Tầm quan trọng của hệ thống pháp lý đối với các doanh nghiệp quốc tếNền kinh tế ngày nay đang dần được toàn cầu hóa, nơi người tiêu dùng sửdụng hàng hóa được sản xuất ở một quốc gia và đ
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO NHÓM MÔN HỌC: KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2Tổng hợp
và chỉnh sửabáo cáoBùi Thị Kim Ngân 71802257 Thuyết trình
Huỳnh Ngọc Tuyền
Thiết kếPowerPoint
Lê Cẩm Hồng 71802221
Soạn nộidungchương 3Nguyễn Lan Vy 71800435 Thuyết trình
Trần Thị Mỹ Dung 71801326
Soạn nộidungchương 1Trần Thị Trang Thơ 71801373 Thuyết trình
Trang 3MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN 1
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LÝ 3
1.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LÝ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP QUỐC TẾ .3 1.2 ĐỊNH NGHĨA 7
1.3 ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG PHÁP LÝ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 7
CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 10
2.1 COMMON LAW: 10
2.1.1 Khái niệm 10
2.1.2 Lịch sử hình thành: 11
2.2 CIVIL LAW: 13
2.2.3 Khái niệm 13
2.2.4 Lịch sử hình thành: 14
2.3 THEOCRATIC LAW: 18
CHƯƠNG 3 HỢP ĐỒNG 20
3.1 HỢP ĐỒNG 20
3.1.1 Khái niệm 20
3.1.2 Hợp đồng kinh doanh quốc tế 20
3.2 LUẬT HỢP ĐỒNG 20
3.2.1 Khái niệm 20
3.2.2 Mô tả hợp đồng trong common law và civil law 21
3.3 CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 24
3.3.1 Giới thiệu chung 24
3.3.2 Nội dung cơ bản của Công ước Viên 1980 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LÝ1.1 Tầm quan trọng của hệ thống pháp lý đối với các doanh nghiệp quốc tế
Nền kinh tế ngày nay đang dần được toàn cầu hóa, nơi người tiêu dùng sửdụng hàng hóa được sản xuất ở một quốc gia và được đóng gói ở một quốc giakhác Trong quá trình tìm kiếm các nguồn cung ứng nguyên liệu thô cùng lao độnggiá rẻ, tài năng và thị trường tiêu thụ cho hàng hóa, các doanh nghiệp đã dần vươnkhỏi biên giới của các quốc gia và mở rộng tầm ảnh hưởng bản thân trên khắp thếgiới Tuy nhiên, các hoạt động thương mại diên ra trong môi trường quốc tế có sựkhác biệt rất lớn so với kinh doanh trong nước Trong khi kinh doanh ở các quốc giakhác nhau, người kinh doanh phải nhận thức rõ về văn hóa của đất nước, hành vicủa người dân, hệ thống pháp lý của đất nước, môi trường chính trị và điều kiệnkinh tế Việc hiểu rõ hệ thống pháp lý giúp các doanh nghiệp đa quốc gia hiểu đượcnhững quy định trong nước và ngoài nước cũng như những quy định của luật phápquốc tế từ đó đưa ra các quyết định khôn ngoan trên thương trường quốc tế để tránhnhững tổn thất hay rủi ro cho doanh nghiệp
Chẳng hạn trường hợp 480 tấn dưa hấu của Việt Nam xuất khẩu sangIndonesia bị trả lại cũng là do thiếu hiểu biết về quy định pháp lý đối với hàng hóatươi sống nhập khẩu vào Indonesia Hàng hóa tươi sống nhập khẩu vào Indonesiaphải có giấy chứng nhận của công ty giám định Thụy Sĩ (SGS) nhưng khi đưa dưahấu vào Indonesia thì công ty bên Việt Nam lại lấy chứng nhận của công ty giámđịnh Việt Nam Vinacontrol
