1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ thơ nguyễn duy

124 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Ngôn Ngữ Thơ Nguyễn Duy
Tác giả Hồ Thị Kim Hoa
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với bài viết “Ca dao vọng về” trong thơ Nguyễn Duy”, Phạm Thu Yến chủ yếu đi vào nghiên cứu những biểu hiện của việc tiếp thu, chịu ảnh hưởng của ca dao trong thơ Nguyễn Duy như hiện tượ

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trường đại học vinh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Xin trân trọng cảm ơn TS Trần Văn Minh, người trực

tiếp tận tình, chu đáo hướng dẫn chúng tôi trong quá trình

thực hiện đề tài

Đồng thời chúng tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc

đối với những lời góp ý, chỉ bảo chân thành quý báu của các

thầy cô giáo giảng dạy phân ngành ngôn ngữ học, thuộc khoa

Ngữ văn, trường ĐH.Vinh, cùng sự cổ vũ động viên của tất

cả bạn bè và người thân…để luận văn này được thành công

Vinh, tháng12/2004

Tác giả

Trang 3

2 Nguyễn Duy và thơ Nguyễn Duy……… 16

2.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Duy……… 16

2.2.Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn

Trang 4

2.4 Sử dụng động từ diễn tả tư thế suy ngẫm, hướng

nội………

57 2.5 Sử dụng lớp ngôn từ “dính bụi” mang hơi thở cuộc sống hiện đại……

61 3 Một số kết cấu câu thơ tiêu biểu trong thơ Nguyễn Duy……… 65

3.1 Kết cấu trùng điệp……… 65

3.2 Kết cấu đối lập - tương phản……… 73

3.3 Kết cấu lập luận……… 77

CHƯƠNG 3 : ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THỂ HIỆN NỘI DUNG TRONG THƠ NGUYỄN DUY 1 Các đề tài nổi bật trong thơ Nguyễn Duy……… 82

1.1 Đề tài chiến tranh và người lính……… 82

1.2 Đề tài quê hương đất nước……… 87

1.3 Đề tài tình yêu đôi lứa……… 93

1.4 Đề tài thế sự……… 97

1.5 Đề tài những miền xa trên trái đất………

102 2 Một số hình ảnh tiêu biểu trong thơ Nguyễn Duy………

105 2.1 Hình ảnh hạt bụi……… 106

2.2 Hình ảnh cát trắng……… 107

2.3 Hình ảnh áo trắng……… 109

KẾT LUẬN……… 111

THƯ MỤC THAM KHẢO……….…… 113

Trang 5

và đang là đối tượng gây được sự chú ý của nhiều nhà phê bình và nghiên cứu văn học Song nhìn chung, công việc nghiên cứu, tìm hiểu thơ ông còn nhiều vấn đề chưa được khảo cứu Là một tác giả có đóng góp không nhỏ trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại, thơ Nguyễn Duy xứng đáng được quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ và toàn diện, nhất là trên phương diện ngôn ngữ

2 Với những bài thơ đạt đến vẻ đẹp cổ điển như Tre Việt Nam, Hơi ấm

ổ rơm, Tiếng hát mùa gặt , thơ Nguyễn Duy đã được chọn lựa đưa vào giảng

dạy trong nhà trường Nghiên cứu đề tài này, luận văn còn hi vọng góp phần thiết thực vào quá trình dạy và học, phân tích và tìm hiểu thơ Nguyễn Duy được tốt hơn, không chỉ trên bình diện nội dung mà còn ở bình diện hình thức,

ở nghệ thuật ngôn từ – một phương diện mà trong thực tế dạy học vẫn chưa được chú ý coi trọng đúng mức

2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát nhằm tìm ra những đặc điểm khái quát về phong cách ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu các đặc trưng hình thức gồm thể thơ, cách sử dụng từ ngữ, tổ chức cấu trúc câu thơ và

Trang 6

làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật của ngôn ngữ trong việc thể hiện nội dung và xây dựng hình ảnh thơ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi sẽ phải thực hiện các nhiệm vụ sau :

a) Khảo sát các phương diện hình thức được thể hiện trong thơ Nguyễn Duy : thể thơ, từ ngữ, kết cấu câu thơ

b) Tìm hiểu nghệ thuật vận dụng ngôn ngữ trong việc thể hiện các nội dung phản ánh, xây dựng các hình ảnh thơ tiêu biểu

c) Từ những đặc điểm hình thức và nội dung trên, khái quát những đặc điểm chung nhất về ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nguyễn Duy sáng tác trên nhiều thể loại : thơ, ký, bút ký, kịch thơ, tiểu thuyết nhưng tài năng của ông chỉ thực sự được khẳng định ở thể loại thơ

Để nghiên cứu vấn đề đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy, về văn bản

thơ, chúng tôi chọn cuốn “Tuyển tập thơ Nguyễn Duy” – NXB Giáo dục, 1998

(do nhà thơ Trần Đăng Khoa tuyển chọn và giới thiệu) gồm 108 bài thơ Mặc

dù chưa được toàn diện nhưng chúng tôi đánh giá những bài thơ được lựa chọn trong tuyển tập phần lớn là những bài có giá trị nội dung và nghệ thuật cao, tiêu biểu cho giọng điệu và phong cách thơ Nguyễn Duy, đáp ứng được đầy đủ cho vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Khi kể tên các nhà thơ hiện đại Việt Nam, không thể không nhắc đến Nguyễn Duy Với khả năng viết đều, viết khoẻ, ông tạo dựng được một sự nghiệp thơ thật đáng nể Là một trong những cây bút trẻ xuất sắc trưởng thành

từ thơ ca chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Duy được giới nghiên cứu phê bình cũng như đông đảo bạn đọc chú ý từ rất sớm,và theo đó xuất hiện hàng loạt những công trình, bài viết lớn nhỏ nghiên cứu, đề cập đến thơ ông

Người có công phát hiện và đánh giá một cách tài tình, chính xác về Nguyễn Duy đầu tiên chính là người sành thơ bậc nhất, nhà phê bình văn học

uy tín – Hoài Thanh Trong bài viết “Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy”, ông đã sớm cảm nhận được cái hương vị của cuộc sống từ xưa toả ra trong thơ Nguyễn Duy : “Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc : một gốc sim, một bụi tre, một ổ rơm…Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường hay cảm xúc, suy nghĩ trước những

Trang 7

chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện thoáng qua thì ở anh nó lắng sâu và dường như dừng lại”[32] Có thể nói, bằng

sự cảm nhận nhạy bén và tinh tế, qua bài phê bình ngắn gọn mà sắc sảo, Hoài Thanh đã giới thiệu Nguyễn Duy với bạn đọc như một tiếng thơ có nhiều triển vọng Ông nhận xét thơ Nguyễn Duy “đậm đà phong cách Việt Nam : Giọng thơ chân chất Tình thơ chắc Ý thơ sâu”[32] Tuy nhiên, đó mới chỉ là cái nhìn thoáng qua, những cảm nhận ban đầu về thơ Nguyễn Duy, đặc biệt về phương diện hình thức chưa được nói đến

Cho đến năm 1985, sau khi tập thơ Ánh trăng đạt giải thưởng của Hội

nhà văn Việt Nam, tên tuổi Nguyễn Duy được nhiều người biết đến qua hàng loạt bài viết của các tác giả Lê Quang Trang, Từ Sơn, Nguyễn Hoàng Sơn, Lê Quang Hưng, Tế Hanh, Lê Giang, Lại Nguyên Ân…Cái “phong cách Việt Nam” mà trước kia Hoài Thanh mới chỉ cảm thấy trong thơ Nguyễn Duy bây giờ đã bộc lộ một cách rõ nét hơn Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy đặc điểm này ở một vài phương diện cụ thể như : Về thể thơ, Nguyễn Duy có “sở trường

về sử dụng thơ lục bát” [33,200], “những đoạn thơ lục bát nhuần nhuỵ, ngọt

ngào khiến người ta khó phân biệt đấy là ca dao hay thơ”[12] Đọc Ánh trăng,

tác giả Lê Quang Trang còn phát hiện thấy “những ẩn dụ, hoán dụ tuy vẫn mang dáng dấp ca dao nhưng hiệu quả thì hoàn toàn khác do cách nhìn, cách cảm của thế hệ Nguyễn Duy”[33,200] Theo Lê Quang Hưng, chất dân gian ấy “ngấm trong cả cách cảm lối nghĩ, trong quá trình “dàn dựng” hình tượng thơ”[12], tạo nên một giọng thơ, hồn thơ gần gũi dân gian Tất cả những cái đó hình thành nên một phong cách vừa rất dân tộc, rất truyền thống lại vừa khá hiện đại, khá mới Mặc dù còn có những vấp váp, lúng túng trong quá trình trăn trở, tìm tòi sáng tạo nhưng các nhà phê bình đều nhất trí đánh giá : Nguyễn Duy đã thực sự

thành công ở Ánh trăng Từ Sơn cho rằng với những bài thơ đậm đà chất ca

dao, “anh đã góp vào kho tàng thơ XHCN hiện đại những bài thơ hay mang dáng vẻ riêng : nồng nàn hơi thở đời sống, giàu hương vị dân tộc và dạt dào tình yêu cuộc sống trong dáng hình bình dị, chân chất, dân dã”[33,202] Sự ra đời

của Ánh trăng đánh dấu bước trưởng thành mang tính chất quyết định trong sự

nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy và điều quan trọng là nhà thơ đã biết “tìm giọng mới thích hợp với người thời mình” [1] Những nhận xét trên tuy còn mang tính chất tản mạn, rời rạc, chưa toàn diện bởi chỉ giới hạn trong phạm vi một tập thơ nhưng đã thể hiện một cái nhìn khá chính xác về thơ Nguyễn Duy nói chung cũng như ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy nói riêng

Trang 8

Trước sức cuốn hút mãnh liệt của những vần thơ ấy, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã có cuộc hành trình “Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy”

Là người bạn vong niên luôn gắn bó gần gũi với nhà thơ, ông đã giới thiệu với bạn đọc một cách rõ nét chân dung Nguyễn Duy nhìn từ hai phía : con người

và thơ Cũng như nhiều người khác, tác giả bài viết thừa nhận “Nguyễn Duy vốn có ưu thế và trội hẳn lên trong thể thơ lục bát”, “Thơ lục bát Nguyễn Duy không rơi vào tình trạng quen tay, nó có sự chuyển động biến đổi trên từng câu chữ”[26,84], nhà thơ rất “khéo tay điều khiển từ”[26,90] Ông còn đưa ra những nhận xét khá lý thú “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian Lời thơ đơn sơ, gần với khẩu ngữ Tư duy thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất phong vị cổ điển phương Đông”[26,90]

Dõi theo bước đường sáng tác của nhà thơ, các nhà nghiên cứu và những người yêu thơ ông đã nhận ra được sự trưởng thành, định hình bản sắc của Nguyễn Duy Vương Trí Nhàn trong bài viết “Một bản sắc đã đến lúc định

hình” khẳng định : “Sự tìm tòi kéo dài liên tục qua các tập thơ Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đường xa(1989), Quà tặng (1990) và với tập thơ Về (1994), từ chỗ pha giọng chập chững, mày mò, nhà thơ đã đi tới một giọng thơ

có nhiều phẩm chất thuần nhất, dân dã mà hiện đại, từng trải dạn dày song lại run rẩy tinh tế, cay đắng ngậm ngùi ngay trong khi cười cợt đắm say, lam lũ dông dài mà vẫn có những nét cao sang riêng Thơ Nguyễn Duy những năm 90 gợi ra cảm tưởng một bản sắc đã chín, đã định hình ở đó có tất cả những phóng túng nồng nàn, lẫn những ngang trái khó chịu mà đã yêu thơ anh người ta phải chấp nhận” [21, 257] Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến một vài đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy, cụ thể là “sự đắm đuối đi tìm những chữ lạ”, “ăn chịu với truyền thống” – thơ lục bát tuy nhiên vẫn chưa có sự đào sâu nghiên cứu

Càng về sau, thơ Nguyễn Duy càng được các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn về phương diện hình thức với mong muốn tìm hiểu kỹ hơn, sâu hơn phong cách thơ độc đáo này Với bài viết “Ca dao vọng về” trong thơ Nguyễn Duy”, Phạm Thu Yến chủ yếu đi vào nghiên cứu những biểu hiện của việc tiếp thu, chịu ảnh hưởng của ca dao trong thơ Nguyễn Duy như hiện tượng “tập” ca dao,

sử dụng các mô típ ca dao, sử dụng nhuần nhuỵ thơ lục bát để chuyển tải những suy nghĩ, tình cảm nhẹ nhàng trong sáng; lối kể chuyện, lối tự sự giản dị, tự nhiên gần với ngôn ngữ đời thường mà vẫn giàu sức gợi cảm, khuynh hướng hài

