Nhà phê bình chỉ ra những triển vọng và cả những hạn chế của một cây bút trẻ mà ông hy vọng: “Câu thơ Nguyễn Duy còn nhiều khi khắc khổ, cầu kì, rắc rối ch… a học đợc nhiều cái giản dị,
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh Khoa ng÷ v¨n
Líp: 42E1 - ng÷ v¨n
Vinh 2006
Trang 22.1 Màu sắc dân gian trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy 41
2.1.2 Cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nguyễn Duy 48 2.2 Lớp từ ngữ đời thờng, giản dị, tự nhiên, đậm chất thôn quê 51 2.3 Lớp từ ngữ chỉ địa danh trong thơ Nguyễn Duy 54
Trang 3Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Duy là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền thi ca Việt Nam hiện đại xuất hiện vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ Với giải thởng thơ của Báo Văn nghệ năm 1972 – 1973 Nguyễn Duy nhanh chóng trở thành một trong những gơng mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ Sau chiến tranh cả đất nớc phải từng bớc làm quen với cuộc sống mới, từng bớc thoát ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp để đối diện với những khó khăn và thách thức mới Hoàn cảnh xã hội nh vậy đã tác động rất lớn tới ý thức nghệ thuật của những ngời cầm bút Nhiều nhà thơ đã đợc khẳng định ở thời kỳ trớc nay trở về đối diện với cuộc sống đời thờng cảm thấy hẫng hụt trong sáng tác Nguyễn Duy vẫn tiếp tục viết đều tay và cho ra đời một loạt tác phẩm thơ
đợc nhiều ngời đón đọc Đặc biệt bằng những sáng tạo độc đáo về mặt ngôn ngữ, Nguyễn Duy đã tạo đợc dấu ấn riêng, giọng điệu riêng, đóng góp vào nền thi ca nớc nhà một phong cách ấn tợng và khó quên Thơ Nguyễn Duy xứng
đáng đợc quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ và toàn diện, nhất
là về vấn đề ngôn ngữ
Từ lâu, thơ Nguyễn Duy đã đợc đa vào dạy học ở trờng phổ thông Học sinh THCS đã quen với bài Tre Việt Nam nổi tiếng của tác giả, và sắp tới, học
sinh THPT còn đợc tiếp xúc với bài Đò Lèn rất độc đáo Nghiên cứu đề tài này,
chúng tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé nâng cao hiệu quả dạy học thơ Nguyễn Duy ở trờng phổ thông, trên cơ sở chú ý đầy đủ đến những sáng tạo của nhà thơ trên phơng diện ngôn ngữ
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ những sáng tác đầu tay Nguyễn Duy đã nhanh chóng chiếm đợc tình cảm của độc giả yêu thích thơ và gây đợc sự chú ý của một số nhà nghiên
Trang 4Nguyễn Duy là Hoài Thanh (Báo Văn nghệ ra ngày 14/4/1972) Bằng con mắt
“tinh đời” Hoài Thanh đã nhận định: “ Thơ Nguyễn Duy thể hiện đợc cái cao
đẹp của những ngời không tuổi, không tên”, đồng thời ông cũng nhận ra cái
“chất quê đằm thắm” từ những điều “quen thuộc mà không nhàm” của thơ Nguyễn Duy Đó là hơng vị của “khúc dân ca đồng bằng Miền Bắc đã…cùng anh đi vào giữa đỉnh Trờng Sơn”, là chất thơ “nhẹ nhàng, hiền hậu rất…Việt Nam mà chúng ta giữ nguyên trong thử lửa” Nhà phê bình chỉ ra những triển vọng và cả những hạn chế của một cây bút trẻ mà ông hy vọng: “Câu thơ Nguyễn Duy còn nhiều khi khắc khổ, cầu kì, rắc rối ch… a học đợc nhiều cái giản dị, cái trong sáng của thơ ca dân gian nh… ng một số bài thơ của anh đậm
đà phong cách Việt Nam Giọng thơ chân chất, tình thơ chắc, ý thơ sâu Đọc…thơ Nguyễn Duy, thấy anh thờng hay cảm xúc và suy nghĩ trớc những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình Cái điều ở ngời khác có thể chỉ là thoáng qua thì
ở anh nó lắng sâu và dừng lại ” Tuy nhiên, đó mới chỉ là những cảm nhận về…thơ Nguyễn Duy ở thời kỳ đầu mà thôi
Đặc biệt với sự xuất hiện của ánh trăng (1985) - tập thơ đoạt giải thởng
của Hội Nhà văn Việt Nam - Nguyễn Duy mới thực sự đợc giới nghiên cứu phê bình quan tâm tìm hiểu Lê Quang Trang phát hiện cái mới trong lục bát Nguyễn Duy: “chính là mới trong tình cảm, cái bạo trong suy nghĩ” Từ Sơn trong bài Thơ Nguyễn Duy (Báo Văn nghệ số ra ngày 27/7/1985) vui mừng
nhận thấy: “điều đáng mừng là thơ ông đã góp phần vào kho tàng thơ Xã hội chủ nghĩa hiện đại những bài thơ hay mang dáng vẻ riêng, nồng nàn hơi thở
đời sống, giàu hơng vị dân tộc và dào dạt một tình yêu cuộc sống trong dáng hình bình dị, chân chất, dân dã ”
Lê Quang Hng trong bài Thơ Nguyễn Duy và ánh trăng (Tạp chí Văn
học số 3/1986) có nhận xét đáng chú ý về nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn
Duy: “Nguyễn Duy muốn đứng giữa hôm nay và nhìn lại hôm qua từ tâm trạng riêng, tiếng thơ anh nh một lời cảnh tỉnh, lời nhắc nhở Không chỉ qua thể…
Trang 5thơ, giọng điệu mà chất dân gian của thơ Nguyễn Duy ngấm trong cả cách cảm lối nghĩ, trong quá trình “dàn dựng” hình tợng thơ Tất cả những cái đó vừa rất dân tộc, rất truyền thống lại vừa khá hiện đại, khá mới ” Sự ra đời của … ánh trăng đánh dấu bớc trởng thành mang tính chất quyết định trong sự nghiệp
sáng tác của Nguyễn Duy
Nguyễn Quang Sáng - ngời bạn vong niên của Nguyễn Duy thừa nhận:
“Nguyễn Duy vốn có u thế và trội hẳn lên trong thể thơ lục bát” “Thơ lục bát Nguyễn Duy không rơi vào tình trạng quen tay, nó có sự chuyển động, biến đổi trên từng câu chữ” (Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn Duy - Báo Ngời Hà
Nội – Số 48/1987)
