Nghiên cứu đặc điểm thể loại văn học là chỉ ra được những đặc trưng về nộidung cũng như nghệ thuật của thể loại đó thông qua những tác phẩm tiêubiểu.. rất phổ biến, tuy một truyện ngắn c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-
-HÀ THỊ THU THỦY
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI BÌNH NGUYÊN TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
-
-HÀ THỊ THU THỦY
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI BÌNH NGUYÊN TRANG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh Ngân
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệutrích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận vănđều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Hà Thị Thu Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, Tôi xin trân trọng cảm ơn BanGiám hiệu, Khoa Sau đại học, Văn – Xã hội, Trường Đại học Khoa học, Đạihọc Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trongsuốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viênhướng dẫn TS Nguyễn Thị Thanh Ngân đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảotrong suốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồngnghiệp đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Hà Thị Thu Thủy
Trang 5MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN .
ii MỤC LỤC iii MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài
1 2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
8 5 Cấu trúc của luận văn
9 6 Đóng góp của luận văn 9
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 11
1.1 Các vấn đề thể loại
11 1.1.1 Truyện ngắn và các đặc điểm của truyện ngắn
11 1.1.2 Tản văn và các đặc điểm của tản văn 14
1.2 Văn xuôi Bình Nguyên Trang trong diện mạo chung của văn xuôi nữ Việt Nam đương đại 18
1.2.1 Khái quát văn xuôi nữ Việt Nam đương đại 19
1.2.2 Hành trình sáng tác của Bình Nguyên Trang 21
Tiểu kết chương 1
29 Chương 2 CẢM HỨNG VỀ CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI CỦA BÌNH NGUYÊN TRANG 30
Trang 62.1 Cảm hứng về cuộc sống .30
2.1.1 Những suy nghĩ về cách sống 302.1.2 Những cảm xúc đẹp về cảnh vật thiên nhiên 36
2.2 Cảm hứng về con người .39
Trang 72.2.2 Trăn trở về những đứa trẻ bất hạnh 47
Tiểu kết chương 2 53 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIÊM NGHỆ THUẬT VĂN XUÔI BÌNH
NGUYÊN TRANG 54
3.1 Nhân vật và cốt truyện 543.1.1 Thế giới nhân vật đa dạng, đa diện, đa tính cách 54
3.1.2 Cốt truyện đơn tuyến 60
3.2 Không gian, thời gian nghệ thuật 623.2.1 Không gian nghệ thuật đa dạng 623.2.2 Thời gian nghệ thuật đa chiều 68
3.3 Ngôn ngữ và giọng điệu 713.3.1 Ngôn ngữ đằm thắm, giàu chất thơ 72
3.3.2 Giọng điệu đa dạng mà thống nhất 75
Tiểu kết chương 3 78 KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Đặc điểm thể loại là vấn đề luôn được giới nghiên cứu quan tâm.
Nghiên cứu đặc điểm thể loại văn học là chỉ ra được những đặc trưng về nộidung cũng như nghệ thuật của thể loại đó thông qua những tác phẩm tiêubiểu Từ khía cạnh cảm hứng nghệ thuật, có thể thấy được vấn đề của cuộcsống mà tác giả quan tâm, thấy được những tâm tư, tnh cảm mà tác giảmuốn gửi gắm trong từng tác phẩm, qua đó thấy được những đặc điểm nghệthuật mang dấu ấn đặc trưng của tác giả
1.2 Trong nền văn học đương đại của nước ta, có rất nhiều cây bút nữ
trẻ đã khẳng định được tài năng cũng như phong cách của mình Thế hệ nhàvăn nữ cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX có thể kể đến những cái tênnhư: Dạ Ngân, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Đoàn Lê, Trần Thùy Mai, Lý Lan, YBan, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Thế hệ nữ tác giả mới từnhững năm 2000 phải nhắc đến: Đỗ Hoàng Diệu, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp,Phan Hồn Nhiên, Phạm Điệp Giang, Võ Diệu Thanh, Nguyễn Ngọc Tư, DươngThụy, Trang Hạ Mỗi cây bút mang một màu sắc riêng, góp phần tạo dựngbức tranh chung của nền văn học đương đại Việt Nam Việc khai thác đặcđiểm thể loại của một tác giả trẻ là việc làm cần thiết để khẳng định phongcách nhà văn trong bức tranh đa dạng của nền văn học nước ta
1.3 Bình Nguyên Trang là nhà văn trẻ, được đánh giá là một trong những
cây bút nữ xuất sắc của nền Văn học đương đại Việt Nam Chị viết khá nhiềuthể loại, tên tuổi từ lâu đã gắn với thơ, nhưng gần đây chị mạnh dạn thử sức
và đã khẳng định mình rất ấn tượng ở thể loại văn xuôi Truyện ngắn, tản văncủa Bình Nguyên Trang không viết về những điều lớn lao, trừu tượng, mà mỗicâu chuyện là một mảnh ghép cuộc sống bình dị, những cảm xúc rất đỗiđời
Trang 9thường Nói cách khác, cuộc sống được thu nhỏ vào trang viết bằng giọng
văn đầy chất thơ Chính tác giả từng chia sẻ “Mỗi cuốn sách là một góc nhỏ
của cuộc đời người viết Nó chứa đựng những buồn vui, trải nghiệm cá nhân người viết cuốn sách đó ” Văn xuôi của Bình Nguyên Trang vì thế rất giản
dị mà sâu sắc, để lại ấn tượng khó phai trong lòng độc
giả
Theo các nhà phê bình, văn xuôi Bình Nguyên Trang vừa mang hơi thởcuộc sống, vừa mang nét ý nhị rất riêng vốn làm nên đặc trưng văn chươngcủa chị Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có đề tài nào khaithác đặc
điểm văn xuôi của Bình Nguyên Trang- một phương diện không thể thiếu để
khẳng định tên tuổi nhà văn Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng đề tài “Đặc điểm văn xuôi Bình Nguyên Trang” nằm trong số những đề tài cấp thiết hiện
Trong cuốn Lý luận văn học, GS TS Trần Đình Sử đã chỉ ra: “ Cái chính
của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tnh người Kết cấu của truyện ngắn thường là một sự tương phản,liên tưởng Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũng hết sức quan trọng, làm nên cái hay của truyện ngắn Truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí, có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống.”.
