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc sống Tác giả sẽ

là người suy nghĩ, khám phá về con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu

về con người Bởi phải có hiểu biết cảm nhận đúng về con người mới có thể miêu tả và tạo nên chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học

Từ việc hướng đến xác định khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người, có thể khẳng định rằng: chúng ta sẽ không thể hiểu một cách đầy đủ những đổi thay trong nội dung phản ánh cũng như nghệ thuật biểu hiện của văn học, nếu không quan tâm tới sự vận động của con người trong văn học, đặc biệt là vấn đề quan niệm nghệ thuật của các tác giả về con người trong văn học Nếu không chú ý đến quan niệm nghệ thuật về con người sẽ dẫn tới cách hiểu đơn giản về bản chất phản ánh của nghệ thuật Bởi thế, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người là điều cần thiết trong nghiên cứu và sáng tạo văn học Đây được xem là cơ sở lí luận để chúng ta bắt tay vào tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong các sáng tác văn học cụ thể

2.1.2 Những thay đổi đáng chú ý trong quan niệm về con người của văn xuôi đô thị miền Nam 1954-1975

Sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (1963), chính trường miền Nam thường xuyên biến động Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, nhằm chia cắt lâu dài đất nước ta, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới Những tư tưởng văn hoá phương Tây, lối sống phương Tây cũng theo đó du nhập ồ ạt vào miền Nam Việt Nam Trong bối cảnh phức tạp ấy, tâm trạng chung của con người là lo âu và luôn cảm thấy bất an Nhiều cuộc đấu tranh bảo vệ văn hoá dân tộc, đấu tranh đòi tự do, dân chủ, dân sinh, dân quyền, chống sự xâm lăng của văn hoá nước ngoài nổ ra liên tiếp Đời sống văn học theo đó cũng

vô cùng phức tạp với nhiều khuynh hướng, trường phái Đô thị miền Nam giai đoạn này có sự du nhập của nhiều thứ văn hoá, chủ yếu là văn hoá

Trang 27

phương Tây và văn hoá Mỹ Các trường phái triết học, mỹ học, lý luận phê bình văn học nhiều tác phẩm văn học nước ngoài được giới thiệu đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn học nói chung và sáng tác văn học nói riêng

Ảnh hưởng sâu đậm và rõ rệt nhất vào đời sống văn hoá, tư tưởng của đô thị miền Nam lúc bấy giờ là tư tưởng triết học hiện sinh Đây là trường phái triết học nhân bản phi duy lý xuất hiện đầu thế kỷ XIX, người đặt nền móng

là Kierkeaard ở Đan Mạch, được tiếp tục phát triển bởi Nietzsche (Đức) Chủ nghĩa hiện sinh đưa ra cách tiếp cận mới: coi sự hiện sinh cá nhân là nội dung cơ bản trong triết học Hiện sinh là sự cảm thụ chủ quan, sự thể nghiệm tâm lý có tính chất phi lý tính của cá nhân con người

Tư tưởng hiện sinh du nhập vào vào miền Nam rất sớm (từ những năm 50) qua một số bài tiểu luận, phê bình, giới thiệu trên các báo, tạp chí, nhưng chưa ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội cũng như đời sống văn học bởi hoàn cảnh xã hội chưa thích hợp, văn học hiện đại miền Nam mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển Từ những năm 60 trở đi, chiến tranh khốc liệt hơn, xã hội khủng hoảng, con người, đặc biệt là tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ mang tâm trạng hoang mang, bế tắc Đây là điều kiện thích hợp để chủ nghĩa hiện sinh phát huy ảnh hưởng Chủ nghĩa hiện sinh có ảnh hưởng rất đậm nét đến văn học đô thị miền Nam 1954- 1975 trên tất cả mọi thể loại, đặc biệt là thơ

Trang 28

của con người, về nỗi tàn phai, bất an… Nỗi buồn đau "sống trong nỗi chết" được nhắc lại nhiều lần Kiếp người chỉ là "chân bé nhỏ đi trong sầu bão lớn" Thơ ca đô thị miền Nam 1954 – 1975 nhiều băn khoăn, day dứt, chết chóc, chia lìa, nước mắt

Bên cạnh thơ ca, tiểu thuyết cũng mang màu sắc hiện sinh rất rõ rệt Tiểu thuyết là thể loại “bùng nổ” của văn học đô thị miền Nam, tạo thành một hiện tượng trong đời sống văn học thời kỳ đó Văn học đô thị miền Nam 1954 –

