1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THẢO LUẬN môn LUẬT THƯƠNG mại QUỐC

12 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 178,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu quốc gia có thẩm quyền điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá có thể áp dụng mức thuế chống bán phá giá cao hơn biên độ bán phá giá

Trang 1

MÔN HỌC: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ GIẢNG VIÊN: NGUYỄN XUÂN MỸ HIỀN

LỚP: 95-QTKD43A(2)

NHÓM 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2

1 Nguyễn Nhật Hoàng 1853401010044

Trang 2

3 Trần Thị Ngọc Lan 1853401010074

5 Dương Hoàng Minh 1853401010086

THẢO LUẬN CHƯƠNG IV VÀ V

I) Nhận định

1 Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu (quốc gia có thẩm quyền điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá) có thể áp dụng mức thuế chống bán phá giá cao hơn biên độ bán phá giá của sản phẩm bị điều tra Trả lời:

− Nhận định này là: Sai

− Cơ sở pháp lý: Điều VI.2 Hiệp định GATT 1994 Và điều IX.3 ADA

− Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu có thể đánh vào bất cứ sản phẩm nào được bán phá một khoản thuế chống bán phá giá không lớn hơn biên độ bán phá giá của sản phẩm bị điều tra

2 Bất kì sự tăng thuế hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng hóa của các quốc gia thành viên WTO vào quốc gia mình đều là sự vi phạm nghĩa vụ của WTO.

Trả lời:

- WTO cho phép biện pháp tự vệ thương mại

− Nhận định này là: Sai

− Cơ sở pháp lý: Điều XIX.1 Hiệp định GATT 1994 Hoặc điều V hiệp định SA

Trang 3

− Việc tăng thuế hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng hóa của quốc gia thành WTO vào quốc gia mình sẽ không vi phạm nghĩa vụ WTO nếu đó là hành vi tự vệ thương mại

3 Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu (quốc gia có thẩm quyền điều tra áp dụng các biện pháp chống bán phá giá) có thể áp dụng mức thuế đối kháng cao hơn biên độ trợ cấp của sản phẩm bị điều tra.

Trả lời:

− Nhận định này là: Sai

− Cơ sở pháp lý: Điều 19.2 và 19.3 SCM hoặc Điều VI hiệp định GATT

− Mức thuế chống trợ cấp được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài và không cao hơn biên độ trợ cấp xác định cho họ

4 Các quốc gia không phải là thành viên WTO thì không thể bị áp thuế chống bán bán phá giá hay thuế đối kháng.

Trả lời:

- Không thể cùng lúc áp thuế chống bán phá giá và trợ cấp đối kháng Điều VI.5 GATT

− Nhận định này là: Sai

− Cơ sở pháp lý: Điều VI hiệp định GATT 1994 và Điều 1 ADA

− Nhận định trên sai vì căn cứ vào Điều 1 của Hiệp định ADA “Một biện pháp chống phá giá chỉ được áp dụng trong trường hợp được quy định tại Điều VI của GATT 1994 và phải tuân theo các thủ tục điều tra được bắt đầu và tiến hành theo đúng các qui định của Hiệp định này Các quy định sau đây điều tiết việc áp dụng Điều VI của GATT 1994 khi có một hành động được thực thi theo luật hoặc các quy định về chống bán phá giá” Và Khoản 1 Điều VI GATT 1994 “các bên ký kết nhận thấy rằng bán phá giá, tức là việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm, phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt

Trang 4

hại đáng kể cho một ngành sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết hay thực sự làm chậm trễ sự thành lập một ngành sản xuất trong nước Nhằm vận dụng điều khoản này, một sản phẩm được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó nếu giá xuất khẩu của sản phẩm từ một nước này sang nước khác” Như vậy theo Điều VI của hiệp định GATT thì các nước ký kết GATT 1994 sẽ được áp dụng các biện pháp chống bán phá giá trong đó có thuế chống bán phá giá (thuế đối kháng) khi có đủ các điều kiện quy định theo Luật chứ không yêu cầu phải bắt buộc là thành viên WTO Và quốc gia nào vi phạm các quy định trên thì có thể bị áp dụng biện pháp đối kháng chứ không nhất thiết phải là thành viên của WTO

5 Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm là cơ quan giải quyết tranh chấp thường trực trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.