Trang 10[36;tr317] Có thể thấy, GS TS Trần Đình Sử đã chỉ ra những đặc trưng vềnội dung, kết cấu, dung
lượng, giọng điệu,… của truyện ngắn Ngày nay, truyện ngắn là một thể loại
Trang 11rất phổ biến, tuy một truyện ngắn có dung lượng không nhiều nhưng nó lạiđáp ứng được nhu cầu của độc giả cả về mặt nội dung và nghệ thuật.
Một cái tên rất ấn tượng trong số những người làm nghiên cứu phêbình của nền văn học nước ta, có sự quan tâm đặc biệt đến thể loại truyệnngắn, đó chính là Bùi Việt Thắng Anh đã cho ra đời rất nhiều những công
trình viết về truyện ngắn như: Bình luận truyện ngắn (Nxb Văn học, 1999),
Truyện ngắn- những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại (Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội,
2000), Truyện ngắn hiện thực 1930-1945 (Nxb Văn học, 2003) Trong những
công trình nghiên cứu đó, Bùi Việt Thắng đã có cái nhìn khái quát về truyệnngắn từ định nghĩa, nguồn gốc, để từ đó xác định các yếu tố đặc trưng, cáckiểu truyện ngắn như truyện ngắn cổ điển, truyện ngắn tâm tnh, truyện ngắn
kỳ ảo, truyện ngắn rất ngắn, truyện ngắn liên hoàn và biến thể Có thể nói,những công trình nghiên cứu giá trị về thể loại truyện ngắn của Bùi ViệtThắng, đã đem đến cho người đọc những hiểu biết cụ thể về thể loại này.Ngoài những công trình têu biểu nêu trên, còn có rất nhiều những côngtrình nghiên cứu khoa học về những tác giả, tác phẩm têu biểu của thể loạitruyện ngắn và tản văn Người viết xin được nêu ra một số công trình sau:
Trong luận văn khoa học “Đặc điểm truyện ngắn Đỗ Bích Thúy”, tác giả Nguyễn Xuân Thủy đã viết “Từ sau 1986 văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói
riêng chiếm một ưu thế lớn Thời kỳ này, từ sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật, sự mở rộng về phạm trù thẩm mỹ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà có có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp Mỗi nhà văn đều lý giải cuộc sống từ góc nhìn riêng, với những cách xử lý ngôn ngữ riêng Tất cả những đặc điểm trên khiến truyện ngắn Việt Nam đương đại gặt được nhiều thành công trên nhiều phương diện” Như vậy, cùng sự đổi mới tư duy, mở rộng chủ đề, nội dung
hướng đến mọi
Trang 12mặt trong đời sống, truyện ngắn có được vị trí nhất định trong nền văn học hiện
đại Việt Nam[54,tr 10]
Ở luận văn “Đặc sắc tản văn Y Phương” của tác giả Sùng Thị Hương
đã chỉ ra các đặc trưng của tản văn như sau: “Thứ nhất, tản văn là những tác
phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm xúc có hoặc không có cốt truyện Tản văn là những tác phẩm văn xuôi có dung lượng không lớn, phổ biến là những bài văn ngắn gọn, hàm xúc nhằm vẽ lại một vài nét chân dung của ai đó hoặc
kể lại một vài kỷ niệm từng ám ảnh trong ký ức Tản văn có thể có hoặc không có cốt truyện Thứ hai, tản văn bộc lộ rõ nét cái tôi của tác giả Thứ
ba, tản văn viết về người thật, việc thật và sử dụng hư cấu có hạn chế trong phạm vi và mức độ nhất định ” [19,tr 9-11] Ở luận văn này, tác giả đã chỉ ra
được những đặc trưng cơ bản của tản văn Có thể thấy tản văn có những đặcđiểm khá gần với truyện ngắn, thể loại này cũng được nhiều tác giả lựa chọn
để gửi gắm cảm xúc của mình
Tác giả Cao Thị Thùy Nhung trong Đặc điểm tạp văn và tản văn Nguyễn
Vĩnh Nguyên, đã khái quát về đặc điểm nội dung và hình thức của tản văn:
“Về hình thức, tản văn có dung lượng ngắn gọn, hàm súc Cho đến hôm nay,
ngắn gọn vẫn là ưu thế của tạp văn, tạp văn lên ngôi do nhu cầu cần đọc nhanh, đọc nhiều thông tin của người đọc hiện nay Hình thức tạp văn, tản văn tự do, phóng khoáng, không câu nệ các quy tắc về câu chữ, kết cấu Về nội dung: tạp văn, tản văn có phạm vi thể hiện khá phong phú, đa dạng, từ những vấn đề chính trị, xã hội mang tính thời sự nóng hổi đến những cảm xúc đời thường rất giản dị, gần gũi Những vấn đề phản ánh trong tạp văn, tản văn thường được biểu hiện dưới dạng một suy nghĩ, khoảnh khắc riêng
tư, một thoáng liên tưởng bất ngờ, độc đáo mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả ” [31,tr14].