1975 đã tập hợp được một đội ngũ tác giả tiểu thuyết hùng hậu với số lượng tác phẩm đồ sộ, với nhiều khuynh hướng sáng tác khác nhau Với ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh, sáng tác văn học đô thị miền Nam nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng có sự chuyển mình lớn: sự cảm nhận sâu sắc và đau đớn về thân phận bi đát của con người trong thế giới đầy phi lý Chủ nghĩa hiện sinh ám ảnh trong tiểu thuyết từ nhan đề cho đến nội dung tác phẩm Ở nhan đề của một số tác phẩm cũng đã thấy được sự hư vô trong cuộc sống con

người: Thương tích, Tiếng khóc vào đời, Chết không nhắm mắt, Lửa mù, Sau cơn mộng dữ, Xâu chuỗi bọt nước, Thềm địa ngục, Uyên buồn… của Nguyên Vũ; Cát lầy, Mù khơi… của Thanh Tâm Tuyền; Khung rêu; Lao vào lửa, Cho trận gió kinh thiên, Nhang tàn thắp khuya, Thú hoang của Thụy Vũ; Biển điên, Mối thù rực rỡ, Tôi nhìn tôi trên vách… của Tuý Hồng; Bóng tối thời con gái, Cô Hippy lạc loài, Sống một ngày của Nhã Ca; Bao giờ hết thương đau, Bóng tối cuộc đời, Cành đào trong bão xoáy, Chân son đường lầy, Chuỗi sầu em đeo, Đôi chim trong bão tố, Hoa môi tàn nụ, Một mình, Mùa đông cô đơn, Nửa gối cô đơn… của Nghiêm Lệ Quân; Đừng hỏi tại sao, Bóng ai qua ngoài song cửa, Nửa đêm trăng sụp, Xô ngã bức tường rêu… của Bình Nguyên Lộc; Điệu ru nước mắt, Nước mắt lưng tròng, Sa mạc tuổi trẻ, Ảo vọng tuổi trẻ… của Duyên Anh; Bóng tối cuối cùng, Buồn như đời người, Vực nước mắt, Một ngày rồi thôi, Năm tháng đìu hiu, Ngày qua bóng tối, Cho những mùa xuân phai, Tình yêu địa ngục, Dưới vực sâu này của

Nguyễn Thị Hoàng Sẽ thật thú vị nếu ta so sánh những nhan đề tác phẩm

Trang 29

trên với nhan đề các tác phẩm của những nhà văn miền Bắc sáng tác cùng thời

kỳ: Vỡ bờ, Mặt trận trên cao, Vào lửa của Nguyễn Đình Thi, Sóng gầm, Khi đứa con ra đời của Nguyên Hồng, Mùa lạc, Hãy đi xa hơn nữa, Họ sống và chiến đấu của Nguyễn Khải, Dấu chân người lính, Lửa từ những ngôi nhà của Nguyễn Minh Châu, Phù sa, Dám cháy trước mặt của Đỗ Chu…

Trong văn học đô thị miền Nam, đời sống luôn được miêu tả như thảm kịch, là hư vô, phi lý Kiếp người mong manh, ngập tràn trong đau khổ, cô đơn, chia lìa Những cái chết xuất hiện rất nhiều Các nhân vật tiểu thuyết đã nổi loạn để chống trả, cho dù đó chỉ là bất lực, tuyệt vọng, bế tắc Họ muốn chống lại sự phi lý, muốn tìm ý nghĩa đích thực của cuộc đời Thế nhưng, họ vẫn không thể thoát khỏi bi kịch đó

Văn học và triết học hiện sinh có ảnh hưởng lớn đến sáng tác của các nhà văn đô thị miền Nam 1954 – 1975, đặc biệt làvăn xuôi Văn xuôi đã chuyển tải những vấn đề về thân phận con người qua những hình tượng nhân vật sinh động Văn học đô thị miền Nam đã có một diện mạo riêng do sự ảnh hưởng này và đã có những thành tựu nổi bật cũng như có một số hạn chế Bởi vậy, không phải không có lý khi một số nhà nghiên cứu từng nhắc nhở: tiếp cận văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975 cần có tinh thần "gạn đục khơi trong" một cách thực sự khoa học, công bằng

Khuynh hướng tư tưởng thứ hai có tác động đến đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc vào sáng tác văn học đô thị miền Nam là học thuyết phân tâm học Đây là lý thuyết có nguồn gốc từ y học, do bác sĩ S.Freud (1856- 1939) người Áo sáng lập, có ảnh hưởng lớn, được vận dụng trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có văn học Phân tâm học chú trọng giải thích đời sống nội tâm của con người S.Freud quan niệm người nghệ sỹ sáng tạo tác phẩm bằng những ẩn ức tính dục Thưởng thức nghệ thuật cũng để thoả mãn những ham muốn vô thức Tính dục chính là cơ sở sâu xa quy định những hành vi của con người Học thuyết phân tâm học đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sáng tác văn học phương Tây, nhất là từ những năm 60 của thế kỷ XX, khi phong trào

Trang 30

“giải phóng tính dục” bùng nổ Các tác phẩm và lý luận phê bình văn học theo khuynh hướng phân tâm học được dịch, giới thiệu rộng rãi ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954- 1975 có tác động rất lớn đến sáng tác văn học thời kỳ này Trong các sáng tác văn học đô thị miền Nam 1954- 1975, trào lưu viết về đề tài tính dục được khai thác triệt để Các nhà văn, nhất là các cây bút nữ đua nhau chạy theo đề tài này như một thứ "thời thượng" Nhân vật trong tác phẩm của họ luôn bị ám ảnh bởi dục tình, luôn lao vào những cuộc tình tội lỗi, bế tắc Chưa khi nào trong văn học Việt Nam, đề tài tình dục lại "nở rộ" như giai đoạn này Chính điều này đã khiến văn học đô thị miền Nam bị đánh giá là văn học đồi truỵ Các tác giả đào sâu vào đề tài tình dục đến nỗi nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn, bỏ rơi Có những trang viết quá đà đến mức nhầy nhụa