Trả lời:

- Ban hội thẩm là cơ quan thành lập theo vụ việc

− Nhận định này là: Sai

− Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 17 DSU và khoản 1 Điều 6 DSU

− Chỉ có Cơ quan Phúc thẩm (SAB) mới là cơ quan giải quyết tranh chấp thường trực trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Vì cơ quan giải quyết tranh chấp thường trực phải do cơ quan giải quyết tranh chấp DSB thành lập; Có 7 người, mỗi một vụ việc do 3 người xét xử và làm việc luân phiên (khoản 1 Điều 17 SDU); Có nhiệm kỳ 4 năm (khoản 2 Điều 17 SDU) Còn Ban Hội thẩm chỉ được thành lập khi có yêu cầu từ bên nguyên đơn (khoản 1 Điều 6 DSU) Nên không được xem là

cơ quan giải quyết tranh chấp thường trực trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

6 Thành viên Ban Hội thẩm không được mang quốc tịch của các các bên tranh chấp.

Trả lời:

Trang 5

− Nhận định này là: Sai

− Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 8 DSU Trừ khi tranh chấp có thỏa thuận khác

− Các thành viên Ban Hội thẩm được lựa chọn trong số các quan chức chính phủ hoặc các chuyên gia phi chính phủ không có quốc tịch của một Bên tranh chấp hoặc của một nước cùng là thành viên trong một Liên minh thuế quan hoặc Thị trường chung với một trong các nước tranh chấp (ví dụ: Liên minh Châu Âu) Công dân của Thành viên là các bên tranh chấp hoặc là bên thứ 3 không được tham gia và ban hội thẩm có lên quan Ban hoạt động độc lập, không chịu sự giám sát của bất kỳ quốc gia nào

7 Trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, tất cả các vấn đề sẽ được xem xét thông qua trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận – nghịch (negative consensus).

Trả lời:

- Đồng thuận-nghịch:

+ Quyết định thành lập ban hội thẩm điều VI.1 DSU

+ Điều 16.4 DSU

+ Điều 17.14 DSU

+ Điều 22.6 trả đũa thương mại

− Nhận định này là: Sai

− Cơ sở pháp lý: Khoản 4 Điều 2 DSU

− Tùy vào quy tắc và thủ tục của thỏa thuận DSU, nếu quy định Cơ quan giải quyết tranh chấp ra quyết định thì Cơ quan giải quyết tranh chấp phải ra quyết định dựa trên cơ sở đồng thuận

II) Câu hỏi

1 Tại sao nói biê ̣n pháp tự vê ̣ thương mại là một ngoại lệ của hệ thống thương mại WTO? Về mă ̣t bản chất tự vê ̣ thương mại có giống các biê ̣n pháp

Trang 6

khắc phục thương mại còn lại của WTO (biện pháp đối kháng với hành vi trợ cấp, biện pháp chống lại hành vi bán phá giá) hay không?

Trả lời:

 Cơ sở pháp lý: Điều XIX GATT 1994

 Nói biê ̣n pháp tự vê ̣ thương mại là một ngoại lệ của hệ thống thương mại WTO vì:

- Ngoại lệ của nguyên tắc tự do hóa thương mại

- Phòng vệ thương mại bao gồm: chống bán phá giá, chống trợ cấp và biện

pháp tự vệ thương mại

− Các biện pháp phòng vệ thương mại là những biện pháp mà các quốc gia thành viên WTO được phép áp dụng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước những thiệt hại và trong những điều kiện nhất định mà không ảnh hưởng tới nghĩa vụ thương mại và những cam kết m bhbdr0073fgbvtrgxfgbvtrgx4fgtrüxcxfở cửa thị trường của quốc gia

− Do quá trình tự do hóa thương mại và mở cửa thị trường các quốc gia cơ thể đối mặt với nhiều tính huống biến động gây ảnh hưởng tiêu cực đến cơ cấu giá của hàng hóa trên thị trường, đến môi trường cạnh tranh hoặc đến sự phát triển của các ngành công nghiệp nội địa do hậu quả của hoạt động thương mại Các quốc gia thành viên thừa nhận rằng cần phải có những công cụ pháp lý cần thiết để ngăn chặn và/hoặc khắc phục hậu quả ảnh hưởng của các tình huống biến động này

 Về mă ̣t bản chất tự vê ̣ thương mại giống với các biê ̣n pháp khắc phục thương mại còn lại của WTO (biện pháp đối kháng với hành vi trợ cấp, biện pháp chống lại hành vi bán phá giá):

Trang 7

− Đều là biện pháp phòng vệ thương mại, là những thủ tục pháp lý cho phép các quốc gia thực hiện những biện pháp hạn chế nhập khẩu tạm thời mà không ảnh hưởng tới những cam kết mở cửa thị trường của mình

− Mục đích: Để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước những thiệt hại và trong những điều kiện nhất định mà không ảnh hưởng tới nghĩa vụ thương mại và cam kết mở cửa thị trường của quốc gia

− Đối tượng: Là các sản phẩm hàng hóa nhập khẩu

2 Trình bày về vấn đề xác định bán phá giá đối với những quốc gia có nền kinh tế phi thị trường trong WTO Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam buộc phải chấp nhận việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong vòng 12 năm sẽ gây trở ngại gì cho Việt Nam trong những trường hợp bị điều tra chống bán phá giá.