Nguyễn Bùi Vợi nhận xét về ánh trăng: “ Viết về ánh trăng mà để nói
chuyện đời, chuyện tình nghĩa Tác giả chọn một lối viết giản dị, dễ hiểu Đọc xong bài thơ những ngời thích ngôn ngữ tân kỳ có thể cho là không có gì, những ngời a loại văn trau chuốt, tỉa tót đến tinh xảo có thể thất vọng, những ngời thích lối nói ồn ào đại ngôn có thể ngỡ ngàng”
Vơng Trí Nhàn trong bài viết Một bản sắc đã đến lúc định hình
khẳngđịnh: “Sự tìm tòi kéo dài liên tục qua các tập thơ ánh trăng (1984), Mẹ
chỗ pha giọng chập chững, mày mò nhà thơ đã đi tới một giọng điệu có nhiều phẩm chất thuần nhất, dân dã mà hiện đại, từng trải dạn dày song lại run rẩy tinh tế, cay đắng ngậm ngùi ngay trong khi cời cợt đắm say, lam lũ dông dài
mà vẫn có những nét cao sang riêng ” Bài viết còn đề cập đến một vài đặc…
điểm ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy: “Sự đắm đuối đi tìm những chữ lạ”, “ăn chịu với truyền thống - thơ lục bát” …
Càng về sau, ngời ta càng quan tâm đến thơ Nguyễn Duy trên phơng diện hình thức với mong muốn tìm hiểu sâu hơn phong cách thơ độc đáo của ông Phạm Thị Thu Yến trong bài viết Ca dao vọng về (Tạp chí Văn học số 7/1998)
Trang 6đi sâu vào khám phá chất ca dao trong thơ Nguyễn Duy và phát hiện thấy:
“những khúc ru này có nhiều ý, nhiều tứ, nhiều hình ảnh vọng về từ ca dao
nh-ng tổnh-ng hợp hơn, suy t hơn, giàu cá tính sánh-ng tạo Nguyễn Duy chịu ảnh h… ởng của ca dao, uống nớc nhớ nguồn mạch thơ ca dân gian trong trẻo nhng bằng tình yêu ca dao, bằng sức lao động sáng tạo của mình anh đã “đền ơn đáp nghĩa” bằng cách làm cho ca dao sống mạnh mẽ, khoẻ khoắn, sâu sắc trong cuộc sống và thơ ca hiện đại với những lớp ý nghĩa đa tầng của nó.”
-Trân trọng và đánh giá cao tài năng và tấm lòng thơ Nguyễn Duy, Vũ Văn Sĩ trong bài Nguyễn Duy ng– ời thơng mến đến tận cùng chân thật (Tạp chí Văn học số 10/1999) đã đa ra nhận định: “Thơ Nguyễn Duy là hình ảnh cụ
thể sinh động phản ánh sự vận động của các thể loại trữ tình Việt Nam trên hai mặt tài năng và giới hạn cái đáng quý nhất trong thơ Nguyễn Duy là anh…viết về đất nớc, về nhân dân, về đồng đội, về những ngời thân và về chính mình bằng tấm lòng “thơng mến đến tận cùng chân thật” Về nghệ thuật, Vũ Văn Sĩ cũng có nhận xét: “Trong những năm gần đây, khi mở rộng phạm vi giao tiếp của cái tôi trữ tình theo hớng hiện đại hoá không ít nhà thơ đi vào con đờng hình thức, vô tình đẩy thơ vào tình trạng khó hiểu, bế tắc, Nguyễn Duy vẫn lẩy
ca dao để mở rộng tứ thơ hoặc thiết lập tứ thơ mới để dung nạp và đồng hoá chất liệu đa dạng tinh tế của đời sống”
Nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy còn phải kể đến một bài viết rất công phu của ChuVăn Sơn là Nguyễn Duy - Thi sĩ thảo dân Dới góc nhìn thi pháp
học, bài viết khám phá ra hành trình thơ Nguyễn Duy: Hành trình từ “xó bếp ra thế giới”, “Từ hạt cát đến hạt bụi”, hành trình của “Giọt nớc lìa nguồn ra biển”, của “Dòng nớc trôi đi giọt nớc lại rơi về” Trên chặng đờng ấy, Nguyễn Duy đã tìm ra trọn vẹn cái tôi của mình” Một cái tôi “thảo dân chính hiệu” Tác giả còn cho rằng “Duy phải lòng lục bát” nhng “cây đàn này của Duy chơi điệu mới, nhịp mới, hồn mới” [27] Nguyễn Duy còn thích “xài thứ ngôn từ hồn nhiên”, “khoái lối ghẹo dân gian”, đặc biệt là sự dung nạp “thứ ngôn từ dính
Trang 7bụi mà lấp lánh chất folklore” [27] vào thơ Với cái nhìn đa chiều, bài viết đã cung cấp cho độc giả nhiều phát hiện mới mẻ, có giá trị về thơ Nguyễn Duy Nhng do bị giới hạn trong phạm vi của một bài báo, việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ cha thể đợc tác giả đẩy tới cùng.
Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết tìm hiểu thơ Nguyễn Duy qua phân tích, bình giảng một tác phẩm cụ thể: Lê Trí Viễn bình bài Tre Việt Nam
trong cuốn Đến với bài thơ hay, NXBGD, 1997, Hoàng Nhuận Cầm bình bài
áo trắng má hồng (Báo Tuổi trẻ hạnh phúc số 5/1996) Một số bài viết nhỏ
của các tác giả nh Trần Hoà Bình, Nhị Hà, Vũ Quần Phơng, Tế Hanh đã phát hiện nhiều khía cạnh đặc sắc của thơ Nguyễn Duy
Tổng quan về lịch trình nghiên cứu thơ Nguyễn Duy chúng ta thấy đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, khám phá thơ ông trên cả hai phơng diện nội dung và hình thức Cũng có một số công trình nghiên cứu thơ Nguyễn Duy dới góc độ ngôn ngữ nhng không phải là nhiều Qua quá trình đọc, tìm hiểu thơ Nguyễn Duy chúng tôi nhận thấy đối tợng này còn nhiều điều cần đợc tìm hiểu tiếp
Trong phạm vi khoá luận tốt nghiệp này, với khả năng nghiên cứu còn hạn chế, chúng tôi chỉ mong nêu đợc một số đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Duy về hình thức ngôn ngữ (tất nhiên đặt trong mối quan hệ với nội dung), để
từ đó có đợc cái nhìn tổng quát về đặc trng phong cách thơ ông, góp phần vào việc khẳng định vị trí của Nguyễn Duy trên thi đàn
3 Mục đích - nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi t liệu khảo sát
3.1 Mục đích - nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của khoá luận là tập trung khảo sát ba tập thơ Cát trắng, ánh
trăng, Về nhằm tìm ra những đặc trng nổi bật của thơ Nguyễn Duy trên phơng
diện ngôn ngữ