Trang 9

hước, trào lộng Mặc dù trong phạm vi một bài báo nhỏ lẻ mới chỉ đi vào khám phá một đặc điểm cụ thể của ngôn ngữ thơ nhưng có thể nói, đây là bài viết đầu tiên nghiên cứu thơ Nguyễn Duy ở phương diện hình thức

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu các hiện tượng văn học được gắn liền với việc vận dụng những thành tựu của ngành thi pháp học, vì thế các vấn đề có điều kiện để đánh giá một cách toàn diện, đúng đắn, sâu sắc

và khoa học hơn

Theo hướng nghiên cứu này, trong bài viết “Nguyễn Duy- người

“thương mến đến tận cùng chân thật”, tác giả Vũ Văn Sỹ nhìn thấy quá trình vận động trong sự thống nhất của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy qua các giai đoạn sáng tác Cái tôi ấy nếu như ở giai đoạn đầu mang phẩm chất hiền lành, đằm thắm, đôn hậu thể hiện qua giọng thơ “chân quê, chân cảm” thì đến giai đoạn cuối nó bỗng trở nên ngang tàng, táo bạo, mạnh mẽ, luôn “giở” giọng “tếu táo”, “đùa cợt” Các đối cực ngỡ đầy nghịch lý ấy được hài hoà trong một cái tôi nhất thể luôn suy nghĩ, trăn trở, day dứt trước những vấn đề của đời sống con người Về nghệ thuật biểu hiện, tác giả có phát biểu “Trong những năm gần đây, khi mở rộng phạm vi giao tiếp của cái tôi trữ tình theo hướng hiện đại hoá không ít nhà thơ đi vào con đường hình thức, vô tình đẩy thơ vào tình trạng khó hiểu, bế tắc, Nguyễn Duy vẫn kiên trì lục bát một cách

có hiệu quả, khai thác nguồn mạch dân gian, tập ca dao, lẩy ca dao để mở rộng

tứ thơ hoặc thiết lập tứ thơ mới để dung nạp và đồng hoá chất liệu đa dạng tinh

tế của đời sống”[30]

Dưới ánh sáng của thi pháp học, nhiều người đã mạnh dạn thử nghiệm đi vào nghiên cứu phương diện hệ thống hình thức tác phẩm trong mối liên hệ chặt chẽ với nội dung nhằm góp phần tìm hiểu, đánh giá phong cách nhà văn, nhà thơ một cách chính xác hơn Luận văn thạc sĩ của tác giả Hồ Văn Hải đã lựa chọn hướng nghiên cứu mới này với đề tài “Thơ lục bát Nguyễn Duy dưới góc độ ngôn ngữ” Đây là một công trình khá công phu tìm hiểu, nghiên cứu thơ lục bát Nguyễn Duy trên hai bình diện : đặc điểm cấu trúc âm luật (âm điệu, vần điệu, nhịp điệu) và đặc điểm sử dụng phương tiện ngôn từ Tác giả nhận thấy thơ lục bát Nguyễn Duy có sử dụng các chất liệu ngôn ngữ như

“ngôn ngữ ca dao” và “ngôn ngữ đời thường” (khẩu ngữ, thành ngữ, từ láy) Tuy nhiên, Nguyễn Duy không chỉ thành công ở thể lục bát, ở các thể thơ khác : năm chữ, bảy chữ, thơ tự do , ông cũng có nhiều bài thơ hay mang bản sắc

Trang 10

riêng Bởi vậy, những kết luận trên chưa thể khái quát một cách đầy đủ đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy

Nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy còn phải kể đến một bài viết khá thành công của tác giả Chu Văn Sơn với nhan đề “Nguyễn Duy– thi sĩ thảo dân” Bằng con mắt thi pháp học, bài viết khám phá ra hành trình thơ Nguyễn Duy:

hành trình từ “Xó bếp” ra “Thế giới”, “Từ hạt Cát đến hạt Bụi”, hành trình của“Giọt nước lìa nguồn ra biển”, của “Dòng nước trôi đi giọt nước lại rơi về” Trên chặng đường ấy, “Nguyễn Duy đã trình ra trọn vẹn cái tôi của mình” Một cái tôi “thảo dân” chính hiệu : “cực nghiêm mà cực bụi”, “cực

tình nghĩa mà cũng cực tình tang”[27] Tác giả cũng cho rằng “Duy phải lòng lục bát” nhưng “ cây đàn này của Duy chơi điệu mới, nhịp mới, hồn mới”[27], ngoài ra nhà thơ còn sử dụng những phương thức biểu hiện khác phù hợp với cái “tạng” của mình, chẳng hạn như : thích “xài thứ ngôn từ hồn nhiên”, khoái lối ghẹo dân gian, đặc biệt là sự dung nạp “thứ ngôn từ dính bụi mà lấp lánh chất phônclore”[27] vào thơ Với cái nhìn đa chiều, bài viết đã cung cấp cho độc giả nhiều phát hiện mới mẻ, có giá trị về thơ Nguyễn Duy Nhưng trong phạm vi một bài báo việc phân tích những đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy qua các biểu hiện cụ thể chưa có điều kiện để đi sâu

Bên cạnh đó còn có rất nhiều những ý kiến, bài bình khác của Trần Đăng Khoa, Nguyễn Bùi Vợi, Vũ Quần Phương, Văn Giá, Nhị Hà, Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Thị Bích Nga

Qua cái nhìn tổng quan về lịch trình nghiên cứu thơ Nguyễn Duy, chúng tôi thấy rằng thơ Nguyễn Duy đã được nhiều nhà khoa học khai thác tìm hiểu

cả về phương diện nội dung lẫn hình thức Cố nhiên ở đây chúng tôi không có

ý định sắp xếp đầy đủ một thư mục nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy mà chỉ điểm lại những ý kiến tiêu biểu gắn với vấn đề đặt ra của luận văn Nhìn chung, các tác giả đều yêu thơ Nguyễn Duy Mỗi người từ một góc độ, một cảm nhận riêng song đều nhận ra một phong cách thơ vừa truyền thống vừa hiện đại thể hiện qua cách dùng từ, dựng từ, chất liệu dân gian, sử dụng thơ lục bát nhuần nhuyễn, câu thơ mang hơi hướng cổ điển, vừa chặt chẽ điêu luyện vừa phóng túng ngang tàng

Tuy chưa có hẳn một công trình nào đi sâu khảo sát nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện thơ Nguyễn Duy, đặc biệt ở phương diện ngôn ngữ, song qua các bài viết trên, chúng ta nhận thấy các tác giả phê bình đã nhận ra được những

Trang 11

nét đặc sắc, đóng góp của Nguyễn Duy vào nền thơ ca dân tộc Trên cơ sở đánh giá những người đi trước, chúng tôi thấy cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu tập trung hơn, đầy đủ hơn đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy để từ đó có cái nhìn tổng quát về đặc trưng phong cách thơ ông, góp phần vào việc khẳng định vị trí

và tài năng của một hồn thơ có sức sáng tạo và lay động mãnh liệt

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ trên, luận văn có sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Luận văn sẽ sử dụng phương pháp này khi đi vào khảo sát 108 bài thơ trong tuyển tập thơ Nguyễn Duy để thống kê, phân loại những hiện tượng ngôn ngữ thường gặp trong thơ ông

4.2 Phương pháp miêu tả, đối chiếu, so sánh

Trên cơ sở thống kê, phân loại, chúng tôi sẽ đi sâu vào miêu tả các hiện tượng ngôn ngữ tiêu biểu của thơ Nguyễn Duy Cùng với quá trình phân tích, miêu tả, luận văn tiến hành so sánh, đối chiếu giữa cách sử dụng ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy với một số tác giả khác để làm nổi bật những đặc điểm riêng của ngôn ngữ thơ ông

4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các tín hiệu ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy như việc sử dụng thể thơ, cách sử dụng từ ngữ, các cấu trúc câu thơ tiêu biểu…chúng tôi khái quát những đặc điểm cơ bản về phong cách ngôn ngữ thơ ông

5 CÁI MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Với một cái nhìn hệ thống toàn diện, luận văn là tài liệu đầu tiên đi sâu vào khảo sát nghiên cứu thơ Nguyễn Duy về đặc điểm hình thức ngôn ngữ bao gồm: thể thơ, từ ngữ, cấu trúc câu thơ, ngôn ngữ trong thể hiện nội dung và xây dựng hình ảnh thơ, qua đó nhằm góp phần làm rõ và khẳng định bản sắc của phong cách thơ Nguyễn Duy

Trang 12

CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 THƠ VÀ NGÔN NGỮ THƠ

1.1 Khái niệm thơ

Thơ là thể loại văn học ra đời từ rất sớm, là hình thái văn học đầu tiên của loài người Khi con người bắt đầu cảm thấy mối liên hệ giữa mình và thực tại, và sâu sắc hơn khi có nhu cầu tự biểu hiện thì thơ ca xuất hiện Ở nhiều dân tộc, trong một thời gian tương đối dài, các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ

Là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình, thơ gắn liền với những rung động, với cảm xúc tươi mới, trực tiếp của cái tôi trữ tình trước mọi biểu hiện đa dạng, phong phú và nhiều biến thái Thơ tác động đến người đọc vừa bằng nhận thức cuộc sống, vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa tác động trực tiếp với nhiều cảm xúc, suy nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn ngữ giàu nhạc điệu Chính vì những phẩm chất khác nhau đó của thơ mà

đã có rất nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau về bản chất của thơ ca

Đứng trước đối tượng đầy bí ẩn ấy, nhiều nhà thơ lớn, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học nổi tiếng trên thế giới và ở Việt Nam đã đặt ra câu hỏi:

“Thơ là gì?” Và đã có rất nhiều câu trả lời khác nhau về nó: “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống” (Lưu Trọng Lư), “Thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm” (Thanh Tịnh), “Thơ là sự rung động

Có rung động là có thơ Thơ là cái gì huyền ảo tinh khiết, thâm thuý và cao siêu” (Nhóm Xuân Thu Nhã tập), “Thơ biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp” (Sóng Hồng), “Thơ là một thông báo thẩm mỹ trong đó kết hợp bốn yếu tố Ý- Tình - Hình - Nhạc” (Mã Giang Lân), “Thơ là sự sống, là cái mỉm cười của sự sống đang reo vui và thoăn thoắt biến hoá Thơ là ánh tươi hồng trên môi thiếu

nữ, là tiếng cười hiền lành, trong trẻo của trẻ thơ” ( Biêlinxki) Cho đến nay, nhiều định nghĩa như thế đã ra đời song vẫn chưa phân biệt rõ ràng thơ với văn xuôi, vì văn xuôi cũng có thể “nói lên niềm khát khao sự sống”, “cũng thể hiện sâu sắc tâm trạng”, Bởi vậy, chúng vẫn mang cái gì đó chung chung, chưa thuyết phục

Vào đầu thế kỷ XX, ngành thi pháp học phát triển mạnh mẽ Công việc nghiên cứu, phê bình thơ dưới ánh sáng thi pháp học đạt nhiều thành tựu to lớn với những tên tuổi : R.Jakobson, J.Cohen, Bakhtin Họ đã đưa ra tiêu chí khá

rõ ràng để nhận diện thơ dưới góc độ hình thức

Trang 13

Đặc trưng đầu tiên, thơ là tiếng nói độc bạch làm việc trên trục dọc (trục lựa chọn, thay thế, tương đồng, quy chiếu, trục của các ẩn dụ), còn tiểu thuyết

là tiếng nói đối thoại làm việc trên trục ngang (trục kết hợp, trục tuyến tính) Trong thơ trữ tình chỉ có một kiểu lời nói duy nhất thống lĩnh toàn bộ thế giới nghệ thuật : kiểu lời độc thoại trực tiếp của nhân vật trữ tình (hoá thân của chủ thể trong tác phẩm) Ở đó, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ được dùng

để xây dựng các thông báo Thơ sử dụng nhiều hình ảnh, nhiều từ tương đương, từ đồng nghĩa để diễn tả một tâm trạng, một suy tư

Đặc trưng thứ hai là không gian trên trang giấy in thơ có nhiều khoảng trắng hơn trang in văn xuôi Đặc điểm này cho thấy thơ nói ít mà chứa đựng nhiều nghĩa, thơ là văn bản không liên tục, thơ có nhiều chỗ “lặng” Chính những khoảng trắng ấy là nơi chất thơ lan toả, là nơi tràn ngập tư duy, cảm xúc

và hiển nhiên lượng ngôn từ còn lại là tinh chất đã được gạn lựa, chắt lọc công phu