Nhìn chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ về đặc
Trang 13nghiên
Trang 14cứu đó là những tài liệu quý báu để tác giả luận văn tham khảo trong quá trình tm hiểu về các tác phẩm văn xuôi của Bình Nguyên Trang.
2.2 Về tác phẩm của Bình Nguyên Trang
Cho đến nay, chưa thấy có nhiều bài viết cũng như các công trình nghiêncứu khoa học về các tác phẩm của Bình Nguyên Trang Nếu có chăng thì cũngchỉ là các bài nhận xét về tác phẩm, những lời giới thiệu sách hoặc là các bàiphỏng vấn trên các trang báo
Trong bài báo Nhà thơ Bình Nguyên Trang: Không thể trả lời thỏa đáng
cho câu hỏi về tình yêu của tác giả Khánh Thủy, Bình Nguyên Trang đã từng
tâm sự về vai trò của văn chương đối với chị: “Tôi cần những cuộc trò chuyện
mà ở đó, toàn bộ đời sống tnh thần của tôi được tỏ bày, được thỏa mãn, được sẻ chia Viết có vai trò với tôi như vậy Giây phút ngồi trước trang giấy
và viết về nỗi buồn, niềm vui, trải nghiệm của mình trên đó, tôi hạnh phúc ”
[52] Có thể thấy, văn chương có vai trò rất quan trọng đối với Bình NguyênTrang, từng câu chuyện, từng trang viết chính là những tâm tư, tnh cảm màchị muốn được sẻ chia và giãi bày Được viết ra những dòng cảm xúc củamình dường như là một niểm hạnh phúc với Bình Nguyên Trang
Tác giả Mai Đô trong bài viết Bình Nguyên Trang nữ sĩ tài hoa đã nhận xét: “Những bài báo, những tản văn của Bình Nguyên Trang thấm đẫm chất
thơ, trĩu nặng tình cảm Với nhân vật, chị viết như tận lòng, da diết những nỗi niềm chia sẻ Chị viết về người khác như viết cho chính mình Trực giác cảm nhận với mạch văn quyến rũ làm nên một giọng điệu Bình Nguyên Trang Cùng với tập thơ mới, Bình Nguyên Trang còn cho in tập tản văn “Hoa gạo cuối trời” Vẫn là những nỗi niềm khắc khoải với thời gian và quê hương Nhất là Mẹ, nguồn cảm xúc không bao giờ cạn kiệt trong tâm hồn nhà thơ ” [8].
Trang 15Đọc những trang viết của Bình Nguyên Trang ta thấy trong đó là sự trăn trở,
là những nỗi niềm băn khoăn, khắc khoải về thời gian, về hạnh phúc củađời
người Những nhân vật trong tác phẩm của chị phần lớn là những người phụ
nữ bất hạnh luôn khát khao có được hạnh phúc, có được một bến đỗ bìnhyên trong cuộc đời Bằng giọng điệu trữ tnh, sâu lắng từng trang thơ, trangvăn của chị cứ nhẹ nhàng, êm ái đến với người đọc
Tác giả Thanh Hằng, trong bài viết Nhà thơ Bình Nguyên Trang: viết văn
đừng sống qua loa hời hợt thì nhấn mạnh một hình ảnh mang tnh biểu
tượng trong văn xuôi Bình Nguyên Trang :“Tôi có một tuổi thơ đồng đất, gắn
với làng, với những gì giản dị, gần gũi nhất Tôi cũng là đứa trẻ rời cha mẹ đi
xa từ khi còn rất nhỏ Và ký ức trong tôi, thường có màu đỏ của bông hoa gạo Tôi yêu loài hoa này bằng một tình yêu rất khó gọi thành lời Tôi nhớ những ngày tháng ba mưa phùn rét mướt, cái mùa đói khốn khó ở nông thôn, cũng là mùa hoa gạo bung đỏ một góc trời, như khát vọng của những phận người nơi quê nghèo, luôn muốn vươn lên, bay lên khỏi hiện thực mình đang sống Trong hình ảnh bông hoa gạo có hình ảnh của bà tôi, của mẹ tôi, của chị tôi Một hình ảnh rất thân phận, vừa cam chịu vừa không bằng lòng với số phận ” [12] Thời thơ ấu có lẽ là khoảng thời gian đẹp đẽ nhất, trong
trẻo nhất của đời người Và với Bình Nguyên Trang, thời thơ ấu của chị gắnvới hình ảnh bông hoa gạo Hình ảnh đó trở đi, trở lại nhiều lần trong cácsáng tác của chị, bởi nó gắn với mùa sinh, gắn với một tuổi thơ khốn khónhưng đầy ắp những kỉ niệm tươi đẹp Đó là một vùng kí ức đậm sâu, mộtkhoảng trời thương nhớ khôn nguôi Hình ảnh bông hoa gạo đã trở thànhmột biểu tượng đẹp và rất đặc trưng của Bình Nguyên Trang
Trang 16Trong một bài báo khác: Nhà thơ Bình Nguyên Trang: Lặng lẽ 'Tìm trong
cõi người' của phóng viên Việt Quỳnh - Báo Thể thao Văn hóa đã nhận xét:
“Từ thơ đến ký ra ngoài đời, với Bình Nguyên Trang, văn sao người vậy Bình Nguyên Trang (tên thật là Vũ Quỳnh Trang) lưu lạc đến cõi nhân gian này một cách giản đơn là làm nghề viết, và nếm náp hương vị đời mà chẳng màng tiền bạc, công danh Mọi sự đến với chị bình thản như mọi ổn thỏa từ công việc đến gia đình Không cần thắp sáng cho đám đông, chị tỏa rạng từ trái tm, tràn ra nụ cười, lan lên trang viết Và thế là hạnh phúc vừa đủ.” [33].