Trang 8Để đạt đợc mục đích đặt ra, khoá luận phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Khảo sát một số hình thức ngôn ngữ tiêu biểu của ba tập thơ nói trên của Nguyễn Duy, qua đó làm bật nổi lên phong cách ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy trên hai phơng diện: đặc trng câu thơ và đặc trng từ ngữ
- Làm sáng tỏ giá trị của các hình thức ngôn ngữ đợc nhà thơ lựa chọn trong việc thể hiện nội dung tác phẩm
3.2 Phạm vi t liệu khảo sát
Để thực hiện việc nghiên cứu đặc trng ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy chúng
tôi đi vào khảo sát 129 bài thơ trong cả ba tập Cát trắng (1973), ánh
Trong điều kiện và chừng mực nhất định, chúng tôi so sánh thơ Nguyễn Duy với thơ của một số tác giả khác (ở một số khía cạnh hạn chế) để rút ra những nét khác biệt trong thơ Nguyễn Duy
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng những phơng pháp nghiên cứu sau: phơng pháp thống kê - phân loại, phơng pháp phân tích - tổng hợp, phơng pháp so sánh
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết kuận và Tài liệu tham khảo, luận văn chia làm
hai chơng:
Chơng 1 Đặc trng thể thơ, câu thơ trong thơ Nguyễn Duy
Chơng 2 Đặc trng từ ngữ trong thơ Nguyễn Duy
Chơng 1 Đặc trng thể thơ, câu thơ
trong thơ Nguyễn Duy
Trang 91.1 Đặc trng thể thơ
1.1.1 Khái niệm thể thơ
Thể thơ là một trong những yếu tố hình thức mang đặc điểm tâm lý, thẩm
mỹ, cảm hứng sáng tạo riêng của nhà thơ Việc lựa chọn, sử dụng thể loại trong quá trình sáng tác luôn thể hiện rõ cá tính sáng tạo của ngời nghệ sĩ Vì vậy, để tìm hiểu dấu ấn riêng của thơ Nguyễn Duy, phong cách cá nhân của thi sĩ xứ Thanh, không thể không quan tâm tới cách nhà thơ lựa chọn thể loại
Là nhà thơ sáng tác trên nhiều đề tài, có một cái tôi phong phú đa dạng, ngòi bút Nguyễn Duy đã tiến hành một cuộc thử nghiệm trên rất nhiều thể thơ:
5 chữ, 7 chữ, tự do và đặc biệt là lục bát ở thể loại nào ông cũng tạo đợc dấu ấn riêng cùng với những cách tân đáng chú ý
“Thơ tự do xuất hiện từ nhu cầu đòi hỏi thơ đi sát cuộc đời hơn Phản ánh đợc những khía cạnh mới của cuộc sống đa dạng, thể hiện đợc những cách nhìn nghệ thuật mới của nhà thơ”[13,271]
Thơ tự do là một trong những thể loại chiếm vị trí rất đặc biệt trong sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Duy Thơ tự do hoàn toàn không bị gò bó bởi qui tắc, luật lệ nh các thể thơ cách luật truyền thống, mà rất cởi mở, linh hoạt, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhà thơ miêu tả sinh động cuộc sống cũng nh biểu
Trang 10hiện những cảm xúc một cách chân thật nhất Đó chính là lí do tại sao nhà thơ tìm đến với thể thơ tự do.
Trong ba tập thơ Cát trắng, ánh trăng, Về chúng tôi thống kê có 73/129
bài làm theo thể thơ tự do Do số lợng bài thơ viết theo thể tự do rất nhiều nên không thể liệt kê đợc, chúng tôi chỉ nêu một số bài tiêu biểu Có những bài rất ngắn, cô đúc: Hơi ấm ổ rơm, Cô gái Hải Lăng, Bà mẹ Triệu Phong, Đà Lạt
rất dài: Tìm thân nhân, Khẩu súng trên tay ta, Âm thanh bàn tay, Nghe tắc kè kêu trong thành phố, Chiến hào, Trang sách cha in, Những bài thơ dài thờng
đợc chia thành nhiều đoạn theo mạch cảm xúc, còn những bài thơ ngắn thờng
đ-ợc chia thành nhiều khổ thơ rõ ràng
Đặc điểm nổi bật và rõ nét của thể thơ tự do là giàu chất liệu hiện thực ở thể thơ này, đề tài chủ đạo của Nguyễn Duy là hiện thực đời sống xã hội với những vấn đề nhức nhối của đất nớc sau chiến tranh Đó là cảnh một anh bộ đội vì chiến tranh mà phải xa vợ, khi trở về:
Trở vềAnh để lại đằng sauTám năm xa cáchTám năm bom lửaNỗi ớc ao nén lại tám nămBất ngờ nổ vỡ
Giữa ngực anh
Nh một quả bom:
Vợ anh vừa đẻ một thằng con
Trong anh bây giờ là cả một sự giằng xé đến quằn quại Trong chiến tranh anh đã trải qua tất cả những khó khăn và anh đã vợt qua Còn bây giờ trớc
sự việc này anh lại trở nên hoang mang
Trang 11Hiện thực đất nớc thời hậu chiến hiện lên với nhiều chi tiết chân thực,
nh-ng đằnh-ng sau nhữnh-ng chi tiết ấy tác giả hớnh-ng nh-ngời đọc vào chiều sâu nhữnh-ng cảm xúc, suy nghĩ Và hiện thực đời sống đó còn là đối tợng để nhà thơ tìm hiểu và suy nghiệm về cuộc đời
ở thể thơ này Nguyễn Duy có nhiều bài thơ tinh tế, hàm súc với sự nén chặt của ngôn ngữ mở ra cho ngời đọc nhiều chiều suy tởng Ví dụ nh bài Hơi
ấm ổ rơm Bài thơ có tình huống, nhân vật, sự việc - nghĩa là có đầy đủ yếu tố
cho một truyện ngắn có cốt truyện Dựa vào đó Nguyễn Duy đã làm nên một tứ thơ với nhiều suy t cảm xúc Bài thơ không chỉ kể về câu chuyện của một anh
bộ đội lỡ đờng thời chiến tranh mà còn là câu chuyện về tình đời, tình ngời ấm
áp:
Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm:
Nhà mẹ hẹp nhng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủRồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm
Rơm vàng bọc tôi nh kén bọc tămgTôi thao thức trong hơng mật ong của ruộngTrong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò
Đặc biệt khi sử dụng thể thơ tự do, Nguyễn Duy rất ít khi “lớn tiếng”, không “chải chuốt mợt mà” nh các nhà Thơ mới, không “hùng biện triết lí” nh Chế Lan Viên, không “trữ tình, thơng mến” mang đậm chất sử thi, anh hùng ca
