1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm truyện ngắn nguyễn thị thu huệ (qua tập 21 truyện ngắn nguyễn thị thu huệ )

72 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Truyện Ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ
Người hướng dẫn TS. Đoàn Hương, Bùi Việt Thắng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 711,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu cách nhìn, cách thể hiện con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thông qua thế giới nhân vật của nhà văn, đặt trong bối cảnh của truyện ngắn sau 1975.. Trong bối cảnh chu

Trang 1

MỞ ĐẦU

I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Văn học Việt Nam từ 1975 đến nay có nhiều thành tựu đáng khẳng định Văn học nói chung, văn xuôi nói riêng có nhiều khởi sắc và cách tân đáng chú ý - đặc biệt là ở lĩnh vực truyện ngắn Văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng sau 1975 chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết và theo đó là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, thay đổi giọng điệu

Từ 1986 trở lại đây, cùng với sự vững vàng chín chắn của những nhà văn lớp trước như: Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Xuân Thiều là sự xuất hiện hàng loạt các cây bút trẻ đầy triển vọng như: Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Sơn Minh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan Một trong số đó, Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn trẻ, có sức viết khoẻ và đặc biệt

có duyên với truyện ngắn

2- Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu truyện ngắn nói chung, truyện ngắn trẻ nói riêng được quan tâm đặc biệt, thế nhưng với truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thì dường như vẫn còn bỏ ngỏ Một số cây bút nghiên cứu phê bình đã tiếp cận tác phẩm của chị nhưng mới chỉ dừng lại ở những bài viết không quá 5 trang Truyện ngắn của chị vì thế vẫn cần phải được chú

ý hơn nữa

3- Nguyễn Thị Thu Huệ là cây bút thuộc "thế hệ thứ tư" trong nền văn học Việt Nam hiện đại Mặc dù chưa trở thành một "hiện tượng" của văn học nước nhà Song chị đã có những đóng góp trên nhiều phương diện: đề tài, tư tưởng nghệ thuật, ngôn ngữ Truyện ngắn của chị có khuynh hướng hiện đại Với cách viết như "lên đồng" (chữ dùng của Đoàn Hương), chị đã liên tục cho

ra đời những tác phẩm có giá trị Đọc tác phẩm của chị ta bắt gặp cuộc sống thường nhật của phố phường: là những phương cách, thái độ ứng xử, là những tình yêu, khát vọng của con người trong xã hội mới Các nhân vật của chị không được xây dựng theo kiểu lý tưởng hoá, điển hình hoá như các nhà văn lớp trước mà là những kiểu nhân vật được xây dựng bằng con mắt "vừa tinh

Trang 2

quái vừa buồn rầu", vừa cao thượng, vừa thấp hèn dưới một hình thức tuỳ hứng của một người đàn bà hiện đại mải mê đi tìm phía trước

Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ là góp phần vào tìm hiểu phong cách truyện ngắn của một nhà văn nữ sau 1975 Từ đó, góp thêm tư liệu

đi sâu vào giảng dạy, học tập truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài "Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ"

II- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Trên những nét chính, khái quát về bức tranh của truyện ngắn Việt Nam sau 1975

2 Tìm hiểu cách nhìn, cách thể hiện con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thông qua thế giới nhân vật của nhà văn, đặt trong bối cảnh của truyện ngắn sau 1975

3 Tìm hiểu cách thể hiện không gian, thời gian, ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

III- LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đang được độc giả tiếp nhận và quan tâm Người ta dễ thấy ở nữ nhà văn này một vốn hiểu biết, vốn sống phong phú và nhiều nét sắc sảo, độc đáo trong sáng tác Từ 1993 - 1995, chị

đã liên tục sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị Cũng trong giai đoạn này chị đạt nhiều giải cao của báo Văn nghệ Quân đội, Hội văn nghệ Hà Nội, Hội nhà văn Việt Nam Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ vì thế đã thu hút sự quan tâm của những người nghiên cứu phê bình Tuy nhiên, do nhiều lẽ, những bài bình luận, nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ chưa nhiều Có thể kể tên một số công trình như sau:

- Bài viết " Nguyễn Thị Thu Huệ nhà văn của những vận bĩ"trong "tám chữ hà lạc và quỹ đạo đời người", Xuân Cang, Nxb Văn hoá thông tin, 2000

- "Những ngôi sao nước mắt" - Báo văn nghệ trẻ 25/3/1996, tiến sĩ Đoàn Hương

Trang 3

- "Tản mạn về những truyện ngắn của những cây bút nữ trẻ", Báo văn nghệ số 43 (23/10/1993), Bùi Việt Thắng

- " Tứ tử trình làng", bài giới thiệu cuốn "Truyện ngắn bốn cây bút nữ", Bùi Việt Thắng

- "Thi pháp truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ", Báo văn nghệ số 53 (2002), Hồ Sĩ Vịnh

Và một số luận văn tốt nghiệp đại học, cao học viết về các nhà văn nữ trẻ trong đó có Nguyễn Thị Thu Huệ

Nói chung, những đánh giá của các tác giả có vị trí trong giới phê bình

về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ còn ít và việc nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở những nhìn nhận ban đầu, chưa có một công trình nào quy mô nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Là độc giả yêu thích truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng tôi muốn không chỉ cảm nhận truyện của chị ở mức độ "ban đầu" mà còn mong muốn nghiên cứu sâu tác phẩm của chị để học tập, nhìn nhận những đóng góp của chị với truyện ngắn Việt Nam hiện đại

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp chủ yếu mà chúng tôi sử dụng trong khoá luận này là:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp thống kê

Ngoài ra, trong một chừng mực nhất định, chúng tôi kết hợp sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được những đóng góp của Nguyễn Thị Thu Huệ trên lĩnh vực truyện ngắn so với các tác giả khác

V- CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương Chương I: Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong bối cảnh chung của truyện ngắn sau 1975

Chương II: Cách thể hiện con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ Chương III: Không gian - thời gian và ngôn ngữ nghệ thuật

Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo gồm 21 tài liệu

Trang 4

Chương I TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ TRONG BỐI CẢNH CHUNG

CỦA TRUYỆN NGẮN SAU 1975

Tháng 4/1975 với sự thành công của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, hoà bình được lập lại, Bắc - Nam sum họp một nhà Cuộc sống sau chiến tranh hết sức phức tạp và đầy gian khổ Cả nước lại phải đương đầu với những cam go thử thách mới không kém phần khốc liệt Đó là : vừa bảo vệ Tổ quốc, vừa xây dựng đất nước theo định hướng XHCN

Năm 1986, Đảng ta tiến hành đại hội lần thứ 6 Đây là đại hội của thời

kì mở cửa, thời kì đổi mới Thế nhưng, nền kinh tế thị trường cũng có mặt trái của nó: một số gia đình giàu lên một cách nhanh chóng, hiện tượng băng hoại

về mặt đạo đức cũng ngày một nhiều lên, một số không ít gia đình có nguy cơ

đổ vỡ hạnh phúc Chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của cha ông cũng dần dần bị phá

vỡ, thay vào đó, quan hệ giữa con người với con người cũng bị "tiền tệ hoá" Tất cả những biến động về lịch sử xã hội lớn lao ấy đã kéo theo những xáo trộn trong đời sống văn hoá của dân tộc

Trang 5

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị về công tác văn hoá văn nghệ nhấn mạnh :" Văn học nước ta phải đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm" Các nhà văn cũng tự xác định "không thể viết như trước nữa Lúc này Đảng động viên, khuyến khích các nhà văn nói thẳng, nói thật mọi vấn đề trong cuộc sống, chấp nhận mọi phương pháp thể hiện đời sống nhưng phải đứng trên lập trường và lợi ích của toàn dân Chính vì vậy mà văn học sau này đã đề cấp đến mọi vấn đề của cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu của người đọc

1.1.2 Sự chuyển đổi tư duy, cảm hứng trong văn học

Văn học 1945 - 1975, như chúng ta biết ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt, đất nước 30 năm có chiến tranh liên tục Văn học lúc này phục vụ đắc lực cho

sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH, tất yếu thường nghiêng về phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân Những điều văn học đề cập đến lúc đó phải là những vấn đề trung tâm, cốt lõi liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc, đất nước Với hai đề tài chính, hai đề tài "thiêng liêng và cao cả", đó là Tổ quốc và Xã hội chủ nghĩa, văn học

1945 - 1975 thực sự là bức tranh chân thực và đẹp đẽ về lịch sử dân tộc Cũng chính vì vậy mà đề tài đời tư, đời thường thế sự đạo đức, số phận cá nhân giữ một ví trí thứ yếu, không đáng kể, không đủ tư cách là một đề tài độc lập trong đời sống văn học 1945 - 1975 Sau năm 1975, đặc biệt là sau những năm 80,

do nhu cầu thẩm mĩ mới của bạn đọc và được sự khuyến khích động viên của Đảng, văn học của chúng ta đã có sự cách tân đổi mới Cái mới phải kể đến trước tiên là từ bình diện tư duy nghệ thuật Văn xuôi sau 1975 (đặc biệt là truyện ngắn) chuyển dần tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết Hiện thực đời sống thay đổi khác trước rất nhiều, đòi hỏi các nhà văn cần có cách tiếp cận hiện thực phù hợp Văn học lúc này không chỉ chú trọng vào 2 đề tài Tổ quốc

và CNXH như trước Một mảng hiện thực lớn trước đây hầu như bị bỏ quên, nay được đặc biệt chú ý: Đó là vấn đề đời tư, đời thường và thế sự đạo đức Mọi vấn đề của cuộc sống, hay nói một cách khác, tất cả những gì liên quan

Trang 6

đến con người đều được các nhà văn đưa vào văn học Từ những vấn đề lớn như lý tưởng sống, đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH đến những vấn đề nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường đều được các nhà văn để ý đến

Có thể thấy điều này qua tác phẩm của các nhà văn: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Tại Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Minh Dậu, Nguyễn Thị Thu Huệ,