Bình Nguyên Trang là một người phụ nữ tràn đầy năng lượng, một nhà báonhiệt tình, sôi nổi và rất yêu nghề Chị đến với nghề không phải vì công danh,tiền bạc mà đơn giản muốn được giãi bày những cảm xúc của mình trênnhững trang viết Với Bình Nguyên Trang, còn được viết là còn hạnh phúc, vàcòn sống chị vẫn sẽ gắn bó với nghề
Trong bài viết:Triết lý hạnh phúc trong "Mùa đom đóm mở hội" , tác giả Lương Sỹ Cầm đã nhận xét: “Gấp lại tập truyện, nghĩ về các nhân vật nữ được
tác giả miêu tả, tôi hình dung cả một cánh rừng bị cơn bão quật đổ tan tác, cây ngã đè lên nhau ngổn ngang Bình Nguyên Trang đã lần mò xem xét từng cây, nhặt nhạnh từng cành để tái hiện cơn bão số phận ập vào cuộc đời của những nhân vật phụ nữ Suốt tập truyện ngắn, chẳng tìm thấy một niềm vui.” [4] Những nhân vật nữ trong tác phẩm của Bình Nguyên Trang đa phần
là những
người phụ nữ bất hạnh Họ cam chịu, hi sinh nhưng lại luôn phải chịu nhữngthiệt thòi, đau khổ trong cuộc sống Bình Nguyên Trang luôn bày tỏ sự đồngcảm, xót xa và trân trọng cho những thân phận bất hạnh này
Mở đầu tập truyện ngắn Mùa đom đóm mở hội, nhà văn Trần Đức Tiến
đã
Trang 17có những lời nhận xét cũng là lời giới thiệu sách: “Bình Nguyên Trang thành
Trang 18công khi kể những câu chuyện rất “đời” với những chi tiết vừa đủ gây ấn tượng bằng giọng kể dung di đầy nữ tính Nhưng có lẽ chị còn hay hơn khi không chăm chú vào bố cục, vào tình tết có khả năng gây kịch tính của một câu chuyện có đầu có cuối ” [53,tr4] Nguồn cảm hứng sáng tác của Bình
Nguyên Trang là từ những câu chuyện bình dị trong đời sống, là từ chínhnhững con
người sống xung quanh chị Những câu chuyện của chị đơn giản là kể lạinhững gì chị đã chứng kiến, đã trải qua Với lối viết dung dị, không cầu kì,hoa mỹ, không quá quan trọng đến cốt truyện, bố cục,…những trang viết củaBình Nguyên Trang cứ nhẹ nhàng đến với người đọc, để lại những ấn tượngsâu sắc
Trong phạm vi tìm hiểu của chúng tôi, có thể thấy, những bài viết vềBình Nguyên Trang vẫn còn khá hạn chế Đến nay, chưa có công trình nghiêncứu nào về các tác phẩm của chị nói chung và văn xuôi của chị nói riêng Do
đó, khi thực hiện công trình nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn góp mộtphần nhỏ trong việc tìm hiểu về nội dung cũng như phong cách nghệ thuậttrong các tác phẩm văn xuôi của Bình Nguyên Trang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ở đề tài này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là đặc điểm văn xuôi của
Bình Nguyên Trang trên hai phương diện đặc điểm về nội dung và nghệthuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài xem xét các đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong bao gồm 2
tập truyện ngắn: Chuyến tàu thời gian (NXB Văn học năm 2000); Mùa đom
đóm mở hội (NXB Văn học năm 2012) và tập tản văn Hoa gạo cuối trời (NXB
Phụ nữ năm 2016)
Trang 194.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 20Thứ nhất, tìm hiểu về đặc trưng thể loại, cụ thể là đặc điểm của hai thểloại truyện ngắn và tản văn Tìm hiểu về tác giả Bình Nguyên Trang nói chung
và hành trình sáng tác cũng như quan niệm văn chương của chị
Thứ hai, tìm hiểu về phương diện nội dung các tác phẩm văn xuôi củaBình Nguyên Trang
Thứ ba, tìm hiểu về phương diện nghệ thuật các tác phẩm văn xuôi củaBình Nguyên Trang
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược triển khai đề tài theo 3 chương chính:
Trang 211 Về lý luận: Luận văn mong muốn đóng góp vào lý luận về thể loại vănhọc, phong cách của tác giả, góp phần làm giàu lý luận văn học.
2 Về thực tiễn: Kết quả của luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ việcnghiên cứu, giảng dạy, học tập văn học đương đại của giảng viên và sinh viêntại các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng
Trang 22Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Các vấn đề thể loại
1.1.1 Truyện ngắn và các đặc điểm của truyện ngắn
1.1.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyện ngắn Trong cuốn 150
thuật ngữ văn học, truyện ngắn được xác định là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập đến hầu hết các phương diện đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền mạch không nghĩ” [2;tr16] Từ điển thuật ngữ văn học lại cũng
giải thích “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ; truyện ngắn khác với
truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” [36;tr14].