nh Tố Hữu, không ào ạt sang trọng nh Thu Bồn, không nhuần nhị, thủ thỉ, sâu lắng nh Xuân Quỳnh Giọng điệu trong thơ tự do của Nguyễn Duy trầm lắng, suy t:
Trang 12Thêm một lần tôi đến để rồi điGió cứ thổi trống không ngoài bãi vắngTôi nhìn em để không nói năng gì
Tôi gửi lại đây cái buồn vô cớ
Để mang về cái nhớ bâng quơ
Xin chớ hỏi tại làm sao nh vậyTôi vốn không rành mạch bao giờ
(Sông Thao)Trong thơ đó còn là dòng chảy cảm xúc của trái tim thiên về sống nội tâm:
Rơm vàng bọc tôi nh kén bọc tằmTôi thao thức trong hơng mật ong của ruộngTrong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò
Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta noRiêng cái ấm nồng nàn nh lửaCái mộc mạc lên hơng của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi ngời
Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hơng trầm
(Đò Lèn)
Có khi là lời mỉa mai:
Trang 13Kính tha thục nữ Thị MầuYêu siêu cỡ đó trớc sau mấy ngờiMấy ai dám chịu dám chơi
Dám ai vỗ cái mặt đời nh em
(Kính tha Thị Mầu)Hay là lời giải bày, phân tích:
Có ai trên đất nớc này
Mà số phận không dính vào chiến trậnTiếng chào đời dới hầm sâu - quen lắm
Đám cới - đám tang trong lòng đất - cũng quen rồi
(Chiến hào)Vì sao lại có sự phân hoá giọng điệu nh vậy? Đó là do nhà thơ quan tâm
đến nhiều vấn đề của cuộc sống hiện thực Nhà thơ chiêm nghiệm, suy t và đúc rút cho mình sự phong phú về đề tài, hơn nữa đó còn là cách cảm, lối nghĩ của nhà thơ đối với cuộc sống
ở thể thơ tự do ta thấy độ dài của câu thơ đợc Nguyễn Duy sử dụng rất linh hoạt và co dãn, câu thơ từ một tiếng và có thể kéo dài tới 13, 14 tiếng tuỳ theo dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Lời thơ giản dị nh lời nói thờng với dáng dấp của văn xuôi rất rõ nét nhng cũng rất trữ tình và giàu giá trị biểu cảm Với thể thơ này thơ Nguyễn Duy thể hiện sự đa dạng về thế giới nội cảm của nhà thơ Đó là cái tôi trữ tình luôn trăn trở trớc hiện thực cuộc sống
1.1.2.2 Thể thơ lục bát
Lục bát là một thể thơ cách luật truyền thống độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam Đơn vị cơ bản của thể loại thơ này là một cặp câu, chiếm hai dòng trong đó dòng trên 6 tiếng, dòng dới 8 tiếng, không hạn định về số lợng câu
Sở dĩ thơ lục bát có sức sống bền bỉ là vì nó “luôn tạo đợc trờng nét d ba
Trang 14thuộc, nó có thể chuyển tải đợc mọi cung bậc tình cảm con ngời Đây là loại thơ tởng nh ai cũng làm đợc, nhng để gây đợc ấn tợng, tạo đợc d ba thì rất khó, “nó
dễ gần mà chẳng dễ chơi” [27,51] và ở thể loại thơ lục bát, trên thi đàn dân tộc
đã có rất nhiều tên tuổi sáng giá nh Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Tố Hữu,
Đối với các nhà thơ lớp sau, muốn tạo đợc phong cách độc đáo ở thể thơ lục bát
là một việc làm không dễ dàng chút nào
Trong khi một số nhà thơ cùng thời đi tìm những hình thức biểu hiện cho phù hợp với xu thế của ngời hiện đại khiến cho thơ không vần, thơ văn xuôi tràn ngập thi đàn thì Nguyễn Duy vẫn chung thuỷ với thể thơ dân tộc, vẫn dành cho thể thơ lục bát một niềm u ái đặc biệt Hồn thơ Nguyễn Duy, giọng thơ Nguyễn Duy gần gũi với dân gian bởi từ thuở bé anh đợc sống nhiều với những câu ca dao, những chuyện cổ tích của ngời bà thân thiết Từ những năm học cấp II, Nguyễn Duy đã đặt nhiều bài ca dao Đặc điểm này vốn đã là một nét riêng của Nguyễn Duy từ chùm thơ đợc giải nhất cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ năm
1972 - 1973 (in trong tập Cát trắng) Qua ánh trăng nét riêng này càng ổn
định, càng nổi trội hơn Nhiều bài thơ trong ánh trăng thật đậm đà chất ca dao,
nhiều đoạn thơ lục bát nhuần nhị, ngọt ngào khiến ngời ta khó phân biệt đấy là
ca dao hay thơ Và đến tập thơ Về ngòi bút Nguyễn Duy ở thể thơ này càng đợc
Trang 15Với thể thơ lục bát, Nguyễn Duy viết về nhiều đề tài: quê hơng, đất nớc, chiến tranh và ngời lính, tình yêu đôi lứa Nhng những tác phẩm thành công,
có ấn tợng sâu sắc trong lòng ngời đọc chính là những khúc hát về những tình cảm muôn thở của con ngời nh quê hơng, tình yêu, tình bạn bè Chúng ta có thể liệt kê một số tiêu biểu: Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, Nhớ, Võng trăng, Lời ru đồng đội, Ca dao vọng về, Xuồng đầy, Đợc yêu nh thể ca dao, Ma trong nắng nắng trong ma
Thơ lục bát dễ sa vào kể lể, dông dài khiến cho bài thơ nhiều lời mà ít ý Nguyễn Duy đã đa thơ lục bát của mình thoát khỏi điểm yếu đó bằng lối t duy thông minh sắc sảo, với bàn tay khéo léo Các bài thơ lục bát của Nguyễn Duy thờng ngắn gọn, thậm chí rất ngắn Có bài gồm 2 cặp lục bát (17 bài), ví dụ:
Kính tha liền chị; Tôi và em,và ; Khúc dân ca; Tiếng hát mùa gặt; Nhận đợc
th ở Đông Hà; Tiếng chim sau trận B52; Hơng cau trong đất Có bài chỉ có
một cặp lục bát (16 bài), ví dụ: Gặp ma, Rót ngợc, Mộng du, Thiền s, Lụa, Bạch, Đỏ, Xanh, Vàng, Thi sĩ A, Thi sĩ B, Thi sĩ C, Thi sĩ D, Thi sĩ E, Thi sĩ F Mặc dù cực ngắn nhng thơ ông vẫn đảm bảo độ hàm súc giàu cảm xúc, “lời
t Rừng xanh chết trắng một thờiCây giơ xơng trắng lên trời mà ghê
- Ve kêu trắng xác ngày hè
Trang 16- Tuổi hai mơi trắng răng cờiTrắng con đờng Chín - bạn tôi không về.