2.2 Những nét chính trong quan niệm về con người của văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ

2.2.1 Con người có cái nhìn thách thức, thậm chí xấc xược đối với những quy ước xã hội, những quy tắc đạo đức phi tự nhiên

Con người được định danh như trên thể hiện khát vọng muốn đạt đến tự

do, vượt qua những hệ lụy, những thứ bậc, những cấm kỵ sáo mòn, giả dối

Để thể hiện con người có đặc điểm đó, nhà văn ưu tiên cho những sinh hoạt, hình ảnh, câu chuyện cho phép chạm đến mọi tầng lớp người lao động mà không tập trung vào tầng lớp trí thức tinh hoa Khiêu khích và giễu cợt trong cái nhìn, trong ngôn ngữ, nhân vật trong tác phẩm của bà nói với chúng ta rằng: sự thật đạo đức cần được chứng minh bởi thực tiễn kinh nghiệm và bằng những tình huống cụ thể Trong các tác phẩm của mình Nguyễn Thị Thụy Vũ thường xây dựng nhân vật sống thật với cá tính của mình, thẳng thắn mà không chút giả dối, nhiều khi còn tỏ ra trần trụi Những cô gái bar dù sống trong môi trường xô bồ, cạnh tranh trừ những lúc họ giở các ngón nghề để moi tiền khách, thường thì họ sống thật với bản chất của mình, không nịnh nọt, không giả tạo, thẳng thắn đến mức khiến người khác mất lòng

Trang 31

Nhân vật Nga trong truyện Nắng chiều vàng sống thật với con người, cá

tính của mình mà không sợ bị người khác đánh giá, trong cuộc trò chuyện với nhân vật tôi, Nga nói: "Giấu làm gì hén cô? Đi đâu ai mà chẳng biết danh tụi tui là me Tây me Mỹ Người ta lúc nào cũng kêu mình là ''con đĩ" chớ có ai tôn làm "bà đĩ" bao giờ đâu Thà nhận phức đi cho thiên hạ còn thương hại Tui ghét cái lói nói văn huê mỹ Thứ như tụi tui chỉ để ăn nói tục tằn mới có duyên"

Nghĩ sao nói vậy và nói xong cũng không lấy làm thù hằn, đó là tính cách

của các nhân vật trong tác phẩm của nhà văn Tâm trong Chiếc giường cũng

là một người thắng thắn, bộc trực, tức giận là chửi thẳng vào mặt Vì chiếc giường bị làm bẩn mà Tâm đã dùng những lẽ tục tĩu để chửi bới: "Đồ đĩ chó… đồ đĩ mén" và sẵn sàng lao vào đánh nhau với Minh Nhưng khi nhận

ra sự ế ẩm của mình không phải là do Minh đem lại thì Tâm đã có ý định làm lành với Minh Đó cũng là một đức tính đáng quý

Chị Năm trong truyện Lao vào lửa cũng là một con người thẳng thắn, bộc

trực, có gì nói thẳng không ngần ngại Trong việc bày cách cho Tina, chị Năm

đã cho chúng ta thấy được bản lĩnh cũng như kinh nghiệm của mình sau nhiều năm làm nghề Chị nói với Tina: "Đừng bao giờ dùng tên thiệt của mình ở đây Tủi lắm! Em ráng tán khách rồi xin uống Đừng mắc cỡ sẽ không có tiền đâu Dẹp tự ái đi, ở đây nếu xài thứ đó thì chết đó…Em đừng mắc cỡ vô đây

là vậy đó Trừ khi em ra khỏi đây thì chẳng ai dám động tới lông chân em Có

kẻ nào lại quăng tiền ra cho mình mà họ không có xơ múi gì'' Đối với tên Mĩ thì chị Năm chửi thằng mặt và vạch trần bản chất đạo đức giả của hắn: ''Muốn đứng đắn thì đi chỗ khác chơi chỗ này không phải để cho kẻ đạo đức giả như mầy"

2.2.2 Con người luôn bị ám ảnh bởi dục tình, luôn lao vào những cuộc tình tội lỗi, bế tắc

Khám phá đời sống riêng tư cá nhân với những phát hiện dù không mới nhưng ngòi bút của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã đào sâu vào tận ngõ ngách, phát

Trang 32

hiện sự thật đằng sau những lối sống được xem là hư hỏng Nhân vật của Thụy Vũ luôn có những khao khát đầy nữ tính, khao khát được yêu thương, khao khát hạnh phúc, khao khát có được chỗ dựa trong cuộc đời Họ lao vào những cuộc tình chớp nhoáng không chỉ là để kiếm sống, không chỉ để thỏa mãn những khát khao bản năng ở con người, mà hơn hết họ thèm khát hạnh phúc như bao người khác Nhưng oái oăm thay số phận đùa cợt với họ, trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc họ gặp bao chông gai, nhưng cuối cùng vẫn ê

