Bằng ngòi bút đầy tài năng của mình Nguyễn Tuân đã có nhiều đóng góp to lớn, có vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam: Thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
VĂN XUÔI NGUYỄN TUÂN SAU NĂM 1954:
ĐỀ TÀI - CHỦ ĐỀ - BỨC TRANH THẾ GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
VĂN XUÔI NGUYỄN TUÂN SAU NĂM 1954:
ĐỀ TÀI - CHỦ ĐỀ - BỨC TRANH THẾ GIỚI
Chuyên nghành : Lí luận văn học
Mã số : 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian khảo cứu, sưu tầm tài liệu để chấp bút cho công trình nghiên cứu của mình, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân và tập thể
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc nhất tới thầy
hướng dẫn luận văn: PGS TS La Khắc Hòa, người đã hướng dẫn chỉ bảo tận
tình và giúp đỡ tôi từ lúc chọn đề tài cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo khoa Văn học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Minh Phú cùng bạn bè, đồng nghiệp gần xa và những người thân trong gia đình đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Những trích dẫn tài liệu đã được sử dụng trong luận văn là đúng sự thật và được trích dẫn nguồn gốc từ các tài liệu, tạp chí, công trình nghiên cứu đã được xuất bản, công bố Các giải pháp nghiên cứu nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ
sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn, trong quá trình học tập và giảng dạy
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 13
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
6 Phương pháp nghiên cứu 14
7 Dự kiến đóng góp của luận văn 15
8 Cấu trúc luận văn 15
NỘI DUNG 16
Chương 1 NGUYỄN TUÂN: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN HỌC 16
1.1 Vài nét về tiểu sử và con người 16
1.1.1 Tiểu sử 16
1.1.2 Con người 18
1.2 Sự nghiệp văn họctrước năm 1945 22
1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng 22
1.2.2 Sáng tác văn học trước năm 1945 24
1.3 Sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân sau 1945 31
1.3.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng 31
1.3.2 Sáng tác văn học sau năm 1945 33
Chương 2 HÌNH TƯỢNG TỔ QUỐC TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN TỪ SAU NĂM 1954 39
2.1 Sự biến đổi trong phạm vi đề tài, chủ đề 39
2.2 Hình tượng Tổ quốc như một kì quan 41
2.2.1 Kì địa 41
Trang 62.2.2 Tuyệt mĩ 48
2.2.3 Vô cùng giàu có 52
2.2.4 Có truyền thống cách mạng 58
Chương 3 HÌNH TƯỢNG KẺ THÙ 64
3.1 Cấu trúc ngữ nghĩa của hình tượng kẻ thù 64
3.2 Quái thú 67
3.3 Quái vật 77
PHẦN KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân xứng đáng ở
tầm cỡ nhà văn lớn Nguyễn Tuân “lớn” ở cả hai thời kì, từ cuộc đời cũ đến cuộc đời mới; vừa là cây bút nổi bật của xu hướng văn học lãng mạn trước
1945 vừa ở trong hàng ngũ những nhà văn thành tâm chào đón chân thành đi theo cách mạng đến cùng Bằng ngòi bút đầy tài năng của mình Nguyễn Tuân
đã có nhiều đóng góp to lớn, có vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam: Thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao; làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam một phong cách tài hoa, độc đáo
Theo PGS.TS La Khắc Hòa: “mọi sự độc đáo của Nguyễn Tuân có
gốc gác ở hình tượng nghệ thuật chứ không phải ở mô típ truyện kể hay yếu tố trò diễn”,“Hình tượng là sự vật, hoặc nhân vật được hình dung một cách cụ thể - cảm tính”, “Chất liệu chủ yếu cần được sử dụng để mô tả hình tượng chỉ
có thể là hình dung từ Nhà văn càng sáng tạo nhiều hình dung từ để mô tả con người và sự vật, hình tượng nghệ thuật càng in đậm dấu ấn phong cách
cá nhân, và vì thế nó càng trở thành sức mạnh cưỡng bức, áp đặt đối với sự tiếp nhận thẩm mĩ của độc giả” Thay vì kết luận như nhiều người “Nguyễn
Tuân là vua tùy bút”, ông gọi Nguyễn Tuân là nhà văn của hình dung từ
Quả thật con đường nghệ thuật của Nguyễn Tuân đã trải qua nhiều giai đoạn, ngòi bút của ông từng thử thách với nhiều lối viết, dù là lối viết nào ông cũng sử dụng cả một kho hình dung từ phong phú đa dạng: Trước cách mạng,
đánh dấu từ Chùa Đàn đổ về trước hình tượng trung tâm trong sáng tác của
Nguyễn Tuân là nhân vật, nhân vật chính thường là một kì nhân, sau kì nhân
là kì thú Trong các sáng tác của Nguyễn Tuân ở giai đoạn này có hai đề tài quan trọng: Thú ăn chơi tao nhã và thú xê dịch giang hồ Thế giới nghệ thuật
Trang 8trong các tác phẩm văn xuôi trước cách mạng được hình dung theo hướng bổ đôi, đối lập hai thế giới: Trong này và ngoài kia Trong này là thế giới của khuôn viên, nhà cửa; ngoài kia là thế giới của thiên nhiên bao la xã hội rộng lớn Trong này là thế giới của công sở, của gia đình, cha mẹ, vợ con; ngoài kia là thế giới của nhà hát, cao lâu, tửu quán Mỗi thế giới có không gian riêng, luân lí riêng Trong này là thế giới của bổn phận, ngoài kia là thế giới của những cuộc kì duyên kì ngộ, thế giới tri âm, tri kỉ Điều đặc biệt, thế giới nhân vật đông đúc của ông đều là cư dân của vùng ngoại biên, chỉ ở thế giới bên lề mới có các bậc kì nhân, kì tài, những người chí thành chí tình, mới diễn
ra những cuộc kì duyên kì ngộ Quan trọng hơn, chỉ khi nào phiêu dạt sang bên lề, ra ngoại biên sáng tạo nghệ thuật mới tìm thấy sự kì thú để thăng hoa
Năm 1945, Nguyễn Tuân viết Lột xác Tác phẩm có thể xem là dấu
mốc đánh dấu nhiều sự khác biệt trong hai giai đoạn sáng tác của Nguyễn Tuân Nếu như trước cách mạng, lòng yêu nước của Nguyễn Tuân biểu hiện ở việc phụng thờ những gì đã thuộc về quá khứ thì đến giai đoạn này ông đã tìm thấy sự gắn bó giữa quá khứ với hiện tại và tương lai “Ông thấy cái có thật bây giờ đẹp và cái đẹp bây giờ có thật trong cuộc đời” (Nguyễn Đình Thi) Mặc dù vẫn kiên định và thống nhất trong cách viết, sử dụng chất liệu chủ yếu
để mô tả hình tượng là các hình dung từ, nhưng chỉ sau năm 1954 văn xuôi
Nguyễn Tuân mới thật sự Lột xác trong đề tài chủ đề Sau hiệp định Giơ ne
vơ đất nước bị chia cắt làm hai miền, cả hai miền Nam Bắc có nhiệm vụ chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc tiến tới hòa bình thống nhất đất nước Với nhãn quan của nhà văn vốn mang phong cách tài hoa, độc đáo Nguyễn Tuân nhận thức rõ tư cách mới của ông trong giai đoạn cách mạng mới của dân tộc Văn xuôi Nguyễn Tuân sau 1954 hình thành rõ nét hai đề tài: Chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội với hai hình tượng: Tổ quốc và kẻ thù Mỗi một tác phẩm của ông đều mở ra một bức tranh thế giới mà ở đó có
Trang 9sự đối lập: Chúng ta - chúng nó; ta - địch; Tổ quốc - kẻ thù Với bút lực của một cây bút đã thực sự chuyển mình nhà văn đã làm nổi lên hình tượng Tổ quốc Việt Nam giàu có, tuyệt vời, tuyệt đỉnh như một kì quan Còn kẻ thù hiện lên như bọn quái nhân, quái thú, quái vật Đó là cả một thế giới hình tượng đầy hấp dẫn
1.2 Nguyễn Tuân là nhà văn có những đóng góp lớn cho nền văn học
dân tộc Sáng tác của ông đã được giới nghiên cứu phân tích đánh giá từ rất nhiều bình diện Về việc nghiên cứu văn xuôi Nguyễn Tuân có thể kể đến hàng trăm công trình khác nhau Một phần lớn các công trình này đều đã được
in thành sách hoặc đăng trên các báo và tạp chí nổi tiếng Tiêu biểu trong số
đó là các bài của tác giả Lã Nguyên, Trần Đăng Suyền, Phan Cự Đệ, Nguyên Ngọc, Hà Minh Đức, Đỗ Kim Hồi, Lê Quang Trang… Hầu hết các công trình (bài viết, tiểu luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ) nghiên cứu văn xuôi Nguyễn Tuân chủ yếu rơi vào các sáng tác trước cách mạng tháng Tám năm
1945 Các tác phẩm văn xuôi sau năm 1954 ít nhiều cũng được đề cập đến, tuy nhiên đó chưa phải là những công trình nghiên cứu mang tính chất bao quát về một giai đoạn sáng tác thực sự có ý nghĩa của một nhà văn lớn
1.3 Nguyễn Tuân là một trong những tác gia lớn được tuyển dạy trong
nhà trường THPT, với tác phẩm Chữ người tử tù (Ngữ văn 11, tập 1), Người
lái đò sông Đà (Ngữ Văn 12, Tập 1) Như vậy, ngay từ khi còn được ngồi trên
ghế nhà trường các em học sinh đã được tiếp cận với các tác phẩm văn xuôi thuộc cả hai giai đoạn sáng tác của Nguyễn Tuân Tuy nhiên đối với các em dấu ấn sâu đậm khi tiếp cận với các tác phẩm của nhà văn là ở những kiểu
nhân vật nghệ sĩ tài hoa như là Huấn Cao, Người lái đò… Nhiều em có đánh
giá thiên lệch về văn xuôi Nguyễn Tuân, cho rằng ông chỉ sáng tác về hai đề tài: Thú ăn chơi tao nhã và thú xê dịch giang hồ Một phần là do các em chưa
có cái nhìn bao quát, chưa hiểu được vai trò mới của nhà văn, chưa tìm được