Điều này chứng tỏ Nguyễn Duy đã có những cách tân trong nhịp điệu thơ lục bát - đó là xu hớng tự do hoá nhịp điệu để phù hợp với cảm xúc thời đại, với nhịp điệu đời sống con ngời hiện đại Có ngời nhận xét: “Nguyễn Duy sử dụng lục bát để thuần hoá chất liệu cập nhật của đời sống Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm ái, vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc, vừa biến hoá, cựa quậy, làm thơ lục bát đến nh Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc tài tình”
Điểm đáng tôn trọng ở Nguyễn Duy là khi vận dụng thể thơ lục bát là nhà thơ đã sáng tạo cho phù hợp với không khí hiện đại, nhng nhà thơ vẫn giữ
đợc cái giọng riêng, cái điệu riêng của mình Không hẳn là mộc mạc, giản dị theo lối của lục bát, ca dao truyền thống, không “thi vị, lãng mạn” nh lục bát Nguyễn Bính, không “cổ kính” nh lục bát Huy Cận, cũng không “thời sự, chính luận” nh lục bát Tố Hữu mà thay vào đó chút ngang tàng, chút “bụi” của con ngời thời nay Trong thơ ca Việt Nam hiện đại ta vẫn bắt gặp nhiều câu thơ mang dáng dấp của ca dao:
Việt Nam đất nớc ta ơiMênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơnCánh cò bay lả dập dờn
Mây mờ che đỉnh Trờng Sơn sớm chiều
(Nguyễn Đình Thi)
So với thơ Nguyễn Duy chúng ta vẫn nhận ra sự khác biệt, thơ ông gần
nh trầm lắng hơn, lời thơ nh lời thủ thỉ, giãi bày tâm sự:
Em đi vớt vát lúa trời
áo hình nhân dán thân ngời mỏng maiGió làm cho nón đứt quai
Cho xuồng ba lá xoay hoài lới ma
(Mùa nớc nổi)
Trang 17áo trắng là áo trắng ơiCho ta xin lại dáng ngời ngày xaCho ta tí tẹo thẫn thờ
ớc chi ngời đó bây giờ là đây
(áo trắng má hồng)
Sự cách tân trong thơ lục bát Nguyễn Duy rất tự nhiên, không gò bó nh cách ngắt nhịp, tách dòng thơ, tập ca dao Vũ Văn Sĩ đã đánh giá khả năng làm thơ lục bát nh Nguyễn Duy “có thể xem vào bậc tài tình” Phải khẳng định trong số những nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ ít ai bì kịp Nguyễn Duy về sử dụng thể thơ lục bát Không phải ngẫu nhiên khi nói đến thơ lục bát hiện nay ngời ta thờng nhắc đến những tên tuổi nh Nguyễn Bính, Huy Cận, và cả Nguyễn Duy Với khả năng sáng tạo phi thờng Nguyễn Duy đã đa lục bát truyền thống hoà nhập vào thi ca hiện đại Qua đó ta thấy đợc phong cách thơ
độc đáo, giàu hơng vị dân tộc của Nguyễn Duy
1.1.2.3 Thể thơ ngũ ngôn
Đây là thể thơ truyền thống có từ xa xa, đợc sử dụng trong thơ ca dân gian nh vè, hát dặm, đồng dao Với thể thơ này có nhiều nhà thơ hiện đại đã làm nên những thi phẩm nổi tiếng nh Tiếng thu của Lu Trọng L, Sóng, Thuyền
và biển của Xuân Quỳnh, Ma Thuận Thành của Hoàng Cầm, Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ
Mặc dù không có thành tựu nổi bật nh ở các thể thơ tự do, lục bát, nhng ở thể thơ ngũ ngôn, Nguyễn Duy vẫn có những đóng góp đáng kể Trong ba tập thơ chúng tôi khảo sát đợc 8/129 bài viết theo thể ngũ ngôn:
Trang 182 ánh trăng
34
5
ánh trăngTrên đồng bông Phớc SơnTình ca nơi cuối đất
Đốm đỏ đỉnh đèo xanh
Có những vần thơ vang lên những tiếng hát - một “bản tình ca” thể hiện tình cảm của nhà thơ với tên đất, tên miền mà thân thơng nh với ngời em gái nhỏ:
Trang 19(Trên đồng bông Phớc Sơn)Dần dần cái suy t, chiêm nghiệm càng xuất hiện nhiều hơn trong lời thơ vẫn rất trữ tình tha thiết:
Trần trụi với thiên nhiênHồn nhiên nh cây cỏNgỡ không bao giờ quênCái vầng trăng tình nghĩa
(ánh trăng)
Đâu phải hết chiến tranh Thì hi sinh chấm dứt
Em vẫn nơi đầu trời
Đợi anh nơi cuối đất
(Tình ca nơi cuối đất)Càng về sau thể thơ ngũ ngôn càng bớt đi chất trong trẻo, mợt mà Có khi còn thể hiện sự trăn trở của Nguyễn Duy trong bài Trở gió, chính sự bất thờng
của thiên nhiên cũng khiến cho nhà thơ liên tởng đến xã hội con ngời với những cái mong manh, bấp bênh, bất ổn của nó:
Cái va chạm lặng thinhNứt dọc đời vết khổThời hội chứng thần kinhMọi thứ đều dễ vỡ
Buổi bập bềnh bọt bểNơng vào nhau mà trôiNgắn ngun ngủn ngàn ngàyGió chi mà gió thế
Trang 20Khi nghe tiếng Pháo tết, Nguyễn Duy cũng đã thể hiện sự trăn trở Với
nghịch cảnh “cả thành phố nh nổ”, “nh cháy”, “nh toác” vui vẻ tng bừng với một bên là hình ảnh của “một bà già bới rác, nằm co ro gầm cầu”, “Có một em
điếm ế, đón giao thừa gốc cây”, “có chú bé đi bụi, Khoèo mé hiên lắng nghe”,
“có một ngời nạng gỗ, ngồi bên sông nhớ nhà”
Chiều sâu suy tởng trong thơ Nguyễn Duy chính là ở chỗ đó Bằng lối nói hàm ngôn, hiện thực cuộc sống đợc Nguyễn Duy tái hiện trong thể thơ ngũ ngôn một cách tế nhị, kín đáo, song không kém phần sâu sắc mang ý nghĩa sâu xa
làm mới cho phù hợp với phong cách nhà thơ, biểu hiện sự lạc quan yêu đời của những ngời chiến sĩ đang trong lúc đánh giặc mà vẫn khao khát đợc nghe đọc thơ:
Bom đạn thi nhau vằm mặt đấtSâu trong lòng đất tôi làm thơ
Có anh chiến sĩ yêu thơ quá
áp súng bên tôi thắc thỏm chờ
(Bên hàng rào ái tử)
Trang 21Thể thơ 7 tiếng, 8 tiếng của Nguyễn Duy thờng thiên về những cảm xúc hồn nhiên với những cánh cò, dòng sông, những tên đất, tên làng Đó không chỉ
là những kỷ niệm ngọt ngào mà còn là hoài niệm về một thời hồn nhiên:
Nguyễn Duy sáng tác thơ với nhiều thể khác nhau, ở mỗi thể nh vậy đều
có cách tân, sáng tạo riêng Nhng thành công nhất chính là thơ lục bát ở những thể thơ khác Nguyễn Duy cũng để lại không ít những dấu ấn riêng biệt của mình
Nguyễn Duy là ngời đi nhiều, có vốn sống phong phú, hồn thơ không
đơn điệu Nhà thơ phải bộc lộ tâm hồn phong phú, giàu cảm xúc của mình bằng nhiều thể thơ Mỗi thể thơ có một lợi thế riêng, giúp Nguyễn Duy bộc lộ cảm xúc của mình đối với cuộc sống một cách đa dạng
Nguyễn Duy muốn thử tài sáng tạo của mình với nhiều thể thơ khác nhau ở mỗi thể thơ Nguyễn Duy đều có những sáng tạo, những cách tân cho phù hợp với cảm xúc riêng t của mình Điều đó chứng tỏ Nguyễn Duy là một cây bút không ngừng sáng tạo, luôn đi tìm cái mới để có đợc gơng mặt riêng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại
1.2 Kết cấu câu thơ
Phong cách, sự sáng tạo của một nhà thơ thể hiện trên nhiều phơng diện khác nhau Trong các phơng diện đó, kết cấu câu thơ là một phơng diện không
Trang 22thể bỏ qua khi tìm hiểu đặc trng ngôn ngữ của một nhà thơ Bởi trên phơng diện này sự sáng tạo của nhà thơ bộc lộ hết sức rõ ràng và cụ thể.