" Nếu như văn học trước đây quan tâm đến số phận, hạnh phúc chung của cả cộng đồng, cả dân tộc thì nay các nhà văn quan tâm đến số phận cá nhân Cảm hứng sử thi thời kỳ 1945 - 1975 hướng ngòi bút của người nghệ sĩ vào việc khám phá và ngợi ca những con người tiên tiến, con người anh hùng Con người lý tưởng của một thời vinh quang và oanh liệt, những con người của một sự nghiệp chung, xả thân vì nghĩa lớn "Mình vì mọi người, mọi người vì mình" là lẽ sống, đạo đức của con người trong văn học sử thi Họ xuất hiện trong các trang văn, vần thơ như là sự đại diện trọn vẹn cho đất nước, cho lý tưởng, lương tâm, khí phách của thời đại Họ đẹp một cách toàn diện, hoàn mỹ như những viên ngọc không có tì vết" [16] Ngược lại, các tác phẩm văn học sau 1975 thì lại hướng tới những con người đời thường trong cuộc sống, những số phận cá nhân hết sức phức tạp Văn học dường như có sự đào xới sâu hơn, của xã hội và mô tả cuộc sống đó một cách toàn diện Những mảng đề tài và vấn để nổi trội trong truyện ngắn thời kì này là các vấn đề gia đình, tình yêu, đạo đức cá nhân, cuộc hành trình của ý thức và nhân cách cá nhân

Nếu như trước đây với tư duy sử thi và cảm hứng lãng mạn, cách nhìn cuộc đời và con người của các nhà văn chủ yếu là cách nhìn đơn giản, một chiều, phiến diện và hết sức rạch ròi, thiện - ác, địch -ta, cao cả - thấp hèn; Thì bây giờ, tiếp cận với con người trong văn học sau 1975, người đọc có cảm nhận ngược lại Con người ở đây được nhìn nhận từ nhều góc độ, trong mọi mối quan hệ, là một tiểu vũ trụ, vô cùng phức tạp, cái xấu, cái tốt đan xen

Trang 7

trong con người một cách lẫn lộn Tiếp xúc với các nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Nguyễn Quang Lập Chúng ta thấy họ thực sự là những cá tính không hề giống ai, nhưng lại hiện hữu trong muôn mặt của cuộc sống đời thường

Tóm lại, cùng với sự đổi thay của lịch sử xã hội, là sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo Trong bối cảnh chung của đời sống văn học

từ 1975 trở lại đây, văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng đã bắt kịp hơi thở nóng hổi của cuộc sống, tiếp cận, khai thác những vấn đề gay gắt, gai góc nhất của cuộc sống cũng như ẩn náu xấu xa trong tâm hồn, trong thế giới bí

ẩn của lòng người, trong số phận mỗi cá nhân con người Chính vì vậy mà văn học lúc này "thực hơn" và "đời hơn"

1.2 Vài nét về truyện ngắn và nhìn chung truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

1.2.1 Truyện ngắn và ưu thế của thể loại

1.2.1.1 Truyện ngắn

Truyện ngắn là loại tác phẩm tự sử cỡ nhỏ Nội dung của thể loại này bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra đê tiếp thu liền mạch, đọc một hơi không nghỉ

Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu để phân biệt truyện ngắn với các tác phậm tự sử truyện ngắn Trong văn học hiện đại các tác phẩm rất ngắn, nhưng lại là truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa Các hình thức kể chuyện dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, thần thoại, truyện cười lại càng không phải là truyện ngắn

Trang 8

Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học

Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan niệm nhân sinh; nó là một khoảnh khắc, một nhát cắt có ý nghĩa Vì thế, truyện ngắn thường ít nhân vật

và ít sự kiện phức tạp Truyện ngắn không nhằm tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái phụ thuộc của con người

Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian, thời gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá

Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm nhiều chiều sâu chưa nói hết

1.2.1.2 Ưu thế của thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn nằm trong hệ thống chung của loại văn kể chuyện Nhà văn kể lại một trường hợp đặc biệt của một nhân vật hay một số nhân vật nào đó Tuy có một số đặc điểm riêng biệt, nhưng truyện ngắn cũng có những đặc trưng chung của thể loại truyện Đó là: có cốt truyện, có nhân vật, được thể hiện qua phương thức

kể chuyện và có vai trò của người kể chuyện Lời kể, nhân vật, cốt truyện trong mỗi tác phẩm có mối tương quan khăng khít với nhau

Trang 9

Truyện ngắn hiện đại trong xã hội hiện đại có nhiều ưu thế riêng Biêlinxki từng nhận định: "Nếu có tư tưởng của thời đại thì cũng có những hình thức của thời đại " Truyện ngắn là một trong những hình thức của thời đại Vì thế nó thu hút được sự quan tâm của người sáng tác, người nghiên cứu, người đọc

Truyện ngắn là thể loại văn học rất nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận động của xã hội và tái hiện được mọi biến thái trước đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người Ngày nay, trước thực trạng muôn vẻ của cuộc sống đang lên, các nhà văn đang ra sức sáng tạo, đưa lại cho văn học nước nhà ngày càng nhiều tác phẩm truyện ngắn có giá trị Tên tuổi của các nhà văn hiện đại viết truyện ngắn như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài luôn có vị trí trang trọng trong đời sống tinh thần của người yêu văn học

Truyện ngắn là một thể loại rất năng động, có khả năng to lớn trong việc đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống Tuy nó là thể loại "cỡ nhỏ" nhưng nó lại là thể loại phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu Vì thế mà dung lượng của truyện ngắn rất lớn Trong một cuộc trao đổi về truyện ngắn năm 1992 nhà văn Nguyên Ngọc nhấn mạnh: " Trong độ ba trang, mấy nghìn chữ mà rõ mặt cả một cuộc đời, một kiếp người, một thời đại Các truyện ngắn bây giờ rất nặng Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết"

Dù sức nặng dung lượng của truyện ngắn là rất lớn nhưng đấy lại là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí Do đó nó có tác dụng và ảnh hưởng kịp thời trong đời sống Bởi vậy thể loại này đang là sự lựa chọn để thử sức và khẳng định mình của các nhà văn trẻ như Nguyễn Thị Thu Huệ , Lưu Sơn Minh, Lý Lan, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh

Trang 10

1.2.2 Nhìn chung về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

1.2.2.1 Nguyễn Thị Thu Huệ - cuộc đời và tác phẩm

* Cuộc đời

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12 tháng 8 năm 1966 tại Khe Hùm, Quảng Ninh, lớn lên ở Hà Nội Thu Huệ được sinh ra trong một gia đình

có truyền thống văn học Bố là cán bộ miền Nam tập kết, nguyên là nhà báo;

mẹ là nhà văn nữ có dấu ấn trong nền văn học hiện đại - nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú

Thu Huệ từ nhỏ đã được sống trong không khí "văn nghệ", được thừa hưởng độ thâm sâu rộng lớn của người cha và chất văn nữ duyên dáng của mẹ

Vì thế, ngay từ nhỏ Thu Huệ đã có một trái tim đa cảm và một cái nhìn tinh tế Chị tâm sự: "Cho đến bây giờ ở tuổi 37 chị vẫn còn đầy mộng mơ và không kém những người mộng mơ nhất Rất hay buồn, hay bị xốn xang Dẫu bây giờ

đã có hai con trai rồi vậy mà cứ hôm nào trăng sáng mà chị không đi ra đường lang thang được một lúc, không ra ban công ngắm trăng được một lúc là cứ như bị mất cắp một cái gì đấy " Tâm hồn ấy, trái tim ấy được nhen nhóm từ thuở ấu thơ trong con người Thu Huệ Những con người, những sự kiện, những đổi thay xẩy ra trong cuộc đời mình, đã thấm sâu vào kí ức, tâm hồn, tư duy của chị; rồi những kỉ niệm về người bố kính yêu hiện về trong giấc mơ, những buổi tâm sự với bố sau những giờ làm việc đã trở thành ngọn nguồn tư duy mang tính triết lí trong tác phẩm của chị Văn Thu Huệ cho ta thấy một cuộc sống phố phường với những suy tư về hạnh phúc, tình yêu Cái nhìn

"trách nhiệm" với cuộc sống con người đã làm cho văn của Thu Huệ đậm chất đời và chất người - điều khiến cho nhà văn Hồ Phương phải ngạc nhiên: "Sao còn ít tuổi mà Huệ lọc lõi thế Nó như một con mụ phù thuỷ lão luyện Nó đi guốc trong bụng mình" [11] Am hiểu, tường minh mọi ngõ ngách đời sống đã làm nên nét đặc sắc trong văn chị Tất cả những gì trái tim nhạy cảm ấy nhận được đã hiện về trên những trang viết sắc sảo nhưng đầy nữ tính Cuộc đời, số

Trang 11

phận của nhân vật trong văn Thu Huệ được xuất phát từ một chủ thể đa đoan, chiêm nghiệm chính mình và những người xung quanh Gặp Thu Huệc ngoài đời ta thấy một Thu Huệ có cá tính mạnh mẽ nhưng "ngây thơ", lúc ấy chị không đứng ở vị trí một nhà văn bởi trong truyện chị luôn bất an và trống vắng Trong cuộc đời thực chị sống và nghĩ: "mọi cái chỉ tương đối thôi, không có gì toàn vẹn cả" như thông điệp chị gửi gắm trong tác phẩm của mình

Tuy lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, cuộc sống bao cấp

có nhiều vất vả nhưng Nguyễn Thị Thu Huệ được đi học một mạch, tốt nghiệp đại học khoa Ngữ văn năm 1989 Ham đọc sách, yêu văn chương, tác phẩm đầu tay của chị được công bố năm 1988 khi còn là một sinh viên Tốt nghiệp đại học, chị làm biên tập viên tạp chí văn hoá ngoại thương Sau đó được làm công việc theo sở thích: biên tập viên phim truyền hình, rồi làm trưởng xưởng phim II - đài truyền hình Việt Nam

Nhà văn từng giới thiệu rất thực về mình trong cuốn " Nhà văn Việt Nam-chân dung tự hoạ ": Bản thân là một người yêu văn chương, ham đọc sách, nhưng không coi văn chương là một nghề mà mình theo đuổi suốt cuộc đời "Hứng thì viết, không hứng thì thôi, chứ không gượng ép, hoặc viết để có tiền hay có tiếng Viết văn chỉ có một mục đích duy nhất là để giải toả những suy nghĩ trong đầu, văn chương như một người bạn thủy chung" Chị quan niệm rằng người sáng tác cần phải trung thực với bạn đọc vì bạn đọc ngày càng khôn ngoan và hiểu biết Người viết chỉ nên là một người bạn tâm tình với người đọc chứ đừng nên là người dạy người đọc

* Tác phẩm:

Vào những năm 1992 -1993 Thu Huệ gửi chùm truyện ngắn dự thi trên

"Tạp chí văn nghệ quân đội" (gồm các truyện : "Mi nu xinh đẹp" (số 7/1992);