Đặc trưng thứ ba của thơ là sự trùng điệp (câu thơ luôn luôn quay trở lại): trùng điệp âm vận, trùng điệp ở nhịp, trùng điệp ở ý thơ, trùng điệp câu thơ hoặc bộ phận câu Để tạo nên sự trùng điệp về âm thanh cũng như về ngữ nghĩa, tạo điểm nhấn, trong thơ có hiện tượng “chiếu trục tuyển lựa lên trục kết hợp”, tức là các yếu tố trên trục hệ hình có thể được xuất hiện trong một thế tương quan nhất định trên trục cú đoạn tạo ra những hình tượng âm thanh lặp lại, những cấu trúc ngữ âm mang tính biểu trưng Như vậy, ngôn ngữ thơ đã cung cấp cho ta những phương thức để thoát ra khỏi tính chất kế tục, tuyến tính của ngôn ngữ thông thường Mà phương thức quan trọng là thủ pháp song song Nó tạo nên đặc trưng của thơ về mặt ngữ nghĩa (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ ) và ngữ âm (vần, láy từ ) Gerand Manley Hopkins được xem là người tiên phong vĩ đại trong khoa học về ngôn ngữ thi ca cho rằng “thơ là một diễn ngôn lặp lại toàn bộ hay từng phần một hình tượng âm thanh”, “cấu trúc thơ chủ yếu là một thủ pháp song song liên tục” [34, 29], “cái phần cách điệu của thơ, có lẽ nói mọi hình thức cách điệu thì đúng hơn, là quy về nguyên lý của sự song song” [2, 50] Triển khai ý tưởng đó, Jakobson, đại biểu của trường phái hình thức Nga đầu thế kỷ XX phát biểu : “Trong thơ yếu tính của nghệ thuật cốt là ở những chỗ quay về được lặp lại” và “chúng ta chỉ có nhận ra sự kết hợp âm thanh của một bài thơ khi nào nó lặp lại”[34, 29] Thủ pháp song song không giới hạn ở những câu thơ song song mà toả ra đến toàn bộ văn bản tác phẩm bao gồm các cấu trúc ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa Trùng điệp có tác

Trang 14

dụng tạo những nhịp điệu tương ứng trong suốt bài thơ, tạo những âm vang, những tiếng rung trong thơ Bởi thế, thơ được xem là một “kiến trúc đầy âm vang”

Trên đây là ba đặc trưng hình thức nổi bật của thơ được các nhà thi pháp học thừa nhận Trong quá trình nghiên cứu phê bình đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải đi vào khai thác các phương thức nghệ thuật có tính chất đặc trưng ấy

để tìm ra ý nghĩa biểu đạt trong tác phẩm

Kế thừa các quan niệm trên, một nhóm tác giả Việt Nam gồm các nhà nghiên cứu : Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã đưa ra một định nghĩa mang tính khái quát : “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [8, 262] Định nghĩa này đã cho chúng

ta một cái nhìn đầy đủ bao quát đặc trưng của thơ về nội dung phản ánh cũng như phương thức phản ánh

Tuy các định nghĩa trên khác nhau ở góc nhìn, nhưng đều có những sự thống nhất về đặc điểm của thơ, đó là :

- Có hệ thống ngôn từ, có tổ chức riêng;

- Có nhịp điệu, vần điệu;

- Thể hiện cảm xúc riêng bằng hình ảnh

Tất cả những đặc điểm ấy tạo nên một chỉnh thể cấu trúc ngôn từ có sức

mê hoặc, đánh thức những ai muốn tìm hiểu, khám phá thơ

1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ

Thơ là một thể loại thuộc sáng tác văn học nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ trước hết phải là ngôn ngữ văn học, có nghĩa là “ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học” Song do sự tổ chức ngôn ngữ trên cơ sở của

hệ thống nhịp điệu, đảm bảo tính chất tối đa về nghĩa trên một đơn vị diện tích ngôn ngữ chật hẹp, lại mang sắc thái chủ quan của người viết trong một mức

độ cần thiết đã tạo cho ngôn ngữ thơ ca những phẩm chất đặc biệt

Ngôn ngữ thơ ca là đỉnh cao của sự chắt lọc, là sự biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc, mỹ lệ, phong phú của ngôn ngữ Quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống như người lọc quặng rađium, lọc lấy tinh chất, tìm ra trong cái bề bộn của những tấn quặng những từ đẹp, ánh sắc kim cương Ngôn ngữ thơ phải cô đọng giàu sức biểu hiện và “đúc lại như huân chương” Mỗi từ ngữ, hình ảnh trong thơ đều phải kết tinh được một dung lượng lớn về cuộc sống tạo nên những tín hiệu thẩm mỹ có sức ám ảnh, mê hoặc người đọc đó là

Trang 15

sự “trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất đối với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất dưới dạng các hình tượng nghệ thuật” [4, 19] Một bài thơ là “những ngôn từ sáng giá đứng trong những trật tự hoàn hảo” (Côlêritgiơ) Bởi thế, nhiều người đã khẳng định : Thơ là sự kết tinh

và thăng hoa của nghệ thuật ngôn từ Trong thơ, ngôn ngữ dễ có điều kiện bộc

lộ năng lực biểu hiện và vẻ đẹp hơn so với ngôn ngữ được vận dụng trong các lĩnh vực khác

Ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu tượng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ ca Đó là “một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”[20, 23] Điều ấy chỉ có được trong thơ chứ không có ở bất kỳ một thể loại nào khác trong văn học Hình thức tổ chức đặc biệt của thơ trữ tình khiến cho cái được nội cảm hoá không chỉ là ý nghĩa, cảm xúc được biểu hiện mà còn là chính bản thân ngôn từ Cũng như vậy, người đọc thơ không chỉ lĩnh hội cái điều mà nhà thơ muốn nói ra mà còn tiếp nhận trọn vẹn, nội cảm hoá trọn vẹn hình thức ngôn từ của bài thơ Ngược lại, trong văn xuôi không thể cung cấp cho ta một sự lĩnh hội tuyệt đối như thế, bởi cái ý nghĩa được biểu hiện của văn xuôi tự sự mới là mục đích duy nhất, ngôn

từ chỉ đóng vai trò như một chất liệu có tính tương đối Trong thơ ca, hình thức

tổ chức ngôn từ không chỉ là phương tiện mà còn được coi như mục đích, bắt người đọc phải nhớ mãi Bởi nếu người đọc quên ngay hình thức diễn đạt thì không thể cảm xúc và suy nghĩ được

Ngôn ngữ trong thơ không dày đặc như trong văn xuôi mà chia cắt ra thành nhiều phần ngắn hay dài theo âm luật Ngôn ngữ thơ được tổ chức có vần, có nhịp có cắt mạch, có số lượng âm tiết, có đối, có số câu, có niêm luật,

có sự vận dụng về trọng âm và trường độ theo một mô hình cực kỳ gắt gao Nhưng cái gắt gao ấy của mô hình là chỗ dựa cho trí nhớ Mô hình càng chặt chẽ thì càng dễ nhớ và càng dễ lưu truyền

Ngôn ngữ thơ cũng là ngôn ngữ tập trung đậm đặc các biện pháp nghệ thuật tu từ : so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, đảo ngữ tạo nên những hình ảnh tượng trưng, gợi lên những liên tưởng phong phú

Chính nhờ cách tổ chức ngôn ngữ độc đáo ấy mà ngoài ngữ nghĩa thông báo của bài thơ ta còn có những ngữ nghĩa khác Điều đó làm nên tính đa tầng

Trang 16

ý nghĩa của thơ, giúp nhà thơ chuyển tải tối đa sự phức tạp, tinh tế vô cùng của tâm trạng, tình cảm con người trong sự hữu hạn của câu chữ

Do hình thức đặc biệt trên nên ngôn ngữ thơ luôn gây được ấn tượng cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc, người tiếp nhận Cái mới lạ, bất ngờ của tổ chức ngôn ngữ thơ bắt người đọc phải suy nghĩ, giải mã với khao khát chiếm lĩnh trọn vẹn nội dung lẫn hình thức Bởi vậy, thơ muôn đời hấp dẫn người

đọc

1.3 Đặc trưng của ngôn ngữ thơ

Khác với văn xuôi, xuất phát từ chính yêu cầu biểu hiện thế giới nội tâm, thế giới tinh thần theo xu hướng nội cảm hoá, chủ quan hoá, thơ ca có cách tổ chức ngôn ngữ riêng biểu hiện trên các mặt : ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp

a) Về ngữ âm

Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể loại nào, ngôn ngữ thơ với tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, ngữ điệu phong phú về cách hoà âm, chính là thứ ngôn ngữ giàu tính nhạc Lời thơ khác với lời nói thường và khác cả với câu văn xuôi về nhiều phương diện mà dấu hiệu dễ phân biệt nhất chính là bởi nó đầy nhạc tính Thơ là một thể loại của văn chương, nhưng nó là văn có nhạc Chỉ trong thơ, cái mặt vật chất, mặt cấu âm của ngôn từ mới trở thành một chất liệu quan trọng [11, 179] Tình cảm, hình ảnh, nhạc điệu là những nhân tố cơ bản của thơ, như ba chiếc chân kiềng Văn xuôi mà có nhạc thì được xem là giàu chất thơ Thơ văn xuôi là loại thơ dù mang dáng dấp câu văn xuôi nhưng tính nhạc vẫn là điều cơ bản phân biệt nó với văn xuôi.Tính nhạc đem đến cho thơ sự mềm mại, duyên dáng, quyến rũ, tạo nên sự khoái cảm thẩm mỹ cho thơ : “Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối”[2, 121] Nhờ nhạc điệu mà thơ dễ nhớ, dễ truyền cảm và lan toả rộng rãi trong công chúng Bởi vậy, để thoả mãn nhu cầu ngâm ngợi của người đọc, để lôi cuốn người đọc trong ma lực âm thanh của từ ngữ, thơ luôn phải giữ một trong những đặc điểm chủ yếu của mình là nhạc điệu “Nhạc tính của một thi phẩm càng giàu, tức những tham

số thanh học của ngôn ngữ càng có độ tin cậy cao, thì hiệu quả lưu giữ - truyền đạt của nó càng mạnh”[2, 136]

Có nhiều yếu tố để tạo nên tính nhạc cho thơ, trong đó vần và nhịp giữ vai trò quan trọng Tính nhạc bộc lộ qua việc sử dụng mô hình âm nhạc, luật bằng trắc, vần hài hoà, nhịp cân đối

Trang 17

Đặc biệt, nhịp điệu là yếu tố cơ bản, không thể thiếu làm nên tính nhạc, sức ngân vang cho thơ Thơ có thể không có vần nhưng không thể không có nhịp Trong thơ hiện đại, vần điệu của thơ có thể bị suy yếu đi nhưng nhịp điệu vẫn là một trong những yếu tố chính tạo nên nhạc tính cho thơ Có thể bài thơ không có sự hiệp vần, hoặc ít được hiệp vần, và viết theo thể tự do nhưng vẫn giữ được tính cân đối, hoà điệu trong nội dung cũng như trong hệ thống ngôn

từ để tạo nên một nhạc điệu riêng hấp dẫn, độc đáo Nhiều nhà thơ khi viết thơ theo thể tự do nếu không lưu ý, chăm lo tổ chức nhịp điệu của từng câu thơ, sự hoà hợp về nhạc điệu trong một khổ thơ, một bài thơ thì tác dụng truyền cảm của thơ sẽ bị hạn chế Như vậy, có thể nói nhịp điệu là linh hồn của thơ, “là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ”(Mai-a-cốp-xki).Vì thế, có người đã định nghĩa : thơ là văn bản được tổ chức bằng nhịp điệu của ngôn từ Và “nếu nhịp điệu vĩnh viễn trường tồn, thì làm sao thơ ca bị tiêu diệt được ?” [2, 136]

Thực ra, do đều là nghệ thuật thời gian, trong văn xuôi và thơ đều có sự hiện diện của nhịp điệu Nếu không có nhịp điệu, người ta không thể nào nhận thức nổi, nhận thức đúng về nội dung của chuỗi âm thanh, chuỗi ngôn từ dài tưởng như vô tận Mặc dù vậy, nhịp điệu trong thơ, đặc biệt là trong thơ trữ tình có sự phân biệt rất rõ với nhịp điệu trong văn xuôi, trong những tác phẩm

tự sự Nhìn chung, so với nhịp điệu văn xuôi, “nhịp điệu của thơ trữ tình có tính chất cao hơn hẳn đến mức trở thành yếu tố đặc trưng nhất của thơ, bởi thơ

về cơ bản đã được giải phóng khỏi chức năng tạo hình để tập trung vào việc biểu hiện, bộc lộ cảm xúc mà cảm xúc là cái khó định hình, khó nắm bắt Do