Khảo sát kết cấu câu thơ của Nguyễn Duy, chúng tôi thấy ông thờng sử dụng các kiểu kết cấu sau:
1.2.1 Cấu trúc lặp
Phép lặp là sự lặp các đơn vị trong tổ chức câu thơ, khổ thơ, bài thơ nhằm nhấn mạnh nội dung, khắc hoạ hình ảnh Trong thơ Nguyễn Duy đây là kiểu cấu trúc phổ biến nhất
Thơ Nguyễn Duy có đủ các kiểu lặp thuộc đủ mọi cấp độ: ngữ âm, từ ngữ, cú pháp, kiểu lặp từng đoạn nh điệp khúc, có kiểu lặp đầu các khổ thơ, hoặc cách quãng trong bài thơ Có thể khẳng định thành công của nhiều tác phẩm phụ thuộc không nhỏ vào việc sử dụng cấu trúc lặp này
Trong ba tập thơ chúng tôi khảo sát có 50/129 bài sử dụng kết cấu này
1.2.1.1 Lặp ngữ âm
Là sự lặp lại có dụng ý các đơn vị ngữ âm bao gồm phụ âm đầu hoặc phần vần, thanh điệu nhằm mục đích tăng tính tạo hình, tăng sức biểu hiện và tăng tính nhạc cho câu thơ Điệp âm đợc sử dụng trong thơ Nguyễn Duy không nhiều lắm, các bài thơ có sử dụng hình thức lặp âm là: Gặp ma, Cung văn, Đỏ, Vàng, Xẩm ngọng, Trở gió
Ví dụ: Phấp pha phấp phới nhiễu điều
Aí ân phần phật tình yêu không thành
(Đỏ)
Đàn kêu tng tửng từng tngCon trâu xúc phạm sợi thừng cột trâu
(Xẩm ngọng)
1.2.1.2 Lặp từ
Lặp từ là sự lặp lại có dụng ý nghệ thuật các từ trong câu thơ, khổ thơ, bài thơ Kiểu lặp này đợc sử dụng trong rất nhiều bài thơ Tre Việt Nam, Khẩu
Trang 23súng trên tay ta, Tiếng kèn hiệu trong trận đánh cao điểm X, Cát trắng, Mùa thu, Âm thanh bàn tay, Lời ru đồng đội, Đà lạt một lần trăng, Ông già sông hậu, Bao cấp thơ, Xẩm ngọng, Vô t, Thi sĩ E, Thị sĩ C,
Chẳng hạn, để khẳng định sức sống bất diệt của cây tre- biểu tợng cho con ngời Việt Nam, dân tộc Việt Nam, Nguyễn Duy nhấn mạnh:
Năm qua đi tháng qua đi Tre già măng mọc có gì lạ đâuMai sau
Mai sauMai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
(Tre Việt Nam)Việc lặp lại cùng một từ “Mai sau” ở ba dòng thơ cùng với từ “xanh” lặp lại nhiều lần trong bài thơ đã diễn tả thành công sức sống bền bỉ của tre trong sự tiếp nối vô tận của thời gian, năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác
và qua đó Nguyễn Duy muốn khẳng định tinh thần không khuất phục trớc mọi gian nan, thử thách, trong mọi hoàn cảnh con ngời Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn luôn trong t thế chiến thắng, trờng tồn
Hay trong bài Giấc mộng trắng, bài thơ chỉ có 12 dòng mà có đến 13 lần
dùng điệp từ “trắng”: chết trắng, trắng xác, xơng trắng, trắng răng cời, trắng con đờng, trắng rợn cờ lau, trắng phau, áo trắng, trăng trắng, Nhà thơ nh đa
ta về một không gian vắng vẻ đến rợn ngời với màu trắng ngút ngàn của chiến trờng Quảng Trị Cách sử dụng điệp từ này có tác dụng gợi không khí tang th-
ơng, ảm đạm, gieo vào lòng ngời đọc những ám ảnh đến rợn ngời
ở bài Đợc yêu nh thể ca dao nhà thơ đã sử dụng nhiều từ điệp đi gần
nhau, tập trung biểu hiện cảm xúc Đó là những từ “yêu”, “cũng”, “đủ” đi kèm với các cung bậc và trạng thái của tình yêu:
Trang 24Cũng trăng gió cũng mây ma ào ào
Đủ phờ phạc đất đủ lao đao trờiNhằm ca ngợi, cổ vũ cho thứ tình yêu mà thi nhân gọi là tình yêu “ngày xa”, tình yêu kiểu “ca dao” rất chân thành tự nguyện mà cũng đắm say hết mình, đó là thứ tình yêu mà con ngời hiện đại hôm nay phải khát khao nuối
Yêu nh các cụ cho vừa lòng ta
1.2.1.3 Lặp ngữ
Điệp ngữ là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh ý,
mở rộng ý, gây ấn tợng mạnh hoặc gợi ra những xúc cảm trong lòng ngời đọc, ngời nghe Điệp ngữ trong thơ Nguyễn Duy xuất hiện không nhiều, chỉ có ở một số bài thơ nh Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, Giọt nớc mắt và nụ cời, Âm thanh bàn tay, Sông Thao, Tuổi thơ, Cầu Bố, Khúc dân ca quê mình
Ví dụ: - Tuổi thơ tôi bát ngát cánh đồng
- Tuổi thơ tôi trắng muốt cánh cò
- Tuổi thơ tôi cứ ngỡ mất đi rồi
(Tuổi thơ) Sông Thao thêm một lần tôi tắm Thêm một lần tôi đến để rồi đi
(Sông Thao)Các điệp ngữ nhiều khi đi suốt bài thơ, lặp đi lặp lại nhiều lần, nhấn mạnh những khía cạnh tình cảm mà tác giả muốn làm nổi bật Để thể hiện tấm lòng thuỷ chung với “khúc dân ca”, với những giá trị văn hoá của quê hơng, với cội nguồn truyền thống dân tộc, Nguyễn Duy sử dụng biện pháp điệp liên tiếp cụm từ “cũ sao đợc” trong một bài thơ:
Nghìn năm trên giải đất này
Cũ sao đợc cánh cò bay la đà
Cũ sao đợc sắc mây xa
Trang 25Cũ sao đợc khúc dân ca quê mình!