Các định nghĩa trên bổ sung cho nhau để làm nổi bật rõ những đặc trưng cơbản nhất của truyện ngắn Theo đó, trong luận văn này, người viết đi theokhái niệm của Từ điển văn học để triển khai các chương 2 và 3
1.1.1.2 Đặc trưng của truyện ngắn
Trước hết, truyện ngắn có dung lượng nhỏ nhưng lại có sức chứa, sức
mở lớn “Sở dĩ truyện ngắn ngắn, sở dĩ người ta có thể viết ngắn là vì người
ta đã biết quá nhiều Nhiều đến mức có thể tước bỏ tất cả những gì phù phiếm, không cốt lõi, không quan trọng Phải có rất nhiều nguyên liệu thì mới có thể chưng cất Truyện ngắn vì nó là tác phẩm nghệ thuật chưng cất, chứ không phải là nguyên liệu thô” [10;tr16] Tuy nhiên, “dung lượng truyện ngắn hiện nay rất lớn, trong độ ba trang mấy nghìn chữ mà rõ mặt cuộc
Trang 24người, một thời đại…Các truyện ngắn bây giờ rất nặng, dung lượng của nó
là dung lượng của cả một cuốn tiểu thuyết, bởi vì cái đặc sắc của thể loại buộc nó phải dồn nén lại, cho đến sắc lịm, nhọn hoắt Như vậy dung lượng hay chất
lượng nghệ thuật của truyện ngắn bình đẳng với tiểu thuyết” [10;tr16].
Truyện ngắn thường có độ dài chỉ từ vài dòng đến vài chục trang, được kểbằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tch hơn các câu truyện dài nhưtiểu thuyết Truyện ngắn là tiếng nói nhanh nhạy nhất, phản ánh thời sự cácvấn đề nóng hổi của thời đại, con người một cách chính xác Vì là một thểloại năng động nên truyện ngắn hiện nay mang trong mình nhiều dấu hiệukhông ổn định, cách xây dựng truyện ngắn hiện nay uyển chuyển đa dạnghơn, xu hướng tự nới mở, không ngừng cách tân trong cách thức diễn đạt,khiến truyện ngắn linh hoạt hơn Đây cũng chỉ là những khả năng, đặc điểmmang tnh bản thể của thể loại truyện ngắn Truyện ngắn đã tạo cho bảnthân thể loại những giá trị riêng biệt Mỗi truyện ngắn gây một ấn tượng sâuđậm về cuộc đời và tình
người, nói như D Boulanger là: “Đánh thức và cuốn hút cả năm giác quan
của người đọc” Tạo được ấn tượng nổi bật nhất và những chiều sâu chưa
nói hết, đó chính là điều khiến truyện ngắn luôn hấp dẫn bạn đọc
Truyện ngắn phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó, qua conngười, hành vi, sự kiện được miêu tả và được kể lại bởi người kể chuyện(trần thuật) nào đó Cốt truyện với một chuỗi các tình tiết, sự kiện, biến cốxảy ra liên tiếp tạo nên sự vận động của hiện thực được phản ánh, góp phầnkhắc họa tính cách nhân vật, số phận từng cá nhân Nhà văn Ma Văn Kháng
đã ý thức rõ về điều này: “Vấn đề là anh tổ chức sao cho truyện ngắn của
anh thành một lát cắt gọn ghẽ Như người ta vẫn nói, không xô đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết nào” [10;tr17] Nhà văn Nguyễn Minh Châu
Trang 25truyện ngắn là cái mặt cắt
Trang 26của dòng đời Vì thế mà cũng như kịch ngắn, truyện ngắn đòi hỏi ở người viết một công việc tổ chức và cấu trúc truyện hết sức nghiêm ngặt Quả thực
có một thứ kỹ thuật tnh xảo – kĩ thuật viết truyện ngắn Nó cũng giống như
kĩ thuật của người làm pháo, dồn nén tư tưởng vào trong một cốt truyện thật ngắn gọn, thật tự nhiên” [10;tr17] Kết cấu của truyện ngắn không chia
thể đi sâu vào tâm trạng con người, những cảnh đời cụ thể “Trong một tác
phẩm nếu là truyện ngắn, do lệ thuộc vào số trang eo hẹp, cốt truyện tập trung, sự kiện dồn dập, đường dây chặt chẽ, cho nên số lượng phân phối nhân vật cũng không phải nhiều” [10;tr17] Paul Bourget - nhà văn và nhà
phê bình Pháp thế kỷ 20 nhận định về thể loại trên: "Phong cách của truyện
ngắn và của tiểu thuyết rất khác nhau Phong cách của truyện ngắn là thuộc
về tình tiết Cái tình tiết mà truyện ngắn dự định diễn tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập nó lại Các tình tiết mà cả dãy đã làm nên đối tượng của tểu thuyết, tiểu thuyết đã làm ngưng kết chúng, nối chúng lại với nhau Tiểu thuyết tiến hành thông qua các triển khai, còn truyện ngắn thông qua
sự tập trung Truyện ngắn là độc tấu Tiểu thuyết là giao hưởng" [10;tr17].