"Tình yêu ơi ở đâu" (số 9/1992), "Bảy ngày trong đời" (Số 3/1993), "Hậu

Trang 12

thiên đường" (số 9/1993) và chị đã đạt giải nhất trong cuộc thi đó Cho đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã có 4 tập truyện ngắn với hơn 80 truyện:

- "Cát đợi", Nxb Hà Nội, 1992

- "Hậu thiên đường" , Nxb Hà Nội nhà văn, 1995

- "Phù Thuỷ", Nxb văn học, 1997

- "21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ", Nxb Hội nhà văn, 2001

Và 2 tiểu thuyết : "Một góc đời nham nhở"

" Của để dành"

Ngoài ra Thu Huệ còn đạt giải nhất trong cuộc thi sáng tác về Hà Nội

và được tặng thưởng của Hội nhà văn

1.2.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong sự vận động đổi thay của đất nước

Văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng sau 1985 đã có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của công cuộc đổi mới Nhờ không khí dân chủ, cởi mở trong văn học với lối viết văn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàn Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ đã làm nóng lên đời sống văn chương Lớp bạn đọc "cũ" và "mới" đã quen dần với họ

So với các nhà văn nam giới, các nhà văn nữ thường hướng ngòi bút của mình vào những hiện tượng đang diễn ra trước mắt Đề tài chiến tranh ít xuất hiện trong truyện ngắn của các cây bút nữ (ngoài sáng tác của Dương Thu Hương, tác giả đã nhiều năm lăn lộn ở chiến trường) Phần lớn các tác giả nữ thường hướng ngòi bút của mình vào đề tài thường nhật, xoay vào nuhững vấn

đề thời sự hiện đại

Tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ra trong chiến tranh, song lớn lên và thành đạt trong thời kỳ đổi mới Trong thực tiễn xã hội vận động đổi thay ấy, chị đã mô tả cuộc sống bình thường của những con người bình thường trong

xã hội mới này

Trang 13

Chẳng hạn, trong truyện "Mi nu xinh đẹp" ta bắt gặp hình ảnh một người thiếu tá về hưu, vợ mất sức đi bán rau, vì túng quẫn phải hy vọng vào việc nuôi chó Nhật (lúc này phong trào nuôi chó Nhật đang rộ lên ở Hà Nội) Tác giả đã không ngần ngại phanh phui những mặt trái của xã hội hiện nay, khi mà con người muốn nuôi sống mình thì trước hết phải nuôi sống chó Cái kết thúc vừa bi vừa hài đúng như ý nghĩ của nhân vật "ở đời người ta sống được là nhờ ảo vọng và ngộ nhận"!

Rồi một thực tiễn trong xã hội được đặt ra là vấn đề đạo đức và lòng tin Hiện thực cuộc sống càng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, con người sống trong môi trường ấy không phải lúc nào cũng bộc lộ rõ hết mọi khía cạnh, mọi bí ẩn của tâm hồn Nguyễn Thị Thu Huệ trong "Biển ấm" đã đem lại cho người đọc cảm xúc sâu lắng Tác giả viết: "cuộc đời còn nhiều những người đàn ông cao thượng, tốt đẹp Người đàn ông đã có vợ thường đi tìm trong tình yêu mới là tinh thần chứ không phải là sự cuồng si thể xác Anh không muốn lấy tôi vì anh không muốn tôi đau khổ " [tr.130]

Đó là lý do cho những người vẫn còn niềm tin vào lòng tốt ở trên đời, dám sống và biết sống ở đây, tác giả không tỏ ra dễ giải, đơn giản để chỉ ra cho người đọc thấy giữa cái ngổn ngang phức tạp của cuộc đời vẫn có chỗ dựa tinh thần tin cậy và vững chắc Chỗ dựa ấy không phải là cái gì khác ngoài lòng nhân ái Những cây bút nữ nói chung, Nguyễn Thị Thu Huệ nói riêng, thường có dự cảm sâu sắc về hạnh phúc nên chị đã đem lại cho người đọc niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu con người Dù quá khứ có nặng nề, dù hiện tại còn đau khổ, con người vẫn tin tưởng ở ngày mai tốt đẹp

Trong truyện "Tình yêu ơi ở đâu" đã toát lên niềm tin tưởng của con người trước cuộc sống xô bồ, khắc nghiệt Truyện kể câu chuyện về một cố gái đi tìm tình yêu Cô ghé mình qua ba người đàn ông nhưng cả ba đều quá

xa vời với lý tưởng của mình mà cô đã xây đắp từ thời sinh viên Nhân vật dường như bị đặt vào tình huống kịch Nhưng lời bà mẹ đã mở ra cho cô một

Trang 14

lối thoát, đúng hơn là một cách nhìn tỉnh táo trước cuộc sống: "Sống ở đời phải biết vị tha con ạ! Mọi cái chỉ tương đối thôi Ta phải chọn cái xấu ít nhất trong mọi cái xấu con ạ " [tr.43] Khát vọng về một người tình lý tưởng của con gái và quan niệm lành mạnh của bà mẹ đã làm cho câu chuyện giữ được trạng thái cân bằng về tư tưởng, không bị rơi vào lối giải quyết cực đoan Người đọc tin rằng cô gái xinh đẹp, có học ấy sẽ tìm được tình yêu đích thực của mình

Một đề tài nữa cũng gây chú ý trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ

đó là: Vấn đề cuộc sống gia đình

Lịch sử xã hội đổi thay kéo theo sự thay đổi trong tính cách con người

và quan điểm sống của họ Gia đình trước kia được coi là khuôn mẫu để quy chiếu ra ngoài xã hội, ứng xử trong gia đình cũng theo tôn ti ở ngoài xã hội Gia đình hôm nay, do sự biến đổi nhiều mặt trong xã hội, nhân tố cá nhân bắt đầu "cựa quậy" và "xé rào" nên đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quan

hệ gia đình

Nguyễn Thị Thu Huệ cùng một số nhà văn nữ khác trước thực trạng cuộc sống đó đã chú ý xây dựng những nhân vật "lạc môi trường" để nói lên những mâu thuẫn xã hội, quan hệ lứa tuổi, mâu thuẫn giữa mẹ và con những nổi niềm không san sẻ hay tình cảm của người vợ đối với chồng

Trong truyện ngắn "Một nửa cuộc đời", người đàn bà và người đàn ông

đã có gia đình thì tất nhiên trách nhiệm của họ là lo cho con cái, gia đình của mình Nhưng cuộc đời không phải lúc nào cũng diễn ra êm đẹp như vậy Bởi người chồng thì tốt bụng "bình lặng như một dòng nước lúc nào cũng trong vắt, còn người vợ thì lại luôn muốn đổi thay Người đàn ông rất yêu vợ nhưng lại đi tìm niềm vui riêng tư ở một người đàn bà khác

Hiện thực phức tạp của cuộc sống những năm gần đây đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho truyện ngắn phát triển không ngừng Đó chính là gương mặt của một xã hội đang chuyển mình trong thời kỳ đổi mới Nguyễn Thị Thu

Trang 15

Huệ với truyện ngắn của mình đã theo sát nhịp chuyển biến của lịch sử và làm nên một gương mặt mới trong truyện ngắn Việt Nam

Chương 2

SỰ THỂ HIỆN CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN THỊ THU HUỆ

***

2.1 Cái nhìn về con người và cuộc đời

2.1.1 Cái nhìn về con người

Cũng như các tác giả khác thuộc giai đoạn văn học sau 1975, Nguyễn Thị Thu Huệ chú ý khám phá và miêu tả sâu sắc con người đời tư, đời thường

và con người nhân cách Điều này cho thấy trong sáng tác của chị, cuộc sống được phản ánh đa diện, nhiều chiều và có phần phức tạp

2.1.1.1 Con người đời tư, đời thường

Đó là con người được nhìn nhận trong mọi mối quan hệ phức tạp: quan

hệ xã hội, quan hệ đời tư, đời thường, quan hệ lịch sử Con người với những niềm vui và nổi buồn, trong sự phấn khởi và khổ đau, trong niềm tin và sự hoài nghi chính đáng Chung quy lại, con người trong những sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ được nhìn trong ba mối quan hệ: với tình yêu, với gia đình và với xã hội

Nhà văn Nga M.Gorki đã viết :"Cuộc sống thiếu tình yêu không phải là sống mà là sự tồn tại Không thể sống thiếu tình yêu vì con người sinh ra có một tâm hồn chính là để mà yêu" Còn đối với con người trong truyện của Thu

Trang 16

Huệ thì tình yêu như một nhu cầu nội tại, tình yêu là lẽ sống, có lúc nó không còn đơn thuần là sự đòi hỏi nữa mà là sự giành dật để có được nó người ta phải trả giá bằng sự đau khổ Với những khát vọng tình yêu cháy bỏng, con người tha thiết hiến dâng và nâng niu những tình yêu đến với mình ("Cát đợi") Mà tình yêu thì mong manh vô cùng Hồ như tình yêu luôn là ảo ảnh khó nắm giữ mà con người thì luôn theo đuổi với một khát khao đến cuồng dại ("Người đi tìm giấc mơ"), lại có khi con người tìm cách vượt ra những giới hạn giáo lí khắc nghiệt luôn ngăn cách tình yêu của họ ("Biển ấm") Khát vọng

tự do trong tình yêu luôn luôn tồn tại trong khát vọng sống của mỗi người Bởi vậy, tự do chỉ định hình trên cái nền, cái ràng buộc và khát vọng của con người vận động đến những điều mình mơ ước - điều này thấy rõ trong truyện

"Tình yêu ơi ở đâu" Truyện ngắn kể về một cô gái đi tìm tình yêu Cô tìm tình yêu xuất phát từ quan niệm mang màu sắc lý tưởng của mình, cô ghé mình qua

ba người đàn ông nhưng cả ba đều quá xa vời với thần tượng tình yêu mà cô xây đắp cho mình từ thời sinh viên Người đàn ông thứ nhất là một nhà thơ nghiệp dư nhưng "bụi bặm" và cẩu thả, cô chỉ yêu được thơ chứ không thể yêu người Mối tình quá lãng mạn đã nhanh chóng đổ vỡ Người đàn ông thứ hai

là một nhà buôn trẻ đang hiến mình cho sự nghiệp làm giàu Ý thức, sức mạnh của đồng tiền, quan niệm thiếu văn hoá về con người và lẽ sống đã biến gã thành một kẻ ích kỷ, tàn nhẫn và vô học Mối tình này của cô gái tên Quyên mang màu sắc hôn nhân nhiều hơn tình yêu, nhưng cô đã không để hôn nhân huỷ diệt quyền sống, quyền tự do chính đáng của một người vợ Người đàn ông thứ ba là một người lính xuất ngũ, nghèo nhưng chân thật Anh đã goá vợ,

có hai con và cô không thể vượt qua được những xung khắc gia đình trước mắt

vì những đứa con của anh Quyên không tìm được tình yêu như nàng nghĩ và mong muốn nên rơi vào thất vọng