ẩm Văn Thụy Vũ khiến ta nhớ đến Hồ Xuân Hương cũng như số phận bạc bẽo của bà với những vẫn thơ khao khát đến cuồng nộ "chém cha cái kiếp lấy chồng chung" Tuy nhiên đọc văn Thụy Vũ ta còn thấy được những góc khuất bên trong tâm hồn của những số phận bạc bẽo ấy, điều này nhiều nhà văn cùng thời chưa khai thác được sâu sắc Có lúc họ đanh đá, nanh nọc chống cự với đời, có khi họ chua chát, ê chề, tủi nhục, có khi họ buông xuôi, có khi họ lại chịu đựng nhưng trong lòng không thôi khao khát

Đêm tối bao la là câu chuyện kể về hai cuộc đời tuy khác nhau nhưng

cũng rất giống nhau của Linh và bà Điếc Linh là một cô gái có tâm hồn lãng mạn, nhiều suy nghĩ và một đầu óc cay chua, nhạy bén Ba má đi làm ăn xa,

em gái đi lấy chồng xa, nàng sống một mình coi sóc căn nhà tổ to lớn, âm u, lạnh lẽo với bà Điếc Nàng không đẹp: thân hình mập mạp, lùn, đường nét lại không kiều diễm với cái miệng rộng, đôi mắt ốc bươu Vì thiếu một nhan sắc

có thể níu giữ đàn ông, Linh lỡ làng với nhiều cuộc tình phất phơ Thời điểm câu chuyện được kể lại, nàng đang có một tình nhân là Duy, một gã trai mà nàng không yêu thắm thiết Bà Điếc sống với nàng là một người đàn bà lớn tuổi bị điên Bà Điếc đã ở nhà Linh từ những đầu tiên Bà là cô dâu phụ theo

bà nội Linh về nhà chồng Bà Điếc chết chồng chết con từ những ngày còn trẻ Sau đó bà có nhiều nhân tình, và một trong những người tình ấy đã cho bà căn bệnh khiến bà nửa tỉnh nửa mê Cả câu chuyện là một sự đan xen giữa những lời tâm sự, suy nghĩ của Linh về thân phận, tình yêu của chính bản thân nàng, với lời kể của nàng về cuộc đời bà Điếc và những kỷ niệm giữa nàng và

Trang 33

bà Cuối truyện, bà Điếc bị chai gan phải vào nhà thương Sau một tháng tận tình chăm sóc của Linh, bà Điếc qua đời Cùng với cái chết của bà Điếc, Linh phát hiện mình có thai với Duy nhưng Duy lại trốn tránh trách nhiệm rời bỏ nàng Linh phá thai Nàng sụt cân, thân thể gầy mòn, tinh thần ám ảnh bởi hình ảnh đứa con mà nàng đã chối bỏ, và lại bị cha mẹ ruồng bỏ Trong những ngày tuyệt vọng đó, nàng vẫn không ngừng mơ ước đổi đời Nàng muốn biến thành con người khác, đi đến một nơi khác để làm lại cuộc đời Và quan trọng hơn, nàng vẫn cho Duy một cơ hội nữa, bởi vỉ theo nàng, hai người đã có một

sự dây oan nghiệt ràng buộc từ kiếp nào

Nhân vật Ngỡi trong truyện dài Cho trận gió kinh thiên là người phụ nữ

có số phận bất hạnh Thân phận vợ hờ sống lay lắt, hạnh phúc là thứ xa vời Nhiều đêm Ngỡi thao thức suy nghĩ về cuộc đời mình: "Cuộc dan díu giữa nàng với một người đàn ông lớn tuổi chẳng để thấy chút gì đảm bảo cho tương lai Cái đời con gái của nàng thật rẻ mạt Chỉ tốn vài cái quần mỹ-a và vài cái áo nilon, ông Tư Bếp mặc tình nhồi nắn thể xác của nàng Khi ván đã đóng thuyền rồi nàng nhắm mắt gắn bó luôn với ông ta, ngoài tầm kiểm soát

của bà vợ lớn" Người chồng hờ ấy vì sợ vợ lớn nên chưa một lần ở bên Ngỡi

trọn vẹn một ngày, chưa cùng Ngỡi dạo phố hoặc đến chỗ đông người Sống trong sự khao khát hạnh phúc nhưng không được trọn vẹn, Ngỡi đã tìm đến Chỉ và cuộc ái ân chớp nhoáng đã diễn ra trong đêm tối mà không hề biết gia thế, gốc gác Sau lần ấy "Ngỡi như phát hiện ra cái bản ngã khao khát, đam

mê của mình mọi việc đến với nàng một cách đột ngột, nàng chưa kịp chuẩn bị Vòng tay của Chỉ phủ lên người nàng một cảm giác rạo rực, nàng chỉ muốn được chìm lỉm trong cơn hôn thụy đó đến cuối đời nàng tự hỏi việc trao thân cho Chỉ có phải là do tình yêu thầm lặng từ lúc mới quen nhau hay chỉ là bản năng mù quáng do nỗi khao khát xui khiến? Ngỡi mỉm cười nước mắt ứa ra Nàng thiếu thốn tình yêu và những lạc thú gối chăn từ bao lâu nay Cái thân phận lẻ mọn sao mà chua chát, đắng nghét! Nước trong dành