Truyện ngắn ít nhân vật, nhà văn không thể miêu tả quá trình pháttriển tính cách của nhân vật từ trưởng thành, biến đổi, đấu tranh hay dằnvặt như trong tiểu thuyết, mà chỉ đi sâu vào một vài khía cạnh, một thờiđiểm trong cuộc đời nhân vật Dù không được khắc họa rõ về ngoại hình, lýlịch nhưng
người ta vẫn hình dung được gương mặt tinh thần tương đối trọn vẹn của
Trang 27Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật củatruyện ngắn là
Trang 28một mảnh nhỏ của thế giới Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tớiviệc khắc họa những tnh cách điển hình, nhiều mặt trong tương quan vớihoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một quan hệ
xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Cốt truyện củatruyện ngắn
thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó
là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người
Truyện ngắn sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ khác nhau Ngoài ngônngữ người kể chuyện còn có ngôn ngữ nhân vật Bên cạnh lời đối đáp còn cólời độc thoại nội tâm Lời kể khi thì ở bên ngoài khi thì nhập tâm vào nhânvật Ngôn ngữ kể chuyện gần với ngôn ngữ đời sống
Tóm lại, truyện ngắn đem đến cho chúng ta bức tranh tập trung mô tảmột mảnh của cuộc sống Tuy dung lượng nhỏ nhưng thông qua những biến
cố của đời sống nhân vật, nhà văn đã thể hiện những khía cạnh đáng quantâm của đời sống xã hội Vì thế, truyện ngắn có sức hấp dẫn riêng và ngàycàng có vị trí quan trọng trong văn học hiện đại
1.1.2 Tản văn và các đặc điểm của tản văn
1.1.2.1 Khái niệm tản văn
Tản văn là thể loại văn học “chú trọng việc ghi lại những gì đã trải qua,
đã cảm thấy, thể nghiệm liên tưởng của cái tôi hoặc ghi lại những câu chuyện, những trạng thái cảnh vật hoặc trữ tnh hoài niệm Đây là thể loại tác phẩm văn học giàu tính trữ tnh, rộng rãi về đề tài, tnh túy về nội dung, khuôn khổ tương đối nhỏ” [36;tr391] Tác giả còn có thể dựa vào nội dung
cần viết mà tự do điều chỉnh, biến hóa tùy ý Tất cả những điều chừng nhưtủn mủn đều có thể là cái cớ cho một tản văn ra đời, ví dụ: một sự việcxảy ra trong gia đình, một âm thanh vang lên cuối phố,…Những điều đó hòa
Trang 30sức cảm, sức nghĩ, độ rộng và chiều sâu trong trường liên tưởng của ngườiviết để tạo ra tản văn Tản văn còn là thể loại coi trọng tnh phải chân thực.Tản văn cũng có ngôn ngữ mới mẻ, thủ pháp biểu hiện linh hoạt, văn phongsáng sủa, cách viết không câu nệ, có thể trần thuật lại diễn biến sự việc,cũng có thể miêu tả hình tượng nhân vật, có thể mượn vật gửi gắm tìnhcảm, phát biểu quan điểm.
1.1.2.2 Đặc trưng của tản văn
Tính tự do là một đặc trưng của tản văn Nhiều khi người đọc có cảmgiác đọc tản văn như đọc các chi tiết tản mạn Tuy nhiên, đó là cái tảnmạn có logic, không phải là lộn xộn, thiếu trật tự, không có tnh vănchương Trong cái tản mạn vẫn có nguồn cảm xúc, tư tưởng chủ đạo xuyênsuốt Những điều mà tản văn viết dường như vô cùng tản mạn, nhưngthực ra lại rất thống nhất về chủ đề, tnh cảm, tư tưởng (mặc dù tản mạn vềtài liệu, hình thức, thủ pháp…)
Tản văn thể hiện sự tự do, phóng túng ngay từ trong việc chọn đề tài
Đó là các đề tài khá nhỏ, mang tính đời thường mà ít người để ý Rồi tới bốcục kết cấu, tản văn cũng không cần một quy tắc chuẩn mực như văn nghịluận thông
thường hay cách viết sáng tạo, gây tò mò như truyện Tản văn cứ nhẹ nhàng,thong dong đi hết ý tưởng của tác giả mà không cần bố cục nào rõ ràng Nó
có lúc gần lúc xa, lúc trước lúc sau Tác giả đã căn cứ vào ý đồ sáng tác củamình và nhu cầu biểu hiện để tổ chức trật tự ý tứ cho bài Ở đó, ta thấy hiệnthực và lịch sử, tự nhiên và xã hội có sự giao thoa, triết lí và cuộc sống hằngngày có sự giao thoa, thậm chí trên trời dưới đất, trần gian tiên giới đều cóthể liên kết vào một điểm Hay việc vận dụng thủ pháp biểu hiện đều ít cótính quy phạm, cách thức, hạn chế, tất cả đều lấy cảm nhận và lấy tác giả làm
Trang 31văn linh hoạt có giao
Trang 32thoa với các thể loại khác, như thơ, truyện, nghị luận,…Tùy đề tài, phong cáchviết, tản văn sẽ nó tự học theo các thể loại khác, đưa hơi hướng của các thểloại đó vào tác phẩm Chúng ta có thể dễ dàng gặp những đoạn tản văn lạitrữ tình như thơ, có cao trào như kịch hay sinh động như tiểu thuyết.