Hệ thống pháp lý của một quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với các doanhnghiệp quốc tế và những điểm khác biệt trong hệ thống pháp lý có thể ảnh hưởngđến “sự hấp dẫn” của một quốc gia trong mắt các nhà đầu tư Luật pháp của mộtquốc gia sẽ quy định những lĩnh vực được phép kinh doanh, xác định chính sáchkinh doanh, quyền và nghĩa vụ liên quan đến giao dịch kinh doanh Chính phủ củamột quốc gia xác định khung pháp lý mà các doanh nghiệp cần phải chấp hành Do
Trang 5triển của một doanh nghiệp tại quốc gia đó Cụ thể là đối với luật pháp Việt Nam,chính phủ quy định người dân không được pháp buôn bán, tàng trữ vũ khí trong khi
ở Hoa Kỳ, vũ khí là một lĩnh vực được phép kinh doanh và các tập đoàn vũ khíhằng năm đều đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách quốc gia Mặc dù cácquốc gia khác nhau có luật pháp và quy định khác nhau nhưng những kiến thức cơbản về common law, civil law, luật hợp đồng, luật điều chỉnh quyền sở hữu, an toànsản phẩm và trách nhiệm đối với một quốc gia giúp người kinh doanh đưa ra nhữngquyết định kinh doanh một cách đúng đắn
Hiện trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp lý phổ biến đó là common law(thông luật) và civil law (dân luật) Hệ thống common law thường được tìm thấy ởcác thuộc địa cũ của Vương quốc Anh Đây là hệ thống pháp luật hình thành dựatrên lịch sử pháp lý của đất nước, các phán quyết của tòa án trong quá khứ và cáchthức áp dụng luật trong các tình huống cụ thể Các thẩm phán trong một hệ thốngcommon law có quyền giải thích luật trong các trường hợp các trường hợp cá biệtchưa từng được xét xử trước đó Bên cạnh Vương quốc Anh và các vùng thuộc địacủa Anh, hệ thống common law được sử dụng bởi các quốc gia như Hoa Kỳ, Úc,
Ấn Độ Tồn tại song song với hệ thống common law là hệ thống civil law, một hệthống pháp luật dựa trên bộ các quy tắc và quy định được viết bằng văn bản chi tiết.Thẩm phán trong hệ thống này kém linh hoạt và chỉ có quyền áp dụng luật Pháp,Đức, Nga là các quốc gia tiêu biểu sử dụng hệ thống civil law Bên cạnh đó một sốquốc gia có hệ thống luật pháp dựa trên giáo lý tôn giáo Các quốc gia như Pakistan,
Ả Rập Saudi, Iran và các quốc gia Trung Đông tuân theo luật Hồi giáo, dựa trên cácnguyên tắc linh thiêng của Koran Vì vậy đối với những doanh nghiệp hoạt độngtrong môi trường quốc tế thì việc hiểu rõ pháp luật của mỗi quốc gia và tác độngcủa nó đối với các hoạt động thương mại của họ là vô cùng quan trọng
Nhiều giao dịch kinh doanh được điều chỉnh bởi hợp đồng, và luật hợp đồngđiều chỉnh việc thực thi hợp đồng Đối với các doanh nghiệp quốc tế, việc phải hiểu
rõ về luật hợp đồng của từng quốc gia mà họ thâm nhập là vô cùng quan trọng Hợp
Trang 6đồng được soạn thảo theo hệ thống common law có xu hướng rất chi tiết, khác vớitrong hệ thống civil law các hợp đồng ngắn hơn nhiều và ít cụ thể hơn do đã có các
bộ luật dân sự được soạn thảo sẵn Do đó common law có quá trình thẩm quyền lâudài và tốn kém Tuy nhiên, nó có lợi thế về tính linh hoạt cao hơn và cho phép cácthẩm phán đưa ra lời giải thích về một tranh chấp hợp đồng trong tình huống cụ thểhơn so với hệ thống civil law Các doanh nghiệp nên xem xét những khác biệt nàytrong khi xử lý hợp đồng