1.2.1.4 Lặp cú pháp
Là phơng thức lặp lại cấu trúc câu trong khổ thơ, một bài thơ có tác dụng rất lớn trong việc triển khai hình tợng và thể hiện chủ đề Đây là phơng thức tu
từ đợc gặp nhiều nhất trong thơ Nguyễn Duy đợc biểu hiện ở những dạng sau:
- Lặp không hoàn toàn (lặp lại một bộ phận nào đó): tình ca đồi trọc, áo trắng má hồng, Thời gian, Lời ru đồng đội, ám ảnh cát, Pháo tết, tuổi thơ, Nhớ bạn,
Ví dụ: - Cát trắng xèo từng giọt máu rơi
- Cát trắng xèo từng giọt đỏ tơi
- áo trắng là áo trắng này
- áo trắng là áo trắng ơi
- áo trắng là áo trắn bay
(áo trắng má hồng)
Mở đầu mỗi khổ là những tiếng gọi nhẹ nhàng, yêu thơng, trìu mến
Trang 26niệm về một tình yêu thời “áo nâu chân đất” giữa “ta và bạn gái” Sau mỗi lần gọi, cái tâm trạng thổn thức, nuối tiếc của nhân vật trữ tình về những “tháng ngày mỏng manh” đó nh càng đợc tăng tiến để rồi khát khao, mơ ớc:
Cho ta xin lại dáng ngời ngày xaCho ta tí tẹo thẩn thờ
ớc chi ngời đó bây giờ là đây
- Lặp hoàn toàn: là sự lặp lại nhiều lần nguyên dạng một câu thơ - không
có sự thêm bớt từ hay hoán đổi cấu trúc ngữ pháp, ta thấy ở một số bài thơ: Về
đồng, Tìm thân nhân, Không dám đâu, Chiến hào
Rơm rạ ơi ta trở về đây (Lặp lại 6 lần)
(về đồng)Liệu chúng mình có còn mãi với nhau (lặp lại 2 lần)
(Không dám đâu)Tôi đi tìm thân nhân (Lặp 4 lần)
(Tìm thân nhân)Trong bài Tìm thân nhân câu thơ “Hai mơi mốt năm dài” đợc lặp đi lặp
lại nhiều lần trong bài Tìm thân nhân:
Hai mơi mốt năm dàiMáu chảy
Hai mơi mốt năm dàiThơng đau
Hai mơi mốt năm dàiKhông có ai ngồi chờ đợi aiKhông có ai ngồi nhớ mong hoài
(Tìm thân nhân)Mặc dù cuộc chiến tranh đã kết thúc từ lâu song nỗi đau của nó vẫn còn ngấm sâu, âm ỉ, kéo dài Câu thơ “ hai mơi mốt năm dài” lặp đi lặp lại tạo nên một âm điệu trầm buồn, nỗi xót xa nhức nhối nh càng đợc xoáy sâu, nhấn
Trang 27mạnh Cách điệp ấy cũng gợi cho ta những cảm xúc ám ảnh về cuộc chiến tranh với những đau thơng mất mát không thể nào nguôi.
1.2.2 Cấu trúc so sánh
1.2.2.1 Khái niệm so sánh tu từ
So sánh tu từ “là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa” trong đó ngời ta đối chiếu hai đối tợng khác loại của thực tế khách quan, không đồng nhất với nhau hoàn toàn, mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tợng [3, 262]
Hoa (B) là yếu tố so sánh, là cái đã biết, đã quen thuộc
Trong thực tế sử dụng cấu trúc của so sánh tu từ có thể đầy đủ hoặc thiếu vắng một số yếu tố nào đó Có lúc vắng cơ sở(so sánh chìm)
Ví dụ:
Trẻ em nh búp trên cành
(Hồ Chí Minh)Cũng có lúc vắng từ so sánh (so sánh đối chọi)
Ví dụ:
Gái thơng chồng đơng đông buổi chợTrai thơng vợ nắng quái chiều hôm
(Ca dao)
Trang 28Cần phân biệt so sánh tu từ với so sánh lôgic Hai yếu tố, yếu tố A và B của so sánh tu từ khác loại còn của so sánh lôgic cùng loại.
So sánh tu từ đợc dùng trong nhiều phong cách Trong sáng tác văn học (phong cách ngôn ngữ nghệ thuật) so sánh tu từ mang đến cho ngời đọc những phát hiện bất ngờ, lí thú về những sự vật, hiện tợng, sự việc, hành động, trạng thái, tính chất tởng chừng nh không có quan hệ gì với nhau
Ví dụ:
Tiếng rơi rất mỏng nh là rơi nghiêng
(Trần Đăng Khoa)Tiếng suối trong nh tiếng hát xa
(Hồ Chí Minh)Nguyễn Duy cũng nh các nhà văn, nhà thơ khác sử dụng so sánh tu từ nhằm nhiều mục đích khác nhau Nguyễn Duy đã đem đến cho độc giả những thế giới hình ảnh sinh động đợc so sánh để tạo nên liên tởng sâu xa cho ngời
đọc, từ đó tạo nên những nét đặc trng dễ nhận thấy trong thơ ông
1.2.2.2 Cấu trúc so sánh ngang bằng(A nh B)
Đây là cách so sánh lâu đời và mô hình cấu tạo là so sánh hoàn chỉnh bao giờ cũng bao gồm 4 yếu tố
Trang 29- Yếu tố đợc đa ra làm chuẩn để so sánh.
Thực tế có nhiều so sánh không đầy đủ 4 yếu tố trên
Khảo sát 3 tập thơ có 39 bài với 64 lần sử dụng cấu trúc so sánh ngang bằng có từ so sánh “nh”:
Số
Số lầnXuất hiện Câu có cấu trúc so sánh ngang bằng
Cha lên đã nhọn nh chông lạ thờng
3
- Trên đồi sim Nòng súng ngếch nhìn Hiền nh sắn tím
- Không cây nào nh cây sim quê ta Mọc giữa cằn khô vẫn xoè đầy hoa
Con số nhìn ngời nh con mắt đỏ
Cái nhìn của đất bạn ơi
6 Cô gái Hải Lăng 8 - Em nh con chim trong lồng dây thép gai
7 Giọt nớc mắt và
nụ cời
9 - Giọt nớc mắt cũng đã già nh tuổi
8 Bàn chân ngời lính 10 - Già trẻ hỏi nhau lòng rng rng
Các anh đi, nửa đêm? hay gà gáy?