đó, nhịp điệu trong thơ phải đảm trách nhiệm vụ vừa phân định lớp lang của dòng cảm xúc được diễn tả bằng âm thanh mang nghĩa, vừa đóng vai trò người thuyết minh tích cực, tận tuỵ cho chính dòng cảm xúc ấy, khi lượng ngôn từ dùng để dẫn giải, rào đón, mô tả đã được rút lại gần ở mức tối thiểu” [3, 16]

Tính nhạc không chỉ là sự hài hoà vần nhịp theo các mô hình cầu trúc ngữ âm chặt chẽ mà còn ở sự lặp lại, sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ Biện pháp trùng điệp được khai thác đến mức tối đa trong ngôn ngữ thơ, bao gồm : điệp thanh, điệp vần, điệp phụ âm đầu, điệp từ, điệp ngữ, điệp câu Ngoài tác dụng để liên kết dòng thơ, khổ thơ, nó còn tạo nhạc điệu khác thường cho bài thơ

Tóm lại, thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của cảm xúc, tình cảm Chiều sâu nội tâm, thế giới tình cảm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn trong cả âm thanh, nhịp điệu, kết cấu Bởi thế,

Trang 18

nhiều người đã thừa nhận tính nhạc là đặc thù cơ bản của thi ca và phổ biến trong mọi ngôn ngữ, đặc biệt là đối với ngôn ngữ thơ Việt Nam- một thứ ngôn ngữ giàu có về nguyên âm, phụ âm và thanh điệu

b) Về ngữ nghĩa

Ngữ nghĩa trong thơ ca phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp đời thường, thậm chí khác cả ngữ nghĩa trong văn xuôi Thơ là một cấu trúc rất cô đọng, hàm súc Vì vậy, ngôn ngữ thơ phải chứa đựng nhiều thông báo; một câu, một chữ có thể gợi lên nhiều nghĩa Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ được Nguyễn Phan Cảnh giải thích như sau : “Sức mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiến trúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra được một sự láy lại, song song trong tư tưởng Việc chức năng mỹ học chiếm ưu thế trong các thông báo thơ trong khi không loại chức năng giao tế, đã làm cho thông báo thành ra đa nghĩa, có tính chất nước đôi, thành ra nhập nhằng hiểu theo nghĩa tốt của từ này”[2, 55] Và đấy chính là điều cốt tử của thơ : “Thơ phải được ý ở ngoài lời Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của người làm thơ Cho nên ý thừa hơn lời thì tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn ý thì tuy công phu mà vẫn vụng Còn như ý hết mà lời cũng hết thì không đáng

là người làm thơ vậy” (Ngô Lôi Pháp)

Ngôn ngữ thơ ca mang trong mình nó sự sống, nhiều ý nghĩa vô cùng biến đổi, xuất phát từ ý đồ nghệ thuật của nhà thơ Mỗi từ ngữ khi đưa vào thơ đều đã qua trục lựa chọn của tác giả Như “con kỳ nhông”, nó hoạt động rất đa dạng và biến hoá linh hoạt tuỳ theo chuỗi từ ngữ và nhịp điệu mà trong đó nó được sử dụng Giá trị ngữ nghĩa của từ phụ thuộc vào vị trí của nó trong câu thơ Do đó, từ ngữ trong một diễn ngôn thơ luôn có sự thay đổi ý nghĩa và kéo theo, ngữ nghĩa học thơ ca thường đi chệch so với sự liên kết từ ngữ thông thường

Văn xuôi không hạn chế về số lượng âm tiết, từ ngữ, câu chữ Còn trong thơ, tuỳ theo từng thể loại mà có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ, do

áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà đã đi vào những tầng ý nghĩa mới tinh tế hơn, sâu sắc hơn đa dạng hơn và mới mẻ hơn nhiều Đó là nghĩa bóng hay còn gọi là ý nghĩa biểu trưng của ngôn ngữ thơ ca Đặc trưng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút kỳ lạ đối với người đọc, người nghe Bởi họ không chỉ tiếp nhận văn bản thơ bằng mắt, bằng tai mà

Trang 19

bằng cả xúc động, tình cảm, bằng cả trí tưởng tượng liên tưởng nữa Điều đó cũng làm cho ngôn ngữ thơ không còn là phương tiện giao tiếp mà đã đóng một vai trò khác Và khi ấy, ngôn ngữ trở thành một thứ gì đó chưa từng được nói hoặc được nghe Đó là ngôn ngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ Đó là cái vượt ra ngoài giới hạn

Như vậy, trong quá trình vận động tạo nghĩa của ngôn ngữ thơ ca, cái biểu hiện và cái được biểu hiện đã xâm nhập và chuyển hoá vào nhau tạo ra cái khoảng không ngữ nghĩa vô cùng cho ngôn ngữ thơ ca

Cấu trúc câu của ngôn ngữ thơ thường không theo quy tắc bắt buộc và chặt chẽ như câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng “ Phải nói rằng ngôn ngữ thơ là một thứ ngôn ngữ bộc lộ thế giới chủ quan, thiên về thế giới

ấn tượng cảm xúc, cảm giác Những mạch biểu cảm thường đan chéo nhau, chiếm những cấp độ nghĩa thiếu quan hệ nội tại trên bề mặt cú pháp Do vậy, cấu trúc cú pháp câu thơ thường khó phân tích theo nguyên tắc lôgic của ngữ pháp thông thường như trong văn xuôi” [14, 129] Chịu sự chi phối của một thể loại văn bản luôn đòi hỏi hiệu quả nghệ thuật có sự thay đổi vượt bậc : tính

đa thanh, tính hình tượng, tính cảm xúc, nên thơ phải chọn cho mình những hình thức biểu đạt riêng, mà một trong những hình thức đó là xây dựng kiểu câu có cấu trúc bất quy tắc Đó là những câu có sự bẻ gãy trật tự tuyến tính của các đơn vị ngôn ngữ, không tuân theo quy tắc thông thường, gồm có : câu đảo ngữ, câu tĩnh lược, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp, câu có sự kết hợp bất thường về nghĩa….“Từ vốn từ ngữ quen thuộc, sẵn có chung cho mọi người, người sáng tạo văn bản phải biết chọn lựa, sắp xếp các tín hiệu từ ngữ theo một cách thức nào đó để làm nên sự khác biệt, sự “phát sáng” Điều này

Trang 20

đưa đến sự kết hợp các tín hiệu ngôn ngữ theo tuyến tính thời gian bị mờ đi, bị đẩy xuống hàng thứ yếu, và sự chọn lựa tín hiệu này chứ không phải tín hiệu kia trên trục liên tưởng nổi lên, chiếm ưu thế Nhờ sự chọn lựa trên trục lựa chọn này, ta có các kiểu câu đầy sức nặng”[35, 267] Việc sử dụng phổ biến các kết cấu này không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa văn bản thơ Ngược lại, chính những kết hợp, tổ chức ngôn ngữ “bất bình thường”

đó lại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca tạo nên tính hàm nghĩa, đa nghĩa, tính biểu cảm mà một cấu trúc thông thường không thể

có Nó chứng tỏ khả năng vô tận của ngôn ngữ thơ trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới và tâm hồn con người Có những khi hiệu quả nghệ thuật, ngữ nghĩa mà câu có cấu trúc bất quy tắc đưa lại vượt lên cả ý

đồ người viết

Chính vì thế, ngữ pháp thơ ca được xem là loại ngữ pháp có cấu tạo đặc biệt, độc đáo mang tính nghệ thuật riêng, một thứ ngữ pháp bí ẩn, đầy ma lực, hấp dẫn con người mặc dù việc phân tích, giải mã chúng không phải đơn giản,

dễ dàng

2 NGUYỄN DUY VÀ THƠ NGUYỄN DUY

Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh ngày 7/ 12/ 1948 tại xã Đông Vệ, thị xã Thanh Hoá Ông tham gia công tác từ năm 1965, làm tiểu đội trưởng dân quân trực chiến khu vực Hàm Rồng – Thanh Hoá Năm 1966, ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin Nguyễn Duy từng hăng hái tham gia chiến đấu tại các chiến trường Khe Sanh – Đường Chín – Nam Lào, mặt trận phía Nam và phía Bắc (1979) Từ 1976, ông chuyển khỏi quân đội về làm báo Văn nghệ giải phóng Từ 1977 đến nay là đại diện thường trú của tuần báo Văn nghệ tại các tỉnh phía Nam – là Đảng viên đảng cộng sản Việt Nam Với lòng đam mê văn chương, ông đã từng tốt nghiệp Đại học Ngữ văn và là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam Hiện ông sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh

Thuở bé Nguyễn Duy được sống với những câu ca dao, những truyện cổ tích của người bà thân thiết Nguồn văn hoá dân gian ấy như dòng sữa ngọt ngào của mẹ đã nuôi ông lớn lên rồi ngấm sâu vào tâm hồn ông, vào thơ ông một cách tự nhiên lúc nào không biết

Trang 21

Những năm làm lính và làm báo đã tạo cho Nguyễn Duy có dịp đi qua nhiều nơi trên đất nước Ông được ví như con ngựa sung sức, luôn ở tư thế động, đôi chân đi không biết mỏi, thoắt ở mặt trận biên giới phía Nam, thoắt lên mặt trận biên giới phía Bắc, vừa ở Cà Mau, lại thấy ở Tây Nguyên, từ công trường thuỷ điện Trị An cho đến ngoài giàn khoan dầu khí ngoài biển…đâu đâu ông cũng có mặt Ông hăm hở lao vào cuộc sống để nếm trải, lắng nghe, quan sát và suy nghiệm Bởi thế, Nguyễn Duy có cả một “núi cát” đời sống để sàng lọc, để “đãi tìm vàng” đưa vào thơ Ông cũng đã sang các nước XHCN, qua các nước Tây Âu và Mỹ Đến đâu ông cũng có thơ và thơ hay Một sự thật khách quan là Nguyễn Duy vẫn sáng tác với bản sắc riêng của mình, không biến dạng không pha tạp do hoàn cảnh sống Chính những cuộc chu du đó ở cái tuổi chín muồi, hình như đã giúp cho Nguyễn Duy thể hiện thơ Việt Nam một cách dân dã, dân gian hơn Phải chăng ông sợ tự đánh mất mình

Mặc dù cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng với tấm lòng nhân hậu, cởi mở, ông sẵn sàng chia sẻ, cưu mang, giúp đỡ bạn bè, người thân một cách vui vẻ, chân thành Trong thời buổi không hiếm người sống theo phương pháp thích ứng sinh học, gió chiều nào che chiều ấy thì Nguyễn Duy hoàn toàn khác Luôn có chính kiến, với thái độ thẳng thắn, ông không ngần ngại bóc trần những cái xấu xa, trần trụi mà người khác còn e ngại chưa dám nói ra, hay vì lẽ này, lẽ khác, cố tình phủ lên nó lớp trang sức phù phiếm hòng che đậy sự thật Tất cả những tính cách ấy đều góp phần tạo nên bản sắc và bản lĩnh thơ Nguyễn Duy

Là một người tháo vát, Nguyễn Duy đã từng lăn lộn kiếm sống với rất nhiều nghề : thợ nguội, lái xe, bốc vác, cày ruộng, nuôi lợn, nấu rượu, đạp xích

lô, đầu bếp… Gần đây, ông còn viết ký, viết báo, viết tiểu thuyết, viết kịch, làm phim… thậm chí làm thuê, viết thuê, (những việc mà ông tự giễu là “ bán vàng” ) để một phần tháo dỡ khó khăn kinh tế cho gia đình và phần nữa là thực hiện lòng đam mê đối với thơ

Sau khi cho xuất bản tập thơ Bụi (1997), Nguyễn Duy tuyên bố “giã từ

sân thơ” Nhưng cái nghĩa vụ của một người công dân yêu nước vẫn đeo đuổi ông Những năm gần đây, mỗi dịp tết đến, xuân về, Nguyễn Duy làm lịch bằng thơ, làm thơ bằng lịch với những minh hoạ ngộ nghĩnh của gồng gánh, thúng mủng, nong nia, rành mẹt, rổ rá, dần sàng, chum vại, nồi đất, cái quạt, cái điếu cày….như để trưng bày cái tông tích mình, cái cội rễ thơ mình Có lẽ, ông là