Hầu hết các quốc gia đều có luật để bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt là luật sửhữu trí tuệ, nhưng thực tế có không ít chính quyền địa phương không thực thi mộtcách triệt để các luật này Quyền tài sản có thể bị vi phạm thông qua hành độngriêng tư hoặc bằng hành động công khai như vi phạm bản quyền, trộm cắp, tống tiền
và các mối đe dọa từ các cá nhân và các tổ chức khác Một hệ thống pháp lý yếukém có thể không thể bảo vệ các doanh nghiệp khỏi những hành động sai trái và làmột yếu tố khiến doanh nghiệp chùn bước khi suy xét đầu tư Bởi một chính phủkhông chú trọng việc thực thi các chính sách bảo vệ quyền sỡ hữu sẽ khuyến khíchcác vi phạm bản quyền các tài sản trí tuệ như bằng sáng chế, bản quyền và thươnghiệu Điển hình như việc vi phạm bản quyền đối với phần mềm ở Trung Quốc làmột việc rất phổ biến, nơi mà việc các loại sản phẩm cao cấp, thời trang hàng hiệu
và phần mềm máy tính được mua bán trên đường phố rất phổ biến và điều này cũngtương tự với một vài quốc gia châu Á khác Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng sẽquan tâm đến các hành vi vi phạm pháp luật của chính quyền địa phương hoặc cácquan chức chính phủ vì một số lợi ích chẳng hạn như tham nhũng Tham nhũngtrong chính phủ rất phổ biến ở các quốc gia như Ấn Độ và Mexico
Các bên trung gian - courtiers tại các quốc gia đều đang thực hiện các bước
để thúc ép luật pháp cần tăng cường bảo vệ tài sản trí tuệ, giảm vi phạm bản quyền
để thu hút các doanh nghiệp quốc tế Cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đã cùng nhauxây dựng bộ quy tắc để giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng cách hình thành “Công
Trang 7gọi là “Công ước Viên 1980” Bằng cách áp dụng CIGS, một quốc gia đồng ý vớiquốc gia thành viên khác rằng họ sẽ coi quy tắc quy ước là một phần của luật pháp.Khi công ty không muốn chấp nhận CIGS, tranh chấp có thể được giải quyết tại bất
kỳ tòa án trọng tài nào được quốc công nhận như “Phòng Thương mại Quốc tế” –ICC ở Paris Một biện pháp mà các quốc gia đã thực hiện nhằm trấn áp vi phạm bảnquyền và bảo vệ tài sản trí tuệ là cùng nhau ký “Công ước Paris về bảo hộ sở hữucông nghiệp” hay còn được gọi là “ Công ước Paris” Vào những năm 1970, chínhphủ Hoa Kỳ đã thông qua “Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài” – FCPA, đểngăn chặn các doanh nghiệp Hoa Kỳ mua chuộc các quan chức chính phủ nướcngoài để có được hợp đồng kinh doanh
Vì vậy trong quá trình xem xét tác động của các khía cạnh khác nhau trongcác quyết định kinh doanh trong môi trường quốc tế, các doanh nghiệp cần chútrọng việc phải hiểu rõ về hệ thống pháp lý của các quốc gia mà họ sẽ đầu tư Việcnghiên cứu và hiểu rõ môi trường pháp luật trong nước, ngoài nước, quốc tế và đặcbiệt là việc nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh quốc tế trở nêncấp thiết đối với các doanh nghiệp muốn thành công trên thương trường quốc tế
Trang 8có mối liên hệ chặt chẽ phụ thuộc lẫn nhau, thay đổi trong một hệ thống sẽ kéo theothay đổi trong hệ thống còn lại.