Tính đa dạng cũng là một trong những đặc trưng của tản văn Đầu tiên,
nó thể hiện qua đề tài Đề tài của tản văn đặc biệt rộng lớn, vượt qua tất cả
các thể loại văn học khác, do đó người ta gọi tản văn là “viện bảo tàng của
cuộc sống” [6] Lịch sử, hiện tại, tương lai, tự nhiên, xã hội, sự kiện, cảnh vật,
tình cảm,…có thể được đưa vào tản văn và trở thành đề tài đầy hấp dẫn củatản văn Tiếp theo, nó thể hiện qua tư tưởng của nhà văn Một bài tản văn lại
có thể bao hàm triết lí sâu sắc như văn nghị luận, cũng có thể dạt dào cảmxúc như thơ Hay nó vừa nói lên cái tôi cá nhân của tác giả vừa lấy tinhthần thời đại, xu
hướng thẩm mĩ mới để đưa ra tư tưởng Ngay trong thể loại nhỏ, tản văncũng rất phong phú đa dạng Ta có thể chia thành nhiều tiểu loại nhỏ Hiệngiờ, căn cứ vào đối tượng và hình thức thể hiện để chia tản văn thành cáctiểu loại: tản văn tự sự, tản văn trữ tình, tản văn nghị luận
Thứ nhất là tản văn tự sự Tiểu loại này lấy sự kiện, nhân vật, cảnh vậtlàm nội dung biểu đạt chủ yếu, lấy sự trần thuật miêu tả làm phương thứcbiểu đạt Vì thế, nó khá gần với kí, tùy bút Song việc kể việc, ghi người, tảcảnh vẫn có nét riêng Kể chuyện trong tản văn là trần thuật một số phiếnđoạn của sự kiện; ghi người chỉ là ghi mặt quan trọng của nhân vật, tả cảnhchỉ là tả một số phương diện nào đó của cảnh vật; hơn nữa, những sự việc,con người, cảnh vật này đại đa số chỉ là những sự việc, con người, cảnh vật
mà tác giả đã tiếp xúc qua, tác giả thường lấy chính tâm tư của bản thân làmsợi dây liên kết những sự kiện, những mặt nào đó của nhân vật, phương
Trang 34miêu tả thường là vận dụng phác họa Rõ ràng, ngôn ngữ không nhiều là biểuhiện của đặc trưng gợi trong tản văn Tác giả chỉ vẽ ra tình trạng của sự kiện,thần thái của nhân vật, đặc sắc của cảnh vật Tản văn tự sự lại chia thành: tảnvăn kí sự, tản văn ghi người, tản văn tả cảnh.
Thứ hai là tản văn trữ tình Tiểu loại này lấy sự bộc lộ tư tưởng, tình cảmcủa tác giả làm chủ đạo với tiêu chí: một bài tản văn trữ tình hay phải lấytâm tư của tác giả làm sợi dây sắp đặt kết cấu Vì thế, tnh chủ quan của nóđặc biệt mãnh liệt Ở đây, tản văn trữ tình và thơ trữ tình có điểm giốngnhau, nhưng tản văn trữ tình khác với thơ trữ tình ở chỗ không trực tiếp bộc
lộ nỗi lòng mà phần nhiều là sự việc sinh tình cảm, mượn cảnh nói tình Trữtnh đã chỉ ra nội dung chủ yếu của nó là tình cảm, đồng thời cũng chỉ ra thủ
pháp biểu hiện chủ yếu của nó là trữ tình “Tình” trong tản văn trữ tnh
chiếm vị trí quan trọng lấy vật để nói chí, “tình” của nó phải có cái dựa vào, tình thấm vào trong cảnh và vật rồi bộc lộ ra, tình cảm chủ quan và cảnh vật khách quan nhập vào làm một” [6] Tình cảm trong tản văn trữ tình không
tập trung như thơ trữ tình, nó
thường là sự trải rộng của tư tưởng tình cảm trong một tổ chức, sắp xếp hếtsức công phu của tài liệu Ngôn ngữ tản văn khác ngôn ngữ thơ trữ tình làđiều rõ ràng
Thứ ba là tản văn nghị luận Tản văn nghị luận lấy việc nói rõ đạo lí làmnội dung chủ yếu, lấy nghị luận làm thủ pháp biểu hiện cơ bản; bám chắc vào
sự kiện, nhân vật có ý nghĩa điển hình phong phú trong đời sống Điểm hấpdẫn của tản văn này là những tư tưởng của nhà văn và những tư tưởng, kiếngiải ấy phải đi cùng cơ sở lập luận sắc bén, thuyết phục Trong ba tiểu loại tảnvăn, tản văn nghị luận có cách viết rõ ràng, có khuynh hướng tư tưởng rõràng và sắc
Trang 35thái tình cảm mãnh liệt nhất Mục tiêu của nó là giúp người đọc hiểu và tin tưtưởng ấy Tản văn nghị luận gồm tạp văn, văn tiểu phẩm, tùy bút.
Đặc trưng tiếp theo của tản văn là sự bộc lộ tâm tư, tình cảm Nhà vănchỉ có thể sáng tác khi có cảm xúc, giúp bộc lộ những gì nhà văn tự mình trảiqua, tự mình cảm thấy Nếu so sánh với các thể loại tự sự khác, ta sẽ thấyngay điểm khác biệt Các thể loại khác viết về những sự việc của người khác,cái ngoài bản thân thì tản văn lại là viết về những sự việc chính mình, là sựviệc trong tm của tác giả Vì vậy, đọc truyện có thể hiểu ngay nhưng tản vănlại không cảm nhận dễ dàng, nếu ta không cùng chung “tần số cảm xúc” với
tác giả “Tản văn chính là sự biểu lộ ra một cách linh hoạt, nên tính chân thực
là sinh mệnh, xác thực là linh hồn, chân thành là căn bản của tản văn” [6].