Trang 10tiếng nói từ các tác phẩm văn xuôi sau năm 1954 Là giáo viên môn Ngữ Văn đang trực tiếp giảng dạy ở một trường THPT, khi nghiên cứu đề tài này mong muốn lớn của tôi là: Đào sâu thêm vốn hiểu biết về văn nghiệp của Nguyễn Tuân, để từ đó giúp cho các học trò có cái nhìn toàn diện, bao quát và đánh giá được đúng những đóng góp to lớn của Nguyễn Tuân trong nền văn học dân tộc, đặc biệt là trong văn xuôi thời kì kháng chiến chống Mỹ
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Tuân là một tác gia văn học lớn, một nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo Con đường nghệ thuật của Nguyễn Tuân có ý nghĩa điển hình cho một lớp văn nghệ sĩ vốn nổi tiếng từ trước cách mạng, đã chuyển mình trở thành nhà văn nghệ sĩ cách mạng Ông đã dùng ngòi bút phục vụ Tổ quốc và nhân dân, tiếp tục phát huy được bản sắc độc đáo của mình Có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân với nhiều cấp độ, nhiều nội dung khác nhau nhưng ở đây chúng tôi muốn nói đến những chuyên gia đã dành nhiều tâm huyết và công sức cho Nguyễn Tuân như giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Vương Trí Nhàn, Hà Minh Đức,… Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh
khẳng định Nguyễn Tuân là “một hiện tượng văn học phức tạp”
Trước cách mạng, bất mãn với thực tại Nguyễn Tuân sống ngông nghênh quay lưng với thực tại Nhưng sau cách mạng Nguyễn Tuân có nhiều thay đổi: Không hoàn toàn đoạn tuyệt ngay với quá khứ, nhưng ông đã thấy được ý nghĩa của cuộc sống khi hòa mình vào nhân dân Nguyễn Tuân cùng
đi, cùng sống, cùng ở với bộ đội, nhân dân lao động Bởi vậy giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: “Cách mạng tháng Tám đã cứu sống Nguyễn Tuân”; Cách mạng tháng Tám là cơn bão táp may mắn giúp Nguyễn Tuân hồi sinh trong niềm vui lớn của đất nước: “Mê say với ánh sáng trắng vừa giải phóng, tôi đã là một dạ lữ khách không mỏi, không ngủ của một đêm phong hội mới” Nguyễn Tuân đã tiến hành một cuộc cách mạng trong lòng mình Sự
Trang 11chuyển biến thực sự của ngòi bút Nguyễn Tuân sau cách mạng, có thể xem
như bắt đầu từ Đường vui Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh trong bài viết
“Nguyễn Tuân một phong cách độc đáo và tài hoa”, in trong “Nguyễn Đăng
Mạnh (2003), Nhà văn Việt Nam hiện đại - Chân dung và phong cách, Nxb Văn học, Hà Nội” cũng nhận định về phong cách sáng tác Nguyễn Tuân:
“Vốn từ ngữ trước cách mạng tháng Tám, ông thường dùng để chơi ngông với đời; hoặc đưa ra những cách nói năng oái oăm kỳ cục cốt để trêu ghẹo thiên
hạ, hoặc đổ tràn ra mặt giấy để phô tài khoe chữ”; “Sau cách mạng tháng Tám, ông dùng vốn từ ngữ ấy để ngợi ca Tổ quốc, ngợi ca nhân dân và để đánh địch Nói chung, vốn từ ngữ của Nguyễn Tuân thường bộc lộ đầy đủ trữ lượng của nó trong hai trường hợp: Một là khi ông tập trung đi sâu vào một điểm mà mô tả, nhu cầu tránh trùng lặp buộc ông phải tung ra tất cả những từ đồng nghĩa có trong vốn liếng của mình Hai là có hiện tượng mới lạ, độc đáo
và thú vị đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ của ông, cảm hứng được khơi dậy mãnh liệt - nhiều khi bốc lên say sưa chếnh choáng - ông bèn quyết ném ra bằng hết vốn từ ngữ của mình để chạy đua với tạo vật muôn màu muôn vẻ Những cuộc chạy đua căng thẳng mà rất hào hứng như thế thường tạo ra
những trang tài hoa nhất của Nguyễn Tuân” [33]
Giáo sư Phong Lê trong bài viết “Nguyễn Tuân trong tùy bút, tác gia văn xuôi Việt Nam hiện đại” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội) cho rằng: “Tên tuổi của Nguyễn Tuân gắn với trào lưu văn học lãng mạn trong văn học Việt Nam sau đại chiến thế giới thứ hai” Trước cách mạng, Nguyễn Tuân “thất
vọng trước hiện tại, nhà văn quay lại với quá khứ, nhấm nháp những Vang
bóng một thời, những thú chơi được xem là thanh lịch như ướp hương bưởi,
thả thơ, đánh thơ,… đó là cả một sự bế tắc nằm trong sự bế tắc chung của nền văn học công khai, dưới ách thống trị của thực dân trong xã hội cũ Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân chính là một trong số các nhà văn
Trang 12lãng mạn hiếm hoi ngay từ đầu đã có cái may mắn tiếp nhận được ánh sáng mới để tìm ra con đường giải thoát cho cuộc sống và nghệ thuật của mình Nhà văn hồ hởi đi theo cách mạng và có lúc chan hòa vào dòng người, vui cái vui xuống đường trong những ngày đầu sau khởi nghĩa Nhưng phải đến kháng chiến chống Pháp, sống trong đời sống của nhân dân, trong ngọn lửa
chiến đấu con người và nghệ thuật của Nguyễn Tuân mới có điều kiện gột rửa
dần những tiêu cực để bước vào quỹ đạo của văn nghệ cách mạng Cuộc
kháng chiến đã đem lại cho Nguyễn Tuân tình cảm mới mà ông gọi là“nếp
tình cảm mới” Tình cảm đó không có trong các trang viết trước đây của
Nguyễn Tuân Những mối “tình đơn vị”, “tình chiến dịch” hoặc cái “nỗi nhớ
miên man” nó gắn bó con người với nhau Sau cách mạng đã hết rồi cái say
sưa tự nhấm nháp mình, Nguyễn Tuân còn phấn đấu đi xa hơn thế Trong sáng tác của ông đã dần dần xuất hiện những con người kháng chiến mà ông yêu mến khâm phục: Anh giao thông, anh tự vệ thủ đô, anh du kích xã,… Trong cái cố gắng không viết tùy sang bút, có lúc ông đã bước sang địa hạt của truyện ngắn để dựng hẳn chân dung quần chúng cách mạng hoặc một khung cảnh chiến thắng với nhiều tâm trạng nhiều khuôn mặt khác nhau của quân dân vùng địch hậu Có thể nói con đường đi của Nguyễn Tuân trong ba mươi năm qua là con đường có nhiều bước thăng trầm Ông đi vào đời sống, xuất phát từ đời sống, gắn bó chan hòa với quần chúng, tin ở cách mạng và
rèn luyện mình theo quan điểm lập trường của Đảng” [26]
Nhà nghiên cứu phê bình văn học Vương Trí Nhàn trong bài viết “Nhà
văn Nguyễn Tuân” in trong “Tạp chí sông Hương, số 31, tháng 5,6 ” đã viết:
“Nên hiểu sự khinh bạc lộ liễu của Nguyễn Tuân trước cách mạng cũng là một cách nhà văn tự mài sắc mình để làm nghề cho thật đắt, chúng ta sẽ không quá thành kiến với nó và có thể hiểu tại sao nó lại tồn tại với những phẩm chất ngược lại như tinh thần phục thiện và một tấm lòng biết thông cảm
Trang 13Chẳng qua sau cách mạng khi không thật cần thiết cho nghề nữa, thói quen
khinh bạc đó đã được gột rửa rất nhiều” [tr.30]
Trong cuộc tranh luận về nghệ thuật ở Việt Bắc tháng 7 năm 1949, khi
bàn đến Đường vui Nguyên Hồng nhận xét: “Anh yêu mình nhiều quá, dựng
mình lên nhiều quá”; còn một cán bộ văn nghệ khác thì bảo: “Tôi có cảm tưởng là anh đi trên bờ suối, đi trên đường để ngắm cảnh”, những điều này không phải Nguyễn Tuân không biết trái lại nó làm ông đau khổ nhiều lắm, trong lúc lúng túng ông đã đổ tội cho thể tài Trong một buổi họp chính Nguyễn Tuân đã phát biểu: “Nhân nói đến tùy bút tôi có ý kiến chúng ta ghi chép tài liệu đã nhiều Bây giờ là thời kì viết tiểu thuyết, đừng viết tùy bút nữa” Một chỗ khác ông nói rõ hơn: “Người viết tiểu thuyết có điều kiện khách quan hơn”; “Riêng tôi với thể tùy bút tôi dễ phóng túng hơn” Rồi làm
đúng như điều mình tính một số tác phẩm ra đời sau Đường vui đều được ông
gọi là tiểu thuyết Chỉ có điều những tiểu thuyết này không hay, với những người tinh tường nhận ra rằng tiểu thuyết nó chỉ là cái vỏ còn hơi văn, giọng điệu vẫn là tùy bút Có lẽ vì nhận ra sự thực là như thế nên khi tập hợp những
gì đã viết ở Việt bắc Nguyễn Tuân gọi chúng là tùy bút: Tùy bút kháng chiến,
Tùy bút kháng chiến hòa bình
Tác giả Hà Minh Đức với “Tùy bút Nguyễn Tuân sau cách mạng tháng
Tám”, in trong sách “Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, Nxb
ĐHQG, Hà Nội” [13; tr.24] đã khẳng định: “Có nhiều nhà văn viết tùy bút nhưng hiếm có một cây bút nào lại thủy chung gắn bó suốt một đời với nó như Nguyễn Tuân Ông gắn bó với thể loại tùy bút và tạo dựng cho mình một phong cách riêng ở thể loại này, bởi nó phù hợp với sở trường và cá tính của ông” và tùy bút Nguyễn Tuân không chỉ giàu tính hiện thực, mang tính thời
sự cao mà còn đậm đà chất trữ tình, thơ mộng Chất tình cảm trong tùy bút Nguyễn Tuân trước cách mạng thường là buồn, phản ánh tâm trạng bức bối
Trang 14chán chường của tác giả trước một cuộc đời tù túng tẻ nhạt (Thiếu quê
hương) Sau cách mạng tháng Tám cảm xúc và suy nghĩ của Nguyễn Tuân có
nhiều thay đổi: Say mê, nhiệt tình và lạc quan hơn”
Phan Cự Đệ cũng có những nhận xét và đánh giá tinh tế về nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân Trong “Phan Cự Đệ, Nguyễn Tuân - một phong
cách nghệ thuật độc đáo, trong sách Tác phẩm và lời bình, Nxb Văn học, Hà
Nội” [10], ông có sự so sánh về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám: “Giờ đây tác phẩm của Nguyễn Tuân vẫn luôn lưu ý ta đến góc độ thẩm mĩ trong cuộc sống hàng ngày bận rộn, đề nghị một lối sống đẹp nhã nhặn thanh lịch Trước cách mạng trong tác phẩm của Nguyễn Tuân hình thành một phong cách tài hoa, độc đáo… Khi thế giới quan và phương pháp sáng tác đã chuyển về cơ bản thì phong cách nghệ thuật cũng thay đổi theo Tuy nhiên phong cách mới không phủ định phong cách cũ một cách tuyệt đối mà có sự phê phán và kế thừa Nhiều hình tượng và mô típ, nhiều thủ pháp nghệ thuật được lặp lại và mang một ý nghĩa mới qua hình tượng gió, con đường, sân ga, biên giới,… Có thể thấy sự lớn lên, sự trưởng