Đối với gia đình, con người trong tập :"21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ" luôn buộc mình vào gia đình như một bến đậu, dù đó chưa hẳn là bến đậu của hạnh phúc, của bình an Chúng ta thấy trong truyện ngắn Nguyễn Thị

Trang 17

Thu Huệ con người thường giữ cho gia đình mình cái vỏ bề ngoài có vẻ bình yên nhưng bên trong lại mang yếu tố bi kịch: "Mọi cái chỉ là tương đối thôi

Ai chả có nổi khổ riêng Họ cứ đi với nhau, sang trọng và tươi tỉnh thế thôi, hoặc là cứ sinh con đẻ cái, nhưng khi đóng cửa lại hay khép lòng lại, ai cũng đầy nỗi khổ Mỗi người một vẻ, thế mới là cuộc sống " [tr.43]

Nguyễn Thị Thu Huệ qua truyện ngắn của mình thường quan tâm đến gia đình trong xã hội đang tồn tại và rạn vỡ Trong tập 21 truyện ngắn ta có thể tìm thấy một gia đình với hạnh phúc của sự sum vầy, của tình chồng vợ, cha con Thu Huệ để tâm vào việc khai thác gia đình - cái "hang ổ cuối cùng" của con người - đang bị rạn nứt, đang đứng trước những nguy cơ và thách thức như thế nào

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, các nhà văn hiện thực phê phán cũng khai thác sự chông chênh trắc trở của cuộc sống gia đình Trong sáng tác của Nam Cao, số phận của gia đình lão Hạc, gia đình anh giáo Thứ đang đối mặt với cuộc sống đói nghèo, túng bấn nhưng vẫn ấm tình người Hay trong sáng tác của Ngô Tất Tố, cái đói khổ đã chia năm sẻ bảy gia đình chị Dậu nhưng trong cái cay đắng ấy, tình thương, tình yêu và hơi ấm gia đình vẫn tồn tại, vẫn có chỗ đứng

Nguyễn Thị Thu Huệ lại như đi ngược với điều đó Con người trong truyện ngắn của chị đa phần có cuộc sống đầy đủ, sung túc nhưng bất hạnh do chính sự đủ đầy ấy Ông cậu trong "Nước mắt đàn ông" là một người thành đạt, thức thời Ông có nhà cao cửa rộng, lại có kẻ hầu người hạ Ở cơ quan, ông "ho một tiếng là có người sợ" Nhưng ở nhà, ông lại bất lực trước tất cả

Vợ thì khinh bỉ, sẵn sàng đánh nhau tay đôi với ông Những đứa con thì không

có nổi mười lăm phút tâm sự với ông ngoài chuyện tiền bạc Cái kết cục buồn thảm này như là một tất yếu xẩy ra và trở thành phổ biến khi gia đình không đươc quan tâm đúng mức Khi đồng tiền được đặt lên quá cao mà con người thì bị chi phối quá mạnh bởi nó

Trang 18

Con người là sản phẩm của cuộc sống Chịu sự chi phối của cuộc sống, của thể chế chính trị - kinh tế - xã hội.Hiện thực mỗi thời đại, mỗi xã hội quy định tiến trình phát triển cá tính, trách nhiệm của cá nhân Khi đất nước có chiến tranh, con người Việt Nam thường găp nhau trong lí tưởng, mục đích cao cả: đánh thắng kẻ thù Còn trong cuộc sống mới, quan hệ giữa con người với hiện thực cũng đổi khác, họ bận bịu với những bon chen, những toan tính, những ham muốn đời thường mà thờ ơ với trách nhiệm xã hội

Quay lại một chút với quan hệ gia đình, khi những người bố, người mẹ, không còn gương mẫu và hi sinh nữa thì họ trở thành "phù thuỷ" trong mắt con cái Người bố, người mẹ trong "Phù Thuỷ" và người mẹ trong " Hậu thiên đường" đã mải miết đi tìm cho mình những chân trời riêng mà quên đi trách nhiệm và tư cách của mình đối với con cái, đối với gia đình Gia đình là tế bào của xã hội, khi họ thờ ơ với gia đình cũng là lúc họ thờ ơ và làm ảnh hưởng đến sự giáo dục con người trong xã hội, làm xã hội mòn vẹt đi Một xã hội sẽ

ra sao khi những người đàn ông thì "rặt một lũ đều giả" và người phụ nữ thì luôn khát khao yêu đương và tìm mãi suốt đời không có bến dừng chân Một

xã hội sẽ thế nào khi con người cư xử với nhau chỉ bằng toan tính và sặc mùi tiền bạc Quan hệ giữa con người với đời sống xã hội trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ được đặt ra như một lời cảnh tỉnh Cảnh tỉnh để phát triển cuộc sống cộng đồng, cảnh tỉnh để tìm lại trách nhiệm của cá thể

Con người trong tập "21 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ", vừa cố

kết dính với gia đình như là "hang ổ cuối cùng" nhưng lại vừa bị giằng xé bởi tình yêu, bởi cuộc sống và những ngoại lực khác Con người như là một tiểu

vũ trụ, vô cùng phức tạp, chiều sâu tâm hồn có nắm bắt, cái xấu, cái tốt đan xen lẫn lộn, có khi cái cao cả và cái thấp hèn cùng tồn tại trong một con người Người đàn ông hàng xóm trong "Phù Thuỷ" là một người chồng mẫu mực, tận tuỵ chăm sóc vợ con Đó là người đàn ông có chức vụ, có quyền lực, gia đình

có truyền thống nổi tiếng là nho gia, văn hoá Nhưng đây cũng chính là người

Trang 19

đàn ông từng khen "nó" ( cô bé 12 tuổi) là: "Cháu rất đẹp Chú sẽ dạy cho cháu hiểu cuộc sống đẹp như thế nào Nhà chú cách nhà cháu một cái ngõ, sang đó chú sẽ dạy cháu thành người lớn" [tr.174]

Chính tính chất phức tạp trong mỗi cá nhân con người khi cuộc sống đủ đầy về vật chất dẫn đến những bi kịch cá nhân thể hiện trên mỗi trang viết của Nguyễn Thị Thu Huệ Đó là cái bi kịch của Thuỷ ("Mi nu xinh đẹp"), của

"cậu" ("Nước mắt đàn ông") có tiền nhưng không có tình yêu và cuộc sống trở thành vô nghĩa Đó là bi kịch của một người mẹ lẫm lỡ nhìn thấy con mình đang dẫm lên những nơi mà mình đi qua nhưng không thể nào ngăn lại được Người mẹ ấy đau đớn, hối hận trong muộn màng khi phải nhìn thấy đứa con mình "đứng ở miệng vực", rồi ở trong lòng vực mà không thể làm gì khác

Với những bi kịch, con người trong "21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu

Huệ" là con người cô đơn Cô đơn buồn khổ bởi họ có nhiều ham muốn, bởi

họ sống trong một xã hội hiện đại đang phát triển đến mức chóng mặt Trong truyện ngắn "Người xưa" (tập "truyện ngắn bốn cây bút nữ") tác giả viết:

"Buồn đến xót xa cho kiếp người cứ phải sống hai mặt Một là tình yêu cá nhân và một là con người xã hội" con người được nhìn trong mối quan hệ giữa gia đình, tình yêu và các mối quan hệ khác nên họ mới cô đơn giữa nhiều chiều quan hệ ấy

Trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ chúng ta thường bắt gặp các nhân vật luôn tự hỏi: Con người là cái gì? Tôi là ai? Vì sao tôi buồn ? Chứng tỏ con người trong tập truyện là con người cô đơn 20/21 truyện ngắn nói về nổi cô đơn và sự lặp lại của hơn 30 lần từ "cô đơn" hay " cô độc" cũng khẳng định điều đó

2.1.1.2 Con người nhân cách

Đất nước những năm sau chiến tranh đã có sự thay đổi về nhiều mặt Nền kinh tế thị trường đã nâng cao đời sống vật chất của toàn dân một cách

rõ rệt Song, không thuận chiều với đời sống vật chất, đời sống tinh thần và

Trang 20

nhiều mặt nhân cách của con người bị giảm sút Viết về con người trong cuộc sống hiệu đại, Nguyễn Thị Thu Huệ đặt họ trong những đua tranh, giành dật quyết liệt của cơ chế thị trường mà ở đó con người luôn phải có những lựa chọn Bản chất con người vì thế mà bị bóc trần và được phơi bày trên từng trang viết

My (thiếu phụ chưa chồng) là một cô gái thôn quê khoẻ mạnh xinh đẹp nhưng ít học My ao ước cuộc sống xa hoa phù phiếm nơi phố phường đô hội Bất chấp tất cả, cô cam tâm cướp chồng chị mình một cách lạnh lùng và tàn nhẫn "như người ta xé miếng vải" và đẩy chị mình vào cái chết Sự lựa chọn của My không chỉ có vậy Khi đã được sống như mong muốn, My vẫn chưa hài lòng với cuộc sống ấy Cô ngoại tình với Hoàng, một chàng trai khoẻ mạnh, cuồng nhiệt để thoả mãn xác thịt trong khi bụng còn mang thai Dĩ nhiên, My phải trả giá cho những gì mình làm, mình lựa chọn Và dẫu "khi người ta trẻ" người ta vẫn thường tin vào những điều viễn vông thì cũng thật đáng tiếc cho những số phận, những tình yêu sớm rơi vào bi lịch đớn đau

Thật xót xa khi nhân cách con người bị đánh cắp mà kẻ cắp nhân cách

họ lại là chính họ "Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình", nhưng có mấy ai nhận ra được điều đó Thế nên, ta bắt gặp nhiều cảnh trớ trêu và trào lộng trong văn Nguyễn Thị Thu Huệ :"Tiếng the thé của bà bác sĩ cất lên: "ông

ấy chưa đủ tiêu chuẩn nằm nhà lạnh, để đến hôm sau là khó chịu đấy"

Mẹ tôi vùng lên túm lấy tay người đàn bà, vừa nói vừa dúi vào tay bà ta một gói nhỏ Bà ta cười "để tôi giúp, may ra được thì hết ý" "

Giọng bà bác sĩ từ "the thé" đến "cười", rồi nhẹ nhàng làm độc giả cũng bật cười ra nước mắt ở đâu rồi người bác sĩ trong câu "Lương y như từ mẫu" ? phải chăng vị "lương y" đó đã tan biến trong cái "gói nhỏ" của người phụ nữ đau khổ tội nghiệp có người chồng vừa mới qua đời ?!?