Tản văn muốn dựa vào tình cảm chân thành, trải nghiệm của tác giả trongcuộc sống và kinh nghiệm nghệ thuật tương đương để sáng tác
Về mặt ngôn ngữ, ta thấy tản văn có ngôn ngữ tự nhiên, tươi mới, gọngàng, bóng bẩy và khá tự do Nó không yêu cầu niêm luật chặt chẽ như thơ
mà trải dài, ứng biến theo cảm xúc Nội dung tự do, giàu cảm xúc của tản vănđương nhiên sẽ ăn hợp với ngôn ngữ vừa đẹp vừa phóng khoáng Đề tài củatản văn là những điều bên ngoài mà tác giả tự mình nhìn thấy, nghe thấy, suyngẫm nên ngôn ngữ cũng phải phản ánh rõ phong cách của từng nhà văn Cónhà văn đưa đến lối viết sinh động như cuộc sống, truyền đạt âm thanh phảigiống hệt; có người lại thích đưa vào tình cảm thiết tha, tế nhị; có người thíchlối nghị luận phải vừa trang trọng, có người ưa cách viết hài hước, thú vị Tuy nhiên, dù phong cách gì thì đó đều là những lối viết không cần kiểu cáchmất tự nhiên, không cần che đậy, mà là những cảm hứng sáng tạo phá vỡnhững lối mòn
1.2 Văn xuôi Bình Nguyên Trang trong diện mạo chung của văn xuôi nữ
Trang 36Việt Nam đương đại
Trang 371.2.1 Khái quát văn xuôi nữ Việt Nam đương đại
Nhắc đến văn xuôi đương đại có nghĩa là nói đến giai đoạn văn học từ năm
1986 đến nay Có thể nói đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự phát triểncủa nền văn học nước ta trên cả hai phương diện nội dung và hình thức Vănxuôi thời kì đổi mới, đã phản ánh chân thực những vấn đề mà nhà văn trăntrở, đi sâu phản ánh cuộc sống của con người, những cảm hứng thế sự, đời
tư được các nhà văn khai thác và thể hiện triệt để trong các tác phẩm củamình Thời kì này, có thể kể đến một số cái tên tiêu biểu như: Nguyễn Khải,
Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Tiếp đến là một số nhà văn: NguyễnBình Phương, Chu Lai, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh,… Càng về sau này, cáccây bút văn xuôi càng tỏ ra nhạy bén trong việc phản ánh cuộc sống muônmàu muôn vẻ Đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn văn học mới cũng nhưyêu cầu của độc giả
Trong những giai đoạn trước của văn học Việt Nam, các cây bút nữ khôngchiếm ưu thế Phải đến những năm 60 của thế kỉ XX, một số nhà văn nữ mớikhẳng định được vị thế của mình trên diễn đàn văn học nước ta Sau năm
1975, đặc biệt là sau năm 1986, nền văn học Việt Nam đương đại nổi lênmột mảng văn học nữ với một sức sống mới mẻ, một cách nhìn rất sâu sắc
về hiện thực của cuộc sống,… Tất cả tạo nên một diện mạo mới cho nền vănhọc nước ta Tiếng nói của các nhà văn nữ trong văn học khiến độc giả phảinghĩ khác về một bộ phận văn học nữ Không còn đi bên lề, văn xuôi nữ dầnchiếm số lượng lớn, sóng đôi với văn xuôi của các nhà văn nam giới, cùnglàm nên một diện mạo nói chung của văn xuôi đương đại nước ta Đến đầuthập niên 90 của thế kỉ XX, văn đàn Việt Nam xôn xao bởi sự xuất hiện củanhiều nhà văn nữ mới Phạm Thị Hoài gây ấn tượng với độc giả bằng một loạtnhững tác phẩm Năm
Trang 381988, cuốn tiểu thuyết Thiên sứ ra đời, sau đó đã được dịch sang nhiều thứ
tếng
khác nhau như: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức,… Năm 1993, cuốn tiểu
Trang 39thuyết Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải thưởng "Tiểu thuyết nước ngoài
hay nhất" của tổ chức Frankfurter LiBeraturpreis tại Đức Năm 2000, cuốn
tiểu thuyết Thiên sứ với bản dịch bằng Tiếng Anh đã giành giải Dinny O'Hearn
cho thể loại văn học Sau đó là một loạt truyện ngắn: Mê Lộ (1989) và ManNương (1995), Marie Sến (1996),… cũng để lại nhiều dấu ấn sâu sắc cho độc
giả Nhà văn Y Ban khẳng định tên tuổi của mình với tập truyện ngắn Người
đàn bà có ma lực(1993), Đàn bà xấu thì không có quà(2004), I am Đàn bà(2006)… Nguyễn Thị Thu Huệ là một cái tên quen thuộc với độc giả Việt
Nam có số
lượng tác phẩm khá lớn với mỗi năm mỗi tập truyện ngắn: Cát đợi(1992) ,
Hậu thiên đường(1994), Phù thủy(1997), Nào ta cùng lãng quên (2003) và
gần đây là Thành phố đi vắng (2012),… Chị là một trong số những nữ nhà
văn được độc giả yêu thích và gặt hái được rất nhiều giải thưởng quan trọng,hiện nay chị là Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội
Ngoài những cái tên kể trên, còn phải nhắc đến những cái tên như Lý Lan,
Dạ Ngân, Bích Ngân,Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thanh Hà, Phan Thị Vàng Anh, cùng tạo dấu ấn khi còn khá trẻ với nhiều tác phẩm giá trị ở thậpniên 90 của thế kỉ XX Một số nhà văn nữ đã đưa tên tuổi của mình ra
văn đàn thế giới Tiêu biểu là nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư với tác phẩm gây
nhiều tranh cãi Cánh đồng bất tận(2005) đã được trao Giải thưởng Văn học
ASEAN (2008), là nhà văn nữ duy nhất trong số 17 nhà văn được giải thưởng
Trang 40của con người Những điều ấy được các nhà văn nữ trải lòng qua những tác
phẩm I am đàn bà,