Trả lời:

− Theo Hiệp định Chống bán phá giá của WTO, một sản phẩm bị coi là bán phá giá khi sản phẩm đó được đưa vào lưu thông thương mại của một nước với giá thấp hơn giá thông thường của sản phẩm đó nếu giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường Việc áp thuế chống bán phá giá đối với một mặt hàng nhập khẩu bị coi là phá giá tại một thị trường tuỳ thuộc vào biên độ phá giá của hàng hoá đó

− Hiệp định Chống bán phá giá quy định, việc xác định biên độ phá giá thông thường sẽ được tính dựa trên cơ sở so sánh giữa giá trị bình quân gia quyền giá trị thông thường với giá bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể

so sánh được (W-W) hoặc thông qua so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở từng giao dịch

Trang 8

− Đối với các quốc gia có nền kinh tế phi thị trường Biên độ bán phá giá sẽ được xác định thông qua so sánh với mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang một nước thức 3 thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện hoặc được xác định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nướ xuất xứ hàng hóa cộng them một khoản hợp lý chi phí quản trị, bán hàng, các chi phí chung và một khoản lợi nhuận

Bất lợi của Việt Nam:

− Nguy cơ bị tính toán bất lợi trong điều tra áp thuế chống bán phá giá và tác động đến tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam Do Việt Nam vẫn bị nhiều nước đối tác coi là nước có nền kinh tế phi thị trường, nên trong các vụ việc điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá, cơ quan điều tra sẽ sử dụng phương pháp dùng dữ liệu của nước thay thế (surrogate country) có nền kinh tế thị trường

để tính mức thuế chống bán phá giá cho nền kinh tế phi thị trường Cách tính toán này không phản ánh giá trị thực của hàng hóa bị điều tra và làm thổi phồng biên độ phá giá, dẫn đến thuế chống bán phá giá cao hơn so với giá thực tế Vì vậy Việt Nam luôn ở vào thế bất lợi và gặp nhiều khó khăn khi kháng kiện các vụ việc chống bán phá giá Trong nhiều vụ việc, hàng hóa của Việt Nam bị đánh thuế chống bán phá giá rất với mức thuế chống bán phá giá “hủy diệt” lên đến vài trăm phần trăm, đặc biệt trong các vụ điều tra áp thuế của Hoa Kỳ

− Gia tăng nguy cơ đánh trùng thuế (double counting) Cụ thể, trong thực tiễn điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá của Hoa Kỳ cũng như EU, DOC hay

EC đã sử dụng nước thay thế Với phương pháp sử dụng số liệu nước thay thế này, chi phí sản xuất và giá nội địa của nền kinh tế phi thị trường cũng đã bị loại bỏ và được thay thế bởi chi phí và giá nội địa của nước thay thế mà có nền kinh tế thị trường Như vậy, trừ phi cơ quan điều tra đã điều chỉnh giá trị thông thường để

Trang 9

phản ánh tác động của trợ cấp nội địa của nước phi thị trường bị điều tra, cơ quan điều tra sẽ so sánh giữa giá trị thông thường cao hơn so với mức giá xuất khẩu

III) Bài tập

1 Quốc gia A gia nhập WTO vào năm 2006 với cam kết thuế giảm thuế nhập khẩu đối với nông sản trung bình từ mức đang áp dụng là 80% nhưng cam kết giảm xuống ở mức 25% kể từ sau năm 2006

Sau nửa năm tại quốc gia này xảy ra tình trạng nông sản ngoại nhập chiếm lĩnh thị trường nội địa Trong đó chủ yếu là nông sản có xuất xứ từ quốc gia B

và quốc gia C.

Anh chị Hãy tư vấn cho quốc gia A những biện pháp pháp lý cụ thể để khắc phục tình trạng trên theo quy định của WTO.