Chỉ thấy dấu chân nh chào ở lại
9 Con đờng qua bến
mới
11 - B52 lột da đầu của núi
Nh lũ thực dân xa lột da đầu ngời
Trang 3010 Tiếng hát đảo Đèn 12 - Và tiếng hát từ lòng đảo nhỏ
Mợt mà nh mái tóc chải khoan thai
11 Hạt lúa cháy nảy mầm 13
14
- Thơng lúa quặn đau nh ngời đẻ khó
- Phải đất nghèo nên hạt lúa giàu tình Biết thơng ngời nh ngời thơng lúa?
12 Bài thơ tặng con 15 - Vách hầm rng rng - nớc mắt
Nớc mắt đất Nhỏ trên khuôn mặt nh trái hồng ơm Nhỏ vào tiếng khóc mềm nh chồi non
- Mái nhà lợp bằng lá mía trắng phau
Nh mọi mái nhà lợp bằng lá mía
- Mọi cái ở đây đều rất bình thờng
Nh bộ quần áo nâu Bác mặc
Nh đôi dép cao su của Bác
16 và lời của quả 22 - Đã đành có quả rụng đi
Thì nh lá ấy rụng về cội cây
2425
- Tiếng đàn lặn sâu nh con cá ăn chìm
Trang 3131
- Trong cả nỗi xót đau nh muối xát lòng
- Từ gơng mặt đỏ nhừ nh cua luộc
- Những năm bom đạn nh gieo mạ
- Cha tôi đó dân làng tôi vậy đó
Sống lặng yên nh cây cỏ trong vờn
- Ngày họp mặt cha già nh trẻ lại
- Vầng trăng đi qua ngõ
Nh ngời dng qua đờng
- Bà vũ s nh tạc bằng sa thạch
- Em nh gạo, điệu múa kia là rợu
Nh dạ hơng thoáng gặp một đêm nào
Nh luống cày Dới cánh đồng mới cày
Trang 32Sẽ còn yêu nh thế Suốt một thời thanh bình
28 Lời ru từ mũi Cà Mau 42
- Ngời đâu ngày đó vô t
Em bây giờ có còn nh bấy giờ
- Ngon lành gió lửng ma lơ
Vô t nh thực nh mơ nh gì
31 Vết thời gian 47 - Tôi biết thế nào là gió sắc nh dao
Và cứ thế tháng ngày trôi thờn thợt Vừa đục vừa trong đời xuôi nh nớc
495051
- Nớc nh cha nớc bao giờ
- Lụt nh lụt tự ngày xa lụt về
- Làng nh làng mạc thuỷ tề
- Em nh em giữa bốn bề thuỷ tinh
535455
- Cả thành phố nh nổ Tiếng pháo rền vang xa
36 Kính gửi tuổi học trò 58 - Lá th học trò vu vơ dấm dúi
Nỗi nhớ học trò chấp chới suốt đời nhau Đẹp nh là không đâu vào đâu
Ta chạnh lòng nh gì nhỉ - quên đời
Trang 33Anh nh nguyên thủ tanh bành quốc gia.
6263
Đất em dịu tựa bàn tay ngời đỡMầm mạ lọt lòng mập mạp trắng xinh
(Hạt lúa nảy mầm)Anh cũng rất ít dùng từ so sánh nh “bằng”:
Tiếng đàn lặn sâu nh con cá ăn chìmCha sâu bằng đêm nay tôi nghe em
(Âm thanh bàn tay)Vô t thế chấp đời ngời
Trắng tay còn chút coi trời bằng vung
(Vô t)Nhà quê nhìn em bằng con mắt lá
Trang 34(Hoa hậu vờn nhà ta).
Trật tự giữa các vế A, B trong thơ Nguyễn Duy gần nh không bao giờ
đảo Đó là trật tự bình thờng, trật tự thuần, bởi lẽ anh không thích đi ngợc truyền thống trong cách diễn đạt, không thích kiểu cách, màu mè Anh chỉ muốn tạo ra cho ngôn ngữ thơ mình một cách diễn đạt dân dã, giản dị, dễ hiểu Cái cần đợc nhận thức (A) bao giờ cũng đợc đặt trớc cái so sánh (B)
Bài thơ Pháo tết chỉ gồm 16 dòng thơ đợc chia làm bốn khổ song mỗi
khổ thơ là một tâm sự trĩu nặng Bằng việc sử dụng cấu trúc so sánh, biện pháp tơng phản đối lập Nguyễn Duy dựng lên hai khung cảnh hoàn toàn trái ngợc nhau: một bên là cảnh đón tết vui mừng, rộn rã với âm thanh náo nhiệt của tiếng pháo, còn một bên là những số phận bất hạnh, những mảnh đời nhỏ bé, cô đơn giữa sự lạnh lẽo của lòng ngời:
Cả thành phố nh cháyLập loà ánh hoả châu
Trang 35Có một bà bới rácNằm co ro gầm cầu.
( Pháo tết)
Số lợng các vế A và B cũng là một đặc điểm đáng chú ý trong thơ Nguyễn Duy Vốn thích ngắn gọn, lại hết sức tinh tế trong quan sát thế giới ngoại cảnh Nguyễn Duy thờng chỉ so sánh A với một B nào đó mà thôi Anh chỉ dùng một cái B thật tiêu biểu để giúp ngời đọc nhận thức đúng cái đuợc so sánh (A) là anh tập trung miêu tả cái so sánh (B)
Ví dụ:
Chiều xanh nh nỗi nhớ nhàMây bàng bạc sóng bao la bốn bề
(Xuồng đầy)Trong bài Trận địa tím Nuyễn Duy cũng sử dụng cấu trúc so sánh này:
Không cây nào nh cây sim quê taMọc giữa cằn khô vẫn xoè đầy hoaChiu chắt màu sành luyện thành sắc tímLọc từ sỏi ra mật đờng ngọt lịm
Càng nắng càng ma trái mọng càng thơm
Ta thấy vế B trong câu thơ Nguyễn Duy đợc tập trung miêu tả Chính vì
đặc điểm này mà bao giờ vế B cũng lớn hơn A về dung lợng câu chữ ấn tợng
dễ hiểu, giàu sắc thái cụ thể của ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy có đợc cũng là nhờ
đặc điểm này
Ta thấy ở đoạn thơ trên vế B đợc miêu tả rất kỹ, vế A chỉ là cơ sở (không cây nào) để nhằm khẳng định sức sống trờng tồn, vẻ đẹp vĩnh cửu dù trong “cằn khô”, trong sỏi đá của “ cây sim quê ta”(vế B)
Mặc dù không nhiều nhng ta cũng bắt gặp một số câu thơ có cách so sánh rất mới lạ, độc đáo: