1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ thơ của các nữ tác giả nghệ an

106 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 870,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đành rằng luôn phải nhớ trách nhiệm của mình là phải có tầm nhìn cao hơn cuộc sống thực tại và hướng nó đến những điều tốt đẹp” [ 2, tr.108] Nguyễn Trọng Tạo cũng đã cảm nhận về thơ Tuyế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS ĐỖ THỊ KIM LIÊN

Vinh 2004

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Thơ ca là tiếng nói của mỗi tâm hồn, mỗi góc độ nội tâm sâu kín, vì vậy

có nhiều đối tượng khác nhau đến với thể loại này Trong nền thơ ca Việt Nam đã

có sự đóng góp không nhỏ của các nhà thơ nữ Trong số đông đảo các tác giả nữ hiện đại; các nữ tác giả Nghệ An đã có những thành công nhất định, tạo nên giọng điệu riêng

1.2 Trong các sáng tác của mình, các tác giả nữ Nghệ An đã có những đóng góp riêng, nhưng trong đó họ vẫn mang tình cảm, nét văn hoá kế thừa của một miền quê - vùng đất văn hoá xứ Nghệ Vì vậy việc nghiên cứu diện mạo ngôn ngữ thơ của họ góp phần khẳng định sự kế thừa thơ ca xứ Nghệ và sự cách tân của thế

hệ các nhà thơ trẻ sau này

2 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là 90 bài thơ tiêu biểu của 20 tác giả nữ Nghệ An in trong các tập thơ:

1 Thơ nữ Nghệ An[1] 2.Thơ Nghệ An 1967 – 2002[64] 3.Viết trước tuổi mình[52] 4 Ảo giác[53] 5.Thơ nữ Việt Nam[7] 6 Các nhà thơ nữ Việt Nam sáng tác và phê bình[2] 7.Tuyển tập thơ Việt Nam 75  2000[63 ]

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ thơ nữ xét về mặt hình thức: thể thơ, đặc điểm vần và nhịp

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ của các nhà thơ nữ Nghệ An xét ở bình diện ngữ nghĩa: Gồm đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ được các nhà thơ sử dụng đặc sắc, độc đáo, thành công; nội dung ngữ nghĩa của các tiêu đề; nội dung ngữ nghĩa của các kiểu câu qua một số biểu tượng ngôn ngữ thơ

3 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Việc nghiên cứu và tiếp nhận tác giả tác phẩm thơ nữ Nghệ An hiện đại từ trước đến nay chưa thành một hệ thống; mới chỉ có rải rác một số bài phê bình

Trang 3

của các tác giả Thạch Quỳ, Vân Anh, Đào Tam Tỉnh, Nguyễn Văn Hùng,Nguyễn Trọng Tạo…đi vào giới thiệu một số tập thơ in chung và một số tập thơ, bài thơ của một số nhà thơ

Nhìn chung các bài phê bình giới thiệu đều thiên về nhận xét giàu tính cảm xúc đúng như Vân Anh, Nguyễn Văn Hùng, Đào Tam Tỉnh đã viết:

“Từ xa xưa, đất Nghệ như một dải phù sa màu mỡ nuôi dưỡng nguồn thi ca đâm chồi xanh lá Hiếm có nơi nào lại mê văn chương như ở đây; từ mê đọc thơ đến say làm thơ chẳng khác một duyên nợ truyền kiếp Bởi thế, trong nền thi ca dân tộc, đã có bao chân dung tác giả khả ái ở đó chúng ta có thể nhận ra được không ít gương mặt thân quen – những cây bút nữ Nghệ An” [1, tr.5]

Kế tiếp giọng thơ của thiên tài, kỳ nữ Hồ Xuân Hương, các tác giả nữ Nghệ

An hiện đại đã gửi hồn mình vào những sáng tác thơ đặc sắc hấp dẫn Thuý Bắc một trong những tác giả đàn chị – một thi sĩ có tên tuổi đã tự bạch:

“Tôi luôn quan niệm đã là người cầm bút phải sống nhiệt tâm và trong sáng, phải có tầm suy nghĩ cao hơn hiện tại mình đang sống, ít ra đóng góp được phần nhỏ vào danh hiệu “nhà văn là kỹ sư của tâm hồn” Nhưng khi thể hiện vào tác phẩm thì đừng quá mông lung cao xa để người đọc không gặp được, hoặc không thấy được một chút gì là bóng dáng của họ trong cuộc sống tác phẩm Đành rằng luôn phải nhớ trách nhiệm của mình là phải có tầm nhìn cao hơn cuộc sống thực tại và hướng nó đến những điều tốt đẹp” [ 2, tr.108]

Nguyễn Trọng Tạo cũng đã cảm nhận về thơ Tuyết Nga rằng: “Thơ Tuyết Nga- Ảo giác vết thương chìm…Cái chính là Tuyết Nga đã tạo dựng được một giọng thơ cho riêng mình, một giọng thơ đẹp, sang và vang; tất nhiên nó không phải là sự bắt chước vẻ nhăn mặt của Đông Thi xưa, mà là vẻ đẹp thực sự của cái chau mày Tây Thi thời hiện đại…”[3, tr.54]

Quả thực, các tác giả nữ Nghệ An không chỉ tạo nên vẻ đẹp riêng của thơ mình mà còn thể hiện “tầm nhìn” và “bóng dáng” rất rõ qua ngôn ngữ thơ của họ

Việc nghiên cứu “Đặc điểm ngôn ngữ thơ của các nữ tác giả Nghệ An” là

một đề tài hoàn toàn mới mẻ song nó rất có giá trị ý nghĩa trong khoa học thuộc lĩnh vực lý luận ngôn ngữ

Trang 4

Vì vậy trong khuôn khổ của luận án và khả năng hạn chế của mình người viết

cố gắng tìm hiểu “Đặc điểm ngôn ngữ thơ của các nữ tác giả Nghệ An” để từ

đó thấy được nét riêng về phong cách ngôn ngữ của các tác giả nữ Nghệ An và bản sắc văn hoá của xứ Nghệ thể hiện trong thơ nữ Nghệ An

Đây là bước đầu người viết mạnh dạn thể hiện từ những cơ sở lý luận lý thuyết chung, đúc rút tìm tòi thu nhận từ những giáo trình ngôn ngữ học đại cương, những công trình nghiên cứu ngôn ngữ thơ của những người đi trước

Tuy là một công việc khó khăn nhưng chắc chắn rất cần thiết và thú vị

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Phương pháp thống kê phân loại:

Đề tài đi vào khảo sát 90 bài thơ của 20 tác giả từ đó phân loại những câu thơ, bài thơ chứa hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên cứu Những câu thơ bài thơ này sẽ

là những ví dụ minh hoạ cho những luận điểm khái quát rút ra trong quá trình

khảo sát

4.2 Phương pháp miêu tả đối chiếu:

Trên cơ sở thống kê phân loại chúng tôi đi sâu vào miêu tả các kiểu cấu trúc tiêu biểu của thơ nữ Nghệ An Đồng thời chúng tôi cũng tiến hành đối chiếu giữa cách sử dụng ngôn ngữ của các tác giả nữ Nghệ An với các tác giả khác để làm rõ

những đặc điểm riêng của thơ nữ Nghệ An

4.3 Phương pháp phân tích tổng hợp:

Từ việc nghiên cứu, phân tích tín hiệu thẩm mỹ, cấu trúc ngôn ngữ để hiểu nghĩa thông báo của thơ chúng tôi đi đến khái quát những đặc điểm cơ bản của

ngôn ngữ thơ nữ Nghệ An

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

5.1 Có thể xem đề tài của chúng tôi là đề tài đầu tiên tìm hiểu nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ của các nhà thơ nữ Nghệ An ở hai bình diện hình thức và ngữ nghĩa, từ đó chỉ ra những đóng góp riêng, đặc sắc của của các tác giả thơ nữ Nghệ

An

5.2 Nghiên cứu thơ nữ Nghệ An, để thấy được vai trò giá trị của nó trong việc góp phần bổ sung làm nên diện mạo thơ ca hiện đại

Trang 5

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Theo những nhiệm vụ nghiên cứu đã dự định, ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục luận án được triển khai trên 3 chương

Chương 1: Một số giới thuyết về các khái niệm liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ thơ của các tác giả nữ Nghệ An xét ở bình diện hình thức

Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ thơ của các tác giả nữ Nghệ An xét ở bình diện ngữ nghĩa

Trang 6

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ GIỚI THUYẾT VỀ CÁC KHÁI NIỆM

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 NGÔN NGỮ THƠ

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ

Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là một hệ thống đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp giữa người với người

Theo Đinh Trọng Lạc: “Khái niệm ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống cần bao gồm những dạng cơ bản của việc sử dụng của xã hội đối với hệ thống đó Những dạng này bị qui định bởi những sự khác nhau trong các kiểu tư duy (cụ thể – hình tượng và trừu tượng – lô gic) vốn xác định sự phân biệt giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật” [ 44, tr.6 ] Cũng theo ông: “Ngôn ngữ phi nghệ thuật, tức là ngôn ngữ tự nhiên của con người có thể được xác định như một mã chung, phổ biến nhất, tức là hệ thống tín hiệu đầu tiên và qui tắc sử dụng những tín hiệu đó, mà con người dùng để vật chất hoá những ý nghĩ, những tình cảm của mình, tức để diễn đạt những ý nghĩ những tình cảm này trong một hình thức tri giác cảm tính: từ ngữ phát ngôn…Ngôn ngữ nghệ thuật tức là ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ là một mã phức tạp được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên) Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật được biểu hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ (tức đặc trưng ngữ nghĩa và đặc trưng âm thanh) trở thành yếu tố tạo thành của hình tượng” [44, tr.18 ]

Như vậy có thể nói ngôn ngữ nghệ thuật luôn đòi hỏi việc sử dụng âm thanh

và ý nghĩa là hai yếu tố cơ bản tạo thành hình tượng nghệ thuật Trong tính hiện thực của nó ngôn ngữ nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật

cụ thể, dưới dạng một thể loại cụ thể hoặc thơ, hoặc kịch, hoặc tiểu thuyết, hoặc truyện ngắn, bút ký v v…

Trong tác phẩm nghệ thuật, ngôn từ bao giờ cũng đảm nhận chức năng là phương tiện, chất liệu để tạo ra những mạch truyền cảm; trong tác phẩm nghệ

Trang 7

thuật, ngôn từ bao giờ cũng tìm sức sống của mình từ chất liệu đích thực gắn với hiện tượng muôn màu muôn vẻ của cuộc sống

So với loại hình ngôn ngữ “phi nghệ thuật” thì ngôn ngữ nghệ thuật là một loại ngôn ngữ hoạt động mở, giàu tiềm năng phái sinh các sắc thái nghĩa tâm lý Đồng thời trong khi hướng tới những cung bậc khác nhau để tạo thành hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật luôn luôn kết tinh trong bản thân nó chiều dày truyền thống văn hoá

Thơ cũng là một hệ thống nhất định của lời nói Thơ thuộc hệ thống “Lời nói gây cảm xúc” một hình thức gây cảm xúc sáng chói nhất Thơ lại là lời nói có nhịp điệu riêng, có âm hưởng riêng – nhịp điệu và âm hưởng này dựa trên cơ sở

của ngôn ngữ thực tế Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ có tính cách điệu, khác biệt

so với ngôn ngữ hàng ngày và các loại ngôn ngữ nghệ thuật khác

Ngôn ngữ thơ là một chuỗi đặc trưng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm

biểu trưng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ ca

1.1.2 Đặc trưng của ngôn ngữ thơ

1.1.2.1 Đặc trưng về ngữ âm

Ngôn ngữ thơ có tính nhạc của thơ Điều kiện tạo nên tính nhạc của thơ là tiết tấu và hoà âm; tiết tấu và hoà âm trong thơ là âm thanh ngôn ngữ được qui định bởi kết cấu âm thanh của ngôn ngữ cụ thể do các đơn vị ngữ âm (các âm vị: nguyên âm, phụ âm, thanh điệu) tạo thành hệ thống, khác với âm nhạc, giống như tiếng kêu, và theo nghĩa đó, với một sự chính xác tinh vi và mạnh mẽ, không sao bắt chước được, nó trực tiếp biểu hiện sự đau khổ, niềm vui, sự tức giận, mọi nỗi xúc động và những biến động về tâm hồn của một sinh vật có cảm giác…Hơn bất

kỳ một môn nghệ thuật nào, âm nhạc có thể truyền đạt những ý nghĩ mơ hồ, những hình ảnh vô hình, những ước muốn mơ hồ và cao rộng, sự cuồng loạn ghê gớm, sự cay đắng của một con tim lo lắng và thổn thức… Âm nhạc khêu gợi cảm xúc mà không thể hiện cá tính còn thơ có khả năng miêu tả tình cảm bằng những thể hiện chính xác, cụ thể, khác biệt và có cá tính nhất Bởi vì ngôn ngữ thơ là một công cụ sắc bén, diễn đạt những tư tưởng, tình cảm tế nhị, đa diện nhất của

Trang 8

con người; có thể biểu hiện cái mà âm nhạc không thể biểu hiện Ngôn ngữ thơ có khả năng miêu tả những tình cảm cá nhân sâu kín nhất của con người, biểu hiện những tính cách đa dạng nhất

a Hoà âm : nhạc thơ do nguyên âm, phụ âm đưa lại Các cách khai thác hệ

đối

lập và được mã hoá trong các biện pháp mà tu từ học cổ đại gọi là “chọn âm”(điệp nguyên âm, điệp phụ âm) Đặc biệt mọi khai thác nhạc tính trong thơ xoay quanh vần Vần là yếu tố lặp lại một bộ phận âm tiết (không trùng lặp hoàn toàn) Theo

Gôntrarốp, trong Tổ chức âm thanh của câu thơ và vấn đề vần, thì “vần xét về

phương diện ngữ âm có thể coi như sự lặp lại các âm trong một tập hợp âm nối giữa hai dòng thơ và kéo dài đến cuối bài thơ”(Dẫn theo [41, tr.189]) Nói cách khác, vần có ý nghĩa về phương diện ngữ âm như một sự lặp lại âm thanh, và có ý nghĩa vận luật tạo nên giới hạn của một dãy âm trong một câu thơ Và có thể chia thành nhiều dấu hiệu khác nhau, tuỳ theo sự phân loại nhấn mạnh mặt này hay mặt kia

B V.Tômasépki, cho rằng: “Sự biến đổi trong hệ thống vần thường là kết quả cửa sự thay đổi các tiêu chuẩn tương ứng giữa các âm thanh có tính âm nhạc và qui luật của phong cách văn học”(Dẫn theo [41,tr.192]) Hệ thống các mối tương ứng có thay đổi theo từng thời đại, theo từng trường phái, trong từng nhà thơ

Vần trong thơ, theo Hê Ghen, là “do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn nhìn thấy mình được biểu lộ rõ hơn, có sự vang dội đều đặn”(dẫn theo [41, tr.18] ) Vần khôi phục quyền uy của yếu tố cảm giác được, làm cho các biểu tượng tương đối gần nhau hơn Âm đã nghe và ý nghĩa quay trở lại làm cho con người nhận thức hoạt động của mình một cách tự giác hơn Vần do người làm thơ tạo ra một cách có ý thức, cho nên nó nhất định mang phong cách tác giả, có mang tính mỹ học nhất định

Như vậy điều kiện để tạo nên tính nhạc của thơ trước hết là hoà âm mà vần là yếu tố quan trọng xây dựng nên sự hoà âm giữa các câu thơ Nói đến thơ bao giờ cũng phải có vần Đơn vị biểu diễn vần thơ trong tiếng Việt là âm tiết Tiếng Việt

là ngôn ngữ có thanh điệu, vì vậy trong kết cấu của vần người ta không thể tách

Trang 9

các âm vị ra khỏi thanh điệu, hay nói cách khác, kết cấu của âm tiết tiếng Việt bao gồm cả âm vị và thanh điệu khi xem xét vần thơ Việt Nam ta thấy có hai nhóm

lớn: 1 nhóm vần bằng căn cứ trên các âm tiết có thanh huyền và thanh ngang 2 nhóm vần trắc được chia thành hai nhóm nhỏ: a nhóm trắc thường: căn cứ trên những âm tiết có thanh hỏi, ngã, sắc, nặng; b nhóm trắc nhập căn cứ trên các âm

tiết có âm cuối p, t, c, ch mang hai thanh sắc và nặng

Từ đó có thể nói rằng, các âm tiết hiệp vần chỉ theo từng nhóm thanh điệu: bằng, trắc thường và trắc nhập Đó là nét cơ bản của vần thơ Việt Nam

Xét về mặt âm đoạn tính của các âm tiết hiệp vần, mặt quan hệ thuần tuý âm

vị học của vần thơ, thì việc lưu giữ và truyền đạt các tham số của đơn vị âm thanh

là nguyên âm và phụ âm được thực hiện thông qua vần Với qui tắc hiệp vần là:

- Phụ âm đầu trong âm tiết (thuỷ âm) không được lặp lại khi hiệp vần nếu lặp lại âm đầu sẽ bị lặp vần một hiện tượng gây nên sự đơn điệu đôi khi vẫn thấy có ở các tác giả lớn