Trả lời: Vì tình trạng nông sản ngoại nhập của quốc gia B và quốc gia C chiếm

lĩnh thị trường nội địa làm ảnh hưởng đến sự cạnh tranh trực tiếp với mặt hàng nông sản tại quốc gia B nên quốc gia A có thể áp dụng biện pháp tự vệ thương mại

Cơ sở pháp lý: Điều XIX GATT 1994

a Trình bày về trợ cấp theo quy định của WTO, trình bày về các loại trợ cấp theo quy định của hiê ̣p định SCM Sự phân loại này có ý nghĩa gì?

Trả lời: Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà

nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các

hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất:

1 Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay);

2 Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng);

3 Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung);

4 Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm

Trang 10

Các khoản hỗ trợ này được hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại…bình thường sẽ không khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường)

Hiệp định này quy định 3 loại trợ cấp.

− Thứ nhất là Trợ cấp bị cấm gồm những khoản trợ cấp sau: khối lượng trợ cấp, theo luật hoặc trong thực tế, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả xuất khẩu; khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại Trợ cấp bị cấm là đối tượng của những vụ kiện giải quyết tranh chấp Điểm nổi bật là lịch trình giải quyết của Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (DSB) nhanh gọn, và nếu cơ quan này nhận thấy rằng khoản trợ cấp này là trợ cấp

bị cấm, ngay lập tức phải thu hồi lệnh trợ cấp Nếu phán quyết không được thực hiện trong thời gian quy định, thành viên khiếu nại được quyền áp dụng các biện pháp trả đũa

− Thứ hai là Trợ cấp có thể đối kháng Hiệp định quy định rằng không một Thành viên nào thông qua việc sử dụng trợ cấp gây ra tác động có hại đến quyền lợi của Thành viên khác, như gây tổn hại cho một ngành sản xuất nội địa của một Thành viên khác, làm vô hiệu hay gây phương hại đến những quyền lợi mà Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định GATT 1994 (đặc biệt

là những quyền lợi có được từ những ưu đãi thuế quan có ràng buộc), và gây tổn hại nghiêm trọng đối với lợi ích của Thành viên khác “Thiệt hại nghiêm trọng” sẽ được xem là tồn tại trong trường hợp tổng trị giá trợ cấp theo trị giá cho một sản phẩm vượt quá 5% Trong trường hợp này, bên trợ cấp có nghĩa vụ chứng minh rằng những khoản trợ cấp đó không gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với bên khiếu nại Những thành viên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi trợ cấp có thể đối

Trang 11

kháng có thể đưa tranh chấp này lên cơ quan giải quyết tranh chấp Trong trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra phán quyết có tồn tại tác động tiêu cực, bên trợ cấp phải thu hồi lại khoản trợ cấp hoặc xóa bỏ những tác động tiêu cực này

− Loại thứ 3 là Trợ cấp không thể đối kháng, có thể là trợ cấp không mang tính chất riêng biệt hoặc mang tính chất riêng biệt bao gồm hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu công nghiệp và hoạt động phát triển tiền cạnh tranh, hỗ trợ cho các vùng miền khó khăn, hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện có cho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp, hay các quy định đặt ra Nếu một thành viên cho rằng trợ cấp không thể đối kháng khác sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến ngành công nghiệp nội địa, thành viên

đó có thể yêu cầu đưa ra phán quyết và khuyến cáo về vấn đề này

b Năm 1998, A đệ trình văn bản lên cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) yêu cầu được tham vấn về việc B áp dụng biện pháp tăng thuế đối với sản phẩm X nhập khẩu từ A Trong đơn kiện của mình A cho rằng biện pháp của B (tăng thuế NK sản phẩm X từ 10% đến 35%) đã vi phạm cam kết của B về tự do hóa TM A và B đều là thành viên WTO.

(i) Biên pháp tăng thuế của B có phù hợp qui định của WTO không?

Trả lời:

- Vi phạm Điều II.1 GATT vi phạm nguyên tắc tự do hóa thương mại.

− Hành vi tăng thuế của B là không phù hợp với quy định của WTO

− Quốc gia B đã vi phạm MFN do tăng thuế đối với sản phẩm X từ A , như vậy

có sự phân biệt đối xử giữa A và các quốc gia khác là thành viên trong WTO

− Cơ sở pháp lý: Điều I Hiệp định GATT 1947

 Quốc gia B sẽ không vi phạm qui định của WTO nếu:

− Thuế mà bên B đưa ra là thuế chống bán phá giá, và giá trị không lớn hơn biên

độ phá giá (Điều VI – GATT 1947,1994 ; Hiệp định ADA)

Ngày đăng: 30/07/2021, 07:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w