Trang 22

người đầu tiên đưa thơ đi triển lãm Bởi thế, khi Nguyễn Duy tuyên bố gác thơ, ngừng thơ thì chúng ta chỉ nên hiểu là ngừng làm thơ, chứ không ngừng sống thơ Với ông, ngừng thơ ắt là ngừng thở

2.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy

Trong sự nghiệp hơn hai mươi năm sáng tác của mình, Nguyễn Duy đã cho ra đời một khối lượng sáng tác không nhỏ với khoảng 16 đầu sách đã xuất

bản, trong đó chỉ có 3 tập văn xuôi : Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký,1985), Khoảng cách (tiểu thuyết, 1985), Tôi thích làm vua (ký, 1988); còn lại là thơ : Cát trắng (1973), Phóng sự 30.4.1975 (1981), Em Sóng (kịch thơ, 1983), Ánh trăng (1984), Mẹ và Em (1987), Đãi cát tìm vàng (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990), Về (1994), Sáu và Tám (1994), Tình tang (1995), Vợ ơi (1995), Bụi (1997) Chừng ấy cũng đủ nói lên sức lao động sáng tạo dồi dào,

không biết mệt mỏi của nhà thơ Mảng văn xuôi của ông ít ai để ý tới Người ta chỉ nhớ Nguyễn Duy của “Cát trắng”, “Ánh trăng”, “Mẹ và em”, “Đường xa”,

“Quà tăng”, “Về”, “Bụi”, “Vợ ơi”, nhất là tuyển thơ lục bát “Sáu và Tám"

Nguyễn Duy làm thơ từ rất sớm Tác phẩm đầu tay “Trên sân trường”

sáng tác năm 1957, khi nhà nhơ đang còn là một học sinh phổ thông ở trường Lam Sơn - Thanh Hoá Song phải đợi đến sự ra đời của hàng loạt bài thơ như

Trận địa tím (1969), Khẩu súng trên tay ta (1970), Khúc dân ca (1970), Tiếng hát mùa gặt (1971)… và đặc biệt là ba bài thơ : Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm- chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ (1972

– 1973), đã bộc lộ rõ nét một thế giới nội tâm có bản sắc để từ đó từng bước

định hình phong cách thơ Nguyễn Duy Tập thơ đầu tay Cát trắng với 50 bài

đã in dấu những bước đi chập chững tìm tòi của một nhà thơ trẻ thời kỳ chống

Mỹ Song đến Ánh trăng, độc giả dễ dàng nhận ra sự tiến bộ của Nguyễn Duy

qua sự phong phú của đề tài, sáng tạo trong cách dựng tứ, độ đằm sâu của tình cảm, cảm xúc thể hiện một hồn thơ mang đậm nét riêng và ngòi bút ngày càng

sung sức Và sự ra đời của hàng loạt tập thơ : Mẹ và em (1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990) và đặc biệt tập thơ Về (1994), thơ Nguyễn Duy từ

chỗ non nớt, pha giọng đã khẳng định một phong cách định hình ngày càng rõ

rệt, nhà thơ đã tìm ra giọng mới thích hợp với người thời mình Nối tiếp Về,

tập thơ Bụi với những vần thơ lang thang phiêu diêu cùng lời hát “nghêu ngao

ngọng nghẹo”, Nguyễn Duy đã mở ra một “lối đi” mới nhằm tìm kiếm và mở

Trang 23

rộng phạm vi biểu hiện của cái tôi trữ tình Một cái tôi vừa đậm đà bản sắc cá thể, vừa hoà nhập với tiếng nói chung của cộng đồng

Thường thì sau mỗi thành công nào đó người ta chững lại để chiêm

ngưỡng, để tìm con đường mới Sau khi tập Bụi ra đời, Nguyễn Duy đã nói lời

chia tay với người bạn thơ son sắt tri kỷ của mình Đó là một sự chia tay đầy trách nhiệm và đáng trân trọng bởi nhà thơ không muốn lặp lại mình và lặp lại người Trả lời báo Lao Động số Tết năm 2004, ông đã phát biểu rằng “Với tôi, tạm bỏ thơ vì tôi trân trọng nó”

Có thể nói, Nguyễn Duy là một nhà thơ có quá trình sáng tác liên tục, suốt thời chiến tranh cho đến thời hoà bình trên nhiều đề tài : quê hương đất nước, chiến tranh, thế sự, thiên nhiên, tình yêu … Hơn hai mươi năm làm thơ cũng là thời gian Nguyễn Duy lăn lộn trong cuộc sống, mở rộng tầm mắt, căng phồng lồng ngực để đón nhận vào tâm hồn mình những sắc màu, hương thơm, mật ngọt và cả những cay đắng của đời sống Thơ ông viết ra vừa là để trang trải “món nợ” với đời, vừa là những bước chân trên chặng đường dài tự tìm và

tự khẳng định mình

Trong hành trình sáng tác từ Cát trắng đến Bụi, ta thấy hồn thơ Nguyễn

Duy luôn có sự vận động, trăn trở, tìm tòi để làm mới mình, đặc biệt có những cách tân táo bạo về mặt hình thức để tạo nên một phong cách ấn tượng, có sức hấp dẫn riêng, vừa truyền thống, vừa hiện đại, sâu đậm và dân dã Bởi vậy, cùng với Bằng Việt, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo…, Nguyễn Duy được đánh giá là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của thơ ca chống Mỹ cứu nước

Trang 24

CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC THƠ NGUYỄN DUY

1 ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ THƠ

Để tìm hiểu dấu ấn riêng của thơ Nguyễn Duy, phong cách cá nhân của thi sĩ xứ Thanh, không thể không bàn tới một yếu tố quan trọng- thể loại sáng tác Là một khâu quan trọng trong quá trình sáng tạo, thể loại hình thành dựa trên sự giống nhau về cách tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả, về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hình tượng đời sống ấy Sự liên kết chặt chẽ giữa hệ thống hình tượng cụ thể và thể loại, giữa cấu trúc thể loại và phong cách đã nảy sinh ngay từ giai đoạn đầu sáng tác của nhà văn và sẽ phát triển dần trong hành trình sáng tạo, làm nên những đơn vị nghệ thuật hoàn chỉnh Vì thế, việc sử dụng thể loại nào trong quá trình sáng tác cũng là một biểu hiện và ghi nhận sự phát triển của phong cách cá nhân, mang đậm dấu ấn người nghệ sĩ Theo cách hiểu trên thì chúng ta cũng có thể khẳng định : thể thơ là một trong những yếu tố hình thức mang đặc điểm tâm lí, thẩm mĩ, cảm hứng sáng tạo riêng của nhà thơ Nó thể hiện một góc nhìn, một trường quan sát, một quan niệm của cái tôi trữ tình đối với đời sống con người, một cách lý giải hiện thực đầy sáng tạo

Là một nhà thơ sáng tác trên nhiều đề tài, với một cái tôi phong phú, đa dạng cho nên ngòi bút Nguyễn Duy đã có cuộc thử nghiệm trên rất nhiều thể thơ: năm chữ, bảy chữ, thơ tự do, và đặc biệt là thơ lục bát Ở thể thơ nào, ông cũng để lại một dấu ấn, bản sắc riêng cùng với sự cách tân, phát triển mang những phẩm chất mới

1.1 Thể thơ lục bát

Có thể nói, lục bát là một thể thơ truyền thống độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam Nó hình thành trong ca dao, được nâng tới đỉnh cao ở Truyện Kiều và cho đến hôm nay, trong trào lưu mạnh mẽ của thơ tự do, lục bát vẫn giữ nguyên vai trò “là một thể loại anh minh” [31,268], đã giữ được bí quyết trường sinh “luôn tạo được trường nét dư cho chính thể loại mình”[31,172] Sở dĩ thơ lục bát có sức sống bền bỉ đến như vậy là bởi vì đặc trưng của thể loại này là giản dị, dễ hiểu, dễ thuộc, nó có thể chuyển tải mọi cung bậc tình cảm con người yêu thương, vui buồn, hờn giận, từ nỗi niềm tâm

tư thầm kín cho đến những biến cố lớn lao của thời đại Nó vừa có khả năng tự

sự, vừa có khả năng trữ tình

Trang 25

Đây là loại thơ tưởng như ai cũng làm được nhưng để đạt tới hay thì rất khó, bởi “nó dễ gần mà chẳng dễ chơi” [27, 51] Nguyễn Phan Cảnh đã từng tổng kết trong “Ngôn ngữ thơ” : Thơ lục bát làm được tốt thì là tính dân tộc, làm không tốt sẽ trở thành diễn ca Hơn nữa, khi nền văn hoá dân tộc đang tìm hướng hoà nhập với thế giới, khi mà lục bát sáu- tám đã có nhiều đỉnh cao trên thi đàn Việt Nam xưa và nay với các tên tuổi sáng giá: Nguyễn Du, Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu…thì trở về với thơ sáu - tám là một thử thách

và là sự khẳng định tài năng, bản lĩnh của những nhà thơ “thứ thiệt”

Trong khi một số nhà thơ cùng thời say sưa đi tìm những hình thức biểu hiện mới phù hợp với “tâm tình của người hiện đại” khiến cho các thứ thơ không vần, thơ văn xuôi…tràn ngập thi đàn, thì Nguyễn Duy vẫn bền lòng

chung thuỷ “Cứ bèo bọt bước thiên di/ Đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng”, vẫn dành cho thể lục bát một niềm ưu ái đặc biệt “Câu thơ sáu nổi tám chìm/ Đụng thời xa lộ thông tin kẹt đường/ Vương thì tội bỏ thì thương/ Đành lê thê nốt đoạn đường mộng du” Nguyễn Duy xuất hiện trong làng thơ Việt Nam với hai bài thơ lục bát : “Bầu trời vuông” và “Tre xanh” trong số 3

bài thơ được giải thưởng của báo Văn nghệ năm 1973 Cũng từ đó nắm bắt được sở trường của mình, ông không ngừng làm thơ lục bát Năm 1994, Nguyễn Duy tiến hành tập hợp những bài thơ lục bát trong khoảng thời gian hai mươi năm sáng tác (1973 – 1993) và lựa chọn 99 bài lục bát tiêu biểu đưa

vào tập thơ Sáu và Tám của mình Điều này chứng tỏ nhà thơ có ý thức khai

thác và sử dụng thể thơ truyền thống này Đặc biệt, khảo sát thống kê trong

tuyển tập “Thơ Nguyễn Duy”, với 108 bài thơ thì có đến 71 bài làm theo thể

lục bát (chiếm 65,7%)

Thơ lục bát Nguyễn Duy dung nạp tất cả các loại đề tài : quê hương đất nước, chiến tranh và người lính, miền xa trái đất, tình yêu lứa đôi, và cả nội dung thế sự Song phải nói rằng những thi phẩm thành công, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả chính là những khúc hát về những tình cảm muôn thuở của con người như quê hương, tình yêu, bè bạn… có thể kể một số tác

phẩm đạt tới trình độ mẫu mực : Tre Việt Nam, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Về làng, Bầu trời vuông, Trăng, Lời ru đồng đội, Hầm chữ A, Hỏi thăm, Nhớ bạn, Mưa trong nắng, nắng trong mưa, Đám mây dừng lại trên trời…

Thơ lục bát không hạn định số lượng câu cho một bài thơ nên thường xảy

ra hiện tượng có những bài thơ lục bát rông dài, kể lể, trở thành những bài vè, nhiều lời mà ít ý Bằng lối tư duy sắc sảo mà thông minh và bàn tay khéo léo,

Trang 26

Nguyễn Duy đã đưa thể lục bát của mình thoát khỏi điểm yếu đó Các bài thơ lục bát của ông thường ngắn gọn, thậm chí rất ngắn, có bài gồm hai cặp lục bát

(9 bài) : Kính thưa Liền Thị, Chạnh lòng, Cung văn, Lên đồng…có bài chỉ có một cặp lục bát (16 bài) : Rót ngược, Gặp ma, Xanh, Đỏ, Vàng, Lụa, Bạch…Mặc dù cực ngắn nhưng thơ ông không rơi vào tối nghĩa, vừa đảm bảo

độ hàm súc của thơ mà vẫn dạt dào ảm xúc, hàm chứa được nhiều điều sâu xa, đằm sâu chất triết lý cuộc đời

Vốn bắt nguồn từ thơ ca dân gian, không là ngoại lệ, thơ lục bát Nguyễn Duy cũng tiếp thu và chịu ảnh hưởng của ca dao từ chất liệu ngôn từ cho đến cách ví von, bóng bẩy Có thể tìm thấy trong thơ ông những câu lục bát, những bài lục bát nhuần nhị, ngọt ngào đến nỗi người ta ngỡ nhầm tưởng đó là ca dao Cũng là hình ảnh con cò, mây núi quen thuộc :

Con cò bay lả bay la Theo câu quan họ bay ra chiến trường Nghe ai hát giữa núi non

Mà hương đồng cứ dập dờn trong mây (Khúc dân ca)

Cả cách nói nghịch ngợm, bông đùa đậm cất ca dao :

Vừa xa mà nghe đã lâu Hỏi thăm áo tím qua cầu gió bay

Ớt Đông Ba có còn cay Gạo de An Cựu độ này còn thơm?