- Âm đệm (giới âm) không tham gia hiệp vần

- Âm gốc (chính âm) nguyên âm làm thành âm tiết chính Trường hợp âm tiết hiệp vần có âm gốc cùng dòng nguyên âm hiệp vần với nhau khi tham gia hiệp vần thì xảy ra hai hiện tượng: một là hoàn toàn trùng lặp nhau; hai là chúng cùng một dòng nguyên âm với nhau Cụ thể là, các nguyên âm dòng trước i, ê , e có thể hiệp vần với nhau; các nguyên âm dòng sau không tròn môi : a, ă, â, ơ, u có thể hiệp vần với nhau Ngoài ra trong sự hiệp vần của âm gốc không có sự phân biệt giữa nguyên âm đôi và nguyên âm đơn Cụ thể ie (ia) có thể hiệp vần với i, ê, e;

uơ (ưa) có thể hiệp vần với u, ơ, â, ă, a; và uô (ua) có thể hiệp vần với u, ô, o Trường hợp âm tiết có âm gốc cùng độ mở nguyên âm hiệp vần với nhau (Cùng độ mở hẹp gồm i, ư, u; vừa e, ơ, ô; rộng e, o; và rộng nhất a )

Và giữa sự hiệp vần của các âm tiết mà các âm tiết gốc có quan hệ âm vị rõ rệt, còn có những trường hợp âm gốc trong các âm tiết không cùng dòng, cùng độ nguyên âm cũng hiệp vần với nhau Các âm tiết này hiệp vần là nhờ âm cuối giống nhau Chẳng hạn: âm tiết có âm gốc là a có thể hiệp vần với các âm tiết có

âm gốc là ê, ie và u, ô (o) với điều kiện âm cuối giống nhau

Trang 10

- Âm cuối (chung âm): Khi tham gia hiệp vần có hai khả năng Khả năng thứ nhất hoàn toàn trùng lặp nhau khi hiệp vần Khả năng thứ hai cũng có một số trường hợp hiệp vần phụ âm cuối cùng nhóm phụ âm trắc( p, t, k); phụ âm vang mũi( m, n, ng, nh); Bán nguyên âm ( u, i)

b Tiết tấu: Khái niệm tiết tấu, theo nghĩa rộng của từ này là lặp lại một cách

liên tục các hiện tượng tương tự có thể thay thế nhau trong thời gian và không gian - đó là cơ chế tổ chức các quá trình hoạt động đảm bảo được sự luân phiên giữa các mặt đối lập của hiện thực Sự luân phiên chính xác mà hiệu quả là đặc trưng chu kỳ tất yếu dẫn đến khoái cảm mỹ học

Tuỳ theo các ngành khác nhau mà tiết tấu trong nghệ thuật sẽ mang tính chất không gian hay thời gian (tính chất không gian: trong kiến trúc, hoa văn…tính chất thời gian trong âm nhạc, nhảy múa và thơ ca)

Như vậy tiết tấu trong thơ ca là sự sáng tạo ra những khoảng cách tương tự về mặt thời gian Tiết tấu trong thơ ca chính là nhịp thơ “nhịp của bài thơ được xây dựng trên bản chất của chính vật liệu ngôn ngữ và nó động viên chính các thuộc tính biểu hiện của các vật liệu ngôn ngữ, dù cơ cấu của bài thơ có riêng biệt và đặc thù bao nhiêu đi nữa thì cơ cấu ấy cũng thuộc về một ngôn ngữ và không lặp lại ngoài giới hạn của các hình thức dân tộc trong lời nói” (dẫn theo[41,tr.181]) Hiểu một cách đơn giản: điểm ngừng ngắt gọi là nhịp thơ

Trong thơ có hai loại nhịp: ngắt dòng và ngắt nhịp

Ngắt dòng: là âm tiết đứng cuối dòng thơ - nó là tiếng chuông báo kết thúc

dòng dẫu cho có hiện tượng vắt dòng

Ngắt nhịp: là sự ngừng ngắt nhẹ bên trong các dòng thơ

Nhịp thơ có tính mỹ học do con người sáng tạo ra để biểu hiện tư tưởng, tình cảm con người Nhịp thơ phụ thuộc vào nhịp thở có liên quan, gắn liền với tình cảm cảm xúc Theo tâm lý học khi ta vui vẻ ta thở 17 nhịp trong một phút, khi ta buồn nản chỉ có 9 nhịp thở trong một phút, khi sợ hãi người ta thở 61 nhịp thở trong một phút, và khi tức giận người ta thở 10 nhịp trong một phút Nhịp thở chịu sự chi phối của tình cảm Như vậy các trạng thái rung cảm, cảm xúc, xúc động đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhịp thơ của câu thơ bài thơ

Trang 11

Nhịp trong thơ khác nhịp trong văn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian được cảm nhận rất rõ; hiển nhiên đó không phải là những tương quan về thời gian có thực giữa các sự kiện, mà chỉ là những tương quan có tính chất ước lệ… Trong thơ thì thời gian hoàn toàn không thể cảm giác được Các tiểu tiết của chủ

đề và những đơn vị lớn của chủ đề, đều được cân bằng nhau bởi cấu trúc chung của thơ

Nhịp là sức mạnh, năng lượng cơ bản của câu thơ Cách ngắt nhịp, tạo nhịp rất

đa dạng, có nhiều kiểu tuỳ câu tuỳ đoạn, tuỳ bài thơ, thể thơ Nhịp trong thơ mang bản sắc của từng nhà thơ trong việc lựa chọn nhịp

Trong ngôn ngữ thơ Việt Nam: Đơn vị nhịp điệu có thể từ một từ trở lên

(thường là một âm tiết), và thường là từ hai từ trở lên Trong thực tế thơ ca có hai

loại nhịp: nhịp chẵn và nhịp lẻ Nhịp chẵn là nhịp điệu tự nhiên trong giao tiếp của người Việt nó có trong tâm thức như từ láy đôi, ghép đôi , chơi chữ…Nhịp lẻ:

là sự phá vỡ các đều đặn các cân đối để tạo lập sự hoà phối mới Nhịp chứa đựng nội dung trong đó: nhịp chẵn gợi nên ý nghĩa về sự yên ả phẳng lặng cuộc đời không có biến cố Nhịp lẻ báo hiệu một cái gì đó tai ương uẩn khúc của cuộc đời

Vần và nhịp là hai yếu tố quan trọng về mặt hình thức trong thơ ca Vần và

nhịp nếu đặt đúng chỗ thì mang nghĩa Vần và nhịp tương hợp và giao hữu với nhau Nhịp là yếu tố cơ bản, xương sống của bài thơ; nó là tiền đề cho hiện tượng gieo vần

Như trên đã nói, đặc trưng quan trọng của thơ ca là sự tổ chức âm thanh một cách hài hoà và mang tính qui luật Khi trong thơ các đơn vị ngôn từ được tổ chức lại thành các vế tương đương, chiếu ứng, chọi nhau với sự luân phiên bằng trắc, cao độ trường độ của âm thanh sẽ làm xuất hiện một nền nhịp Vần trong thơ

ca làm chức năng nối đính các vế ấy lại với nhau Và trên cái nền ấy, vần tồn tại như một nốt tiếng vọng các tiêu điểm âm thanh Nếu không có sự nâng đỡ của chỗ ngắt nhịp, ngừng dòng thì các yếu tố mang vần nhiều khi bị nhoè đi

Nhịp đã giúp cho vần khẳng định cái gì là đặc trưng cơ bản của thơ ca và làm cho thơ khác văn xuôi Từ phía khác, vần có sự tác động trở lại với nhịp trong sự độc lập tương đối của nó

Trang 12

1.1.2.2 Đặc trưng từ vựng:

Từ ngữ trong thơ chứa đựng tiếng vang cảm giác được là nhờ sự kết hợp của các nguyên âm phụ âm Đinh Trọng Lạc trong “giáo trình Việt ngữ” đã rút ra kết luận:

- i gọi âm tiết ngân dài

- u gọi âm tiết u sầu, bâng khuâng

- a gọi âm tiết tươi vui, bao la

- o, ô, u với phụ âm biểu hiện tròn rỗng

- eo diễn tả cảnh êm đềm trong trẻo

- kh, g, gh và sự luân phiên ấp - ênh gọi nên nặng nề mệt mỏi

- r diễn tả vẻ hãi hùng, run sợ

- từ kết thúc uôt gây ấn tượng vuốt được từ đầu đến cuối: Tuột, suốt

- từ kết thúc oa gây ấn tượng nở ra: loa, hoa

Thơ Việt Nam đã sử dụng rất nhiều từ láy âm Theo Nguyễn Tài Cẩn trong

“Ngữ pháp tiếng Việt (Tiếng – Từ ghép - Đoản ngữ), từ láy âm lặp lại có:1000 từ lặp toàn phần, 73 từ điệp vần, 1500 từ điệp âm khác vần, 1100 cặp vần đối với nhau Trong đó, l: 154 từ, h: 126 từ, nh: 123 từ, ng: 111 từ, e, k, q: 111 từ, d, gi:

106 từ, th: 109 từ, m: 109 từ, b: 100 từ, ch: 90 từ, s: 87 từ, x: 84 từ, v: 79 từ, t: 77

từ, đ: 76 từ, tr: 60 từ, n: 54 từ, kh: 52 từ, ph: 47 từ, g: 44 từ Từ láy âm không chỉ

có vai trò quan trọng trong thơ về mặt âm thanh mà nó còn có giá trị về mặt ngữ nghĩa, vai trò của cảm giác âm thanh trong từ khá quan trọng trong thơ

Thơ là một loại hình nghệ thuật ngôn ngữ cô đọng, súc tích nhất về từ ngữ và hình ảnh Mỗi từ trong câu thơ có sức mạnh tiềm tàng, chứa đựng cái đẹp đẽ, cái

Trang 13

tinh tế cái sâu sắc Chính vì thế ngữ nghĩa trong thơ ca phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếp đời thường và trong văn xuôi Từ trong ngôn ngữ thơ tiếng Việt thường đa nghĩa Khi sử dụng từ ngữ trong thơ không chỉ

ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu mà nó còn có những ý nghĩa mới tinh tế, thậm chí cùng một lúc nó mang nhiều ý nghĩa mà người ta gọi là nghĩa chuyển, nghĩa bóng hay nghĩa biểu trưng Trong từ ngữ của thơ có những từ ngữ được sử dụng bởi nhiều phép chuyển nghĩa nhưng chủ yếu là ẩn dụ Hoán dụ được dùng cả trong thơ và văn xuôi vì nó chủ yếu chuyển hoá tên gọi của đối tượng này để gọi đối tượng kia theo qui luật liên tưởng tiếp cận có liên quan nhân quả

Và từ đặc biệt mang âm hưởng riêng, sắc thái riêng của bài thơ, là điểm ngời sáng trong bài thơ Nó là sức nặng của bài thơ; từ ngữ trong thơ chứa đựng tiếng vang của cảm giác

1.1.2.3 Đặc trưng ngữ pháp:

Về phương diện ngữ pháp, câu thơ dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau; có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ và cũng có một dòng thơ bao gồm nhiều câu thơ Nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu “bất bình thường” như đảo ngữ, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp… mà không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ý nghĩa của văn bản, trái lại chính nó lại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, nó có khả năng vô tận trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế bí ẩn của thế giới và tâm hồn con người

Trong thơ các câu không phải lúc nào cũng theo một lô gic bình thường, một lập luận bình thường Các vế câu, các ý trông qua, hình như không có mối liên hệ

lô gíc với nhau, nhiều khi trái ngược nhau, thậm chí có khi phi lý nhưng người đọc vẫn hiểu được mạch ngầm các ý trong câu, hiểu được sự liên tưởng ẩn náu đằng sau Các câu thơ thường có một hình ảnh, một ý nhỏ trọn vẹn

Ngôn ngữ thơ là một thứ ngôn ngữ bộc lộ thế giới chủ quan thiên về thế giới

ấn tượng cảm xúc, cảm giác, những mặt biểu cảm thường đan chéo nhau chiếm những cấp độ nghĩa thiếu quan hệ nội tại trên bề mặt cú pháp Do vậy cấu trúc cú pháp câu thơ thường khó phân tích theo nguyên tắc lô gic của ngữ pháp thông thường như trong văn xuôi “Đó là một cách tổ chức hết sức quái đản bắt người

Trang 14

tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩ, do chính hình thức ngôn ngữ này” [56,Tr 8]

ở thể loại văn xuôi, yêu cầu miêu tả khách thể là một đòi hỏi thường xuyên nghiêm túc Định hướng chung là dẫn tới hình tượng và mang lạ sắc thái biểu cảm cho tác phẩm ở thể loại này việc tôn trọng thế giới khách thể là yếu tố quan trọng đầu tiên, cho nên cấu trúc cú pháp ở đây thường bao giờ cũng mang tính phổ cập cùng với sự phản ánh trật tự không gian, thời gian của sự vật, sự việc, trạng thái hoạt động của môi trường như chúng vốn có Những bình luận trữ tình ngoại đề mang tính chủ quan ở đây có xuất hiện, nhưng thường ẩn giấu dưới phong cách chính luận chứ không phải lời thơ

Trong ngôn ngữ văn xuôi cũng như các ngôn ngữ giao tiếp khác lặp lại các đơn

vị trong cùng một loạt giống nhau là một điều tối kỵ, các thông báo bao giờ cũng dùng để nhắc gọi đến ngữ cảnh chứ hoàn toàn không phải để giả thích các đơn vị trong mã ngôn ngữ - các phương trình không được dùng để xây dựng thông báo Trong khi nó lại là thủ pháp làm việc của thơ Trong thơ tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo

Thơ là nghệ thuật thời gian “Các phần cách điệu của thơ, có lẽ nên nói mọi hình thức cách điệu thì đúng hơn, là qui về nguyên tắc của sự song song” (dẫn theo [41, tr.120]) Điều cốt tử của thơ, sức mạnh của cơ cấu lặp lại, của kiến trúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra sự láy lại, song song trong tư tưởng; chức năng

mỹ học chiếm ưu thế trong các thông báo thơ, đồng thời với chức năng giao tiếp làm cho thông báo trong thơ đa nghĩa, huyền bí, “Thơ phải được ý ở ngoài lời Trong thơ hàm súc vô cùng thì mới là tôn chỉ của người làm thơ Cho nên ý thừa hơn lời là tuy cạn mà vẫn sâu, lời thừa hơn ý thì tuy công phu mà vẫn vụng Còn như ý hết mà lời cũng hết thì không đáng là người làm thơ vậy” (dẫn theo[41,tr.117])

Tóm lại, ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ ở đó trở nên duy nhất, tự chiếu sáng một “Ngôn ngữ kim cương” “Thế là, trong cái cố gắng muôn thuở là vượt chính mình, ngôn ngữ tìm thấy trong thơ phương tiện tối ưu để lưu giữ - truyền đạt

Trang 15

thông tin về bảo vệ môi trường giao tế Nhân loại biết đến từ đây ngoài ngôn ngữ giao tế ra, còn một mã nghệ thuật nữa có khả năng lưu trữ an toàn và truyền đi không bị méo những tham số mà mã giao tế phải duy trì Điều đó giải thích vì sao không có nền văn hoá nào không biết đến thơ, đồng thời cũng giải thích vì sao sinh tồn thơ ca không kém gì sinh tồn dân tộc” [10,tr.268]

1.2 CÁC TÁC GIẢ NGHỆ AN VÀ CÁC TÁC PHẨM THƠ

Các tác giả nữ Nghệ An, có người đã có tên tuổi với bề dày sáng tác thơ như

Thuý Bắc với các tập thơ: Tiếng trầm (1967); Hoa trắng (1977); Nỗi đau không

lành (1990); Một miền quê (1990); Đau cùng ngọn lửa(1992) Giáng Vân đã in

hai tập thơ Năm tháng lãng quên (1990), Trên những ngày buồn (1995) Tuyết Nga; Hương thơm cỏ vắng (thơ in chung 1987), Viết trước tuổi mình (1993), Ảo

giác (2002) Vân Anh: Hương thơm cỏ vắng (thơ in chung 1987), Trái muộn

1991), Quê với mẹ và anh (1996) Trần Kim Hoa: Nơi em về (in chung 1990),

Quá khứ chân thành (1998) Nguyễn Thị Tố Nga: Hương thơm cỏ vắng (thơ in

chung 1987), Vầng trăng khuyết (1996) Nguyễn Thị Phước: Tự ru (1996) Nguyễn Thị Minh Châu: Dòng sông mắt em (1998)

Có những tác giả chúng ta từng biết đến bởi các tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn của họ nay cũng không khỏi ngỡ ngàng vì sức hấp dẫn và đặc sắc của thơ họ

đó là: Võ Thị Hảo với các bài thơ: Lối ngọc lan, Những cốc chiều, Vầng mây bất

hạnh; Lê Thị Thu Thuỷ: Vọng miền Trung, Kẻ được yêu, So sánh

Còn lại, phần đa là các tác giả không phải là những nhà thơ chuyên nghiệp, và những người mới bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình Tuy vậy họ cũng đã có một vài bài thơ nhưng đó là những tác phẩm thơ thực sự, bởi chỉ cần đọc một lần

nó cũng để lại ấn tượng sâu sắc cho chúng ta: Hằng số, Thế giới vi mô, Màu sắc

tình yêu (Nguyễn Thị Hồng); Có một tình yêu, Đợi, Thuỷ chung(Trần Phương

Lan); Kỷ niệm, Tháng năm (Phan ThuýThảo); Ký ức tháng năm, Tháng ba, Lời

cầu xin mùa thu, Phác hoạ chân dung tình yêu (Lưu Lam Thi); Xuân đến, Hoa bìm bìm, Tròn (Hoa cỏ may); Rao vặt (Hoàng Trang); Tảo mộ, Có một mùa nhãn xanh, Cơn giông, Thời gian (Nguyễn Thị Minh Lộc)

Trang 16

Chúng tôi đã tuyển chọn 90 tác phẩm thơ tiêu biểu của các tác giả nữ Nghệ An giới thiệu ở trên để khảo cứu đó là những tác phẩm đặc sắc đã được đăng báo trong và ngoài tỉnh và đạt giải Các tác phẩm mang phong cách ngôn ngữ của từng tác giả nói riêng và phong cách chung của ngôn ngữ thơ xứ Nghệ

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ CỦA CÁC TÁC GIẢ NỮ

Hình thức trong ngôn ngữ học là “Cái biểu hiện trong quan hệ với cái được biểu hiện”[70, tr.180] ở cấp độ văn bản cái biểu hiện bao gồm các phương tiện ngôn ngữ được tổ chức theo những phương thức kết cấu nhất định nhằm thể hiện đầy đủ nhất mối quan hệ giữa các thành tố thuộc phạm trù nội dung Cái biểu hiện

và cái được biểu hiện, tức hình thức và nội dung không tồn tại như những thực thể tách rời nhau được lắp ghép với nhau một cách cơ giới mà chúng thống nhất trong

Trang 17

nhau, chuyển hoá lẫn nhau Việc tách riêng hai bình diện trong nghiên cứu đó chỉ

là thao tác để làm bật nổi các đặc trưng của mỗi bình diện

Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của các tác giả nữ Nghệ An xét ở bình diện hình thức cụ thể chúng tôi đi vào xem xét các khía cạnh: đặc điểm thể thơ, đặc điểm vần nhịp

tự do số tiếng, số câu, vần, ngữ…)

Với 90 bài thơ tiêu biểu của 20 tác giả nữ Nghệ An ; chúng tôi thấy rằng: các tác giả đã sáng tác trên các thể thơ: 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát mới, song thất lục bát, đường luật, tự do Song chủ yếu là ở 3 thể thơ: 5 chữ, lục bát mới, tự do Vì vậy ở đây chúng tôi chỉ trình bày đặc điểm của ba thể thơ này

2.2.1 Thể thơ 5 chữ

Thơ 5 chữ là một trong những thể thơ tiêu biểu của thơ hiện đại Việt Nam Cũng như các thể thơ 7 chữ, 8 chữ, lục bát, song thất lục bát, thơ tự do, thể thơ 5 chữ được các nhà thơ Việt Nam sử dụng làm hình thức sáng tạo rất quen thuộc Với số lượng ở mỗi dòng thơ đều có 5 âm tiết; qua mỗi giai đoạn thi ca có một thể loại khác nhau; giai đoạn thơ ca dân gian nổi bật là loại thể hát dặm Nghệ Tĩnh (khá nhiều tục ngữ và một số bài vè tương đối dài cũng có 5 âm tiết) hát dặm

là một thể ca gieo vần lưng và vần chân chủ yếu là gieo vần chân Vần chân trong hát dặm có hai chức năng: vần bằng liên kết các câu trong một khổ với nhau, vần trắc liên kết các khổ với nhau Một khổ hát dặm theo đúng quy tắc có 5 câu mỗi câu 5 âm tiết Câu thứ nhất thả vần với câu cuối của khổ trước Hai câu tiếp theo hiệp vần với nhau Câu thứ năm láy lại câu thứ tư, giữ nguyên hoặc biến vần Câu thơ hát dặm ngắt nhịp 3/2 lẻ trước chẵn sau, luôn có sự đối lập về thanh điệu giữa

Trang 18

âm tiết cuối nhịp 3 với âm tiết cuối nhịp 2 Hát dặm có giai điệu khoẻ khoắn, tiết tấu nhịp điệu mạnh mẽ, dứt khoát, gắn liền với động tác lao động Lời thơ hát dặm giản dị , mộc mạc:

Một là duyên là nợ Hai tại mẹ tại thầy,

Ba tại số ai đây Cho duyên này áy náy Cho phận này áy náy

Khi nên ba nên bảy Chuột tha quách thì thôi, Giừ đã tuổi ba mươi, Còn nói năng chi nữa

Núi sâu có hổ lang, Đầm lớn có kình ngạc, Trên trời có giáo mác, Thân này biết gửi đâu?

(Ngô Thế Lân–Từng trải việc đời)

Thể thơ 5 chữ là của giai đoạn thơ hiện đại Phá vỡ các quy tắc chặt chẽ của thể loại hát dặm; ngũ ngôn luật Đường Thơ 5 chữ không cô đúc một cách gò bó như ngũ ngôn Đường luật, mạch thơ mở rộng, tứ thơ bay bổng và tình ý thiết tha hơn Đặc biệt cách ngắt nhịp kết hợp cả 2/3 và 3/2:

Em không nghe / mùa thu

Trang 19

Dưới trăng mờ / thổn thức?

Em không nghe / rạo rực Hình ảnh / kẻ chinh phu Trong lòng / người cô phụ?

Em không nghe / rừng thu,

Lá thu / kêu xào xạc, Con nai vàng / ngơ ngác Đạp trên / lá vàng khô?

(Lưu Trọng Lư–Tiếng thu)

Các tác giả nữ Nghệ An sáng tác thơ 5 chữ không nhiều chỉ có 15 bài tiêu biểu Nhưng các chị đã khẳng định được mình ở thể thơ 5 chữ

Thể thơ 5 chữ của các tác giả nữ Nghệ An tiếp thu một cách sáng tạo âm hưởng, giai điệu mạnh mẽ, dứt khoát của hát dặm Xen kẽ một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn, tự nhiên, nhịp 2/3 và 3/2 để nhấn mạnh, tạo ấn tượng, thể hiện cảm xúc hoài niệm đằm thắm thiết tha một cách chân thực mộc mạc, ở mỗi tác giả đều

có cách thể hiện rất riêng đầy sức sáng tạo

Sức nặng cảm xúc tình cảm, sự khẳng định một cách mạnh mẽ dứt khoát về sự

hi sinh vị tha trong tình yêu được Nguyễn Thị Hồng thể hiện trong bài thơ Hằng

số[1, tr.59] là ở các cặp thanh trắc nằm xen kẽ giữa hai thanh bằng của mỗi khổ

thơ; khát vọng mong ước mãnh liệt về tình yêu “hằng số” được thể hiện rất rõ ở

việc thay đổi cách ngắt nhịp: khác với cách ngắt nhịp nhịp nhàng luân phiên 3/2

và 2/3 ở khổ thơ 1 và 2; khổ 3 hoàn toàn điệp nhịp 3/2 nhằm nhấn mạnh ý thơ:

Nếu khổ đau / hai ta Cộng thành / một hằng số Thì anh ơi / em chọn Phần lớn / thuộc về em

Nếu niềm vui / hai ta

Trang 20

Cộng thành / một hằng số Thì xin anh / hãy để Phần nhỏ bé / cho em

Nếu tình yêu / đôi ta Cũng cộng thành / hằng số Thì cầu mong / anh được Hằng số đó / suốt đời

Ký ức tươi đẹp sinh động về quê hương đã được Nguyễn Thị Minh Châu thể

hiện ở kết hợp lặp thanh trắc, lặp nhịp 2/3, hiệp vần chân ở bài Quê tôi[1, tr.40];

Khổ ba:

Gió mát / lùa tán cây

Rung rinh / tàu lá chuối Gốc chanh / như biết nói Quả lắc lư / vàng ươm

Và lặp nhịp 2/3 trong toàn khổ thơ nhấn mạnh sự đầm ấm tình cảm của quê hương;

Khổ 4:

Bầy ong / say mật ngọt Cánh mỏng / ngả nghiêng bay Quây quần / bên mái ấm

Mẹ cười / hương bếp say

Trần Phương Lan trong bài thơ Đợi [63, tr.82] đã diễn đạt cảm xúc chờ mong

da diết đã sử dụng cụm nhịp 3/2 và cụm nhịp 2/3 giữa nền nhịp xen kẽ 2/3 và 3/2

Đã một tuần / anh đi Chưa dòng thư / trở lại Khi đời em / vắng anh Chẳng còn chi / đáng nói Giá mà / anh hiểu được Tình yêu em / là gì

Trang 21

Chắc rằng / anh không thể Thoáng nghĩ về / chia ly Anh ơi! / hãy về đây

Có em / ngàn đêm đợi Bao ánh mắt / nồng nàn Không làm em / bối rối Vắng anh / em không nói Gượng không nổi / nụ cười

Có khác gì / chiếc bóng

Đi về / trong đơn côi…

Nói chung, ở thể thơ 5 chữ xét về mặt hình thức để diễn tả cảm xúc phong phú

đa chiều các tác giả nữ Nghệ An đã sử dụng nền xen kẽ một cách sáng tạo 2/3 và 3/2 Để nhấn mạnh cảm xúc, các tác giả thường điệp nhịp 2/3 hoặc 3/2; điệp thanh trắc tạo cho lời thơ mang âm hưởng đặc trưng của thơ ca xứ Nghệ mà khởi nguồn

là hát dặm Đặc biệt hầu như các bài thơ 5 chữ đều lắng đọng cảm xúc nhờ điệp nhịp ở khổ cuối; có khi là điệp nhịp 2/3:

Chỉ một / dòng thư thôi Với em / là hi vọng Chỉ một / lời yêu thôi Với em / là nhựa sống (Trần Phương Lan –Đợi)

Có khi là điệp nhịp 3/2:

Cho dù xuân / đã qua

Cây chỉ còn / dáng cội

Cứ ngỡ ngàng / đơn côi Nhưng anh là / mãi mãi…

(Trần Phương Lan–Có một tình yêu[1, tr.73])

Những đặc trưng trên mang cách thể hiện lời thơ chắc chắn mạnh mẽ, rắn rỏi mặn mà, đậm đà đó là phong cách nói năng và cũng là nét tâm hồn của con người

xứ Nghệ Khác hẳn với phong cách chung của thơ Việt Nam hiện đại: sử dụng

Trang 22

nhiều vần bằng sắp xếp hài hoà giữa tiết tấu và thanh điệu tạo nên lối diễn đạt nhuần nhị, nhịp nhàng từ đầu đến cuối bài thơ Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong thơ Xuân Quỳnh, với thể thơ 5 chữ Chúng ta hãy nghe giọng điệu tâm tình thủ thỉ

của nhà thơ trong bài Sóng một bài thơ hay từ đầu đến cuối ngắt nhịp nhịp nhàng,

chúng tôi dẫn hai khổ thơ đầu làm dẫn dụ:

Dữ dội và dịu êm

n ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Cồn cào trong ngực trẻ

Tóm lại, ở thể thơ 5 chữ các tác giả đã sử dụng một cách xen kẽ sáng tạo nhịp 3/3 và 3/2, sử dụng thủ pháp điệp nhịp, điệp thanh trắc Hầu hết các bài thơ đều điệp nhịp ở khổ cuối Những đặc trưng riêng biệt về hình thức trên kién tạo nên lời thơ luôn có sự luân chuyển, đột phá âm hưởng, giọng điệu thơ; chắc khoẻ rắn rỏi, gửi gắm cảm xúc phong phú đậm đà, mặn mà tha thiết thể hiện nét đẹp rất riêng mang phong cách xứ Nghệ

2.2.2 Thể thơ lục bát

Thơ lục bát là một hình thức thẩm mỹ ngôn ngữ đặc sắc của dân tộc ta Câu thơ sáu – tám mang vẻ đẹp rất riêng biệt, độc đáo, đã được thử thách trong truyền thống thi ca dân tộc

Thể lục bát có từ lâu, đây là là lục bát dùng trong thơ ca dân gian Trong dạng nguyên thuỷ của nó, ca dao là lời của những làn điệu dân ca Chịu áp lực của những làn điệu dân ca và vần điệu, tiết tấu, các làn điệu đó qui định một thể thức cho những lời ca ghép vào: Số tiếng, nhịp, cao độ, trường độ Thịnh hành ở văn học Việt Nam thế kỷ XVIII với các tác phẩm chữ nôm và các tập diễn ca…

Trang 23

Một cơ sở làm tiền đề cho sự nảy sinh lục bát là thói quen tri giác ngữ âm ở người Việt: nhịp chẵn, sự cân đối bằng – trắc, lối nhịp vần tự phát là những yếu tố

có sẵn tiềm tàng trong tiếng Việt Trong thơ lục bát vần là yếu tố hoà âm quan trọng nhất Thơ lục bát truyền thống phối hợp vần chân với vần lưng chúng được định ở những vị trí chuẩn Vần chân gieo ở âm tiết cuối câu lục, vần lưng gieo ở

âm tiết thứ sáu trước khi kết thúc câu bát một nhịp Hai loại vần này luân phiên xen kẽ tạo nên một thế liên kết cho toàn bài Xét tính chất nhạc điệu thì hai loại vần này bố trí trong từng câu thơ, dòng thơ làm số tiếng hiệp vần ở thơ lục bát đạt một số lượng tương đối lớn, nhạc điệu từ đó gia tăng

Xét tính dân tộc thì vần lưng là yếu tố thể hiện đặc trưng của thi luật dân tộc

ca đã tạo cho những thể thơ riêng mà trong một giai đoạn dài đóng vai trò những phương thức biểu hiện quan trọng Mối quan hệ giữa câu thơ lục bát và dòng thơ lục bát trong thơ lục bát truyền thống thường một câu thơ bao gồm hai dòng một dòng 6 và một dòng 8 (âm tiết) Để gia tăng nhạc tính, tạo những hình tượng âm thanh gây ấn tượng cho người đọc vốn từ được dùng trong thơ lục bát truyền thống thường là dân gian mộc mạc hay sử dụng các hình thức chuyển đổi nghĩa linh hoạt cũng như các biện pháp ví von, cường điệu thường thấy trong lời ăn tiếng nói của nhân dân gợi nên cảm xúc đời thường bình dị:

Em chê thuyền thúng chẳng đi

Em đi thuyền ván có khi gập ghềnh!

Ba chìm bảy nổi lênh đênh

Có khi để ngã để nghênh thiệt thòi!

( Kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam, tr 931)

Một bước tiến quan trọng có tính chất quyết định của thể loại lục bát là hình thức tiểu đối xuất hiện phổ biến trong câu thơ lục bát: tiểu đối trong câu lục và nhất là tiểu đối trong câu bát:

- Người lên ngựa / kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san

- Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc / nửa soi dặm trường

Trang 24

(Nguyễn Du–Truyện Kiều)

Thơ lục bát hiện đại tiếp thu thể thơ lục bát truyền thống nhưng có sự phát triển đó là nhạc điệu phong phú, đa dạng, nhịp điệu, vần điệu và thanh điệu được tạo lập, được kết cấu, được phối hợp nhiều màu nhiều vẻ Sự phân bố các âm bằng trắc không theo qui luật mà có khi có những câu thơ biến thể

Để gia tăng nhạc tính, tạo những hình tượng âm thanh, gây ấn tượng cho người đọc, thơ lục bát hiện đại ngoài những vần lưng, vần chân còn đưa thêm những vần phụ khác trong cơ cấu từng vần thơ, làm tăng tỉ số các tiếng điệp vần lên rất nhiều

Ngôn ngữ trong thơ lục bát hiện đại mang nhiều phong cách, sử dụng hàng loạt biện pháp tu từ mới lạ, ngôn ngữ trong thơ sống động Các tác giả còn sử dụng cả khẩu ngữ, phương ngữ

Mối quan hệ giữa các câu thơ lục bát và dòng thơ trong thơ lục bát hiện nay phá vỡ sự tương đồng trong thơ truyền thống Có khi câu thơ là một dòng 6 hay dòng 8 thậm chí nửa dòng hay vài từ có khi câu thơ lại gồm 3 đến 4 dòng (6+8+6 hay 6+8+6+8), có khi câu thơ lại trùng ngay với khổ thơ

Thơ lục bát của các nhà thơ nữ Nghệ An mang giọng điệu riêng của lời lục bát

xứ Nghệ: sự gập ghềnh, khúc khuỷu gửi gắm những khúc mắc trăn trở uẩn khúc trong nội tâm và cuộc đời người phụ nữ Nhịp (đơn vị tiết tấu) của thể thơ lục bát đã thể hiện rất rõ đặc trưng của thể này bởi vì nền của thơ lục bát là nhịp Nhịp trong thơ lục bát của các tác giả nữ Nghệ An rất phong phú đa dạng Qua khảo sát 18 bài thơ với 107 cặp lục bát chúng tôi thấy xuất hiện 27 loại nhịp:

2.1 Bảng các loại nhịp lục bát

loại

nhịp 24/ 44 42/44 24/242 33/44 33/242 33/332 42/242 24/332 24/26 xuất

Loại

nhịp 24/35 33/35 33/26 42/62 33/62 42/422 42/224 42/26 24/2222 xuất

Loại 24/422 24/134 24/1111 24/62 222/44 222/35 222/224 114/242 24/42

Trang 25

nhịp

xuất

Qua bảng thống kê( bảng 2 1) chúng tôi nhận thấy:

Nhịp 24 / 44 xuất hiện nhiều nhất trong thơ lục bát của các chị(31) lần

Những câu thơ lục bát ngắt nhịp 24 / 44 có đặc trưng riêng chuyển tải cảm xúc tâm trạng đối lập mâu thuẫn ; dòng lục bắt đầu bằng nhịp 2 là sự bắt đầu bằng thái

độ cảm xúc dè dặt ngập ngừng để rồi sau đó tuôn trào mạnh liệt thể hiện bằng một loạt nhịp 4:

Ai mua / tôi bán nghèo cho mua buồn bán nốt /

đỡ lo về buồn (Hoàng Trang–Rao vặt[1, tr.143])

Kế tiếp là nhịp 42 / 44(13 lần), nhịp 42 / 44 bắt đầu bằng cảm xúc ào ạt,dào dạt ở nhịp 4 sau đó chững lại chùng xuống ở nhịp 2 rồi tiếp tục lại bị cuốn đi căng

tràn trong nhịp 4 :

Người từng ủ vội / câu thơ Cho duyên chín ép /

cho mờ mắt em (Vân Anh–So le lục bát [63, tr.10]) Nhịp 33 / 44 và 42 / 44 tạo thành 3 vế câu tương xứng nhau Với 3 vế câu

tương xứng nhau, nương tựa lẫn nhau trong dòng thơ lục bát nội dung ngữ nghĩa

được bổ sung và phát triển: lời Rao vặt của Hoàng Trang quả thật kì quặc “tôi bán

nghèo cho” rồi “Mua buồn bán nốt” thực chất là để giải toả tâm trạng “Đỡ lo về buồn” Câu lục bát trong So le lục bát của Vân Anh thì: “Vì người ủ vội” khiến

“cho duyên chín ép” làm “Cho mờ mắt em”

Trang 26

Nhịp 33 / 44(xuất hiện 7 lần): như nhát cắt sắc ngọt làm gãy đôi dòng lục và dòng bát:

Dĩ nhiên là / chẳng bình yên Đường xưa lối ấy / khó nguyên vẹn rồi (Thuý Bắc–Với mình[7, tr.28])

Nhịp 33 / 332(xuất hiện 5 lần), tạo thành nét hằn mạnh trong dòng thơ:

Bao nỗi nhớ / bấy ngả đường

Em như nắng / cứ vui buồn / đầy vơi (Giáng Vân–Thơ viết cho mình[7, tr.266])

Nhịp 33/44 và 33/332 tạo thành những điểm nhấn về âm thanh và ý nghĩa: nhịp nhấn mạnh thể hiện thái độ rõ ràng và dứt khoát; sự xác định tư tưởng chắc

chắn “Dĩ nhiên là/ chẳng bình yên”, một sự khẳng định “Bao nỗi nhớ / bấy ngả

đường Em như nắng / cứ vui buồn / đầy vơi”

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy: nhịp 4 chiếm ưu thế (dòng lục nhịp 2/4 xuất hiện 52 lần, 4/2 xuất hiện 25 lần; dòng bát nhịp 4/4 xuất hiện 55 lần, 2/ 4/ 2 xuất hiện 17 lần) khiến cho câu thơ lục bát có tiết tấu nhanh mạnh, dồn dập chuyển

cảm những cảm xúc mạnh liệt:

Phố buồn / ta chợt đìu hiu

Trái tim đa cảm / nhặt nhiều lá thu (Nguyễn Thị Tố Nga–Phố thu[1, tr89]

Ai giăng tơ nhện / dưới hiên

Để ta yêu phố / vẹn nguyên thế này (Nguyễn Thị Tố Nga-Phố thu[1, tr.89])

Nhịp này còn được thể hiện trong các bài thơ Hoa phù dung[1, tr.61], Khóc

bà, [1, tr.62](Đặng Thị Thanh Hương), Rao vặt( Hoàng Trang)[1, tr.143] Ru mình (Tuyết Nga)[1, tr 98], Thầy (Thái Dương Liễu) [1, tr.77]…

Nếu tách riêng dòng lục và dòng bát thì số lần xuất hiện: (bảng 2.2)

2.2 Bảng nhịp dòng lục và dòng bát Dòng lục 2/4 3/3 4/2 2/2/2 1/1/4

Lần xuất hiện 52 26 25 3 1

Trang 27

Em về hoa trắng dâu da

Vỉa than đen óng, chuyến phà nước êm (Xuân Quỳnh-Tình ca trong lòng vịnh)

Kế tiếp nhịp 4 là nhịp 3 (dòng lục 3/3 xuất hiện 26 lần; dòng bát 3/3/2 10 lần, 3/5 6lần); khác hẳn với nhịp 3 trong lục bát truyền thống dùng để xây dựng tiểu đối nhịp 3 trong thơ nữ Nghệ An chủ yếu là để chuyển tải cảm xúc về sự bất trắc uẩn khúc trong cuộc đời, trong nội tâm tình cảm:

- Hàng cây xanh / thắt cả tim

Lá vàng bay suốt / những đêm gió về

(Giáng Vân-Thơ viết cho mình[7, tr.266])

- Gợi về chi / nỗi riêng tây

Cho lòng ta / những vơi đầy / hở anh (Thuý Bắc–Với mình[7, tr.28])

Nhịp 3 trong thơ lục bát của các tác giả nữ Nghệ An tạo thành những điểm

nhấn về âm thanh và ý nghĩa: nhịp nhấn mạnh cảm xúc quặn thắt “hàng cây xanh

/ thắt cả tim”; một câu hỏi nhưng cũng là sự khẳng định “gợi về chi/ nỗi riêng tây, cho lòng ta/ những vơi đầy/ hở anh”

Với sự phong phú và đa dạng các loại nhịp; ở mỗi bài thơ luôn có sự thay

đổi, xuất hiện nhiều loại nhịp điều này đã tạo nên sự gập ghềnh, khúc khuỷu- đặc trưng của thơ lục bát xứ Nghệ chuyển tải sự xáo động, bất ổn của tâm hồn của cuộc đời;

Ví dụ:

Trang 28

Mười năm- / lòng đã nguội rồi Nửa vòng trái đất / lại xui / tôi về Nửa đời / gãy vụn câu thề Bàn chân bước / vẫn vụng về / như xưa

Tay người / thơ dại / hết chưa

Mà tay mình / dãi gió mưa / não nề…

Suốt thời thiếu nữ / tôi đi

Để quên, / để tắt, / xoá gì cho xong Cầm lòng / phận mỏng, / cạn sông Dầu trong, / dẫu đục / cũng không tiếc gì

Thôi, / người / cứ nhẹ bước đi Thương chi / chút cỏ ven đê / mà tìm

(Nguyễn Thị Phước-Thay cho lời cuối[63, tr.125])

Qua khảo sát 27 câu lục bát trong 4 bài thơ của Thuý Bắc (bài Ru có 9 câu,

Với mình 7 câu, Thương vương đường cũ 4 câu, Vô bờ 7 câu ), chúng tôi nhận

thấy điều đặc biệt thơ chị: câu lục cố định ở hai loại nhịp 3 / 3 và 2 / 4: 2 / 4 có 14 câu, 3 / 3 10 câu 4 / 2 3 câu; còn câu bát thì thay đổi với nhiều loại nhịp Cách ngắt nhịp trong thơ Thuý Bắc vừa mang bản sắc thơ xứ Nghệ, vừa thể hiện một phong cách riêng: có cái dè dặt ngập ngừng bề mặt của cảm xúc của một sự chín chắn từng trải được giấu kín tạo nên một giọng điệu thơ mới đọc qua có vẻ bình lặng với trạng thái cân bằng, bão hoà; nhưng đó chính là sự kìm nén, độ đằm rất

dễ thể hiện trong thơ lục bát; thể hiện rất rõ trong nhịp 2 / 4:

Thôi rồi / “cái ngủ con ngoan”

Qua rồi cái thuở / đạn bom xót lòng Chiếc cầu / mẹ bắc qua sông

Nối niềm hy vọng / bão dông hết về (Vô bờ[2, tr.111])

Trang 29

Ngay cả trong nhịp 3 / 3; câu thơ nhịp nhàng đầy nhạc:

Ngủ đi nhé / em của em

Em mơ cho gió lặng yên anh nằm

…Hết mùa mưa / đến mùa hanh

Em mơ lòng suối trong xanh nước nguồn

Thương nhau / chín bỏ làm mười Đếm đong chi / những nụ cười / hả anh!