cho ai, chỗ cặn cáu dưới đáy lu là phần của nàng vậy" Thụy Vũ đi sâu miêu

Trang 34

tả chân thực cái khao khát bản năng của con người trong chuyện chăn gối Nhân vật của bà luôn sống trong những dằn vặt, khắc khoải, trăn trở vì chưa được thỏa mãn nhu cầu xác thịt: "Nàng chợt nhớ tới những cơn run rẩy của

Tư Bếp trên thân xác của nàng Hắn chỉ dắt Ngỡi đi một phần con đường đưa tới khoái lạc mê cảm, rồi bẽn lẽn bỏ rơi nàng ngay giữa lúc nàng còn đang khao khát đến tuyệt đích Cứ mỗi lần mền nhăn, gối lệch, nàng bực tức, xót

xa, nghĩ thà là thân thể này bỏ hoang vu còn hơn" Ngỡi qua lại với cả sư Mẫn Tuệ, Thụy Vũ đã miêu tả cảnh Ngỡi được nhà sư cầm tay và cảm giác "thót cả người trái tim nàng nhảy mạnh quá, như không chịu nổi cơn cảm xúc hoang

dã và nàng tưởng tượng chừng nó sắp nhảy vọt ra ngoài", bị Tư Bếp bắt gặp

cả, hai kết thúc cuộc tình vụng trộm kia cũng trong chóng vánh như cách mà

họ đến với nhau Kết thúc tác phẩm, Ngỡi vẫn giữ nghề thợ may, nàng cặp với một viên trung sĩ thông dịch viên đẹp trai Nỗi khao khát hạnh phúc khiến nàng không thể sống cô đơn

Truyện Khung rêu xoay quanh câu chuyện giữa ông Phủ với Ngà, một cô

giúp việc trong gia đình Thụy Vũ đã miêu tả chân thực cảnh nhân vật Phủ và Ngà ăn nằm với nhau trong đêm tối Cả hai đều lao vào cuộc tình chóng vánh trong chốc lát: ''Vòng tay rắn chắc của ông Phủ siết chặt lấy ả, hơi thở dồn dập như muốn làm vỡ tung lồng ngực của ông Ả không thể kêu cứu ai được

vì chính ả cũng bị sự kích thích hung dữ, mới mẻ lung lạc toàn thân ả tê dại,

ả đẩy mặt chủ ra một cách yếu ớt, miễn cưỡng, ả bất lực trong vùng cảm xúc sôi trào với cái thân thể rực lửa " Đó là một cuộc tình tội lỗi Sự dan díu đó

đã dẫn đến việc Ngà có thai làm ảnh hưởng, xáo trộn không khí trong nhà Bà Phủ đã phải từ mặt chồng, sống cuộc đời thầm lặng trong bi kịch

Đời sống bản năng của nhân vật được Nguyễn Thị Thụy Vũ khám phá qua từng trang viết Nhân vật của bà hầu hết mang trong mình những khao khát thầm kín, những dục vọng luôn ẩn nấp bên trong chỉ có dịp là bùng nổ Kiểu nhân vật này cũng là kiểu nhân vật mới mà văn xuôi đô thị miền Nam đang khai thác Nhấn mạnh vào đời sống bản năng của con người là nét mới

Trang 35

của văn học giai đoạn này Không chỉ Thụy Vũ mà nhiều nhà văn nữ đều viết

trong đó đặc biệt nổi lên cây bút Nguyễn Thị Hoàng với tác phẩm Vòng tay học trò, tác phẩm cho thấy một cuộc tình hết sức táo bạo và tác giả đi sâu khai

thác đời sống bản năng của nhân vật

2.3 Các đề tài - chủ đề chính

2.3.1 Cuộc sống xưa cũ của người nông dân Nam Bộ

Toàn bộ sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ tập trung vào hai mảng đề tài:

đề tài về cuộc sống đô thị và đề tài về cuộc sống người nông dân Nam Bộ Lấy chất liệu từ đời sống của bà con nông dân ở đất Vĩnh Long nơi bà sinh ra, Thụy Vũ đã dựng lại với những câu chuyện tình yêu, tình đời trong sự đổi

thay của thời cuộc Có thể thấy qua Như thiên đường lạnh, Chiều xuống êm

đềm, Khung rêu, Nhang tàn thắp khuya chúng ta không chỉ thấy lời ăn tiếng

nói rặt ròng Nam Bộ, mà còn thấy cảnh sinh hoạt nghệ thuật quen thuộc ở nông thôn miền Nam thủa ấy, chẳng hạn: hát bội đình làng, giải sầu ca vọng

cổ, ngoài ra còn miêu tả những món ăn dân dã, quê mùa rất đỗi thân thương nay ít nhiều đã thành dĩ vãng Với mảng đề tài này, bà đã đưa chúng ta trở về với con người, vùng đất mà những nhà văn thê hệ trước đã từng khai phá bằng ngôn ngữ miền Nam như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc

Với sáng tác của Thụy Vũ, cuộc sống của người dân Nam Bộ được hiện lên thật sống động, chân thực qua những câu chuyện về tình yêu, về cuộc đời

Truyện dài Khung rêu ghi lại hình ảnh nơi quê nhà mà trong phần tựa,

Nguyễn Thị Thụy Vũ viết: "Từ hồi nhỏ, tôi phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam Nguyên nhân chính của sự suy sụp bệ rạc nầy thì ai cũng biết: chiến tranh Khi khởi công viết quyển truyện nầy, tôi đặt trước cho mình một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thuở nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa,

giải tỏa nó cho xong" Khung rêu đã gợi lên cho ta một cảm giác cũ kỹ và cổ

hủ như lối sống phong kiến của ông bà Phủ, như những lời răn đe, khuyên dạy

Trang 36

kiểu thành ngữ và tục ngữ xa xưa của bà Phủ Thêm vào đó, chữ "rêu" cho độc giả tưởng tượng ra một khung cảnh của một cái gì đó bị bỏ quên, lâu ngày không được chăm sóc tới như ngôi nhà thừa tự của ông Phủ sắp đổ nát mà Thụ chỉ dám ở dưới căn nhà sàn dưới bến nước Khi tất cả các câu chuyện và biến cố đều xảy ra trong ngôi nhà của ông bà Phủ, chữ "khung" trong tựa đề của truyện cho ta thấy được không gian và thời gian của truyện chỉ xoay

quanh những gian nhà vuông vắn Khung rêu còn là khuôn khổ chật hẹp mà

mỗi nhân vật trong truyện đều phải chịu đựng, là nếp sống phong kiến dù đã hết thời, vẫn tiếp tục đè nặng lên mỗi người trong gia đình Bối cảnh câu chuyện xoay quanh gia đình ông Phủ, điền chủ, quan lại, giai đoạn về hưu Nhìn bề ngoài gia đình giàu sang nhưng bên trong từ ông Phủ đến con cái chẳng ra gì, con trai có đứa thì chơi bời trụy lạc, đứa thì dốt nát, con gái có đứa thì lăng loàn, đứa thì thất tình hóa điên, đứa thì ái nam ái nữ Ông Phủ lắm vợ nhưng đầu óc đầy nhục dục, hãm hiếp người làm trong nhà tuổi bằng con cái tạo ra thảm kịch, băng hoại của gia đình đến thời suy sụp Chiêu không thể sống thoải mái và tự do với cái giống nửa nam nửa nữ của mình Chàng bị người đời chế giễu dèm pha từ lúc sinh ra Những cặp trai gái trẻ Tịnh, Hoàng, Ngự và Tường đều không được tự do yêu đương trong căn nhà Tất cả đều bị gò bó trong cái bối cảnh "khung rêu" vừa cũ kỹ, vừa bế tắc này

Trong Nhang tàn thắp khuya những cô gái trẻ sống chung dưới một trang

viên lộng lẫy, được gia đình giáo dục và cho tới trường, vửa đủ để sẵn sàng lên xe hoa với một người thuộc loại môn đăng hộ đối, bắt đầu cuộc đời làm

vợ làm mẹ theo đúng những bài bản đã thuộc nằm lòng như chính cha mẹ họ Thục Nghi là một hình mẫu hoàn hảo của sự gia giáo ấy Với vai trò là dâu trưởng trong gia đình một ông Đốc phủ sứ tiếng tăm, Thục Nghi đã thức khuya dậy sớm ngay từ ngày đầu tiên về nhà chồng, khôn khéo làm đẹp lòng

từ ba mẹ kế của chồng đến các cô em chồng khó tính, soi mói Những ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói, cung cách sinh hoạt bên trong ngôi nhà khiến cho người đọc hình dung được có một quá khứ đang từ từ thức dậy theo ngòi bút của bà

Trang 37

Truyện Trôi sông kể về cuộc đời đầy éo le của hai nhân vật lão Tư và Kim

Quít Lão Tư suốt ngày say xỉn Lão sống một mình trong một căn nhà nhỏ cạnh lạch nước trong làng Không ai biết từ bao giờ lão về đây sống, ngay cả bản thân lão cũng không nhớ Lão sống qua ngày bằng cách làm đủ mọi thứ công chuyện trong làng, từ sửa mái nhà đến chọc tiết heo, và công của lão chỉ tính bằng một bữa ăn hay vài xị rượu Thời trẻ, lão Tư làm phu quét đường, một mình sống cảnh gà trống nuôi con Đến khi đứa con gái độc nhất của lão

về làm vợ quan tri phủ, lão về sống trong vựa lúa nhà quan Lão Tư gọi đó là những ngày hiển hách nhất của đời lão Ði đâu lão cũng tự hào mình là cha vợ quan tri phủ Khi quan từ trần, con gái lão tái giá và theo chồng về Sài Gòn Lão Tư bỏ vựa lúa của quan về làng này Hàng xóm của lão Tư là Kim Quít

Bà từng là một cô đào nổi tiếng với một quá khứ oanh liệt, với nhan sắc nhiều người mê mệt Khi danh vọng tuột dốc, nàng về làm vợ bé cho thầy cai tổng Đến khi chồng chết, cuộc đời Kim Quít hoàn toàn thay đổi Nàng phải ra đời làm ăn, nhan sắc tàn phai và bây giờ tuổi già lại nghiện rượu.Thời điểm chính xảy ra câu chuyện là ngày làng ăn lễ Kỳ Yên Đêm đó có gánh hát tuồng về,

cả lão Tư và Kim Quít đều say rượu Khi lão Tư về gần đến nhà, lão vô tình nhìn thấy Kim Quít đang ngồi hát trước cửa nhà mình, nửa tỉnh nửa mê Bị ảnh hưởng của rượu, và cũng vốn là một người say mê Kim Quít thời trẻ, lão

Tư đã hãm hiếp bà Câu chuyện kết thúc với buổi sáng hôm sau, khi Kim Quít tỉnh dậy, biết mình bị hãm hiếp đã khóc lóc như điên dại và lão Tư thì đã chết cong queo từ khi nào Tác phẩm đã dựng lại khung cảnh của cuộc sống nông thôn Nam Bộ đan xen giữa cảnh đời với cảnh sinh hoạt văn hóa quen thuộc của người dân

2.3.2 Sự tự khẳng định của ý thức nữ quyền trong bối cảnh hỗn nhập văn hóa

Trong văn học thế giới, ngay từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX, một làn sóng văn học nữ quyền ở Anh và Mĩ đã xuất hiện Làn sóng tiếp theo tương ứng với cao trào nữ quyền ở các nước phương Tây, với những xu hướng như

Trang 38

trung hoà hay phổ quát Làn sóng thứ 3 bắt đầu từ thập niên thứ 9 của thế kỉ

XX đến nay đã diễn ra trên phạm vi toàn thế giới Làn sóng văn học này dần lan sang các nước châu Á, điển hình là ở Trung Quốc Ở Việt Nam trước đây chỉ cần đọc những dòng thơ của Hồ Xuân Hương người đọc đã hiểu được khát khao mong muốn của người phụ nữ Nhưng những khát khao đó cũng chỉ dừng ở mức nhẹ, kín đáo qua cách nói ẩn ý Ngày nay với sự thay đổi về thẩm mỹ, với sự phóng túng của những quan niệm sống, người phụ nữ tưởng như mình cũng đang có sự thay đổi Quan niệm bất bình đẳng/ bình đẳng gây tranh cãi và đến nay vẫn chưa dừng Và để chứng tỏ vai trò của mình và những lợi thế của mình thì văn hoc nữ quyền tập trung khai thác ở khía cạnh giới tính Sự khác biệt giữa giới tính nam và nữ dựa vào năm yếu tố chính: sinh lí, kinh nghiệm, vô thức, các điều kiện kinh tế, xã hội và diễn ngôn Trong đó yếu tố sinh lí được các nhà văn, nhà thơ khai thác triệt để Lí do vì thông qua cơ thể, sinh lí, giới tính nam và nữ trở nên khác biệt Và sự hấp dẫn, sự tò mò, sự ham muốn và sự chờ đợi là điểm chính mà phái nữ luôn muốn người khác giới quan tâm Văn học cũng không nằm ngoài dòng chảy

đó, nhiều nhà văn nữ xuất hiện, giới tính nữ và việc phô bày thân thể, tình cảm, sex, tình dục, sinh sản ngày càng nhiều trên các ấn bản Chính vì lí do đó

mà đề tài sex hot nhất trong những năm gần đây Tất nhiên, người phụ nữ muốn bày tỏ họ theo một cách riêng, đối chọi với nam giới và cách họ lựa chọn là yêu cơ thể mình, muốn khoe cơ thể mình để từ đó muốn được đòi hỏi

và khát khao hạnh phúc Công thức này không phải là mới nhưng văn học nữ quyền đã khai thác nó triệt để Và khuynh hướng nổi loạn trở thành bình thường trong hầu hết các truyện Các nhà văn Y Ban, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo đều thông qua những nhân vật nữ để thể hiện điều này

Rồi từ tập Truyện ngắn 8X (Nxb Hội Nhà văn, 2006) người đọc nhận ra từ sự

cô đơn, từ những khát khao riêng của thế hệ mình, những người phụ nữ 8X thực sự muốn thể hiện mình - thể hiện thẩm mĩ cũng như những day dứt khôn nguôi

Trang 39

Trong văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 có một hiện tượng văn học được dư luận quan tâm đó là sự xuất hiện của một số nhà văn nữ như Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ So với những nhà văn cùng phái với họ như Bà Tùng Long, Nguyễn Thị Vinh, Ái Lan, Linh Bảo, Vân Trang, Minh Quân, Mộng Trung sáng tác của các cây bút nữ nói trên thực sự mới mẻ về giọng điệu, ngôn từ đặc biệt là việc khai thác và thể hiện các yếu tố tính dục, bản năng, lối sống hiện sinh Có thể là do

ý thức hệ hoặc do môi trường hoạt động văn hóa nghệ thuật thay đổi nên có

sự khác biệt của đội ngũ tác giả văn xuôi miền Nam giai đoạn trước 1975 So với trước, sự phân hóa về tư tưởng chính trị, về nhận thức xã hội trong các nhà văn diễn ra quyết liệt hơn, thậm chí dẫn đến nhiều quan điểm cực đoan Một thời những sáng tác của các nhà văn nữ về tính dục hay nữ quyền bị lên

án mạnh mẽ, cho đó là văn hóa đồi trụy và bị tẩy chay Sau này khi đánh giá lại người ta mới nhận ra được giá trị đích thực của những sáng tác này

Trước Nguyễn Thị Thụy Vũ, người ta đã được đọc một Nguyễn Thị Hoàng với những trang văn xuôi mô tả chuyện tình dục rất táo bạo Trước bà, người ta cũng đã được đọc một Túy Hồng với những dòng chữ như những khối thuốc súng chực bùng nổ Và sẽ là một thiếu sót nếu chúng ta không nhắc tới Trùng Dương với những trang văn xuôi mở vào những cuộc phiêu lưu tình dục không duyên cớ Ý niệm quá khứ, tương lai gần như vắng mặt, nhường sân khấu cho tình dục, khi xác thịt lên tiếng

Tuy cũng là phá toang cánh cửa cấm cản, phá sập hàng rào giam hãm mọi phát biểu về sinh hoạt tâm - sinh lý người nữ bởi phong tục, tập quán lâu đời của phương Đông, nhất là của người phụ nữ Việt Nam… nhưng, nếu những nhà văn nữ đi trước Nguyễn Thị Thụy Vũ như Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương hay Túy Hồng xây dựng bối cảnh tác phẩm của họ ở những thành phố lớn, với những nhân vật nữ hầu hết thuộc giai cấp trí thức, thành thị thì nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ lại là những phụ nữ tỉnh lẻ Hầu hết họ không thuộc thành phần trí thức Họ là những phụ nữ thuộc giới “chân quê" Nguyễn

Trang 40

Thị Thụy Vũ đào sâu hơn vào những phân chia đẳng cấp, những áp bức bất công và số phận bi thương của phụ nữ trong xã hội bùn lầy nước đọng Bà nói lên tâm sự cô đơn của các cô gái già Bà viết về các cô gái buôn hương bán phấn, sinh hoạt của các gia đình với nhiều biến cố có liên quan đến thời cuộc

và khúc quanh của lịch sử Những tác phẩm Khung rêu, Mèo đêm, Lao vào

lửa là những ray rứt, thèm khát yêu thương, tình dục được tâm sự, kể lể bằng

ngòi bút nữ mà không người Việt Nam nào có thể có được

Quan sát tận tường, miêu tả táo bạo, phơi mở nhiều cảnh huống, dõi theo nhiều số phận, chạm khắc những tâm trạng, tung hứng nhiều lời thoại dí dỏm… tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã gây tiếng vang lớn Văn chương của bà được công chúng đón đọc từng ngày qua báo chí và mười cuốn sách lần lượt ra đời khẳng định một khuôn mặt văn chương nữ độc đáo của Việt Nam về bút pháp tả chân Nguyễn Thị Thụy Vũ viết về hình ảnh

ăn chơi, đàng điếm, mồi chài, thác loạn của giới bán bar trong giai đoạn quân đội Mỹ tràn ngập ở Việt Nam Nguyễn Thị Thụy Vũ được nhờ dạy kèm tiếng Anh cho giới bán bar, giới làm sở Mỹ nên có cơ hội giao tiếp, tìm hiểu mặt

trái của cuộc sống làm chất liệu cho ngòi bút Hình ảnh Loan trong Mèo đêm,

cuộc đời gái bar của Loan như loại mèo đêm “ăn sương” với lính Mỹ Cuộc đời cô gái vô học bước vào lầu xanh với cái tên ngoại quốc Mi-Sen, qua bao năm trong nghề với những mánh khóe điêu luyện để lột tiền lính Mỹ ăn chơi

Vì con bị bệnh nặng nên Loan đã trở thành một cô gái bán snack bar và trở thành cô gái bao hạng sang của Việt kiều Mĩ, sau cái chết của con Sống trong cảnh cô đơn về đêm Loan lại muốn đi bar vì không chịu được nỗi buồn, trống vắng Cảm thấy cuộc đời mình không có gì đảm bảo, không có bến nào để nghỉ ngơi Sau những phục vụ thân xác là nỗi buồn ê chề, là sự xót xa cho

cuộc đời tạm bợ của mình không biết đến bao giờ mới có hạnh phúc Lao vào lửa là chân dung cô nữ sinh nghèo túng, đi tìm việc trong hộp đêm Cũng như

Loan vì hoàn cảnh gia đình éo le mà phải dấn thân vào quán bar Ban đầu Tina chưa rành chuyện "Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề" nên bị

Ngày đăng: 01/08/2021, 11:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w