***

Quán cơm Âm Phủ còn không

Cô gì hôm ấy…lấy chồng hay chưa?

(Hỏi thăm)

Nhưng điều đáng nói là trong quá trình làm thơ lục bát, Nguyễn Duy luôn có ý thức cách tân và phát triển, đưa thơ lục bát truyền thống gần gũi với các thể thơ hiện đại Sự đổi mới trước hết là về nội dung, ông đã mượn thể thơ này để đề cập đến những hiện tượng, sự việc của ngày hôm nay với cách cảm, cách nghĩ mang đậm tư duy theo lối hiện đại Lục bát ca dao chủ yếu giãi bày tâm trạng riêng tư, những mất mát đớn đau trong tình yêu Với Nguyễn Duy, vẫn nỗi đau ấy, song nó là của hôm nay, nỗi đau trước hiện thực xót xa của đất nước thời hậu chiến :

Chiến tranh như trận cháy làng

Bà con ta trắng khăn tang trên đầu Vẫn đồng cạn,vẫn đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Trang 27

(Về làng)

Nhà thơ đã gửi vào trong lục bát tinh thần khẩu khí của thời đại mình,

“đưa lục bát về gần với cuộc sống trần ai vốn đầy bụi dân sinh của thảo dân thì hiện tại” [27, 52] Thơ lục bát của ông áp sát những vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc sống Nghe tin nàng Tô Thị ở Lạng Sơn bị “hạ sát” (nung vôi) nhà thơ không khỏi ngậm ngùi :

Leo lên xứ lạng quờ tay Người xưa dứt bóng người nay đâu rồi

Vành sa trắng chít ngang trời Một vùng biên ải mấy thời binh đao (Vọng Tô Thị)

Trong nhiều trường hợp, Nguyễn Duy lại đưa cái vẻ “lí sự”của lối tư duy lôgic hiện đại khiến cho câu thơ lục bát nặng trĩu suy tư, chứa đựng nhiều

lý giải, suy nghiệm về cuộc đời, vượt lên khỏi lối tâm tình giản dị vốn là đặc tính quen thuộc trong lục bát ca dao Đây cũng chính là cái nguyên cớ bên trong dẫn đến ở nhiều trường hợp nhà thơ đã “vi phạm và phá vỡ cái khung 12 nốt đã được định vị chặt chẽ của câu thơ lục bát cổ điển” [1] Lục bát vốn là thể thơ mang chất ru rõ nét nhất, thường dùng để giãi bày cảm xúc hay chuyên chở những tình cảm sâu lắng mượt mà Nhưng cái “ý hướng muốn lý lẽ” trong thơ Nguyễn Duy làm cho chất ru ấy ít nhiều bị xáo động :

Đã đành có quả rụng đi Thì như lá ấy rụng về cội cây Quả không sa xuống từ mây Quả đi từ dưới gốc cây lên cành (…Và lời của quả)

Vẫn là thơ lục bát đấy, nhưng cái nhịp thông thường êm ngọt thì không hẳn còn nguyên Giai điệu vốn êm đềm như ru của lục bát đã được Nguyễn Duy cải biên để nó xích lại gần hơn với lời nói thường Câu lục bát bị nói hoá với kiểu diễn đạt ỡm ờ, tinh nghịch:

Quán cơm Âm Phủ còn không

Cô gì hôm ấy…lấy chồng hay chưa?

(Hỏi thăm) Nhịp điệu trong thơ lục bát Nguyễn Duy biến hoá linh hoạt phù hợp với nội dung biểu đạt và cảm xúc tự nhiên Điểm ngắt nhịp ở đây không nhất thiết phải là nơi gặp gỡ của cả hai yếu tố : điểm dừng cú pháp và điểm dừng ngữ lưu

Trang 28

mà có thể tách nhau Lục bát Nguyễn Duy có nhiều kiểu ngắt nhịp táo bạo khác hẳn với lối ngắt nhịp thường gặp (2/2/2, 2/4/2, 4/4, 3/3) của lục bát truyền thống

Ví dụ : (2/4) - Thắng rồi - trận đánh thọc sâu

(5/3) Lại về với mái tăng- bầu trời vuông

(Bầu trời vuông)

- Nét và hình chẳng riêng ai (1/7) Em – thần nhan sắc trời sai giáng trần

…Thêm chút sang bớt chút hèn (3/5) Nhìn em thôi – cảm ơn em rất nhiều

(Nét và hình)

- Chiều đang sâu thắm một nàu ( 6/2) Tự dưng lộp độp trên đầu – ồ mưa!

( 4/2) -Em đừng trách nhé, em thương

Nào ai biết được giữa đường gặp mưa!

Tiếng em như tiếng gió lùa:

(6/2) Thôi đừng nói giọng người xưa, buồn cười…

(Mưa trong nắng, nắng trong mưa)

- Mây trôi bằng gió của trời (2/6) Là ta, ta hát những lời của ta

(Khúc dân ca)

(2/4) - Ô kìa đột ngột trăng lên (1/1/6) Trăng, trời, trăng láng bạc trên lá rừng

(Trăng) Nguyễn Duy dường như đã cố tình kéo câu thơ điệu ngâm lại gần với câu thơ điệu nói mà vẫn giữ cốt cách riêng cho thể loại Ở đây, cái vần, cái âm thanh thì vẫn êm, vẫn nuột nhưng cái giọng thì đã nôm na, đã “văn xuôi” rồi Đặc biệt, có những câu thơ lục bát bị bẻ ra, ngắt ra thành nhiều khúc, rải ra trên nhiều dòng thơ :

- Tre xanh Xanh tự bao giờ?

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh(….)

Mai sau Mai sau Mai sau Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh

Trang 29

(Tre Việt Nam)

- Gió trên vách đá ù ù Nghe

Tù và dội xuống từ cao xanh…

( Chi Lăng)

Điều này chứng tỏ Nguyễn Duy có xu hướng tự do hoá nhịp điệu lục bát vốn có quy luật chặt chẽ cho phù hợp với cảm xúc thời đại, với nhịp điệu đời sống con người hiện đại

Nguyễn Duy làm thơ lục bát như một sự ngẫu hứng, không gò bó, gượng

ép, những dòng thơ, bài thơ được phóng ra từ trái tim nhà thơ một cách bất ngờ, tự nhiên Bằng cách “chơi chữ lai rai, chọi chữ dài dài”, Nguyễn Duy đã đem lại cho âm điệu và nhất là hình thức tiểu đối quen thuộc của lục bát một

kiểu dáng đời mới, tung tẩy mà trang nghiêm : “Vô tư như thực như mơ như gì”, “Không ngây không dại không đành phải không”, “Yêu lăn yêu lóc la đà

đã chưa”, “Đủ phờ phạc đất đủ lao đao trời”, “Thôi ta về với mình thôi / Chân trời đành để chim trời nó bay”, “Nghêu ngao hát ngọng nghẹo chơi / Người yêu nhau xúc phạm người ghét nhau” Tất cả tạo nên một thứ lục bát

giàu sinh lực, nó khoẻ khoắn, nồng đượm, tân kỳ Nguyễn Duy đã tạo cho lục bát không còn nằm yên trong thể tự sự, tâm tình mà đã đưa cái tôi vào một cách khá nhuần nhuyễn, chấp nhận được Ông “sử dụng lục bát để thuần hoá chất liệu cập nhật của đời sống Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm

ái vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc vừa biến hoá, “cựa quậy” Làm thơ lục bát đến như Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc tài tình”[30]

Thực ra sự cách tân thể thơ lục bát với những thủ pháp nghệ thuật ấy không hoàn toàn mới lạ, riêng biệt của Nguyễn Duy Song điều đáng trân trọng

là nhà thơ đã gửi được cái giọng riêng, cái điệu riêng của mình trong đó Không hẳn là mộc mạc, giản dị theo lối của lục bát ca dao, không thi vị lãng mạn như lục bát Nguyễn Bính, không cổ kính như Huy Cận, cũng không thời

sự chính luận như lục bát Tố Hữu… mà thay vào đó là chút ngang tàng, chút

“bụi” của con người thời nay Những câu thơ lục bát của ông vừa quen vừa lạ, quen vì hơi thở cuộc sống cộng đồng hằn sâu trong tư duy thể loại, lạ vì có một cái gì đó rất riêng của Nguyễn Duy ẩn chứa trong từng câu chữ làm cho nó không thể lẫn vào thơ lục bát của bất cứ ai Với khả năng sáng tạo phi thường Nguyễn Duy đã đưa thể lục bát truyền thống hoà nhập vào khuôn mặt chung của thi ca hiện đại Sự thành công với thể loại lục bát trong thơ Nguyễn Duy

Trang 30

giúp chúng ta nhận ra bản sắc riêng của một phong cách thơ độc đáo, giàu hương vị dân tộc

1.2 Thể thơ tự do

Mặc dù đứng vị trí sau lục bát nhưng đây cũng là thể thơ mà Nguyễn Duy tâm đắc Có lẽ nhà thơ cũng nhận thấy “lục bát có những hạn chế trong việc biểu hiện cái quyết liệt và sôi nổi của hiện thực khách quan Cuộc sống với tất cả những sự kiện xô bồ, chất liệu phong phú với những sắc thái đa dạng nhất cũng gặp khó khăn khi đưa vào thơ lục bát”[5, 292] Trong khi đó khả năng biểu hiện của thơ tự do là rất lớn Nó hoàn toàn không bị gò bó bởi những quy tắc, luật lệ như các thể thơ cách luật truyền thống, mà rất cởi mở, linh hoạt, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thơ miêu tả sinh động thực tế khách quan cũng như biểu hiện những rung động, cảm nghĩ một cách chân thật nhất

Đó là lý do để cho hồn thơ hiện đại mang trái tim nhiệt huyết, nặng nợ với đời- Nguyễn Duy, tìm đến với thơ tự do

Trong tuyển tập “Thơ Nguyễn Duy”, có 33/108 bài làm theo thể thơ tự

do (chiếm tỷ lệ 30,6%) Tìm hiểu mảng thơ này của Nguyễn Duy, chúng ta

thấy có hiện tượng bên cạnh những bài thơ rất dài : Đánh thức tiềm lực, Chiến hào, Tìm thân nhân, Nghe tắc kè kêu trong thành phố, Cô bé nhà bên…lại có những bài thơ rất gọn gàng, cô đúc : Hơi ấm ổ rơm, Đà Lạt một lần trăng, Trăng sông Tiền, Sông Thao, Đi ngang thành Nội… Hầu hết các bài thơ đều

được chia thành những khổ thơ rõ ràng, còn ở những bài thơ dài lại chia thành từng đoạn thơ theo mạch cảm xúc khác nhau

Đề tài nổi bật và chủ đạo trong những sáng tác của Nguyễn Duy ở thể thơ này là phạm vi hiện thực đời sống xã hội với những vấn đề gay cấn, nhức nhối, phức tạp của đất nước thời hậu chiến

Ấn tượng rõ nhất đối với thơ tự do là giàu chất liệu hiện thực với hệ thống chi tiết, sự kiện, hình ảnh của cuộc sống Song Nguyễn Duy đưa vào thơ nhiều chi tiết cuộc sống không cốt để dựng cảnh mà nhằm để nói lên hiện thực tâm trạng, hiện thực suy nghĩ của một lớp người, của một thời đại :

Ruộng bát ngát đó thôi, và gạo đắt đó thôi Đất ghiền phân vô cơ như người ghiền á phiện Con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng

Thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển Phà Cần Thơ lê lết người ăn xin