thành của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân” [tr.114]
Có thể kể đến tác giả Tôn Thảo Miên với các bài viết như: “Nguyễn
Tuân - tài hoa văn chương”, “Nguyễn Tuân, dấu ấn cá tính sáng tạo” [39]
Trong đó tác giả vừa khái quát sự nghiệp sáng tác vừa đi sâu tìm hiểu cá tính sáng tạo nhà văn Tác giả Tôn Thảo Miên viết: “Tìm hiểu quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân chúng ta sẽ thấy sự chuyển biến về mặt tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của ông giữa hai mốc lịch sử trước và sau cách mạng tháng Tám” [tr.22] Theo tác giả: “Nguyễn Tuân là một nhà văn đến với cách
mạng từ khá sớm, có thể nói là ngay những ngày đầu tiên, nhưng từ Lột xác đến Chùa Đàn sự quyết tâm từ bỏ con người cũ, cuộc sống cũ cũng mới chỉ là
lý thuyết; trên thực tế Nguyễn Tuân vẫn chưa đoạn tuyệt hẳn với nó Ngay ở
Trang 15Đường vui một thiên tùy bút được coi là có sự chuyển biến thực sự của ngòi
bút Nguyễn Tuân sau cách mạng thì người đọc vẫn thấy thấp thoáng một Nguyễn Tuân ham xê dịch ham đi “đi bao giờ cũng vui Chỉ những lúc ngừng mới là hết thú” Tất nhiên không giống với trước cách mạng, Nguyễn chỉ đi một mình lang thang cô độc, đi không mục đích, không phương hướng Bây giờ Nguyễn đi cùng với nhân dân, cùng với bộ đội và Nguyễn nhận ra: “Sức
mạnh của đất nước luôn hiện hình trên từng tấc gang đường xa” “Đường vui”
là bài ca của một con người mang tâm trạng náo nức vui tươi, tin tưởng vào cuộc kháng chiến Chất nghệ sĩ, chất lãng mạn, chất công dân trong con người
Nguyễn Tuân đã tạo nên những trang viết thật sự hồn nhiên, thật sự xúc động
Tác giả Trần Đăng Suyền trong “Nguyễn Tuân quá trình sáng tác và
phong cách nghệ thuật”, in trong sách “Tác phẩm và lời bình, Nxb Văn học,
Hà Nội” chỉ rõ: “Đầu năm 1958 sau một cuộc học tập chính trị dành cho văn
nghệ sĩ, Nguyễn Tuân đi thực tế (…) Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới, con người mới ở vùng cao của Tổ quốc đã đem đến cho nhà văn một nguồn cảm hứng sáng tạo mới, say mê và mãnh liệt Ngòi bút Nguyễn Tuân đầy cảm hứng lãng mạn khi viết những bài tùy bút về Điện Biên và sông Đà, sau này
được tập hợp trong cuốn Sông Đà (….) Những bài tùy bút in trong tập Sông
Đà vừa tập trung chụm lại trong một chủ điểm Tây Bắc, vừa mở rộng ra
phong phú về cả không gian địa lí và thời gian lịch sử với những quan sát sắc sảo, những ấn tượng mạnh mẽ, những suy nghĩ miên man, những cảm nhận tinh tế để tạo ra một thế giới nghệ thuật độc đáo in đậm cá tính sáng tạo và
phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân “Về phong cách nghệ thuật, Sông Đà đã mất đi cái giọng ngông nghênh của tác giả Vang bóng một thời, Thiếu quê
hương, Chiếc lư đồng mắt cua,… nhưng vẫn kế thừa nét đặc sắc này của
phong cách cũ: Cách nhìn nghiêng về mặt mĩ thuật của sự vật và con người Qua tác phẩm, Tây Bắc và sông Đà hiện lên như một công trình nghệ thuật
Trang 16thiên tạo”; và rồi “Khi đế quốc Mỹ đem không quân đánh phá miền Bắc nước
ta, Nguyễn Tuân rất kịp thời đã dùng ngòi bút sắc bén của mình tham gia vào
cuộc chiến đấu chung của toàn dân tộc Tập Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi của ông
có nhiều trang bút kí có giá trị Bằng ngòi bút châm biếm già dặn, Nguyễn Tuân đã vạch trần chân tướng bỉ ổi, hèn nhát của những yêng hùng không lực Huê Kỳ, ngợi ca cách đánh giặc vừa anh dũng, mưu trí vừa đàng hoàng sang trọng của quân dân ta - những con người sinh ra trên một đất nước có hàng
nghìn năm văn hiến” [53; tr.198 - 199]
Tác giả Lê Hồng Trung trong bài viết “Đọc một số tùy bút gần đây của
Nguyễn Tuân”, in trong “Nguyễn Tuân - Tác phẩm và lời bình” nhận định:
“Từ những ngày giặc Mỹ bắt đầu leo thang đánh phá miền Bắc nước ta, anh chị em nhà văn nhà thơ đã hăng hái ghép thành đội ngũ, từng đoàn từng đoàn xông xáo đi vào nơi tuyến lửa khu Bốn để sống cuộc sống của nhân dân đang sản xuất và chiến đấu, rồi ghi chép, suy nghĩ, sáng tác Nguyễn Tuân cũng đã không vắng mặt trong thời gian ấy Rồi bọn Mỹ leo thang ra Hà Nội, bắn phá thủ đô thân yêu, trái tim của cả nước Người ta gặp Nguyễn Tuân trên các đường phố Hà Nội Những ngày Hà Nội chiến đấu căng thẳng ấy anh vẫn không rời bút, không rời sách mà anh còn hăng hơn, kịp thời hơn (…) Các bài tùy bút đánh Mỹ mang khá nhiều dấu ấn riêng của tác giả Đặc điểm
phong cách trong các bài viết ấy có thể tóm gọn trong mấy chữ Tùy bút
Nguyễn Tuân Bằng giọng văn chậm rãi, đay nghiến, bằng cái nhìn hóm hỉnh
tế nhị và chữ nghĩa sắc sảo, Nguyễn Tuân dành riêng cho mình một chỗ đứng trong văn học.” [66; tr.232 - 235]; “Trước cách mạng văn Nguyễn Tuân thường đi vào ngao du, phá phách, nhấm nháp cái tôi Hai mươi năm nay anh
đã cố gắng để có thể nói lên những vấn đề lớn của thời đại, của dân tộc, mặc
dù nhiều lúc anh vẫn rơi vào những nhận xét vụn vặt, tản mạn” [66; tr.235]
Trang 17Nhà văn Nguyên Ngọc cũng đã nêu“Cảm tưởng đọc Sông Đà của
Nguyễn Tuân”: “Trong Sông Đà, Nguyễn Tuân có cái náo nức sôi nổi của
một người vừa bày ra trước mắt mình một cuộc sống mới cuồn cuộn, những con người mới rất đẹp, ào ào đi tới, anh vội bắt quen với người này, anh theo gót người kia, anh tâm sự với một người thứ ba, anh náo nức đi tới cùng với
họ Rồi anh tìm hiểu họ, anh nói đến họ, anh ngợi ca họ, anh cố gắng giải quyết những vấn đề còn vướng mắc của họ Anh tha thiết học ở họ và anh tha thiết muốn dạy họ những điều mà anh hiểu biết hơn Anh muốn những dòng anh viết ra cũng tham gia vào cuộc sống của họ, cũng đi vào cuộc đấu tranh cho sự nghiệp mà họ đang xây dựng Đây không phải là lần đầu tiên anh nói đến họ với tất cả sự thoải mái của một tấm lòng cởi mở, lần đầu tiên anh nói đến họ dễ dàng, vui vẻ đến thế và có trách nhiệm như thế Đó là một điều rất đáng vui mừng” [66; tr.244 - 245] “Sông Đà có một phần khá lớn số trang nói đến cái quá khứ phản diện và trong cái đêm dài đen tối ấy ông không quên chỉ cho người đọc những ngọn đuốc đỏ, những người cộng sản Kinh, Thái, Mèo,… của Tây Bắc trước đây Cuốn sách phơi phới những trang đầy ánh nắng của cuộc sống mới nhưng cũng nặng những suy nghĩ về những ngày đã qua Có lẽ ngòi bút của anh Nguyễn Tuân đặc biệt sắc sảo khi anh nói đến
những đau thương ngày trước Tôi đọc đi đọc lại những trang Xòe và tôi nghĩ
rằng mười tám trang ấy chứa đựng tài liệu của một cuốn tiểu thuyết não nùng điển hình biết bao cho cuộc đời cũ của các dân tộc Tây Bắc, từ những ngày vùi dập đau thương cho đến những ngày bắt đầu chiếu rọi ánh sáng của Đảng”; “Ở những chương khác anh Nguyễn Tuân nói đến Đèo Văn Long và gia đình hắn Tôi rất tán thành lối văn anh hùng ở chương đó Đó là lối văn của tòa án truy một tên tội phạm Đèo Văn Long hiện lên như một nhân vật
phản diện sắc nét của tập tùy bút - tiểu thuyết Sông Đà, hình ảnh tăm tối của
nó có cái tác dụng của những đường viền đen làm sáng rõ thêm màu sáng của
cuộc đời Tây Bắc ngày nay” [66; tr.251 - 252]
Trang 18Tác giả Lã Nguyên trong bài tiểu luận phê bình “Nguyễn Tuân nhà văn
của hình dung từ” có một cách nhìn nhận rất mới nhưng thú vị: “Nguyễn
Tuân cũng viết truyện Vang bóng một thời (Tân Dân, 1940) là tập truyện nổi tiếng của ông Ngoài Vang bóng một thời ông còn có hàng loạt tập truyện khác, ví như Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua, tiểu thuyết Tóc chị
Hoài, và một loạt truyện ngắn mà ông gọi là Yêu ngôn… Thế mà người ta vẫn
gọi Nguyễn Tuân là “vua tùy bút” Về phần mình, đọc truyện của ông tai tôi không tìm thấy khoái cảm được tự nghe, mắt tôi không ánh lên niềm vui được
tự xem, tự nhìn, tự quan sát, tự thấy một hành động đang diễn ra để xúc động thẩm mĩ tự nảy nở trong lòng Mỗi lần ngồi trước trang văn của ông, mọi giác quan của tôi tựa như bị cưỡng bức, bị áp đặt, buộc phải tiếp nhận một bức tranh, hay một pho tượng do ông sáng tạo ra, đẹp đấy nhưng xa lạ với thế giới thường nhật của tôi Tôi tìm cách lí giải vì sao có cảm giác ấy Thì ra mọi sự độc đáo của văn Nguyễn Tuân có gốc gác ở hình tượng nghệ thuật”; “Năm
1945, Nguyễn Tuân viết Lột xác có thể xem là tuyên ngôn nghệ thuật của ông
Trong sáng tác của Nguyễn Tuân sự lột xác này được thể hiện ở nhiều bình diện … tôi chỉ quan tâm tới nguyên tắc tổ chức hình tượng truyện kể của nhà
văn Như đã nói, trước Chùa Đàn sáng tác của ông là sự triển khai của hai hình tượng truyện kể: Kì nhân và kì thú (…) Sau Chùa Đàn, sáng tác của Nguyễn