Pháp lý (legal) và pháp luật (law) là hai thuật ngữ mang ý nghĩa khác nhau
và dễ gây nhầm lẫn Pháp luật dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể cácquy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ýchí chung của một quốc gia, khu vực, được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng cácbiện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế Pháp luật được thể hiện dưới dạngnhững văn bản quy phạm pháp luật chẳng hạn Hiến pháp, bộ luật dân sự, luật doanhnghiệp, luật hôn nhân gia đình,… Luật pháp thông thường được thi hành thông quamột hệ thống tòa án, trong đó, quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụngcác quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý Cách thức mà luật phápđược thực thi được biết đến như là hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ
sở tập quán tại mỗi quốc gia
Trong khi đó pháp lý là những lý luận và nguyên lý về pháp luật, nghĩa lànhững nguyên lý, lý lẽ để lập luận một điều khoản hay điều luật nào đó Vì vậy, sựxuất hiện của pháp luật sẽ dẫn đến sự xuất hiện của pháp lý, còn ngược lại thìkhông
1.3 Ưu điểm và nhược điểm của hệ thống pháp lý đối với doanh nghiệp
Ưu điểm:
Trang 9Nền kinh tế nước ta đang vươn mình phát triển với sự phát triển khôngngừng của các công ty, doanh nghiệp trong nước và tập đoàn có vốn đầu tư nướcngoài Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra với những bước tiến mạnh mẽ Hơn lúcnào hết, hành lang pháp lý và các vấn đề liên quan đến chính sách kinh tế phải đượcquan tâm đảm bảo Hệ thống pháp lý trở thành công cụ bảo hộ ưu việt, góp phầnduy trì sự ổn định, an toàn và mang đến hiệu quả cao trong quá trình hoạt động củacác đơn vị kinh doanh
Bên cạnh đó việc doanh nghiệp năm rõ những thông tin về quy định và chínhsách mới hay những lần cập nhật pháp luật còn giúp họ tận dụng được những ưuđãi của nhà nước Có thể kể đến một số ưu đãi điển hình như: hỗ trợ nguồn vốn, hỗtrợ về thuế, hỗ trợ kỹ thuật, ưu đãi theo từng lĩnh vực… Việc nhanh chóng cập nhậtthông tin pháp luật trong kinh doanh giúp doanh nghiệp có được ưu thế hơn trongviệc phát triển công ty Các doanh nghiệp cần dựa vào pháp luật trong kinh doanh
để xây dựng kế hoạch phát triển trong từng giai đoạn, đặc biệt là kịp thời ứng phóngay khi pháp luật có sự cập nhật Biết, hiểu và áp dụng luật góp phần giảm thiểurủi ro vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp
Điển hình là khi muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam có vốn đầu tưnước ngoài (FDI) Hoặc do hai bên hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Namtrên cơ sở hợp đồng liên doanh Hình thức pháp lý của doanh nghiệp liên doanh là
do các bên thỏa thuận phù hợp với các qui định của pháp luật nước sở tại Như ởViệt nam hiện nay mới chỉ cho phép các doanh nghiệp liên doanh hoạt động dướicác hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Sắp tới đây có thể cho phép các công ty
cổ phần có vốn FDI hoạt động Còn ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triểnthì các doanh nghiệp liên doanh được hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lí khácnhau như các công ty trách nhiệm vô hạn, các hiệp hội góp vốn, …Thông qua hệthống pháp lý mà các bên doanh nghiệp thỏa thuận được quyền và nghĩa vụ tronghợp đồng liên doanh
Nhược điểm:
Trang 10Với độ mở thương mại ngày càng phát triển thì nước ta không thể tránh khỏinhững vấn đề cơ bản như văn hóa giữ các quốc gia, đơn vị tiền tệ, phong tục, ngônngữ, … đặc biệt hơn là sự khác biệt về hệ thống pháp luật giữa các quốc gia gây nênkhông ít khó khăn cho sự thỏa thuận hợp tác kí kết của các doanh nghiệp đa quốcgia Để triển khai hoạt động sản xuất, trung bình doanh nghiệp cần thực hiện từ 10 –
15 thủ tục Một số doanh nghiệp không quen với các quy trình phức tạp dẫn đếnviệc thực hiện pháp lý trở nên khó khăn và khắt khe hơn Đối với bản thân doanhnghiệp thì tôn trọng và thực hiện đúng theo pháp luật giúp doanh nghiệp vạch rađường hướng phù hợp với tình hình kinh tế và tiến trình phát triển của đất nước,góp phần duy tình việc kinh doanh ổn định Trong trường hợp doanh nghiệp khôngcập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời những thay đổi của pháp luật thì rất dễ phạmphải những sai lầm đáng tiếc dẫn đến bị phạt hành chính, giảm uy tín hoặc đình chỉhoạt động
Lấy trường hợp cụ thể tại Việt Nam, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệpphải dành ra 32 khoản thuế tương đương trung bình 872 giờ làm việc để hoàn thànhnghĩa vụ đóng thuế Tuy nhiên, tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, các doanhnghiệp chỉ mất 209 giờ Đây là một trong các rào cản lớn của doanh nghiệp FDI khiđến đầu tư tại Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 2 CÁC LOẠI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
Hai hệ thống pháp luật phổ biết nhất trên thế giới là Common Law (Hệ thốngluật Anh – Mỹ) và Civil Law (Hệ thống luật Châu Âu lục địa) Đây là hai hệ thốngpháp luật lớn, phổ biến với những đặc điểm, bản chất khác nhau để tạo nên hai dòng
họ pháp luật với những đặc trưng riêng biệt, được xem như mẫu mực nghiên cứupháp lý ở các quốc gia đang muốn phát triển ngành lập pháp
Cần phân biệt Common Law (viết hoa: có nghĩa là hệ thống pháp luật AnhMỹ), common law (viết thường: là tiền lệ được tòa án hoàng gia (hay các tòathượng thẩm) áp dụng, dùng để chỉ nguồn áp dụng chung, thay thế các tiền lệ được
áp dụng tại các tòa địa phương) Trên thế giới hiện nay có 3 cách hiểu về CommonLaw:
Loại luật có nguồn gốc từ hoạt động của các Tòa án Hoàng gia Anh: luật
áp dụng chung cho toàn bộ nước Anh thay thế cho luật địa phương (locallaw) Theo nghĩa này, Common Law được coi là một bộ phận của hệ thốngpháp luật nước Anh, phân biệt với Luật công bằng (Equity law)
Loại luật có nguồn gốc án lệ: đồng nghĩa với việc bao gồm cả Equity law,
được gọi chung là Case law (Án lệ) được tạo ra bởi tòa án, dùng để phân biệtvới luật thành văn (Status law)
Trang 12 Một dòng họ luật cơ bản, được coi là lớn thứ hai trên thế giới (sau hệ thống
Civil law) hiện còn được áp dụng tại các nước nói tiếng Anh với một vàingoại lệ và ảnh hưởng tới nhiều nước đã hoặc vẫn có mối liên hệ với nướcAnh về chính trị hay kinh tế như: Mỹ, Canada, Australia… và các nước kháctrong khối Thịnh vượng chung (Commonwealth of Nations)
Cả ba cách hiểu này đều có thể chấp nhận được vì về cơ bản không làm thayđổi bản chất của hệ thống Common law
2.1.2 Lịch sử hình thành:
Common Law có nguồn gốc từ nước Anh, vì thế lịch sử của Common Lawgắn liền với lịch sử Common Law của nước Anh Theo René David và John E.C.Brierley thì lịch sử pháp luật Anh chia làm 4 giai đoạn chính:
2.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1066: Anglo – Saxon
Từ thế kỉ I đến thế kỉ V, đế chế La Mã thống trị nước Anh song không để lạidấu tích gì đáng kể, kể cả về mặt pháp luật Thời kì này, nước Anh chia làm nhiềuvương quốc nhỏ với các hệ thống pháp luật mang tính địa phương, chủ yếu là ảnhhưởng từ các qui tắc tập quán và thực tiễn của các bộ lạc người Giecmanh(Germanic tribes) Khi các bên có tranh chấp thường áp dụng tập quán địa phương
để phân xử Những người già sẽ đứng ra giải thích chính xác các tập quán địaphương áp dụng cho các tranh chấp đó
2.1.2.2 Giai đoạn 1066 – 1485: Common law ra đời
Năm 1066 người Norman đánh bại người Anglo – Sacxon, thống trị nướcAnh William (người Pháp) lên ngôi vua, mở ra một thời kì mới trong lịch sử nướcAnh và mở đầu cho giai đoạn hình thành Common law Ông vẫn duy trì tập quánpháp của Anh Nhưng trên thực tế lại cố làm cho mọi người quên đi ảnh hưởng củaquá khứ và xây dựng một chế độ phong kiến tập quyền nhằm nắm độc quyền trongmọi lĩnh vực của đời sống xã hội kể cả lĩnh vực tư pháp
Trang 13Thời Henry II là giai đoạn phát triển của một hệ thống Common Law có tínhchất quốc gia (a national Common Law) Ông gửi các thẩm phán hoàng gia tới nắmtòa án ở các nơi Trong nhiều thập kỉ, họ đã phải cạnh tranh với các tòa án ở địaphương: tòa án của tỉnh (county), tòa án giáo hội, tòa án của lãnh chúa phongkiến… Đến cuối thế kỉ XIII, các Tòa án Hoàng gia thắng thế trong việc xét xử vìchất lượng xét xử tốt và trình độ chuyên môn cao Dần dần, các tòa án địa phươnglấy án lệ của Tòa án Hoàng gia làm khuôn mẫu Common Law bắt đầu chiếm vị tríquan trọng và thu hút nhiều công việc pháp lí, mặc dù trong một thời gian dài đãphải cạnh tranh với nhiều hệ thống pháp lí: luật tập quán địa phương, luật thươnggia hay các qui tắc tập quán phong kiến…Và cũng không thể phủ nhận rằngCommon Law đã vay mượn nhiều vấn đề từ các hệ thống pháp lí nói trên để đạtđược sự tiến bộ to lớn.
Thời kì này cần phải nhắc đến sự ra đời và phát triển của hệ thống writ (gọi
là trát hay tạm dịch là lệnh gọi ra tòa) Một người muốn kiện lên tòa án Hoàng giaphải đến Ban thư kí của nhà vua (chancery), đóng phí và được cấp writ Writ nêu rõ
cơ sở pháp lí mà bên nguyên đưa ra cho vụ việc của mình
Hệ thống writ được xem là trái tim của Common Law và “no writ noremedy” (tạm dịch là không có writ thì không có chế tài) Nhà sử học nổi tiếng vềCommon law là W.S Holdsworth đã khẳng định về vai trò chính yếu của hệ thốngwrit: “Common Law đã phát triển xung quanh hệ thống writ của hoàng gia Chúng
đã tạo thành cơ sở để xây đắp nên tòa nhà của nó” Hệ thống writ mang đặc trưngcủa pháp luật Common Law, chứng tỏ vai trò quan trọng của các thủ tục tố tụng Đócũng là lí do các luật gia Common Law không tìm hiểu nội dung thực định phức tạptrong luật tư của Luật La Mã (họ cho rằng luật La Mã chỉ giúp cho việc tìm kiếmgiải pháp đúng đắn cho tranh chấp nhưng chưa cho phép thắng kiện)
2.1.2.3 Giai đoạn 1485- 1832: phát triển Equity law
Equity law (luật công bằng) được hình thành dựa trên cơ sở coi nhà vua làbiểu tượng của công lí Trong trường hợp Common Law không đáp ứng được cho
Trang 14bên bị thiệt hại tức là không đảm bảo được tính công bằng thì một công chức củatòa án (chancellor) sẽ trình vụ việc lên nhà vua Thông qua các đơn từ gửi tới nhàvua và phán quyết của các chancellors, dẫn đến việc hình thành một hệ thống phápluật thứ hai gọi là luật công bằng (Equity law hay Chancery justice) Học thuyết vềEquity law mang nhiều yếu tố của luật La Mã vì các chancellors thường là các mục
sư bị ảnh hưởng của luật giáo hội (cannon law) – một loại luật có cơ sở gần gũi vớiluật La Mã
2.1.2.4 Giai đoạn 1832 – nay: giai đoạn hiện đại
Đây là giai đoạn cải cách và phát triển pháp luật Anh với sự xuất hiện củanhiều luật, tòa án hành chính, văn bản hành chính Đặc biệt là việc gia nhập EECnăm 1972 có tác động đến sự phát triển của hệ thống pháp luật Anh Ngày nay, cácluật gia Anh ngày càng quan tâm và có nhiều học hỏi từ hệ thống Civil law
Common Law được mở rộng ra thế giới thông qua 2 con đường: Thứ
nhất là chinh phục thuộc địa (chủ yếu) Thứ hai là các nước chủ động tiếp thu, chấpnhận một cách tự nguyện với việc thiết lập và thúc đẩy quan hệ chính trị, thươngmại với Anh
Ngày nay bên cạnh án lệ với tư cách là một loại nguồn pháp luật đặc thù của
hệ thống Common Law, luật thành văn và các loại qui tắc khác cũng được coi làmột bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật này Khi xét xử những nước theo hệthống pháp luật Common Law thường căn cứ vào hai câu hỏi lớn, đó là câu hỏi sựthật khách quan (question of fact) và câu hỏi về luật – theo nghĩa rộng (question oflaw) Trong bất cứ vụ việc nào, ngày nay khi xét xử các thẩm phán của CommonLaw vẫn dựa cả vào án lệ, luật viết và những căn cứ thực tế để xét xử Chính vì vậy,vai trò của các thẩm phán và luật sư tại các nước Common Law rất được coi trọng
Trang 152.2 Civil Law:
2.2.1 Khái niệm
Đây là hệ thống pháp luật lớn nhất thế giới, trải khắp từ châu Âu lục địa(Pháp, Đức, Ý…) tới châu Mỹ (tỉnh Québec của Canada, bang Lousiana của Mỹ),châu Phi và nhiều nước châu Á, được gọi theo nhiều tên khác nhau: luật La Mã (chỉnguồn gốc), luật Châu Âu lục địa (chỉ ra khu vực hình thành và phát triển giai đoạnđầu) hay Civil law (hệ thống luật thành văn) Civil law coi trọng văn bản qui phạmpháp luật và đã thoát ly khỏi tôn giáo, luân lý, đề cao tự do cá nhân, được coi là biểuthị sự phát triển văn minh của hệ thống pháp luật
Hệ thống Civil law phải được chia nhỏ thành 3 nhóm khác nhau:
Civil Law của Pháp: ở Pháp, Tây Ban Nha, và những nước thuộc địa cũ của
Pháp
Civil Law của Đức: ở Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc và
Cộng hòa Trung Hoa (Lưu ý: Luật Trung Hoa và Luật Việt Nam hiện naytheo truyền thống học thuật, thì được xếp vào hệ thống pháp luật xã hội chủnghĩa, nhưng trên thực tế nhiều qui định về dân sự, về tố tụng, về hệ thốngToà án lại mang nhiều đặc điểm của Civil Law)
Civil Law của những nước Scandinavian: Đan Mạch, Thụy Điển, Phần
Lan, Na Uy và Ailen Luật của Bồ Đào Nha và Italia cũng chịu ảnh hưởngcủa Pháp, Đức, nhưng những bộ luật dân sự thế kỷ 19 thì gần hơn với Bộ luậtNapoleon và những bộ luật dân sự thế kỷ 20 thì lại giống với luật dân sự củaĐức Về đào tạo luật, thì những nước này lại giống với hệ thống pháp luậtcủa Đức hơn Luật ở những nước này thường được gọi là hệ thống luật cótính chất pha tạp (hybrid nature)
Luật ở Hà Lan hay dân luật ở Hà Lan thì rất khó để xếp vào một nhóm nào,nhưng cũng phải thừa nhận rằng Luật dân sự của Hà Lan có ảnh hưởng không nhỏđến luật tư hiện đại của nhiều quốc gia Điển hình là pháp luật dân sự của Nga hiệnhành chịu ảnh hưởng trực tiếp từ luật của Hà Lan