Nguyễn Thị Thu Huệ quan tâm đến số phận con người trong bi kịch tình yêu Bi kịch tình yêu thì nhiều kiểu, nhiều nguyên do nhưng có những bi kịch

Trang 21

thật chua xót - nó được gây ra bởi sự tác động của cơ chế thị trường Con người hôm nay, dù phải cắm cúi kiếm ăn vất vả trong cuộc sống bon chen về kinh tế thì vẫn cần đến tình yêu Thế nhưng giờ đây, quan niệm hạnh phúc của một số người chỉ là sự đủ đầy về vật chất và sự thoả mãn những dục vọng tầm thường ("chàng" - người đàn ông thứ hai của Quyên trong "Tình yêu ơi ở đâu") Với nhiều người bấy giờ, tình yêu chỉ là một thứ xa xỉ phẩm trong đời sống kinh tế thị trường Không ai giống ai, "người ta hạnh phúc đều giống nhau nhưng đau khổ thì mỗi người một vẻ" (Lepton xtôi) Nêu lên những bi kịch, những biến thoái của đời sống kinh tế thị trường, Nguyễn Thị Thu Huệ muốn thức tỉnh con người: Hãy tỉnh táo hơn để nhìn nhận lại rằng con người đáng được hạnh phúc biết bao nhưng có khi con người cũng đáng bất hạnh biết bao

Với nhịp sống xô bồ của thời đại kinh tế thị trường, nhân cách văn hoá

ở một lớp người ngày càng giảm sút Con người với những thiếu hụt về nhân cách văn hoá trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được thể hiện khá sinh động Người đàn ông người yêu của "nó" trong “Hậu thiên đường”là con người "bặm trợn", đểu giả, lừa lọc Hắn đã có "một vợ hai con, lại còn bòn rút từng nghìn của một đứa bé con" Hắn vừa được cả con bé, vừa được cả năm

xu một hào của nó mà bản thân thì chẳng mất gì cả Gã là một kẻ lừa lọc, ích

kỷ, ti tiện, bủn xỉn - một con người thiếu văn hóa

Người bố của Thạnh ("Ám ảnh" ) là một người đàn ông ích kỷ và gia trưởng Ông ta là đại diện cho những kẻ bị băng hoại đạo đức, coi thường đạo đức gia phong Là một người chồng, khi vợ lâm bệnh thì vội vàng ngoại tình

để hưởng lạc thú riêng Là một người cha, ông ta đối xử với con cái tệ mạt Người đàn ông này trở thành cơn ác mộng, thành "ám ảnh" của con cái, thành nổi ghê sợ của người vợ và sự khinh bỉ của người đời

Tóm lại: con người trong cái nhìn của " 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu

Huệ" là con người đời thường với tất cả những gì tốt đẹp - xấu xa, thiện - ác,

Trang 22

cao cả - thấp hèn và đầy đủ niềm vui, nổi buồn, ham muốn, khổ đau và hạnh phúc Không có trong truyện ngắn của chị một con người toàn vẹn, hoàn hảo

vì "tất cả chỉ là tương đối" Người anh trai của "nàng" ("Tình yêu ơi ở đâu") nói với em gái: "Ai mà chẳng có tật" "Không có ai hoàn hảo đâu, được cái này thì phải thôi cái kia" [tr 39] Chính bởi không có ai toàn vẹn nên con người cần phải tỉnh táo để nhận ra chính mình, để vươn lên, tự hoàn thiện và giảm bớt những lỗi lầm

2.1.2 Cái nhìn nhiều chiều về cuộc đời

Cuộc đời của con người là mối quan tâm đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ Trước hết phải nói rằng, tập truyện có cái nhìn cuộc đời khá cực đoan: "Cuộc đời con ngươi thật buồn và ngắn ngủi" mà ở đó số phận của mỗi con người được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, góc độ nào cũng có những thất vọng, những cô đơn và chán chường My ("thiếu phụ chưa chồng

") nghĩ: "Cuộc đời là cả một cái vòng khổ ải Tất cả, tất cả đang quây cuồng

suốt từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi để kiếm miếng ăn như thể họ bị đói từ kiếp trước" [tr.354] Chính bởi cái quan niệm đời người với những lo toan

kiếm sống là "cả một vòng khổ ải" nên My đã tìm đến cuộc sống hưởng thụ bằng bất cứ giá nào, bất chấp cả luân thường đạo lí, bất chấp tình máu mủ ruột

rà miễn là được sống như mong muốn Và rồi, chính nhân vật này nhận thấy:

"Đời người phần lớn là buồn Ngày nọ rồi tới ngày kia Mỗi ngày được thêu dệt bởi những nỗi buồn con con đôi khi vô cớ Tất cả những phút giây của buổi sáng, buổi chiều, đêm về khuya đối với con người đều là những gợi nhớ" [tr.346] Số phận con người được qui định bởi cái nhìn của chính họ về cuộc đời My cũng vậy Cuộc sống của cô, hạnh phúc, đau đớn và nỗi cô đơn của cô Tất cả đều được bắt đầu từ quan niệm của cô về cuộc sống

Quan niệm về cuộc sống của con người trong "21 truyện ngắn Nguyễn

Thị Thu Huệ" thường được bộc lộ qua những dòng suy tưởng, qua sự chiêm

Trang 23

nghiệm của nhân vật trong một hoàn cảnh cụ thể Và đó cũng chính là sự chiêm nghiệm của một nữ chủ thể đa đoan trước cuộc đời

Sao ("Giai nhân") trong sự trống vắng cô đơn, trước một tình yêu được

dội về từ ký ức, đã hiểu ra rằng mọi sự không như cô mong muốn Bởi: "Đời

người đàn bà thường ngắn hơn đời người đàn ông dù tuổi thọ của họ lại nhiều hơn Đó là nghịch lý Đàn ông 60 tuổi còn có tình yêu, đàn bà thì hiếm hoi lắm" [tr.196] Trước cái chết lạnh lẽo, cô đơn của một "giai nhân", Sao như có

dự cảm bất an cho số phận của mình :"Sao rùng mình, ít ra, với người kia mình còn hơn cô ta một cái, đó là cuộc sống Cuộc sống là vô giá" [tr.203] Thực ra Sao chẳng hơn gì "giai nhân" nọ, ngoài một điều - cô đang sống Cuộc sống thanh xuân mà cô đã từng phung phí bằng những tháng, những ngày giam mình trong những ham muốn tầm thường, nhỏ nhặt giờ đây trở nên quý giá vô cùng

Cuộc sống lại càng quý giá hơn đối với những con người chỉ được sống trên thế gian trong một khoảng thời gian ngắn ngủi Phát ("Hình bóng cuộc đời") với sự nhạy cảm của một người nghệ sĩ, dường như anh đã tiên đoán được sự ngắn ngủi của đời mình nên đã cố sức để sống vơí chính mình, với

những đam mê, những lý tưởng Trong một lần cãi vã với vợ, anh nói: "Đời

tôi không chỉ sống vì cô Tôi là tôi Đời người ngắn lắm, tôi có con đường riêng của tôi " [tr.389] Sau khi Phát chết, trong bàng hoàng đau đớn, ân

hận và nuối tiếc, Thuỷ luôn ao ước " giá như" thế này, "giá như" thế nọ thì mọi cái đã khác Phải chăng, cái "giá như" của Thuỷ chính là giá cuộc đời dài hơn để con người ta đủ thời gian sửa chữa lỗi lầm ?

Đời sống trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ là đời sống ngầm,

nó ẩn kín đằng sau cái ngổn ngang, bề bộn của mọi hiện tượng sự việc Đối với Thu Huệ, cuộc đời thật ngắn ngủi và lắm lúc cũng thật buồn Trong sáng tác của chị, con người nhìn cuộc đời dẫu có lúc cực đoan nhưng đó là cái cực đoan có lý Chính bởi cuộc đời ngắn lắm nên con người thường thất vọng với quá khứ, cô đơn giữa thực tại và họ sẽ sống nỗ lực hết mình cho tương lai Điều đó có thể thấy ở những người như người đàn ông "không quên những

Trang 24

ngày được sống" trong "Cầu thang", "Tôi" trong "Còn lại một vầng trăng", Sao trong "Giai nhân" bởi, đằng sau sự mâu thuẫn giữa con người với chính

họ, giữa họ với mọi người, với xã hội lại là sự đấu tranh để tìm đến cái thiện, cái đẹp, tìm đến hạnh phúc

2.2 Thế giới nhân vật

Nhân vật là hạt nhân trung tâm của tác phẩm tự sự Văn học không thể thiếu nhân vật vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Nếu không có nhân vật, nhà văn không thể tái hiện được cuộc sống "muôn hình vạn trạng", không có nhân vật nhà văn không thể khái quát được quy luật của cuộc sống con người Do đó có thể xem nhân vật là yếu tố then chốt của tác phẩm tự sự Một tác phẩm có thể không có cốt truyện, nhưng nhân vật thì không thể không có, dù nó là truyện ý tưởng hay truyện tâm tình Tuy nhiên, nhân vật trong con mắt của mỗi nhà văn không giống nhau Trong mỗi tác phẩm thì loại hình nhân vật cũng rất phong phú, đa dạng,

có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật loại hình, nhân vật lý tưởng các nhân vật thuộc những tầng lớp, giai cấp khác nhau; cũng có nhân vật không thuộc tầng lớp, giai cấp nào cả Mỗi loại nhân vật như vậy đều có vị trí, vai trò riêng biệt để thể hiện nội dung tư tưởng mà tác giả đề cấp tới trong tác phẩm

Nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ thường được soi xét, nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Truyện ngắn của nữ nhà văn này có hẳn một thế giới nhân vật có tên tuổi, có nghề nghiệp, có dáng vóc, có đau khổ, có bi kịch, có bất hạnh và có hạnh phúc Họ là những công chức, những "cựu chiến binh, những sinh viên, những người đàn ông cô đơn, những người phụ nữ khát khao hạnh phúc, những người già từng trải và bao dung trên con đường tất tả đi tìm cuộc sống, hạnh phúc, tình yêu, nhân vật trong " 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ" thường gặp nhiều bất trắc, đa số họ thất vọng và cô đơn có người còn trở thành nạn nhân của cuộc sống xô bồ thời hiện đại

Trang 25

2.2.1 Những người đàn ông

Nguyễn Thị Thu Huệ giành sự quan tâm đặc biệt của mình cho người phụ nữ chứ không phải người đàn ông Có nghĩa là, vai trò của người đàn ông trong sáng tác truyện ngắn của chị có phần mở nhạt, dù tần số xuất hiện nhiều (53/90 nhân vật)

Trong suốt tập truyện, tác giả có cái nhìn không mấy thiện cảm về người đàn ông Đàn ông hiện lên trong tác phẩm của chị mang dáng dấp vừa ti tiện, vừa bủn xỉn Người đàn ông trong "Hậu thiên đường" là nhân vật như vậy Ông ta yêu "nó", đó không phải là tình yêu mà là sự lợi dụng và lừa gạt Lão lợi dụng tình cảm của một cô bé mới lớn đang, háo hức vào đời với tất cả

sự vô tư trong sáng và nổi thiếu vắng tinh thần từ nhỏ Hắn "đã có một vợ hai con, lại còn bòn rút từng ngìn của một đứa bé con Hắn vừa được con bé, vừa được năm xu một hào, còn bản thân thì chẳng mất gì cả" [ tr.157 ] Chẳng những lừa lọc, đểu giả không thôi mà người đàn ông này còn là một kẻ ti tiện, bủn xỉn "mua xà phòng chí thích loại to, rẻ, bền", còn đi ăn sáng thì chỉ "ăn xôi cho chắc dạ" Với tất cả cái xấu xa, bần tiện, người đàn ông này đã mang khuôn mặt thiếu nữ của một cô bé mười sáu tuổi ra đi và trả lại khuôn mặt của một người đàn bà

Đàn ông trong tác phẩm của Thu Huệ, dưới con mắt của người phụ nữ, luôn có hai bộ mặt vừa tử tế, và đểu giả Thế nên, chúng ta thấy trong "phù Thuỷ", trong "Cát đợi", "Hậu thiên đường", "Một nửa cuộc đời" những người đàn ông đi tìm niềm vui mới nơi người đàn bà khác nhưng vẫn cắm cúi nhặt nhạnh, xây trát cho "tổ ấm gia đình" của mình vững chắc như cái lô cốt

Nhân vật người đàn ông trong "Cầu thang" đã phải chạy vội trở lại cơ quan để lấy tập phong bì bỏ quên - người đàn ông này tâm sự: "Tôi có sẵn một tập phong bì Trong đó có 50 ngàn đồng Cứ tối nào đi em út, tôi phải thủ một cái để đêm về đưa cho mụ béo, bảo là đi họp được tiền" "Lần đầu tiên

Trang 26

Trân thấy ông ta không phải là ông ấy trong vẻ trịnh trọng và đứng đắn" [tr.270]

Tuy nhiên, trong " 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ" còn có những

người đàn ông đứng đắn như "anh" ("Biển ấm"), Bình ("Tình yêu ơi ở đâu"), trưởng phòng ("Cầu thang"), ông già ("Đêm dịu dàng") Đó là những con người hiểu được giá trị đích thực của cuộc sống và biết sống vì những điều có ích cho mình, cho người Những con người như thế này trong tác phẩm của Thu Huệ không nhiều và đa số họ không tạo được ấn tượng đáng kể cho độc giả

Những người đàn ông trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ có cái gì

đó thật là tội nghiệp Đó là cái quay quả kiếm sống của người sĩ quan về hưu ("Mi nu xinh đẹp") Đó là cái hạnh phúc và thất vọng của người đàn ông không có được cái may mắn về hình thức ("Những đêm thắp sáng") Đó là anh chàng thi sĩ nghèo luộm thuộm trong cuộc sống và sinh hoạt ("Tình yêu ơi ở đâu") Đó là những "chú Len", những "người ấy" của mẹ, những "anh", những

"cậu" Đa số con người này cô đơn giữa cuộc đời, lạc lõng giữa thực tại và ở

họ của họ khó có thể tìm ra những gì khả dĩ để hi vọng ở phía trước, phía tương lai

Người đàn ông thường là biểu tượng của sức mạnh và chinh phục Vậy

mà, giữa thời hiện đại này họ cũng phải khóc Khóc vì sự bất lực của chính mình trước cuộc sống gia đình mà mình đã dày công tạo dựng Cuộc đời thật trớ trêu và trào lộng Người đàn ông trong "Nước mắt đàn ông" là người thành đạt, thức thời "xưa nay hiếm" Nhà cao cửa rộng, vợ con đàng hoàng, lại có kẻ hầu người hạ Ở cơ quan, ngoài xã hội ông được tôn trong và kính nể Trước gia đình, ông bất lực Vợ con chẳng coi ông ra gì Ông là người cô độc - cái cô độc của một con người đã đánh đổi cả cuộc đời mình để có những đồng tiền

mồ hôi nước mắt, những đồng tiền ấy có thể nuôi sống gia đình ông, con cái ông một cách đường hoàng, dư giả, nhưng không thể nào làm sống lại trong

Trang 27

ông một tâm hồn, không thể nào trả lại cho ông niềm đam mê văn chương và một tình yêu thực sự

Khác với người đàn ông trong "Nước mắt đàn ông", ông Xung ("Dĩ Vãng") - một người đàn ông đã từng lặng lẽ chắt chiu cuộc sống cho đồng đội Nước mắt của ông khóc trong đêm rừng bên mộ của những người đồng chí vừa mới hi sinh là cả một sự oà vỡ những dồn nén, chịu đựng vì mọi người Nước mắt của ông Xung cũng chính là sự thức tỉnh ở những người lính trẻ nhìn đời, nhìn người còn non nớt: khi phán đoán những việc ác, không nên chỉ nghĩ bằng lòng ác, mà hãy xem xét bằng lòng nhân

Người đàn ông này khi từ giã quân ngũ trở về đã không còn khả năng đem đến hạnh phúc cho người vợ trẻ Ông phải sống những ngày cô đơn dẫu

đó là những ngày bình yên, không còn đạn bom, không còn khói lửa Vợ ông - một người đàn bà trẻ đẹp, cũng thật là tội nghiệp Cô cứ tất tả đi - về với một bên là bình yên, một bên là bão tố; một là người đàn ông nào đó với "bão tố" cuồng say, còn một là người chồng cô đơn coi "cuộc sống không phải những ngày đang trôi mà là những gì trong trí nhớ"

họ, dù có thể chưa đầy đủ Và rất quan trọng, rất cần thiết khi một nhà văn viết

về những gì mà họ hiểu rõ Tôi đồng cảm với số phận của nữ giới Tôi thực sự hiểu họ và muốn chia sẻ với họ niềm vui, nỗi buồn"

Trang 28

Qua khảo sát tập "21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ" chúng tôi thấy

nhân vật nữ xuất hiện với vai trò nhân vật chính khá nhiều (37/90 nhân vật)

Họ là những bà, là mẹ, là tôi, là cô ấy, là Trân, Sao, My

Tác giả là nữ giới nên khi xây dựng nhân vật cùng phái đã có sự đồng cảm với nhân vật của mình Nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ là những con người bình thường trong xã hội nhưng cũng thường gặp phải cảnh đời trớ trêu, đau khổ, bế tắc trong cuộc sống Trong truyện ngắn của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ thường quan tâm đến người phụ nữ trong quan hệ gia đình, sự chênh lệch quá mức về trình độ, sự hiểu biết, độ chênh về tâm lý, lối sống muôn hình vạn trạng là sự đe doạ cuộc sống gia đình họ Những nhân vật này thường phải quẫy đạp trong nỗi thiếu vắng tinh thần, nổi

cô đơn khắc khoải Và họ, dù có những khát khao, những ước mơ đẹp đẽ và chính đáng nhưng vẫn thường chịu nhiều đau đớn và thất vọng Đau đớn và thất vọng trên con đường kiếm tìm hạnh phúc tình yêu và cuộc sống Họ bị sa vào mê cung của số phận, có những hoàn cảnh éo le, chông chênh Đó là "tôi" trong "Đêm dịu dàng"; "tôi" trong "Người đi tìm giấc mơ", Thuỷ trong "Hình bóng cuộc đời", "Quyên trong "Tình yêu ơi ở đâu"

Đặc biệt, nhân vật nữ xưng "tôi" chiếm khá nhiều toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ Trong tổng số nhân vật nữ xuất hiện trong tập truyện nhân vật giữ vai trò "tôi" chiếm tỉ lệ 11/37 nhân vật Bằng cách xưng "tôi" nhân vật trở thành đối tượng trực tiếp của độc giả để cùng nhau tranh luận, suy nghĩ Hiện thực được suy ngẫm từ chính những số phận riêng lẻ Tiếng nói của một cá nhân được đặt ngang và hoà chung trong tiếng nói của xã hội

Ở nhân vật xưng tôi, người đọc có cảm giác như tác giả đang tự "rút ruột" mình ra để dãi bày tâm sự Cái tôi trong truyện làm cho người đọc tin cậy hơn Ý nghĩa của vai kể chuyện ngôi thứ nhất có vai trò quan trọng khiến khoảng cách giữa nhà văn và độc giả tiến gần nhau hơn, cùng đối thoại cởi

mở để tìm ra chân lý cuộc sống

Trang 29

Nhân vật "tôi" trong "Người đi tìm giấc mơ" lớn lên trong sự nghèo khổ, trong cảnh mồ côi Là người phụ nữ bất hạnh với những giấc mơ khủng khiếp, bị xua đuổi, bị chửi bới Tưởng tìm được sự chở che nơi "chàng hoàng tử có đôi chân nhỏ xíu" nhưng rút cục, phải ra đi với "chiếc áo mỏng dính, gần rách", "cái quần mặc co lại vì ngắn và cũ" [tr.11] và "người tôi đau ê ẩm", tím bầm loang lổ" bởi " những cái tát, những trận phang gậy vào người gần hai năm nay tôi đã quen" [tr.12]

Người phụ nữ vai "tôi" trong " Hậu thiên đường" đã từng sống với tình yêu, với niềm đam mê, với "thiên đường" của chị Chị chạy trốn thời gian, chạy trốn tuổi già sầm sập đuổi sau lưng bằng những cuộc tình, những đêm hò hẹn Tham vọng quá xa vời khiến người phụ nữ này quên khi thiên chức làm

mẹ, để rồi khi đã nếm đủ mùi vị đắng chát của tình yêu mới thảng thốt nhận

ra mình tay trắng Và khi đứa con gái 16 tuổi của chị nấp mình đằng sau, tự

mò mẫm "tìm đường cho mình" và dẫm phải những bước chân của mẹ 16 năm về trước thì tất cả - với chị, không còn gì nữa Sự thức tỉnh, sám hối của người đàn bà đi trong đêm quyết dành dật lại đứa con duy nhất "bé bỏng tội nghiệp" của mình đang vi vu trong cõi "hậu thiên đường" với một người đàn ông lừa lọc đáng tuổi bố nó Thật là đau xót! Chị đớn đau khi thấy con mình lặp lại số phận của mình - người phụ nữ trong vòng tròn của "những khả năng đặc biệt của đàn bà: yêu đương, ghen tuông, cuồng si, đau khổ" Hình ảnh cô

bé ngây thơ từng bước lún sâu vào vực thẳm của địa ngục mà ngỡ mình sắp được lên thiên đường là nổi ám ảnh xót xa bởi cái trắc trở và nổi cô đơn của người phụ nữ từng vô tâm quên đi thiên chức làm mẹ thiêng liêng Đằng sau cái gọi là "thiên đường" của người phụ nữ này lại là sự sụp đổ, hoảng loạn, sự giằng xé, mất phương hướng Cái hoảng loạn ấy, ngẫm ra nó hợp với quy luật: khi người ta bỏ thực tại đi tìm hư vô thì thường chống chếnh, cô đơn trước thực tại

Trang 30

Cô Trân trong "Cầu thang" cứ chạy lên, chạy xuống trên những bậc cầu thang nhà người yêu mong tìm trong đó những điều bất ngờ "Nhưng cái sự bất ngờ đó chẳng mới mẻ gì chỉ làm Trân mệt mỏi hơn " [tr.262] Cũng như những người phụ nữ khác, Trân cũng mong chờ những điều mới mẻ trong tình

yêu của mình, để tránh đi sự nhàm chán Thế nhưng chẳng có gì khác cả "Lại

là những bậc cầu thang Chỉ lên hay xuống quanh quẩn trong một ngày, một tháng, một năm và một đời người Leo lên thì khó Càng lên cao càng chậm

Mà xuống thì nhanh quá " [tr.269] Trân tìm hạnh phúc, tìm tình yêu, tìm

chính mình ở những bậc thang Và phải chăng, những bậc thang trên cái cầu thang đến với hạnh phúc cũng vậy mà thôi: Tìm đến thì khó, đánh mất thì dễ Cuộc gặp gỡ giữa Trân và người đàn ông cùng phòng tưởng làm thay đổi cuộc đời và tình yêu của Trân Trân đã phân thân, đã xúc động trước người đàn ông

đó, thậm chí đã bị ám ảnh bởi cuộc gặp gỡ ấy Nhưng rồi cô đã đặt chân lên bậc cầu thang thứ 68, nơi mà đằng sau cánh cửa là "anh", là tình yêu đơn điệu vốn đã "bốc mùi", để rồi lại xuống, lại "mong chờ ngày mai Để chạy lên 68 bậc" [tr.262]

Viết về người phụ nữ, Nguyễn Thị Thu Huệ giành cho họ sự cảm thông

và niềm tin tưởng Chị thường khai thác "cái nửa bên kia" của nhân vật, bởi chị quan niệm: mỗi người phụ nữ đều ẩn chứa những điều mà không phải bao giờ họ cũng bộc lộ Chị không tin rằng người phụ nữ nào cũng thoả mãn vơí công việc, tình yêu, cuộc sống gia đình mà họ đang tồn tại Vì ai cũng phải chịu đựng một điều gì đó, chỉ có điều người may thì chịu đựng ít, người không may thì chịu đựng nhiều Vì thế, nhân vật của chị sống được hoặc tồn tại được là nhờ có niềm tin Trong niềm tin đó đôi khi còn có ảo tưởng nữa Nếu nhân vật không có ảo tưởng, không có niềm tin thì khó có thể vượt qua hoàn cảnh thực tại Đôi khi, ảo vọng cũng vỡ tan như bong bóng trong mưa, nhưng ít ra nó cũng cho người ta một quãng thời gian để mà sống Trong truyện "Cát đợi", chị đã viết: "ảo vọng cuối cùng của ta là tin rằng không còn

ảo vọng gì sất"

Trang 31

Từ trong sâu thẳm tâm hồn những người phụ nữ là những rung động, những khát khao ham muốn rất đời và rất người - đáng đượctrân trọng Trên từng trang văn, Nguyễn Thị Thu Huệ đã cố gắng đi tìm cái tốt đẹp bên trong những biểu hiện của cái xấu, những mảnh vỡ nhân cách lấp lánh nơi những người phụ nữ có số phận éo le Trong "Hậu thiên đường", đằng sau một người phụ nữ luôn chạy theo những ham muốn xa vơì, tầm thường với gối ấp tay kề bên những người đàn ông mỗi tối, là một người phụ nữ khao khát tình yêu mãnh liệt, là người mẹ rất mực thương con dù đó chỉ là tình thương trong muộn mằn và ân hận

Người phụ nữ trong "Cõi mê" nửa điên, nửa tỉnh, nghèo khó sống giữa cảnh "người với người như chẳng biết thương nhau" nhưng cô biết yêu, biết đón đợi hạnh phúc Tình yêu của "cô" và "chú Len" là một sự hoà hợp, sự bù đắp: "cuộc sống tương lai bằng mơ ước của một người quá tỉnh táo nhưng mất mát nhiều và một người điên, được hay mất đều không quan trọng" [tr.259]

Cô thiếu nữ trong "Cát đợi" đẹp lắm - người đàn bà đẹp đa tình Cô luôn

cô đơn và khát khao một cái gì cụ thể nên chẳng bao giờ có Người đàn bà đa tình bao nhiêu năm vẫn hương nhang cho một tình yêu quá cố, dù hàng ngày người đàn ông ấy, người mà cô thờ phụng, người đã đem đời con gái của cô đi không hoàn lại một câu xin lỗi, vẫn chỉn chu chở vợ đi làm Nhưng rồi anh - người tình tuyệt vời của cô đã đến "anh đầy ắp những gì tôi khuyết", "anh êm đềm thấm vào tôi như hơi thở" Với cô, tình yêu là tất cả - là khát vọng thanh xuân, là niềm yêu đời, vui sống Cô như muốn hét lên với đất trời "tôi yêu và được yêu" và đó là tất cả khát vọng của cô Người đàn bà ấy trao tặng người

mà mình yêu tất cả những gì chị có và đó là niềm hạnh phúc của chị Như mê

đi trong niềm hạnh phúc hiếm hoi, muộn màng, khi chị tỉnh dậy thì "anh đã đi

rồi", người tình của chị đã về "với mọi sự cố định mà tôi không bắt anh phải

dứt bỏ Bởi tôi là kẻ đến chậm " [tr.10] Tình yêu của chị đã tan ra như ngàn

Trang 32

con sóng nhỏ vào biển đời mênh mông, chỉ còn lại người đàn bà trên chiếc giường tân hôn là"một cái hõm nông hơn hõm hôm qua một nửa" [tr.10] Người đàn bà đa tình thẩn thờ ngồi với cát Cát mềm mại, bao dung và trìu mến Chị chờ đợi một ngày nào đó, tình yêu của chị sẽ quay lại với một khát vọng không nguôi

Người phụ nữ trong truyện của Thu Huệ dường như luôn gắn với đau khổ, bởi khát vọng tình yêu trong họ lớn quá và nhân hậu quá Những khát khao, ham muốn chẳng bao giờ nguôi và chẳng bao giờ trọn vẹn Vì thế mà truyện nào của chị cũng chan chứa hoài niệm và ước mơ về một tình yêu, một hạnh phúc khó nắm giữ, mong manh, dễ bị thời gian khoả lấp

Trên con đường ngược xuôi đi tìm hạnh phúc, tình yêu, cuộc sống người phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ lúc thất vọng, đớn đau thường tìm đến sự chở che ở người "bà" từng trải và bao dung "Bà" tuy chưa phải là nét tính cách phát triển nhưng là một nhân vật phát ngôn hỗ trợ cho nhân vật "tôi", là nhũ mẫu, là bạn của "tôi" Đối với các nhân vật: "tôi" trong

"Biển ấm", "tôi" trong "Cát đợi", trong "Người đi tìm giấc mơ " người bà luôn chở che, nâng đỡ và thắp lên niềm tin, hy vọng cho họ ở cuộc đời

Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị

Ấm, Y Ban làm nên đặc trưng cơ bản của những cây bút nữ trẻ là nhu cầu đến say mê được tham dự, được hoà nhập vào những nổi đau khổ, vui sướng, những khát khao hy vọng của con người, đặc biệt là người phụ nữ Sự hoà nhập ấy là chất men nồng ấp ủ trong họ bao yêu thương và cả sự phẩn nộ trước cái xấu, cái ác đến "muốn thét lên một tiếng thật to" ("Hồng ngủ" - Phan Thị Vàng Anh )

Võ Thị Hảo - Nhà văn nữ cùng thời với Thu Huệ xây dựng những nhân vật nữ tật nguyền, xấu xí, nhẫn nại, cam chịu trước số phận bất hạnh Nhân

Trang 33

vật của Võ Thị Hảo có ước mơ giản dị, rất phụ nữ, đó là: "hạnh phúc, hạnh phúc được dâng hiến" ("làn môi đồng trinh") Kiểu xây dựng nhân vật và cách quan niệm ấy của Võ Thị Hảo khác với Thu Huệ Ở Thu Huệ, chị đã để cho nhân vật của mình sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được hạnh phúc Họ thường được xem là người "đầu thai nhầm chỗ" (nhân vật "tôi" - "Người đi tìm giấc mơ"), là "Kẻ tuyệt tự" ("nàng" - "những đêm thắp sáng"), là kẻ quen quyết định nhiều việc và cuối cùng rơi vào cô đơn vì quá bạo dạn và mạnh mẽ trong tình yêu (My - "Thiếu phụ chưa chồng"), là người phụ nữ suốt đời vất vả lo toan (nhân vật bà - "Người đi tìm giấc mơ"; nhân vật mẹ - "Mi nu xinh đẹp"),

là cô gái mới lớn ngây thơ trong tình yêu ("tôi" - "Cát đợi"; "tôi" - "Biển ấm") Những nhân vật ấy, mỗi người một đời sống, một hoàn cảnh riêng nhưng họ đều là những người bà bao dung với con cháu, người mẹ, người vợ lo toan cho gia đình và sự nghiệp Họ còn là những cô gái háo hức vào đời mà trước mắt

là những cánh cửa phải tự tay mình mở; và là những người phụ nữ khát khao hạnh phúc, kiếm tìm tình yêu trong một xã hội đang phát triển Và họ góp phần không nhỏ làm nên sự độc đáo của ngòi bút Nguyễn Thị Thu Huệ

2.2.3 Những nạn nhân của đời sống kinh tế thị trường

Như chúng ta đã biết, đời sống hiện đại đang phát triển, cùng với những đua tranh khốc liệt của cơ chế thị trường là bảng giá trị xã hội bị đảo lộn Những người cầm bút hôm nay, nhất là các nhà văn trẻ đã tung nhân vật của mình vào vòng xoáy của cuộc đời để họ sống thực với hiện tại, cho nhân vật nếm đủ mùi vị từ ngọt ngào đến cay đắng, ê chề của cuộc sống để từ đó rút ra những kết luận mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc cho con người

Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ luôn quan tâm đến những số phận éo le trong thời hiện đại Người phụ nữ là nạn nhân đầu tiên của thời đại kinh tế mở cửa Con ngươì chẳng ai tránh khỏi được cái chết

Trang 34

Nhưng cái chết của nhân vật Hảo ("Thiếu phụ chưa chồng" lại là cái chết lặng

lẽ để thoát khỏi cuộc tình tay ba trớ trêu Hảo là người phụ nữ hiền lành, nhân hậu, tin và yêu chồng con, có ý thức vun đắp và giữ gìn nề nếp gia phong của gia đình truyền thống Cái chết của cô như một dấu chấm lặng, bất lực trước tình thế éo le - một bi kịch của thời hiện đại Đó là tấn bi kịch: em gái cướp chồng chị, còn anh rể thì sẵn sàng bỏ vợ và ngoại tình với em vợ

Hảo trong "Thiếu phụ chưa chồng" và Hạnh trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Minh Dậu tuy không cùng một hoàn cảnh nhưng có sự gặp gỡ

Họ đều là những nạn nhân của lối sống mất đạo đức trong xã hội hiện đại Hạnh bị đứa em gái mà cô đã hy sinh cả tuổi trẻ và hạnh phúc để cưu mang và nuôi nấng cướp mất người yêu Ở "Hạnh" của Nguyễn Minh Dậu, trong đêm

tối, trước biển vắng, tiếng cười và lời than của Hạnh ("ôi Chúa! linh cảm

đã không lừa con nhưng sao kẻ cướp mất hạnh phúc của con không phải là ai khác hả Chúa ? "), vẫn còn day dứt mãi trong lòng người đọc

Còn với "Thiếu phụ chưa chồng" của Thu Huệ thì cho dù "tội loạn luân" cuối cùng cũng phải trả giá khi triết lý "nhân - quả" hiện ra với Dương và My (đứa con gái sinh ra thiếu một mắt và không có một bàn tay) thì "bóng tối

đang trùm xuống" và câu hỏi : "Trời ơi, những kẻ đã phá hoại ta là những kẻ

ruột thịt và thân thiết với ta, phải làm gì bây giờ?" của Hảovẫn còn lơ lửng,

ám ảnh, không ai có thể trả lời

"Chúa" và "Trời" ở ngay trong tâm mỗi người, bởi trong con người có hai phần: phần thiên thần và phần ác quỷ Trong xã hội hiện tại, đồng tiền tuy không là uy lực tuyệt đối nhưng nó vẫn còn đủ sức để biến nốt phần "thiên thần" còn lại trong một số người thành ác quỷ Và khi con người đã trở thành

"Phù thuỷ" thì sẽ còn rất nhiều nạn nhân của "trò phù thuỷ" mà họ gây ra

Đứa con gái trong "Hậu thiên đường" là sản phẩm của nổi đam mê mù

quáng từ người mẹ Và đến lượt nó, 16 tuổi sớm trở thành nạn nhân của nỗi

Trang 35

đam mê ở chính mình Chính người mẹ trong "Hậu thiên đường" và là nạn

nhân, vừa là tội nhân bởi lối sống của chính mình Chị chạy theo những nổi đam mê, chạy theo những mối tình, có được niềm vui và hạnh phúc nhất thời nhưng rút cục lại mất đi tất cả Xây dựng nhân vậy người đàn bà tay trắng này, Nguyễn Thị Thu Huệ mong muốn người phụ nữ khi quyết định một việc gì quan trọng trong cuộc sống thì nên tỉnh táo để xem rằng mình được gì và mất

gì khi quyết định Bởi chị nghĩ: trong cuộc đời ai mà chỉ biết đến tiến mà không chịu lùi một bước thì sẽ có lúc thất bại

Trong "21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ" có những con người khát

khao hạnh phúc chính đáng nhưng lại thành nạn nhân của lối sống thực dụng

Quyên trong "Tình yêu ơi ở đâu" là một ví dụ Cô xây dựng cho một một tình

yêu lý tưởng nhưng không tìm đươc tình yêu ấy trong thực tại Ba mối tình tan

vỡ, cay đắng, cô đơn giữa cuộc đời, "nàng bắt đầu sợ tình yêu" Bởi "nàng

hiểu rằng đàn ông thời này cứ cho ai một thì đòi lại hai, nếu không thì họ có những cái rất khó chịu " [tr.41]

Tất cả giấc mơ phù vân của con người rồi sẽ thành hư ảo Tiền của, ăn mặc, tất cả mọi nhu cầu vật chất đến một lúc nào đó sẽ chán ngấy, chỉ đời sống tinh thần của con người là cần thiết Truyện ngắn của Thu Huệ khi đề cập đến nạn nhân của đời sống hiện đại, chính là lúc tác giả đang băn khoăn không dứt về môi trường nhân tính đang có chiều giảm sút, đạo đức con người

bị băng hoại

Có người nhận xét những trang viết của Nguyễn Thị Thu Huệ già dặn, từng trải hơn nhiều so với tuổi đời của chị Và chính Thu Huệ trong một cuộc trò chuyện cũng thừa nhận rằng: "Mặc dù còn ít tuổi nhưng truyện ngắn của tôi lại mang nhiều khắc khoải, thậm chí cô đơn" Chị còn nói một cách ví von

"có người nhận xét, mỗi truyện ngắn của tôi giống như một cục vôi, ném mình vào thùng nước sôi ùng ục trong đó cho đến hết truyện"

Trang 36

Những trang viết của "người đàn bà ám khói" này như một ma lực cuốn người đọc nhập cuộc Vì thế, với truyện ngắn của mình, Thu Huệ không chỉ kể cho chúng ta nghe mà chị còn kéo chúng ta đi theo nhân vật của mình Dẫu biết rằng những nhân vật đó chị thường để cho họ bước đi những bước chông chênh trên "miệng vực thẳm cuộc đời không có dây bảo hiểm" Bởi vậy, có chỗ người đọc cảm giác như mình đang nhập cuộc vào trò chơi "Phù thuỷ" ở cõi "Hậu thiện đường"

Có thể nói: qua truyện ngắn của mình, Thu Huệ đau đáu cùng nhân vật trong cuộc hành trình mãi mê đi tìm hạnh phúc chẳng chút bình yêu Hạnh phúc của con người thì mong manh khó đạt tới, khó nắm giữ vì vô số những điều ràng buộc Vì thế, hầu hết nhân vật trong truyện ngắn của Thu Huệ thường cô đơn, đó theo chị là mặt trái của tình yêu của cuộc đời

Chương 3 KHÔNG GIAN - THỜI GIAN VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT

***

3.1 Không gian - thời gian nghệ thuật

3.1.1 Không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở

ra từ một điểm nhìn, cách nhìn Trường nhìn, điểm nhìn đó có thể rộng và cũng có thể hẹp

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[19] Bùi Việt Thắng - Tử tử trình làng (Bài giới thiệu tập "Truyện ngắn bốn cây bút nữ"), Nxb Văn học, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn bốn cây bút nữ
Nhà XB: Nxb Văn học
[1] Tạ Duy Anh - Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, Nxb Thanh niên, H.2002 [2] Phan Thị Vàng Anh - Khi người ta trẻ, Nxb Hội nhà văn, 1994 Khác
[5] Lê Tư Chỉ - Để phân tích truyện ngắn, Nxb trẻ, 1996 Khác
[6] Lê Bá Hán - Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, 1998 [7] Đỗ Đức Hiểu - Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn, 2000 Khác
[8] Nguyễn Thái Hoà - Những vấn đề thi pháp truyện, Nxb Giáo dục, 2000 Khác
[9] Phạm Thị Hoài - Tập truyện ngắn, Nxb Hà Nội, 1995 Khác
[10] Nguyễn Công Hoan - Đời viết văn của tôi, Nxb Thanh niên, 1999 Khác
[11] Trần Đăng Khoa - Chân Dung và đối thoại, Nxb Thanh niên, 1999 Khác
[12] Nguyễn Khải - Gặp gỡ cuối năm, Nxb Tác phẩm mới, 1984 Khác
[13] Đỗ Thị Kim Liên - Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1999 Khác
[14] Lê Lựu - Trả lời phỏng vấn báo Quân đội nhân dân (24/4/1998) Khác
[15] Vương Trí Nhàn - Sổ tay truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, 1998 Khác
[16] Hồ Hồng Quang - Tìm hiểu sự quan tâm của một số truyện ngắn Việt Nam viết sau 1975 về vấn đề đời tư, đạo đức, đời thường Khác
[17] Bùi Việt Thắng - Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiến thể loại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Khác
[18] Bùi Việt Thắng - Bình luận truyện ngắn, Nxb Văn học, 1999 Khác
[20] Phạm Thị Tuyên - Luận văn thạc sĩ, 2002 Khác
[21] Nguyễn Sĩ Vĩnh - Thi pháp truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Báo văn nghệ số 35/2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w