Tuân tập trung kiến tạo hai hình tượng: Chúng ta và chúng nó; Tổ quốc và kẻ thù Đó là hai nội dung chủ chốt của hai truyện kể: Kì quan và quái nhân Truyện kì nhân, kì thú là sản phẩm của ý thức hệ lãng mạn, thể hiện quan niệm
về con người cá nhân, cá thể Truyện kể về kì quan và quái nhân là con đẻ của
tư tưởng hệ quốc gia thời chiến, gắn với hai đề tài chủ chốt của văn học miền
Bắc giai đoạn 1945 - 1975: Chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội” [45]
Nhìn chung những công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân, các tác giả đều thống nhất ở việc công nhận rằng: Sau cách mạng tháng Tám Nguyễn
Trang 19Tuân đã có những chuyển biến lớn trong đời sống và tư duy nghệ thuật Nhưng ta có thể thấy các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đi vào tìm hiểu các tập tùy bút được viết ngay sau cách mạng mà chưa đi vào nghiên cứu sâu hình tượng Tổ quốc và kẻ thù trong các trang văn từ sau năm 1954 Bài viết của tác giả Lã Nguyên đã hé mở một hướng khai thác mới về đề tài chủ, đề trong các sáng tác của Nguyễn Tuân sau năm 1954 Dựa trên những tư liệu quý có sẵn ở trên, cùng với sự nỗ lực của mình, chúng tôi mong muốn đóng góp phần nhỏ bé để lấp bớt chỗ trống trong việc nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Tuân, góp phần đưa đến một cách hiểu, một cách nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về giá trị của những thành quả lao động nghệ thuật mà Nguyễn
Tuân đã cống hiến cho đời
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm mục đích:
- Khẳng định việc lựa chọn đề tài, chủ đề trong các tác phẩm văn xuôi sau năm 1954 của Nguyễn Tuân đã mở ra một bức tranh thế giới có sự đối lập
rõ nét giữa: Ta - địch; Chúng ta - chúng nó; Tổ quốc - kẻ thù Đây được xem
là nét mới nổi bật và cũng là đóng góp quan trọng về tư duy nghệ thuật của Nguyễn Tuân đối với tiến trình văn xuôi Việt Nam hiện đại
- Làm sáng rõ hơn cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
- Cải tiến việc dạy và học tác phẩm văn xuôi Nguyễn Tuân trong nhà trường phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cách hiểu về khái niệm: Đề tài - Chủ đề - Bức tranh thế giới trong các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Tuân sau năm 1954
- Phân tích sự đối lập các hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Tuân sau năm 1954
Trang 205 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Văn xuôi Nguyễn Tuân sau năm
1954: Đề tài - Chủ đề - Bức tranh thế giới
Văn xuôi Nguyễn Tuân có nhiều tập đặc sắc, nhưng trong khuôn khổ luận văn cao học chúng tôi không có điều kiện khảo sát hết mà chỉ khảo sát ở giai đoạn sau của sự nghiệp văn học Nguyễn Tuân: Từ năm 1954 trở về sau
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung khảo sát: Tuyển tập Nguyễn Tuân (1982), Tập 1, 2,
NXB Văn học, Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc vận dụng lý luận văn học làm cơ sở lý luận để nghiên cứu, trong luận văn chúng tôi sử dụng đồng thời các phương pháp sau:
6.1.Phương pháp nghiên cứu dựa trên quan điểm lịch sử
Muốn hiểu được rõ hơn tác phẩm thì phải đặt nó trong hoàn cảnh lịch
sử Vì thế, khi nghiên cứu văn xuôi Nguyễn Tuân sau năm 1954 chúng tôi đặt
nó trong bối cảnh nền văn học miền Bắc, bởi sáng tác của ông giai đoạn này
đã đóng góp không nhỏ vào cộng cuộc tuyên truyền, cổ động nhân dân miền Bắc tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh đến cùng tiêu diệt mọi loại kẻ thù
6.2 Phương pháp nghiên cứu dựa trên quan điểm hệ thống
Sự thành công trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng
có sự thống nhất trong chỉnh thể toàn vẹn của nó Chúng tôi xem toàn bộ sáng tác của Nguyễn Tuân là một hệ thống, sáng tác của ông trước năm 1945 là một
hệ thống; sau năm 1945, đặc biệt từ năm 1954 trở về sau cũng là một hệ thống
6.3 Phương pháp nghiên cứu dựa trên quan điểm Thi pháp học hiện đại
Luận văn tiếp cận sáng tác của Nguyễn Tuân dưới ánh sáng lý thuyết
của Thi pháp học hiện đại, sử dụng các khái niệm, phạm trù của Thi pháp học
Trang 21Ngoài những phương pháp trên luận văn còn được sử dụng một số thao tác: Phân tích, tổng hợp, so sánh,…
7 Dự kiến đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận
Luận văn là công trình nghiên cứu về đề tài, chủ đề trong các tác phẩm văn xuôi Nguyễn Tuân sau năm 1954; để thấy được bức tranh thế giới do nhà văn sáng tạo ra là có chủ đích, thực hiện trọn vẹn sứ mệnh của nhà văn trong thời kì kháng chiến chống Mỹ tiến tới thống nhất đất nước Đồng thời thông qua hướng nghiên cứu này ta sẽ hiểu rõ hơn về tác phẩm, về ý đồ nhà văn gửi
gắm trong đứa con tinh thần của mình
Về mặt thực tiễn
Luận văn góp phần làm giàu vốn tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng dạy về tác giả Nguyễn Tuân nói riêng và chuyên đề về văn học Việt Nam gia đoạn 1945 - 1975 nói chung trong các trường đại học, cao đẳng, trung học Từ đó giúp học sinh có điều kiện hiểu hơn vẻ đẹp văn chương
trong sáng tác của Nguyễn Tuân
Luận văn cũng hy vọng góp thêm một phần nhỏ vào những thành tựu nghiên cứu về Nguyễn Tuân, tiếp tục khẳng định vị trí đặc biệt của nhà văn trong tiến trình văn học Việt Nam
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, và thư mục tham khảo, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Nguyễn Tuân: Cuộc đời và sự nghiệp văn học
Chương 2 Hình tượng kì quan Tổ quốc
Chương 3 Hình tượng kẻ thù
Trang 22NỘI DUNG Chương 1 NGUYỄN TUÂN:
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN HỌC 1.1 Vài nét về tiểu sử và con người
1.1.1 Tiểu sử
Nguyễn Tuân sinh ngày 10/7/1910 tại phố Hàng Bạc, Hà Nội trong gia đình có truyền thống Nho học Nhưng lúc này Nho học đã thất thế, nhường chỗ cho Tây học Cả một thế hệ vốn gắn bó với cửa Khổng sân Trình bỗng dưng trở nên lỗi thời trước xã hội giao thời Tây - Tàu nhố nhăng; sinh ra tư tưởng bất đắc chí (trong đó có cụ tú Hải Văn, thân sinh Nguyễn Tuân) Bối cảnh xã hội, không khí gia đình đặc biệt ấy đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong cá tính, tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân Là một trí thức giàu tinh thần dân tộc, Nguyễn Tuân đã trải qua những năm tháng khổ sở có lúc bế tắc tuyệt vọng
Nguyễn Tuân sinh ra ở Hà Nội nhưng quãng thời gian thanh thiếu niên
đã cùng gia đình sống nhiều ở các tỉnh miền Trung, Khánh Hòa, Phú Yên, Hội An, Huế, Hà Tĩnh, Thanh Hóa Năm 1929, khi đang học trung học ở Nam Định vì tham gia bãi khóa chống giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam, ông
bị đuổi học, không chịu được cảnh sống nô lệ ông cùng một nhóm bạn vượt biên sang Lào bị bắt ở Thái Lan đưa về giam ở Thanh Hóa (1930) Kể từ đây, Nguyễn Tuân rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần sâu sắc, ông đi vào con đường ăn chơi trụy lạc, thành kẻ “đại bất đắc chí”, như một người “hư hỏng hoàn toàn” Ở tù ra, Nguyễn Tuân làm thư kí nhà máy đèn, từ 1937 ở hẳn Hà Nội sống bằng ngòi bút Ông làm báo, viết văn và nổi tiếng từ năm
1938, 1939 với các tập “Một chuyến đi”,“Vang bóng một thời”… Ngoài văn
học, Nguyễn Tuân còn say mê diễn kịch, tham gia đóng phim, đầu năm 1938
đi Hương Cảng đóng vai phụ trong phim “Cánh đồng ma”, trở về viết một
Trang 23loạt bút kí về chuyến đi này sau gộp lại trong tập du kí “Một chuyến đi” (Tân
Dân, Hà Nội, 1941) Năm 1940, cuốn “Vang bóng một thời” được in Đến
năm 1941, Nguyễn Tuân bị bắt tại Hà Nội và bị đưa đi trại giam tập trung, khi được thả Nguyễn Tuân lại bắt đầu viết và cho in một loạt các tác phẩm mới
Cách mạng tháng Tám đã cứu sống cuộc đời và ngòi bút Nguyễn
Tuân Ông hân hoan chào đón cuộc đời lịch sử, tự “Lột xác” và chân thành
đứng vào hàng ngũ nhà văn cách mạng Năm 1947, ông làm trưởng đoàn kịch tuyên truyền của khu Bốn Năm 1950, được kết nạp Đảng Ông được bầu làm Tổng thư kí Hội văn nghệ toàn quốc từ năm 1948 đến năm 1956, là
ủy viên chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957 đến lúc mất Nguyễn Tuân đi nhiều, đã đến mọi nơi xa xôi nhất bất kì đâu dù là rừng núi hay đồng bằng, tham gia vào cả những trận đánh của bộ đội cho ra những trang viết hết sức sống động, phản ánh không khí sôi sục đánh giặc của quân dân
Trong những năm 60, 70 Nguyễn Tuân còn viết phê bình văn học, ông viết về các tác giả trong và ngoài nước, các vấn đề văn học mà ông quan tâm Nguyễn Tuân hoạt động nghệ thuật trên nhiều phương diện: Viết truyện kí, phê bình văn học, dịch thuật, diễn kịch,… hăng hái tham gia vào hai cuộc kháng chiến Bằng ngòi bút tài hoa của mình ông đã có công đóng góp lớn vào việc ngợi ca quê hương đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu, sản xuất, xây dựng Từ sau cách mạng tháng Tám, cũng như tất cả các đồng nghiệp khác nhà văn Nguyễn Tuân từ đó có thêm một tư cách mới: Tư cách chiến sĩ Nhưng đó là trên đại thể Nhìn kĩ thì thấy cách tồn tại của Nguyễn Tuân trong văn học vẫn có chút gì khác thường và trong việc đưa tác phẩm của ông đến với bạn đọc, con người ông vẫn có một vai trò như không hề thấy
ở các nhà văn cùng thời Nguyễn Tuân đã giúp rất nhiều vào việc phổ biến những bài kí viết về phi công Mỹ và nhiều loại đề tài khác, nhờ vậy điều ông
Trang 24viết ra (tội ác và sự kém cỏi của địch; thế mạnh, thế tất thắng của ta) lại đến với người đọc sâu sắc hơn Có thể nói, cho đến lúc cuối đời Nguyễn Tuân đã làm tròn sứ mệnh của một chiến sĩ, một cán bộ viết văn mà ông đã tự nguyện mang tất cả tài năng và tâm huyết để thực hiện
Nguyễn Tuân mất 28/7/1987 tại Hà Nội, ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996
1.1.2 Con người
1.1.2.1 Nguyễn Tuân là trí thức rất mực tài hoa uyên bác
Nét tài hoa của Nguyễn Tuân được thể hiện trong việc dựng người, dựng cảnh, trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, trong những so sánh liên tưởng táo bạo với những hình ảnh đẹp bất ngờ; uyên bác trong việc vận dụng những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để làm phong phú và giàu có thêm khả năng diễn tả của nghệ thuật văn chương Ông luôn có ý thức vận dụng tri thức của các ngành như hội họa, điêu khắc, điện ảnh, địa lí, lịch sử,
… để miêu tả hiện thực, sáng tạo hình tượng Văn Nguyễn Tuân thường pha chất khảo cứu, không chỉ giàu chất thẩm mĩ mà nội dung thông tin cũng phong phú đa dạng
Tài hoa, uyên bác cũng là những mĩ từ đẹp dùng để chỉ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân - nét phong cách không thể trộn lẫn với bất cứ nhà văn nào khác Sự độc đáo ấy có được là nhờ môi trường, hoàn cảnh sống
và cả cá tính của con người, nhưng hơn hết cả vẫn là sự nghiêm túc sáng tạo
có trách nhiệm cao trong quá trình lao động nghệ thuật Nguyễn Tuân là một trong số ít những nhà văn có vốn hiểu biết sâu rộng am tường cả Hán học lẫn Tây học, đặc biệt có lòng say mê thiết tha với tiếng Việt, không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác hiện tượng phong phú bộn bề nhằm tìm ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả năng làm lay động người đọc nhiều nhất Ông là một trong những bậc thầy của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại
Trang 25Nguyễn Tuân có một kho từ vựng phong phú mà ông đã cần cù tích lũy với lòng yêu say mê tiếng Việt Mà không phải chỉ tích lũy những từ sẵn có, ông luôn luôn có ý thức sáng tạo từ mới và rất khéo léo trong việc dùng từ mới
Có thể so sánh vốn từ vựng với người viết văn như nước đối với cá Từ càng giàu có người viết càng thả sức tung hoành Đọc Nguyễn Tuân thấy ông như con cá vùng vẫy thoải mái giữa hồ sâu nước cả là vì thế
Vốn từ vựng ấy, trước cách mạng tháng Tám ông thường dùng để chơi ngông với đời, hoặc đưa ra những cách nói năng oái oăm kì cục cốt để trêu ghẹo thiên hạ hoặc đổ tràn ra mặt giấy để phô tài khoe chữ Sau cách mạng tháng Tám ông dùng vốn từ ngữ ấy để ngợi ca Tổ quốc, ngợi ca nhân dân và
để đánh địch
1.1.2.2.Nguyễn Tuân - người trí thức sống đẹp, viết đẹp
Thưở nhỏ Nguyễn Tuân được nuôi dưỡng trong nền văn hóa cổ truyền của dân tộc với những phong tục đẹp, những nề nếp, cách ứng xử giữa người với người đầy nghi lễ và có văn hóa, với cách ăn ở vui chơi từ một thời xa xưa đang tàn dần do thời thế đổi thay Chính điều đó đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn Nguyễn Tuân và đến khi ông cầm bút đã tạo nên cái nhìn độc đáo của ông đối với con người và cuộc sống Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp Nguyễn Đình Thi gọi ông là “người đi tìm cái đẹp, cái thật” Quả thật Nguyễn Tuân rất chú ý đến lối sống đẹp, nhân cách đẹp của người cầm bút thậm chí coi trọng cái sống hơn cả nghệ thuật Ông quan niệm người cầm bút phải sống có tư cách không vì đồng tiền vì quyền lực bất nghĩa
mà quỳ gối Ông có thói quen nhìn sự vật ở mặt mĩ thuật của nó, cố tìm ra ở
đó những gì nên họa nên thơ Đó chính là cái nhìn mới mẻ, độc đáo có tính chất phát hiện về con người và cuộc sống của Nguyễn Tuân, là bản chất phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân
Trước cách mạng, vì bất hòa với thực tại không tìm thấy cái đẹp trong thực tại, ông quay về tìm kiếm vẻ đẹp của một thời đã qua nay chỉ còn vang
Trang 26bóng như những bông hoa lạc lõng cuối mùa còn vương sót lại Sau cách mạng, Nguyễn Tuân không đối lập xưa với nay mà tìm thấy sự gắn bó giữa quá khứ với hiện tại và tương lai Tầm mắt của ông mở rộng hơn: Cái đẹp không chỉ có trong quá khứ mà còn có thật trong cuộc sống hiện tại; còn chất tài hoa nghệ sĩ cũng không chỉ có trong lớp người đặc tuyển của thời xưa cũ
mà còn có thể tìm thấy trong đại chúng nhân dân, ở những con người bình thường nhất như ông lái đò, anh bộ đội, chị dân quân … Cái đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ đối với ông giờ đây là những thành tích của nhân dân trong chiến đấu và sản xuất
1.1.2.3 Nguyễn Tuân là người có cá tính mạnh mẽ, có lối sống tự do và phóng túng
Nguyễn Tuân không thích những gì yên ổn, bằng phẳng và nhợt nhạt Một con người luôn luôn thèm khát những cảm giác mới lạ nên rất thích xê dịch Có nhiều ý kiến bàn về cái gọi là xê dịch, chủ nghĩa xê dịch ; có thể tổng hợp lại mà hiểu đại ý hai khái niệm này: Xê dịch nghĩa là đi không cần mục đích cốt là được lăn cái vỏ mình mãi mãi trên mặt đất này dù bằng phương tiện nào, dù đi nhanh hay đi chậm, thậm chí ngồi trên xe hồ lô lăn cũng được; được đẩy lên thành chủ nghĩa xê dịch là vì nó phù hợp với tâm lí bực bội của
cả một thế hệ thanh niên trí thức thời thuộc Pháp đầy sức sống đầy khát vọng
tự khẳng định mình mà lại bị vây hãm vào một cái môi trường thị dân viên chức tầm thường, nhạt nhẽo, mù xám cứ quẫn đọng như vũng ao tù muốn thoát ra mà không biết thoát đi đâu bằng cách nào Nguyễn Tuân là một con người có cá tính mạnh mẽ, con người ấy đã yêu thì mê đắm, đã ghét thì phải căm thù, đã uống rượu phải uống cả cấn, đã đi thì đi đến đầu sông ngọn suối, đến những nơi tận cùng của Tổ quốc, đã tìm hiểu bàn bạc thì phải tìm đến ngành ngọn gốc rễ Chính vì thế không thể nói chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân chỉ bắt nguồn từ ý thích đơn giản đi không cần mục đích, hoặc là đi để
Trang 27giải tỏa tâm lí bực bội của cá nhân trước thời cuộc Trái lại mỗi một chuyến đi của Nguyễn Tuân như là hành trình của con ong đi hút mật, như con trai xót lòng tạo ngọc, mục đích của xê dịch là để khám phá, phát hiện, khảo cứu, ngợi ca cái đẹp - cái đẹp trong quá khứ và cả ở hiện tại Tựu chung lại là để thỏa thuê mà cất lên tiếng lòng yêu tha thiết Tổ quốc
Mỗi tác phẩm của Nguyễn Tuân, dù là trước hay sau cách mạng thì đó đều là những công trình nghiên cứu hết sức nghiêm túc dựa trên những trang sách vở, báo chí, những tài liệu thông tin khoa học viết về địa lí, lịch sử, về phong hóa, phong tục của một miền đất nào đó Nguyễn Tuân thường có cảm hứng mãnh liệt và dạt dào trước những cảnh tượng hoặc đặc biệt dữ dội hoặc tuyệt mĩ đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ của ông Ngòi bút nhà văn cũng thường có thói quen tô đậm những cái phi thường xuất chúng gây cảm giác mãnh liệt; tất cả đều có xu hướng vươn tới cái tuyệt vời tuyệt đích; “Ông là nhà văn của những tính cách độc đáo, của những tình cảm cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, của núi cao, rừng thiêng, của thác ghềnh dữ dội” (Nguyễn Đăng Mạnh)
1.1.2.4 Nguyễn Tuân - người trí thức coi trọng sự chân thực
Đối với Nguyễn Tuân, văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật và ông luôn có ý thức giữ gìn, phát huy bản sắc độc đáo của ngòi bút mình Nhưng từ trong bản chất, Nguyễn Tuân không phải là người theo chủ nghĩa hình thức, đọc lại những trang viết của Nguyễn Tuân những ngày liền sau cách mạng tháng Tám và thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp thấy ông vẫn tạo ra được những áng văn lôi cuốn, đầy xúc động bằng chính sự chân thực Nguyễn Tuân rất ghét những người viết sai sự thật, bịa ra điều này điều khác để tô vẽ thêm cho mình Đối với ông người khác đánh giá ông như thế nào dù đúng hay sai ông cũng không cần lắm Con người thật của mình như thế nào, ý nghĩa thật của mình ra sao cứ
Trang 28bày ra như thế chẳng cần che đậy dấu giếm điều gì Có lần ông nói rất tự
nhiên: “Tôi đọc lại Vang bóng một thời, tôi thấy phục tôi quá! Bởi vì ngày
xưa tôi đã hiểu gì về quan điểm lao động thế mà sao tôi lại biết ca ngợi những
người thợ mộc trong cái truyện Trên đỉnh non tản Hồi ấy tôi cũng chưa hề
lên núi Ba Vì Sau này đến thời kháng chiến mới lên Vậy mà sao tôi tả chính xác thế”
Nguyễn Tuân là một trí thức, một nghệ sĩ có bản lĩnh, giàu lòng tự trọng và có tinh thần dân tộc Nguyễn Tuân để lại một sự nghiệp văn học có giá trị với những trang viết độc đáo tài hoa Ông được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996
1.2 Sự nghiệp văn họctrước năm 1945
1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng
1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội
Năm 1858 thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Sau gần nửa thế kỉ bình định về quân sự, đến khoảng đầu thế kỉ XX, chúng mới thực sự khai thác thuộc địa về kinh tế Sau hai lần khai thác thuộc địa, cơ cấu xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc: Một số thành phố công nghiệp ra đời, đô thị, thị trấn mọc lên nhiều nơi Những giai cấp tầng lớp xã hội mới: Tư sản, tiểu tư sản, công nhân, dân nghèo thành thị, … xuất hiện ngày càng đông đảo Một lớp công chúng có đời sống tinh thần và thị hiếu mới đã hình thành đòi hỏi một thứ văn chương mới
Giai đoạn 1930 -1945, tuy chỉ có 15 năm nhưng trải qua bao biến cố, gồm nhiều sự kiện quan trọng tác động mạnh mẽ đến đời sống vật chất và tinh thần của con người Sự ra đời của Đảng cộng sản Đông Dương 3/2/1930 đã tạo ra một bước ngoặt quyết định cho lịch sử cách mạng Việt Nam Từ đây chấm dứt tấn bi kịch của những người yêu nước mà không tìm ra con đường cứu nước đúng đắn Do có vai trò cách mạng của Đảng, do đường lối chiến
Trang 29lược sách lược vững vàng sáng suốt của Đảng đã đoàn kết và phát huy được mạnh mẽ tính tích cực sáng tạo của quần chúng nhất là công nông Trong thời
kì này phong trào cách mạng lên cao hơn bao giờ hết như: Cao trào Xô Viết
1930 - 1931; cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì, sự ra đời của mặt trận Việt Minh (tháng 5/1941) Lúc bấy giờ thực dân Pháp ra sức bòn vét bóc lột nhân dân thuộc địa để bù đắp những thiệt hại của chúng và dốc vào chiến tranh Đông Dương trở thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chính quốc Nền kinh tế kiệt quệ dưới ách thực dân phong kiến, xã hội Việt Nam là một địa ngục Chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa vô cùng xảo quyệt của thực dân Pháp ngày càng nhào nặn xã hội Việt Nam vào cái khuôn khổ có lợi cho chúng Thực dân Pháp đưa vào nước ta đủ thứ rác rưởi của văn hóa tư sản phản động phương Tây, cùng với cặn bã phong kiến, chúng gọi là kết hợp văn minh Âu Mỹ với quốc hồn quốc túy An Nam Giai cấp tư sản, tiểu tư sản,trí thức thành thị chịu ảnh hưởng của những sinh hoạt mới, của giai cấp mới và của văn hóa tư sản phương Tây
Tháng 8/1945, cách mạng thành công chấm dứt chế độ thuộc địa Pháp, Nhật thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
1.2.1.2 Văn hóa tư tưởng
Từ đầu thế kỉ XX, văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa phong kiến Trung Hoa, bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp Luồng văn hóa mới thông qua tầng lớp trí thức Tây học ngày càng thấm sâu vào ý thức và tâm hồn người cầm bút Giai đoạn này văn học có vị trí hết sức quan trọng trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc Nó kế thừa tinh hoa truyền thống văn học dân tộc trong suốt mười thế
kỉ, đồng thời mở ra một thời kì văn học mới Thời kì văn học hiện đại có khả năng hội nhập với nền văn học thế giới
Cùng với sự chuyển biến của tình hình xã hội, văn học từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng 8/1945, đặc biệt là từ đầu năm 30 trở đi đã phát triển hết
Trang 30sức nhanh chóng Chỉ trong vòng hơn một thập niên, các bộ phận các xu hướng văn học vận động phát triển với một tốc độ đặc biệt khẩn trương, mau
lẹ Điều đó được thể hiện qua sự phát triển số lượng tác giả, tác phẩm, sự hình thành và đổi mới của các thể loại văn học và sự kết tinh ở những tác giả tác phẩm tiêu biểu Dường như bất kì thể loại nào cũng phát triển mạnh mẽ Đó là cuộc chạy tiếp sức đầy căng thẳng và quyết liệt để tạo nên tốc độ phát triển nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử văn học dân tộc Vũ Ngọc Phan nhận định “Ở nước ta một năm có thể kể như ba mươi năm của người”
Từ năm 1930 đến năm 1945, nền văn học nước nhà đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại Nhờ tiếp thu kinh nghiệm của văn học phương Tây mà chủ yếu là văn học Pháp, truyện ngắn và tiểu thuyết ở giai đoạn này được viết theo lối mới, khác xa với cách viết trong văn học cổ, từ cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể chuyện và ngôn ngữ nghệ thuật Thơ ca cũng đổi mới sâu sắc với phong trào Thơ Mới;
Hoài Thanh gọi đó là cuộc cách mạng trong thi ca Cuộc cách mạng này
không chỉ diễn ra ở phương diện nghệ thuật mà còn diễn ra ở cả phương diện nội dung Những thể loại mới như kịch, phóng sự, phê bình văn học xuất hiện cũng khẳng định sự đổi mới của văn học Tóm lại hiện đại hóa đã diến ra trên mọi mặt của hoạt động văn học, làm biến đổi toàn diện sâu sắc diện mạo của nền văn học
1.2.2 Sáng tác văn học trước năm 1945
Nguyễn Tuân bắt đầu cầm bút từ khoảng đầu những năm 30 của thế kỉ
XX Ông không phải là nhà văn thành công ngay từ tác phẩm đầu tay Phải đến đầu năm 1938, Nguyễn Tuân mới thực sự khẳng định được tài năng của
mình qua các tác phẩm: Một chuyến đi (1938), Thiếu quê hương (1940),
Chiếc lư đồng mắt cua (1941), nhất là tập Vang bóng một thời Tác phẩm mà
nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan nhận xét là “một văn phẩm đạt gần tới
sự toàn thiện toàn mĩ”
Trang 31Trước Cách mạng tháng Tám, sáng tác của Nguyễn Tuân chủ yếu xoay
quanh ba đề tài: Chủ nghĩa xê dịch, vẻ đẹp Vang bóng một thời và đời sống trụy lạc
Nguyễn Tuân bước vào nghề văn là để khẳng định cái cá tính của riêng mình, ông lo nhất là mất cá tính là giống người khác Ông ao ước khi chết đi được đem luôn theo mình “nguyên cảo” chứ không để lại bản sao nào ở đời Nhu cầu khẳng định cá tính buộc Nguyễn Tuân đẩy mọi cái thông thường tới cực đoan, thậm chí tới mức trở thành những kì thuyết, nghịch thuyết Vì thế người ta thấy ở Nguyễn Tuân, dường như cái gì cũng thành ra những chủ nghĩa: Chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa duy mỹ, chủ nghĩa xê dịch, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa cảm giác, chủ nghĩa ẩm thực Chủ nghĩa xê dịch trở thành đề tài quen thuộc trong sáng tác trước cách mạng của Nguyễn Tuân,
xuyên suốt qua các tác phẩm: Một chuyến đi, Thiếu quê hương, Tùy bút I, Tùy
bút II Một chuyến đi khi thì phảng phất chất thơ bay bổng của một tâm hồn
nghệ sĩ được thỏa mãn cái thú xê dịch ở cảnh vật và con người cùng với những thanh sắc mới lạ nơi đất khách, lúc thì lại đậm chất văn xuôi trần trụi, lạnh lùng khi phơi bày không che đậy cái sự thật đầy mỉa mai chua chát
“những khách tài tình” chẳng qua cũng là những kẻ ích kỉ, nhỏ nhen, phàm
tục khi hết tiền, hết rượu Những trang đặc sắc nhất của Một chuyến đi là
những trang ghi lại một cách tài hoa sắc sảo và chân thực một số nét riêng của cảnh vật cùng với những phong tục trong sinh hoạt của con người trên đất Hương Cảng Có thể nói với tác phẩm này Nguyễn Tuân đã phát hiện và khẳng định được tài năng và phong cách của mình - một ngòi bút sử dụng thể tùy bút - du kí hết sức phóng túng, lấy cái tôi của mình làm nhân vật trung tâm Một cái tôi xê dịch và hưởng lạc coi cuộc đời chỉ như một trường du hí Một lối văn đã tìm đúng được cái giọng riêng: Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông phèng, khi thì thánh thót trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi
Trang 32như được ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa Đó là văn của con người hoài nghi tất cả chỉ tin ở cái vốn tình cảm, ý nghĩ cái kho cảm giác linh tinh nhưng sắc sảo, tài hoa của mình
tích lũy được trên đường xê dịch giang hồ
Chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân được chọn làm đề tài cho tiểu
thuyết Thiếu quê hương (Đăng nhiều kì trên báo Hà Nội tân văn từ ngày
2/1/1940, nhà xuất bản Anh hoa Hà nội, in năm 1943) Đến tác phẩm này chủ nghĩa xê dịch mới được Nguyễn Tuân thể hiện tập trung và nhất quán Nguyễn Tuân đã lấy câu nói “Ta muốn sau khi ta chết đi có người thuộc da ta làm va li” của Paul Morand làm đề từ cho cuốn sách của mình Tác phẩm viết
về một nhân vật có tên là Bạch, một người mắc bệnh xê dịch, luôn luôn thèm
đi và chỉ có đi mới thấy mình đang sống Với Bạch “Đi, tức là tất cả Đi, tức
là hạnh phúc Tất cả thèm thuồng, ham muốn, hăm hở của Bạch đều quay về một mối, một ý đi Còn bao nhiêu cái khác, Bạch vui lòng để phần, để dành cho người xung quanh Riêng đối với chàng, những dục vọng về danh phận, những bổn phận và tình đối với đất cát quê nhang, những phụng sự về nghệ thuật, những vui sống trong kiến thiết, nhất nhất chàng đều chểnh mảng cả” Chủ nghĩa xê dịch vốn là một thứ lí thuyết của phương Tây được Nitso, Gido, Pôn Morang,… đề xướng, chủ trương đi không cần mục đích không cần nơi đến, chỉ cốt luôn thay đổi chỗ để tìm cảm giác mới lạ và thoát li mọi trách nhiệm đối với gia đình xã hội Xét cho cùng đó là sự thể hiện chủ nghĩa cá nhân bế tắc, phản ứng lại trật tự xã hội đương thời, muốn thoát ra khỏi những
ràng buộc của những nguyên tắc đạo đức, luân lí ở đời
Đọc Thiếu quê hương, có thể thấy Nguyễn Tuân không phải là một tín
đồ tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa xê dịch Nhân vật Bạch chứa đựng nhiều mâu thuẫn Khi thì Bạch đầy hào hứng cho rằng “Sao lại đem cái việc
xê dịch ra mà dùng làm một phương tiện mà mong tới một kết quả nào (…)
Trang 33Sao lại không lấy nguyên cái việc được đi là một cái thú ở đời rồi”; nhưng khi đứng trước hình ảnh của một đoàn hướng đạo sinh lên đường thì chàng lại chua chát thốt lên: “Người ta biết người ta chống gậy lên đường để làm gì Người ta đi để vui vẻ làm việc mỗi khi phải ngừng chân cắm lều trại, đốt lửa trên một khoảnh đất nào Ta đi để mà đau khổ cả lúc đi lẫn lúc nghỉ” Có lúc Bạch quả quyết: “Phải gây nên những thứ đoạn tuyệt - đoạn tuyệt với vợ con, với nhà với quê hương bản quán”; nhưng lúc khác lại sống trong dằn vặt :
“Ngồi trên một con tàu mà cứ phải lo nghĩ băn khoăn về một người có quyền nhớ mình, có quyền buồn bã về mình và nếu người li phụ ấy lại ốm tương tư nữa thì bao nhiêu trách nhiệm lại đổ lên đầu tên lữ khách đã phạm vào cái tội lãng mạn thèm nhớ một con đường dài, mơ tưởng đến một vùng nước rộng” Bạch nhiều khi lên giọng phụ họa theo triết lí siêu nhân của Nitsơ, chàng dè bửu những tình cảm gia đình, khinh bỉ những kẻ mềm lòng, bịn rịn khi lên đường cùng với những cuộc tiễn đưa sụt sùi nước mắt Nhưng thực tế Bạch cũng chẳng tàn nhẫn được với ai Đối với cha, chàng thú nhận: “Lòng thương
cha ai mà không nặng” Còn đối với Dung, người vợ hiền lành, giản dị rất
mực thương yêu chồng con, cứ mỗi lần Bạch định bới móc một khuyết điểm nào của Dung để kiếm cớ li dị thì trong tận trong sâu thẳm đáy lòng chàng lại thấy “tội nào của vợ chàng cũng đều có trường hợp giảm đẳng, đều đáng tha thứ cả”, rồi lại tự xấu hổ với chính mình thấy cái việc bới lông tìm vết của mình “thật không xứng đáng một tí nào với vẻ ngây thơ thành thực của vợ chàng” Té ra Bạch thực chất là Nguyễn Tuân, “vẫn là một tấm lòng An Nam
hoàn toàn” (Một chuyến đi), vẫn kính cha, thương vợ, vẫn gắn bó với quê
hương mình Và vì chính tấm lòng gắn bó với quê hương nên mới thấy thấm thía hơn bao giờ hết sự tù túng của môi trường hoàn cảnh sống quẩn đọng, trì trệ, buồn tẻ, cái tù túng bế tắc của xã hội thuộc địa, mới cảm thấy đau khổ khi
đang sống trên quê hương mà vẫn thấy Thiếu quê hương Thiếu quê hương
Trang 34cũng như nhiều tập tùy bút khác viết về xê dịch của Nguyễn Tuân là những trang viết tài hoa, ghi lại một cách chân thực, tinh tế những cảnh sắc thiên nhiên, phong vị đất nước và những cảnh sinh hoạt với những nét độc đáo khác nhau ở nhiều vùng quê trên đất nước ta Cái hơn đời của ông hoàn toàn không phải do đi nhiều mà là do trên mỗi bước đường đi qua đều biết đặt tất cả tâm hồn mình vào cỏ cây sông nước Tình cảm chân thật sâu sắc bao giờ cũng có
nội dung rất cụ thể Lòng yêu nước của Nguyễn Tuân là thứ tình cảm như thế
Tập truyện Vang bóng một thời (1940) và tùy bút Tóc chị Hoài (1943)
… là những tác phẩm viết về đề tài vẻ đẹp Vang bóng một thời
Vang bóng một thời gồm 11 truyện ngắn lần lượt đăng trên tạp chí Tao đàn và Tiểu thuyết thứ bảy từ năm 1939, nhà xuất bản Tân Dân, Hà Nội in lần
đầu năm 1940 Vang bóng một thời, đúng như tên tác phẩm viết về một thời
đã qua nay chỉ còn vang bóng Đó là cái thời thực dân Pháp vừa đặt xong ách
đô hộ lên đất nước ta phong trào Cần Vương đã thất bại, những anh khóa thi nốt khoa thi Hán học cuối cùng, những nho sĩ cuối mùa trở thành lớp người
lạc lõng Khác với Lều chõng của Ngô Tất Tố, những truyện ngắn của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời hầu như chỉ tập trung miêu tả những
thói quen cung cách sinh hoạt những kiểu ăn chơi cầu kì phong lưu đài các của những con người tài hoa Đó là cái thú chơi lan, chơi cúc, uống rượu
“thạch lan hương”, đánh bạc bằng thơ và hát ả đào trên sông Hương của những ông Nghè, ông Cống, ông Tú khi thấy mình thành người thất thế, những kẻ chọn nhầm thế kỉ, “giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả
quan niệm cũ, làm tiêu mất bao nhiêu giá trị tinh thần” (Hương Cuội) Đó là
cái thú nhấm nháp chén trà sớm mai với những nghi lễ thiêng liêng; là cái thú vui ngày xuân mời khách đến thưởng hoa nhắm rượu với thứ kẹo ướp hương lan Đó là thói quen “thắp nến bạch lạp để đọc Đường thi”, là cái thú đánh bạc bằng thơ dưới trăng rằm trên mặt sông.“Chỗ tiêu cực của tác phẩm là đề lên
Trang 35như là mẫu mực sống lối ăn chơi cầu kì, đài các của lớp quý tộc cũ tuy đã thất thế, đầu hàng nhưng vẫn cố khẳng định bằng nghệ thuật hành lạc hơn đời dù không che dấu được cái hắt hiu, héo úa của những kiếp sống đang tàn lụi”
(Nguyễn Đăng Mạnh Nguyễn Tuân (1910 - 1987), in trong Văn học Việt Nam
1945 - 1975, tập II, Nxb Giáo dục, 1990, Tr 126) Nhưng cái đáng trân trọng
của những con người tài hoa bất đắc chí này là ở chỗ, mặc dù họ buông xuôi bất lực nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với xã hội đương thời, không chịu adua theo thời chạy theo danh lợi mà vẫn cố giữ thiên lương và sự trong sạch của tâm hồn Họ dường như lấy cái tôi tài hoa, ngông nghênh của mình để đối lập với xã hội phàm tục; phô diễn lối sống đẹp, thanh cao của mình như một thái
độ phản ứng với trật tự xã hội đương thời
Vang bóng một thời là tác phẩm kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân thời
kì sáng tác trước cách mạng Nghệ thuật vẽ người dựng cảnh, tạo dựng những bức tranh có vẻ đẹp héo úa, hắt hiu về một thế giới lụi tàn đã đạt tới trình độ
bậc thầy của một ngòi bút tinh tế tài hoa Những trang viết về vẻ đẹp Vang
bóng một thời của Nguyễn Tuân thấm đượm tinh thần dân tộc, thể hiện khát
vọng vượt lên trên môi trường ô trọc, bộc lộ niềm say mê cái tài, cái đẹp và sự
nâng niu những giá trị văn hóa cổ truyền Có thể xem Vang bóng một thời như một bảo tàng lưu giữ các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc
Trong thời kì khủng hoảng tinh thần, Nguyễn Tuân viết khá nhiều tác
phẩm về đề tài đời sống trụy lạc Thực ra ngay từ Một chuyến đi đã bắt đầu hé
lộ một Nguyễn Tuân, con người lăn lộn nhiều với đời sống trụy lạc ở những tiệm rượu, tiệm hút, nhà chứa, xóm hát Vào đầu những năm 30, khi vừa ra khỏi nhà lao Thanh Hóa, Nguyễn Tuân rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc
về tinh thần và đã lao vào cuộc sống chơi bời trụy lạc Ông bộc bạch chân
thành “Ở tù về tôi chỉ thèm chơi Một năm trời bị giam cầm đã tạc nên mặt tôi
nét chắc chắn của hoài nghi” Hoàn cảnh đó đã đẩy ông vào cuộc sống trụy
Trang 36lạc như một con người hư hỏng Vốn sống thực tế trong những ngày tháng ấy
đã được nhà văn khai thác dùng làm đề tài cho các tác phẩm Ngọn đèn dầu
lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941) và Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
Chiếc lư đồng mắt cua là tập tùy bút được Nhà xuất bản Hàn Thuyên in
lần thứ nhất năm 1941 Tác phẩm ghi lại những tâm trạng, cảnh sống của tác giả trong những ngày tháng la cà, lăn lóc ở những nhà hát cô đầu Tác giả giới thiệu về tập tùy bút này: “Tập tùy bút này không phải là một tập phóng sự về nhà hát và cũng không phải là một thiên nhật kí ghi lại đủ một thời kì khủng hoảng tâm thần Có lẽ tập vở này cũng lại chỉ là những trang tùy bút chép lại một ít tâm trạng tôi cũng lại là những ngày tháng phóng túng hình hài” Cả
tập tùy bút Chiếc lư đồng mắt cua là những câu chuyện về nhà hát, về một
quãng đời lăn lóc của chính tác giả nơi hàng viện, bên các đào nương rượu và thuốc phiện cùng những canh hát cuộc chơi Tuy nhiên, viết về đời sống trụy lạc Nguyễn Tuân có cách tiếp cận độc đáo của mình Ông không mô tả trụy lạc như là một mặt trái, một tệ nạn xã hội; không thi vị hóa trụy lạc như trong những vần thơ say của một vài thi sĩ lãng mạn; càng không mượn cớ tả thực
để khơi gợi trí tò mò tục tữu Chiếc lư đồng mắt cua không ca ngợi trụy lạc