Cây đàn hát rong não nề câu vọng cổ

Trang 31

Quán nhậu lai rai- nơi thừa thiếu trốn tìm

(Đánh thức tiềm lực) Hiện thực đất nước hiện lên qua nhiều chi tiết chân thực Nhưng đằng sau những chi tiết ấy, nhà thơ cố gắng hướng người đọc vào chiều sâu cảm xúc, suy nghĩ Mỗi hiện tượng, mỗi sự việc trong đời sống hàng ngày đi vào thơ Nguyễn Duy không chỉ là cái cớ để bày tỏ cảm xúc mà còn là những đối tượng để cho nhà thơ tìm hiểu, suy nghiệm cuộc đời

Để vượt qua sự dễ dãi, ôm đồm, kể lể, phá vỡ tính cô đọng của thơ , Nguyễn Duy đã biết “chộp” lấy những khoảnh khắc, những góc khuất của đời sống mà ít ai để ý và nhận ra, từ đó bày tỏ những đánh giá, suy nghiệm sắc sảo, kín kẽ của mình Bởi thế, ông có nhiều bài thơ tinh tế, hàm súc với sự nén chặt

của ngôn từ để lại nhiều ý vị thâm trầm, mở ra nhiều chiều liên tưởng “Hơi ấm

ổ rơm” là một ví dụ Bài thơ có tình huống, nhân vật, sự việc …đầy đủ chất

liệu cho một truyện ngắn có cốt truyện khá vững vàng Dựa trên nguồn chất liệu ấy, Nguyễn Duy đã triển khai thành một tứ thơ với nhiều suy tư, cảm xúc đan cài Bài thơ không chỉ kể về một câu chuyện lỡ đường của anh bộ đội thời chiến tranh mà còn là câu chuyện cảm động về tình người, tình đời ấm áp Ý tứ bài thơ không dừng lại ở đó, ở những câu kết, ngôn từ được dồn nén đến mức

tối đa “Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no / Riêng cái ấm nồng nàn như lửa/ Cái mộc mạc lên hương của lúa / Đâu dễ chia chi tất cả mọi người” còn gợi

cho người đọc nhiều suy nghĩ

Chất chính luận, nghĩ suy mang tính lô gíc của tư duy hiện đại tác động mạnh mẽ, làm thay đổi cấu trúc cũng như âm điệu của câu thơ trong các bài thơ tự do của Nguyễn Duy Câu thơ kéo dài theo chiều ngang mang dáng dấp của câu văn xuôi, đậm chất văn xuôi, thể hiện qua ngôn ngữ trần thuật khách quan cùng với sự đan xen giữa lời kể, lời bình luận, lời tâm sự, lời bàn cãi đầy

lí lẽ :

Lúc này, tôi làm thơ tặng em

Em có nghĩ tôi là đồ vô dụng?

Vô dụng lấy đi của cuộc sống những gì?

Và trả lại được gì cho cuộc sống?

Em có nghĩ tôi là con chích choè

Ăn và gại mỏ?

Em có nghĩ tôi là tay chuyên sản xuất hàng giả?

Múa võ, bán cao trên trang viết mong manh

Tình nghĩa nhập nhằng với cái hư danh?…

Tờ giấy chép văn thành tờ giấy bạc?

Em có nghĩ…

(Đánh thức tiềm lực)

Trang 32

Tính đối thoại, sự va chạm các luồng tư tưởng, tính phức điệu của dòng cảm xúc, sự phức tạp của tình huống trữ tình….tất cả đã tạo cho âm điệu câu thơ bớt đi cái vẻ trầm bổng xuôi ngọt hay không còn cái vẻ rưng rưng thống thiết làm mệt mỏi tâm lý cảm thụ của độc giả Thơ tự do Nguyễn Duy là bản hoà âm của rất nhiều giọng điệu Những câu thơ nôm na, có khi là lời giãi bày, phân tích :

Có ai trên đất nước này

Mà số phận không dính vào chiến trận?

Tiếng chào đời dưới hầm sâu - quen lắm

Đám cưới, đám tang trong lòng đất - cũng quen rồi

(Chiến hào)

Có khi như là thổ lộ tâm tình :

“ Qua” ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng

Ăn hết nhiều, chớ ở hết bao nhiêu

Nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía

Nón áo khỏi lo nhưng nhậu phải đều đều

(Ông già sông Hậu) Hay là lời mỉa mai, chua chát :

Hai con ong tôi xin tự nguyện nuôi

Để cho mũi nọc ong độc địa

Xâm lên vách tim tôi một dòng mai mỉa:

Cảm ơn lòng nhân ái của nhà thơ!…

(Thơ tặng người ăn mày)

Sở dĩ có sự phân hoá giọng điệu như vậy là do sự phong phú của các mảng đề tài, sự thay đổi của hiện thực, và đặc biệt là cách nhìn, cách cảm của nhà thơ đối với cuộc sống Có khi trong một bài thơ bộc lộ nhiều giọng điệu

khác nhau: Đánh thức tiềm lực, Đò Lèn, Nhớ nhà, Chiến hào Song dù với

giọng điệu nào đi nữa, khi sử dụng thể thơ tự do, ta ít khi thấy ông “lớn tiếng” Không chải chuốt mượt mà như các nhà Thơ Mới, không nặng về chất hùng biện , triết lý như Chế Lan Viên, không phải giọng tâm tình, thương mến mang đậm chất sử thi, anh hùng ca của Tố Hữu; không ào ạt sang trọng như Thu Bồn; không nhuần nhị, thủ thỉ, sâu lắng như Bằng Việt, Xuân Quỳnh; cũng không trẻ trung, sôi nổi, gấp gáp khẩn trương như Phạm Tiến Duật…, giọng điệu trong thơ tự do của Nguyễn Duy trầm lắng, suy tư Đó là dòng chảy

cảm xúc của trái tim thiên về sống nội tâm :

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực

Trang 33

Giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

Cái năm đói củ dong riềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm

(Đò Lèn)

Thậm chí hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống, của chiến tranh cũng được nhà thơ kể bằng một giọng rất “tĩnh” :

Bom Mĩ dội - nhà bà tôi bay mất

Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

Bắc đi tìm Nam Tìm nhau dưới bể Tìm nhau trên ngàn Tìm nhau trong đạn trong lửa Tìm nhau trong việc mình làm

(Tìm thân nhân)

Song nhìn chung, dù ngắn hay dài, ta có cảm giác sau mỗi dòng thơ đều

có độ ngân, khiến nhịp thơ thong thả và phóng khoáng Có lúc nhịp điệu thơ ăn nhập vào tư thế trữ tình khoẻ khắn, gân guốc thể hiện một tính cách táo bạo, mạnh mẽ với khẩu khí ngang tàng, thoải mái :

Dốc chai để người cười vang tiễn khách

Lại điềm nhiên cầm tay lái máy cày

Máy cũ kỹ mua từ thời cũ kỹ

Gió chướng nồng nàn râu tóc phất phơ bay

(Ông già sông Hậu)

Ở một số bài thơ tự do như Nghe tắc kè kêu trong thành phố, Đánh thức tiềm lực, Cô bé nhà bên, Chiến hào, Tìm thân nhân…xuất hiện hình thức câu

thơ vắt dòng (một câu thơ nằm trên những dòng thơ khác nhau) với sự coi trọng nhịp ngắt trong câu tạo nên khả năng diễn đạt của từng chữ, từng nhóm

Trang 34

chữ Ý thơ vì vậy mà được nhấn mạnh hơn, câu thơ được tăng thêm sức gợi

cảm và nhạc điệu :

Ơi ai không gặp thân nhân Xin tới cùng tôi chung mái nhà ấm áp Cùng tôi hát lên lời ca này

Cái lớn lao còn lại hôm nay

là nguyên vẹn nhân dân

Tổ quốc

(Tìm thân nhân)

Việc nhà thơ tách xuống dòng thành phần vị ngữ và hai định ngữ cho vị

ngữ ấy “là nguyên vẹn/ nhân dân / Tổ quốc” là có dụng ý nghệ thuật, tạo giá trị

nhận thức mới, tạo sự khẳng định mạnh mẽ về nội dung Đặc biệt có những đoạn thơ dường như đã bị tước bỏ hết vần nhưng nhờ có nhịp điệu nên vẫn giữ được sức truyền cảm của chất thơ Song nhịp thơ trong những trường hợp này cũng không còn cái mượt mà, ngân vang hay cái cân xứng cổ điển như xưa, mà

trở nên gai góc với cái vẻ “vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh” Nó tạo nên

những trái khoáy ngang phè, những nghịch phách tương phản gợi một cảm giác vừa khó chịu, vừa thú vị :

Thanh thản thắm màu sắc đường nét Cái đẹp thơm tho sạch đến vô cùng

Ta từng ước sống thử đời người khác Cuộc đời thần tiên nào

Ta đang thử mẫu đời người khác Nhồi nhét đại hồn ta vào xác lạ Tội nghiệp thân ta hoá mất hồn (Nhớ nhà)

Với lối tư duy hiện đại, sự ảnh hưởng của đời sống công nghiệp bộn bề phức tạp, Nguyễn Duy đã đem đến cho ta những cấu trúc cú pháp không xuôi chiều, đơn giản với nhiều hình ảnh, sự việc đan cài nhau tạo nên những cái âm điệu trúc trắc, gồ ghề, không được êm tai cho lắm Song những câu thơ ấy lại

có khả năng diễn tả hết cái cảnh “khoan nhặt vô thường rối rít tít mù loảng xoảng” của thế giới hiện thực mà nhà thơ đang tận mắt chứng kiến

Tuy nhiên, trong số những bài thơ tự do mà Nguyễn Duy đã sáng tác có một số lượng không nhỏ các bài thơ nghiêng về thể bảy tiếng , tám tiếng (những thể thơ mang tính khuôn mẫu cao trong kết cấu ngữ âm) cho nên nó

Trang 35

không còn phóng túng như những bài tự do trước đó như : Cầu Bố, Đò Lèn, Sông Thao, Một góc chiều Hà Nội…Cái mạnh của những câu thơ này là vừa có

một chút phong vị cổ điển lại vừa quyện hoà với loại hình câu thơ điệu nói mang dáng vẻ tự nhiên hiện đại :

Tóc em dài cho ta nhìn thấy gió

Áo em bay cho mờ tỏ thân hình

Em sâu sắc như kinh thành cổ kính Gốc si già da mốc ngói rêu xanh (Một góc chiều Hà Nội)

Như vậy, có thể nói rằng thơ tự do của Nguyễn Duy là tập hợp những bài thơ thuộc những kiểu cấu trúc âm luật khác xa nhau: có những bài gần

giống thơ văn xuôi như Đánh thức tiềm lực, Cô bé nhà bên, Tìm thân nhân, lại

có những bài phảng phất hương vị Đường thi như Đò Lèn, Sông Thao, Cầu Bố…, có những vần thơ lại mang tính suy tưởng và lô gíc cao như Trước tượng đài Ky- ép, Giã từ Arê- khô-vơ…

Không ngã xuống hố văn xuôi hay rơi vào uốn éo ngôn từ, qua các tập thơ, Nguyễn Duy đã chứng tỏ một cây bút nhuần nhuyễn, vững vàng ở thể loại thơ tự do Đây là thể thơ thể hiện rõ nhất, trọn vẹn nhất tài năng, trí tuệ và nhân cách của ông Với trách nhiệm của người cầm bút, Nguyễn Duy sáng tác thơ tự

do bằng tất cả sự dồn nén, bức xúc của tình cảm, được chắt lọc qua sự từng trải, chiêm nghiệm trong trường đời Chính vì thế, các bài thơ tự do của ông vừa phóng túng, vừa cô đọng, hàm súc và mang chiều sâu suy tưởng

1.3 Thể thơ năm chữ

Đây là một thể thơ truyền thống có từ xa xưa trong một số thể loại của thơ ca dân gian như vè, hát giặm, đồng dao hay thơ cổ phong (ngũ ngôn cổ phong) và thơ Đường (ngũ ngôn Đường luật) Nhiều nhà thơ hiện đại đã sử dụng thể năm chữ để bộc lộ nội dung cảm xúc làm nên những thi phẩm nổi

tiếng như Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm, Sóng, Thuyền và Biển của Xuân Quỳnh, Thăm lúa của Trần Hữu Thung, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải…Mặc

dù không chiếm ưu thế như các thể thơ lục bát, thơ tự do…, với số lượng các

bài thơ ngũ ngôn ít ỏi (trong tuyển tập Thơ Nguyễn Duy mà chúng tôi khảo sát

chỉ có 3/108 bài, chiếm 2,8%), song cũng như bao nhà thơ hiện đại khác, phong cách Nguyễn Duy đã tìm thấy tiếng nói hoà hợp ở thể thơ này

Trang 36

Cái mạnh của thơ năm chữ là chất hoài niệm, giọng thơ nghiêng về kể

lể, giãi bày tâm trạng nhưng các bài thơ: Tháp Chàm, Trở gió, Pháo Tết của

Nguyễn Duy đã đem đến cho chúng ta những cảm nhận hoàn toàn mới Không dàn trải hay ôm chứa nhiều sự kiện, chi tiết như trong thơ Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, cũng không mang tính chất giãi bày, kể chuyện như thơ Xuân Quỳnh…, các bài thơ ngũ ngôn của Nguyễn Duy tự do đầy suy tư Không quá dài cũng không quá ngắn, các bài thơ được chia thành từng khổ với

bố cục gọn gàng, chặt chẽ tạo nên sự cô đọng, hàm súc, gợi cho người đọc nhiều trường liên tưởng, suy nghĩ

Thơ ông chủ yếu được khơi nguồn cảm hứng từ các sự vật, hình ảnh, hiện tượng cụ thể như một pho tượng cổ, tiếng pháo, ánh trăng, sự thay đổi thời tiết Đó là những khoảnh khắc tâm trạng, những phút suy tư của nhà thơ

khi thấy cảnh “trời hâm hấp trở trời / gió vùng vằng thổi vặn”, khi chứng kiến

“cả trần gian tí tởn / đón xuân sang tưng bừng”, hay khi đứng trước “một pho tượng đất nung / trước ngã ba nắng gió” Không bị bó hẹp bởi câu chữ, các bài

thơ ngũ ngôn có khả năng chuyển tải những vấn đề thời sự nóng hổi của cuộc

sống Bài thơ “Pháo Tết” chỉ gồm 16 dòng thơ được chia làm bốn khổ, song

mỗi khổ thơ là một tâm sự trĩu nặng Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản, đối lập về hình ảnh cũng như về âm điệu trong từng khổ thơ, Nguyễn Duy dựng lên hai khung cảnh, hai thế giới hoàn toàn trái ngược nhau : một bên là cảnh đón Tết vui mừng, rộn rã với âm thanh náo nhiệt của tiếng pháo, còn một bên là những số phận bất hạnh, những mảnh đời bé nhỏ, cô đơn giữa sự lạnh lẽo của lòng người :

là thực trạng đói nghèo của đất nước sau chiến tranh Hình ảnh đối lập ấy đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm, cảm xúc của người đọc gợi bao xót xa, day dứt, từ đó có tác dụng thức tỉnh tâm hồn nhân bản trong mỗi con người chúng

ta

Trang 37

Trong bài “Tháp Chàm”, chỉ bằng vài nét phác hoạ, Nguyễn Duy đã vẽ

lên một hình ảnh Tháp Chàm hoang sơ, cổ kính cùng với những pho tượng cổ đăm chiêu, phong trần với nắng gió :

Ông già Chàm gù lưng

Im lìm nhìn tháp cổ Một pho tượng đất nung Trước ngã ba nắng gió Ông già Chàm gù lưng

Thêm một tháp Chàm nhỏ bằng thịt xương

bên đường

(Tháp Chàm)

Tháp Chàm là một hình ảnh ẩn dụ chỉ những số phận bằng xương thịt với kiếp sống đơn độc, lặng lẽ, không ai biết, không ai hay Rõ ràng, bài thơ không chỉ tả cảnh mà đằng sau các lớp cảnh ấy là cái hồn của cuộc sống ẩn tàng các vấn đề xã hội và con người

Với Nguyễn Duy, mỗi sự vật, hiện tượng đều ẩn sau đó những chuyện đời, chuyện người Sự thay đổi bất thường của tự nhiên cũng khiến cho nhà thơ liên tưởng đến xã hội con người với những cái mong manh, bấp bênh, bất ổn của nó Cách diễn đạt trừu tượng hoá kết hợp với biện pháp điệp phụ âm đầu được vận dụng có hiệu quả :

Cái va chạm lặng thinh Nứt dọc đời vết khổ Thời hội chứng thần kinh Mọi thứ đều dễ vỡ

Buổi bập bềnh bọt bể Nương vào nhau mà trôi

Trang 38

Ngắn ngun ngủn ngày người Gió chi mà gió thế

(Trở gió) Những cụm từ mang tính chất trừu tượng như “cái va chạm lặng thinh”,

“thời hội chứng thần kinh”, “buổi bập bềnh bọt bể”, “ngày người”, các động

từ “trở chứng”, “nứt”, “vỡ” cùng danh từ chỉ thời gian “thời”, “buổi” khiến chúng ta liên tưởng một lớp nghĩa khác ẩn sau nghĩa bề mặt “Trở gió” ở đây không chỉ là chuyện của thời tiết nữa mà còn là hiện tượng “trở chứng” của

con người, của xã hội Chiều sâu suy tưởng trong thơ Nguyễn Duy chính là chỗ đó Bằng lối nói hàm ngôn, hiện thực cuộc sống được Nguyễn Duy đưa vào thể loại năm chữ một cách tế nhị, kín đáo song không kém phần sâu sắc

Nguyễn Duy rất khéo tay điều khiển ngôn từ Cái tài ấy biểu hiện ngay trong những bài thơ năm chữ này Trong thể thơ này chúng ta ít bắt gặp các từ mang tính chất khẩu ngữ Từ ngữ đây được chắt lọc kỹ lưỡng, công phu và được xếp đặt tài tình nhằm chuyển tải hết những nội dung cảm xúc trong một không gian hạn hẹp của câu chữ Chẳng hạn, để miêu tả cảnh rộn rã, náo nhiệt của thành phố trong âm thanh pháo Tết, nhà thơ lựa chọn một loạt các tính từ

đơn tiết xếp cạnh nhau trong cùng một câu thơ : “Toác/ khói/ cháy/ nổ/ tởn”,

vừa kiệm lời, vừa tạo hiệu quả bất ngờ, thú vị Đối lập với nó là cảnh buồn bã, lạnh lẽo của những hoàn cảnh, số phận cô đơn lại được cảm nhận qua chỉ vài

động từ mà Nguyễn Duy sử dụng để miêu tả nhân vật: “khóc khàn”, “nằm co ro”, “khoèo mé hiên”, “ngồi bên sông”, “nhớ nhà” Hay các từ láy xuất hiện dày đặc trong một khổ thơ: “hâm hấp”, “vùng vằng”, “lầm lỳ”, “thủng thẳng”đã diễn tả thành công trạng thái không bình thường, bức xúc, căng thẳng của thiên nhiên (trời, gió) và con người (em) trong những khi “trở gió”….Với sự nén chặt ngôn từ như thế, nội dung ý nghĩa của thơ được chất

chứa nhiều tầng, nhiều lớp Những câu thơ được co lại đến mức tối đa và bài thơ đạt đến độ hàm súc thần thái

Thậm chí tác giả còn sử dụng cả cách nói bỏ lửng :

Ông già Chàm gù lưng

Im lìm nhìn tháp cổ Thêm một tháp Chàm nhỏ bằng thịt xương…

bên đường…

(Tháp Chàm) Câu thơ năm chữ với nhịp 3/2 quen thuộc được tách làm hai dòng (dòng

3 tiếng và dòng 2 tiếng), đi kèm sau mỗi dòng là dấu ba chấm, có tác dụng như

Trang 39

những nốt lặng, gợi bao suy tưởng cho người đọc Nhịp thơ vì thế không cố định ở 3/2 hay 2/3 mà được ngắt tự do theo mạch cảm xúc :

Toác/ khói/ cháy/ nổ/ tởn Trận mạc nào/ đang qua

Có một người nạng gỗ/

Ngồi bên sông/ nhớ nhà…

(Pháo Tết) Phép lặng với dấu ba chấm làm cho nhịp thơ như được kéo dài ra tạo nên giọng điệu suy tư, trầm lắng :

- Ngắn ngun ngủn ngày người Gió chi mà gió thế… (Trở gió)

- Có một bà bới rác Nằm co ro gầm cầu… (Pháo Tết)

Đồng thời nó cũng tạo sức ngân vang cho câu thơ, tạo âm hưởng của cảm xúc, gợi nhiều liên tưởng, suy nghĩ Phát huy khả năng diễn đạt của phép lặng, vốn là sở trường của thơ hiện đại, Nguyễn Duy đã mang lại cho thể thơ năm chữ một năng lực biểu hiện phi thường mà ít nhà thơ nào thấy được

Tóm lại, đến với thể thơ 5 chữ, Nguyễn Duy đã có những cách tân mới

mẻ, sáng tạo đem đến cho chúng ta nhiều bài thơ hay, giàu giá trị hiện thực Vượt qua rào cản của ngôn ngữ, thơ 5 chữ của ông phản ánh cuộc sống một cách chân thực, cảm động Việc sử dụng các biện pháp tu từ : điệp, ẩn dụ, nhân hoá, phép lặng… một cách tự nhiên, nhuần nhị tạo cho các bài thơ 5 chữ một

vẻ đẹp hiện đại, tự do, không gò ép mà hàm súc cổ điển, ẩn chứa nhiều nội dung, cảm xúc phong phú

Ngoài ra, chúng tôi thấy trong tuyển tập “Thơ Nguyễn Duy” còn có duy nhất một bài sáng tác theo thể bảy chữ (chiếm 0,9%), đó là bài “Nằm võng đi

ra bể” Tuy vậy, thành công của nó cũng góp phần khẳng định tài năng của

Nguyễn Duy ở sự vận dụng và cách tân thể loại Thể 7 chữ có nguồn gốc từ thơ Đường, còn gọi là thơ thất ngôn (thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú), được

sử dụng nhiều ở thời kỳ Thơ Mới 1932 – 1945 và phát triển cho đến bây giờ

với nhiều bài thơ đặc sắc như : Tràng giang (Huy Cận), Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Mưa xuân (Nguyễn Bính), một số bài thơ trong Nhật ký trong tù (Hồ Chí Minh), Em ơi…Ba Lan (Tố Hữu), Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận), Núi đôi (Vũ Cao)…Song đến tay Nguyễn Duy, nó vẫn được tiếp tục sáng tạo, làm

mới cho phù hợp với phong cách nhà thơ, biểu hiện từ việc sử dụng cách xưng

Trang 40

hô hóm hỉnh, tinh nghịch “tớ”, “đằng ấy” cho đến những câu thơ cất lên tự

nhiên như lời nói thường ngày :

Tự dưng tớ hứng, tớ lại im

Tớ muốn kêu đằng ấy bằng em Mai sau đằng ấy còn có nhớ Một gã hát rong chẳng xin tiền

(Nằm võng đi ra bể) Câu thơ 7 chữ đậm chất văn xuôi, giường như đã mất đi cái nét hàn lâm

cổ điển của nó Nhịp điệu thơ trở nên linh hoạt, tự do, phóng khoáng :

Nằm võng như cá mắc trên lưới Chùm người cong cong nằm sắp hàng

(Nằm võng đi ra bể) Cũng như đối với các thể thơ truyền thống khác, bằng sự sáng tạo không biết mệt mỏi, Nguyễn Duy sử dụng thơ bảy chữ để bộc lộ những cảm xúc của con người hiện đại, xoá đi màu sắc cổ điển trong đó, đưa nó xích lại gần hơn với thể thơ tự do

Như vậy, cũng như những tác giả yêu thơ và có thành công về thơ, Nguyễn Duy tự thể hiện mình trong rất nhiều thể thơ : 5 chữ, 7 chữ, thơ lục bát, thơ tự do…Là nhà thơ có tài, ông ghi dấu ấn của mình trong các thể loại Các thể thơ đều được Nguyễn Duy vận dụng nâng cao sáng tạo cùng với sự tìm tòi cách tân mạnh mẽ về cấu trúc, ngôn ngữ, nhịp điệu Đó là những cuộc thử nghiệm đầy nhọc nhằn để rồi ở mỗi thể loại ông cũng tìm được tiếng nói riêng cho mình Song nhìn lại toàn bộ sáng tác của ông, chúng tôi nhận thấy rằng hai thể thơ được nhà thơ sử dụng nhiều nhất, nhuần nhị nhất là thơ lục bát (65,7%)

và thơ tự do (30,6%), đặc biệt những vần thơ lục bát đầy ấn tượng, có sức cuốn hút mãnh liệt đã góp phần khẳng định vai trò và phong cách riêng độc đáo của Nguyễn Duy trên thi đàn dân tộc “Chỉ có ở lục bát, hốn vía Nguyễn Duy mới dậy men nổi gió làm cho “trời lao đao đất lao đao lừ đừ” đến thế” [27, 53]

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w