nhưng cũng không thể hiện thái độ phê phán nghiêm khắc lối sống buông thả theo những ham muốn cá nhân ích kỉ, vô trách nhiệm đối với gia đình xã hội Trong thế giới nghệ thuật quen thuộc của Nguyễn Tuân có những nhân vật tài hoa nghệ sĩ như ông Thông Phu, cô Đào Tâm, … họ dẫu phải sống trong môi trường bê tha trụy lạc mà cốt cách vẫn ngông nghênh vẫn không mất đi cái vẻ kiêu sa Bên cạnh thái độ buông thả vô trách nhiệm những nhân vật của Nguyễn Tuân tuy đắm chìm trong trụy lạc vẫn không nguôi khát vọng thoát ra
khỏi tình trạng đó Cùng với Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua là đỉnh cao của sáng tác Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám
Trang 371.3 Sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân sau 1945
1.3.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng
1.3.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội
Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975, diễn ra những sự kiện chính trị trọng đại mà các giai đoạn trước và sau đó không có Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám - 1945 đã phá bỏ chế độ thống trị hơn 80 năm của thực dân Pháp và tiếp đó là Phát xít Nhật, đồng thời cũng phá bỏ chế độ phong kiến thối nát hàng nghìn năm, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra thể chế chính trị mới Đây là biến cố lịch sử chưa từng xảy ra trước đó Từ đây dẫn đến sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên của Đông Nam Á Nhưng thực dân Pháp rắp tâm quay trở lại chiếm nước ta, vì vậy cả dân tộc phải tiến hành cuộc khởi nghĩa kéo dài 9 năm đầy gian khổ, hi sinh để bảo vệ nền độc lập mới giành được và chế độ mới còn non trẻ Tháng 7 năm 1954, hiệp định Giơ ne vơ được kí kết, hòa bình lập lại trên đất nước ta Miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong khi đó, miền Nam vẫn “đi trước về sau”, cả dân tộc ta lại phải tiến hành kháng chiến giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc chống đế quốc Mỹ xâm lược Cuộc chiến đấu bền bỉ, gian khó và quyết liệt ấy đã kết thúc với thắng lợi trọn vẹn ngày 30 tháng 4 năm 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước
Chiến tranh kéo dài suốt 30 năm cùng với nhiều sự kiện lịch sử: Cách mạng tháng Tám, hai cuộc kháng chiến, cuộc cách mạng dân chủ ở nông thôn những năm 1958 -1960, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Tất cả những biến cố lịch sử to lớn ấy đã thúc đẩy mạnh mẽ và đưa đến những biến đổi cơ bản trong xã hội Việt Nam Quần chúng nhân dân mà trước hết là giai cấp công nhân và nông dân được cách mạng giải phóng đã phát huy sức mạnh tiềm tàng của dân tộc và giai cấp cùng với tinh thần cách mạng của thời đại mới đã trở thành lực lượng chủ yếu của cách mạng “gánh cả hai cuộc
Trang 38kháng chiến trên vai” Từ sau hiệp định Giơ ne vơ (7/1954) đất nước tạm thời
bị chia cắt, kéo dài hơn 20 năm với sự tồn tại của hai thể chế chính trị, xã hội, nền kinh tế và hệ tư tưởng khác nhau Nhưng khát vọng độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc là ý nguyện thiêng liêng của cả dân tộc đã thành sức mạnh lớn lao giúp dân tộc ta giành chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại
1.3.1.2 Văn hóa tư tưởng
Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) của Đảng cộng sản Đông Dương xác định: “Văn hóa là một mặt trận quan trọng của cuộc đấu tranh cách
mạng” Bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của Trường Chinh
tại hội nghị văn hóa toàn quốc vào tháng 7 năm 1948 ở Việt Bắc tiếp tục khẳng định quan điểm ấy và đề ra ba phương châm xây dựng nền văn hóa Việt Nam: Dân tộc; Khoa học; Đại chúng Văn hóa dân tộc, đặc biệt là các giá trị văn hoá của quần chúng lao động được coi trọng và phát huy cùng với việc tiếp nhận văn hóa của các nước xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh kéo dài, nền kinh tế chậm phát triển, điều kiện giao lưu văn hóa hạn chế, đã tác động đến mọi hoạt động văn hóa tinh thần của người Việt trong đó có văn học
Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và nhân dân thành công, từ đây nước ta có một nền văn học hoàn toàn thống nhất về tư tưởng, tổ chức, phương pháp sáng tác, về quan niệm nhà văn kiểu mới - nhà văn chiến sỹ Cũng từ đây có sự dịch chuyển lớn về môi trường sống và viết của văn nghệ
sỹ, cuộc sống sôi động của hàng triệu nhân dân
Cùng với đó hai cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại đã khơi dậy và phát huy cao độ truyền thống tinh thần của dân tộc Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng Chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã trở thành một trong những hệ tư tưởng chính thống trong xã hội, thay thế vị trí của các hệ tư tưởng khác, đã từng có vai trò quan
Trang 39trọng trong đời sống, văn hóa xã hội Việt Nam những thời kỳ trước năm
1945 Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cộng đồng, lý tưởng xã hội chủ nghĩa không chỉ là nền tảng sức mạnh tinh thần của dân tộc trong cuộc kháng chiến
mà còn là nền tảng của văn học cách mạng
1.3.2 Sáng tác văn học sau năm 1945
Cách mạng tháng Tám đã giúp Nguyễn Tuân thoát khỏi những bế tắc trong cuộc sống và sáng tác nghệ thuật, đem đến cho ông một nguồn cảm hứng sáng tạo mới Nguyễn Tuân đã hồi sinh, say mê trong niềm vui lớn của đất nước: “Mê say với ánh sáng trắng vừa được giải phóng, tôi đã là một dạ lữ khách không mỏi quên ngủ của một đêm phong hôi mới Ban ngày nếu không
đi biểu tình thì đi ra Hàng Đào xem người ta dọn hàng đỏ đông cứ như họp chợ Cờ nhớn, cờ nhỏ, phố Hàng Đào mang tên phố Hàng Cờ, đỏ rực một góc trời(…) Lòng khỏe chưa đủ Thân hình cũng phải khỏe nữa Tôi liền đi cạo râu Tình cờ gặp lại anh bạn cũng vừa đi cạo phăng bộ râu quai nón xanh rậm mọi ngày Chúng tôi đã ôm lấy nhau mà mừng ra nước mắt như hai con bệnh
già mới uống liều thuốc cải lão hoàn đồng” (Ngày đầy tuổi tôi Cách mệnh)
Nguyễn Tuân đến với cách mạng và kháng chiến hăng hái đi thực tế, dùng ngòi bút để ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu, và trong lao động sản xuất Nếu như nhân vật trung tâm trong các tác phẩm trước cách mạng của ông là những ông Nghè, ông Cử, ông Tú những con người tài hoa bất đắc chí thì giờ đây nhân vật chính trong các tác phẩm của ông là nhân dân lao động và các chiến sĩ trên mặt trận vũ trang, những con người bình thường
mà vĩ đại Những tác phẩm như: Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950),
Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập 1 - 1953, Tập 2 - 1956), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972) … đánh dấu bước chuyển mới trên con
đường nghệ thuật của Nguyễn Tuân, các tác phẩm này tập trung làm nổi bật hai đề tài quan trọng: Chiến tranh và xây dựng
Trang 40Cuộc chuyển biến tư tưởng, thay đổi tư duy nghệ thuật và lí tưởng thẩm
mĩ của Nguyễn Tuân là một quá trình phức tạp và đầy gian khổ Quan niệm
về quá trình Lột xác ấy, được ông thể hiện trong Vô đề và Chùa Đàn còn quá
dễ dàng, đơn giản Phải đến Đường vui (1949), ngòi bút Nguyễn Tuân mới
thực sự có sự chuyển biến về quan niệm nghệ thuật Tuy vẫn còn rơi rớt của
chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa duy mĩ nhưng Đường vui là một tác phẩm
mang cảm hứng chủ đạo và nội dung mới thể hiện tình cảm chân thành của
Nguyễn Tuân với quê hương, đất nước, đối với cách mạng và kháng chiến
Đường vui là kết quả chuyến đi dài của Nguyễn Tuân, khi thì đi thăm bộ đội ở
mặt trận, khi thì đi thăm đồng bào ở vùng địch tạm chiếm,… Tập tùy bút mở đầu bằng những trang chếnh choáng say sưa, trong đó cái tôi nghệ sĩ của Nguyễn Tuân được thăng hoa nhờ chất men lãng mạn cách mạng Giọng văn Nguyễn Tuân đầy hào hứng chân thành và cảm động: “Bạn ơi ta lên dốc cho chắc bước, cho đều bước, ta xuống dốc cho giòn cho khỏe Rừng mai, rừng trúc, chậm lại mà thấm lấy phong quang của cảnh sắc quê hương Chỗ nào là núi đất rừng nứa, ta nhanh bước lên muỗi vắt nhiều lắm đấy Suối trong mời
ta tắm, vò giặt luôn quần áo trên những tảng đá của tranh thủy mặc Tàu Rồi vừa đi vừa phơi luôn quần áo trên lưng mình, trên đầu mình, ta hãy dành một phút mà mặc niệm người thợ giặt cũ”
Nối tiếp Đường vui (1945), Nguyễn Tuân viết Tình chiến dịch (1950)
Đây là kết quả của chuyến đi thực tế, hưởng ứng chủ trương “cách mạng hóa
tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt” của Đảng, nhập sâu hơn với đời sống
kháng chiến, cùng hành quân với bộ đội So với Đường vui trong Tình chiến
dịch, tình cảm của nhà văn với nhân dân và cuộc kháng chiến sâu sắc hơn,
đồng thời tình yêu thiên nhiên đất nước cũng thắm thiết hơn Ngỡ như sau phút dừng chân bên đường để định phương hướng Nguyễn Tuân lại tiếp tục bôn ba trên hành trình đi tìm cái đẹp, cái thật Có điều khác là những giá trị ấy