Đã cùng sang / tới bến bờ Sao còn tin / sự tình cờ…/ gió dông (Tâm cảm[1, tr.76])

Đối với thơ lục bát của Vân Anh thì ngắt nhịp lại gắn với sự ngắt dòng đầy táo bạo đó là một sự cách tân lớn ở thể thơ 6- 8 mới:

Một thời như thế, / qua mau Bây giờ bất chợt /

Trang 30

gặp nhau / ngó hờ !/

(So le lục bátt [63, tr.10])

Tóm lại ở thể thơ lục bát nhịp phong phú và đa giạng các tác giả đã ngắt nhịp rất táo bạo và độc đáo Ở mỗi bài thơ luôn có sự xuất hiện và đổi thay nhiều loại nhịp tạo nên sự gập ghềnh khúc khuỷu chuyển tải sự xáo động, bất ổn của tâm hồn

- đặc trưng của thơ lục bát xứ Nghệ Nhịp 4 chiếm ưu thế khiến cho câu thơ có tiết tấu nhanh mạnh dồn dập diễn đạt những cảm xúc mãnh liệt; mang phong cách xứ Nghệ lời nói nhanh gấp vang ẩn chứa cảm xúc nồng nàn cuồng nhiệt tính cách thẳng thắn bộc trực Nhịp 3 chủ yếu là để chuyển tải cảm xúc về sự bất trắc uẩn khúc trong cuộc đời trong nội tâm tình cảm Cách ngắt nhịp gắn với ngắt dòng làm

cho nhịp thơ ngưng đọng lâu, gắn liền với nhịp cảm xúc

2.2.3 Thể thơ tự do

Thơ tự do là một thể thơ không tuân theo những quy tắc về cách luật cố định Thể thơ tự do là một thể thơ hiện đại có sự kế thừa, có những nét dáng dấp của hát nói (từ khúc) trong giai đoạn thơ ca dân gian; một thể loại phóng khoáng có các kết hợp tự do về âm tiết Mỗi bài từ khúc đều bị ràng buộc bởi những làn điệu nhất định Và mỗi làn điệu lại quy định sự cấu tạo của bài thơ về số câu và số từ trong một câu và cách gieo vần…Số từ trong một câu của bài từ khúc thường có

4, 5 từ đến 9, 10 từ tuỳ từng làn điệu Vần trong từ khúc gieo ở vần chân và không gieo ở vần lưng và thường gieo độc vận trong toàn bài

Thơ tự do phóng túng trong cách biểu đạt, nhịp điệu khoáng đạt, được cấu tạo bằng những câu thơ tự nhiên, đa dạng về cách tổ chức kết cấu, có số lượng từ ngữ

co dãn linh hoạt Có sự đa dạng các kiểu ngôn ngữ làm nên sự phong phú về ngôn ngữ về nhịp điệu, về cách gieo vần trong thơ Không bị câu thúc bởi các khổ thơ, cũng như sự cấu tạo của câu thơ, bài thơ Thơ tự do hoàn toàn không bị ràng buộc bởi một quy tắc cách luật nào, số câu trong một bài, số từ trong một câu, cách gieo vần, nhịp điệu hoàn toàn có tính chất tự do Mạch thơ tự do hoàn toàn không

bị chi phối bởi một quy luật nào, mà mở rộng theo hai chiều dọc và ngang một cách phóng túng Nhịp điệu của thơ tự do thường gắn với đối tượng miêu tả hơn

Trang 31

là gắn với làn điệu vốn có Nói như vậy không có nghĩa thơ tự do là một loại thơ hoàn toàn có tính chất tuỳ tiện trong cấu tạo hình thức Hình thức thơ tự do được vận dụng rất linh động cho phù hợp với cái việc diễn tả nội dung cảm xúc “Thơ tự

do là mình đặt cho mình một kí hiệu linh động tuỳ theo mỗi trường hợp nhưng luôn luôn có kỉ luật Muốn ca, muốn hát mà chẳng theo tiết tấu nhịp nhàng thì ai nghe? Làm thơ tự do tức là mỗi đề tài lại tự tạo ra một nhịp điệu riêng cho thích hợp, cái điệu ấy không được phiêu lưu mà phải cần thiết phải cao tay lắm mới sai khiến được thơ tự do Tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm” (Xuân Diệu dẫn theo [57,tr.341]) Thơ tự do không phải là một hình thức định trước của các nhà thơ khi sáng tác mà là một hình thức được nhà thơ tìm đến với độ chín của tâm hồn phù hợp nhất để diễn tả đối tượng tâm đắc nhất, để diễn tả những trạng thái tinh vi của tình cảm

Thể thơ tự do được các tác giả nữ Nghệ An sáng tác với số lượng khá lớn Qua khảo sát 50 bài; chúng tôi nhận thấy đặc điểm chung về hình thức là sự phối xen: xen kẽ câu thơ dài ngắn (số lượng từ khác nhau) với nhau, phối hợp có vần và không vần

Trong 50 bài thơ chúng ta khảo sát chỉ có 9 bài là dòng thơ tương đối bằng nhau trong đó: 7 bài có cốt là dòng 8 từ xen kẽ dòng 7 từ; 2 bài cốt 5 từ xen kẽ dòng 4 từ; còn lại 41 bài thơ có hiện tượng phối xen – câu thơ, dòng thơ dài ngắn khác nhau Sự phối xen này xuất hiện nhiều hơn so với thơ tự do của các nhà thơ

nữ Việt Nam (Khảo sát 50 bài thuộc thơ nữ Việt Nam có 28 bài cốt 8; 5 bài cốt 5;

17 bài phối xen)

Một bài thơ tự do cốt năm, cốt tám sẽ tạo nên âm hưởng nhịp nhàng

Những câu thơ dòng thơ phối xen đã khiến cho thơ trở thành những lời giãi bày tâm sự tự nhiên, nhịp điệu câu thơ thích hợp với nhịp điệu tâm hồn; sự phức hợp của nhịp thơ diễn tả được bản nhạc lòng phức hợp và huyền bí:

Sóng cứ vỗ hết mình Sóng vỗ

Bàng hoàng chạm cát

Vỡ tan!

Sông cứ chảy hết mình

Trang 32

Sông chảy…

Sững sờ chạm biển

Vỡ tan!

Và em nữa Ngàn năm sau Vẫn thế

Tự biết mình chẳng thể Khác mình đâu

( Vân Anh–Vĩnh hằng[1, tr.25] )

Thơ tự do của tác giả nữ Nghệ An 99,9% đều phối hợp có vần và không vần

Sự xuất hiện của vần khiến hình thức câu thơ có sự liên kết chặt chẽ Những khổ thơ đoạn thơ không vần thì lại có sức mạnh nội trội của nhịp; vần lùi xuống thì

nhịp nổi lên và ngược lại:

Cơn mưa này

Mẹ không vắt áo cho con Không hong tóc cho con

Đã lớn khôn Con biết tránh những gì không chờ đợi Con hiểu lòng mẹ trong bao điều mong mỏi…

(Thuý Bắc-Sau cơn mưa)

Một đặc điểm nữa của thể thơ tự do là: chủ yếu những câu thơ dài

Qua khảo sát 50 bài thơ gồm có 1239 câu thơ số câu thơ 5 từ trở lên là: 1092 chiếm tỉ lệ 88,1% số câu thơ dưới 5 từ chỉ có 147 câu chiếm tỉ lệ11,9%

Với những câu thơ dài các tác giả nữ của chúng ta có thể thoải mái giãi bày

nội niềm tâm tư tình cảm tinh tế, tế nhị và phong phú trong tâm hồn Bài “Vầng

mây bất hạnh” của Võ Thị Hảo[1, tr.49] gồm có 11 câu thì đã có 7 câu dài:

Đến trước em Tuổi trung niên của anh Đến trước em

Trang 33

những người yêu không chung thuỷ của anh Đến

Vò nhàu gương mặt Rồi lẳng lên vầng mây

Để từ trên mây Gương mặt anh ám ảnh em

Bay đi – trôi nhanh – trốn mau vầng mây bất hạnh Giọt nước mắt xanh xao màu cỏ đắng

Em nghẹn ngào

vò nát trái tim anh

Ở thể thơ tự do mỗi tác giả lại để lại một ấn tượng riêng về mặt hình thức Thơ Trần Kim Hoa tạo nên một sức hấp dẫn kỳ lạ, dễ nhớ dễ thuộc vì thơ chị không chỉ hiệp vần giữa các dòng thơ, câu thơ mà còn hiệp vần rất nhiều ngay cả trong một câu thơ :

…Đêm tháng Giêng, có lẽ anh quên

Sương ướt áo và mắt người loáng nước Đêm xa khuất anh đi về ký ức

Lối mưa giăng chưa hò hẹn bao giờ…

(Tháng giêng[7, tr.80])

Khi anh nghĩ về cô gái ấy thì em là người khổ đau Khi anh về bên em thì cả ba chúng ta đều đau khổ Quá khứ như lá vàng trên cỏ

(Điều không thể biết[1, tr.55])

Biết dịu ngọt ở trên đời không dễ

Trang 34

Và biết rằng không ai thay thế được mẹ mẹ ơi

(Hai mươi tuổi[1, tr.57])

Những dòng thơ với những âm tiết cùng vần quấn quít vướng vít lấy nhau tạo nên giọng thơ ngọt ngaò, đằm thắm ,thiết tha Những vần lưng níu nhau trực tiếp trong từng câu thơ gợi lên những âm điệu đặc biệt, tăng sức gợi cảm cho tứ thơ Tuyết Nga với những câu thơ kéo dài xuyên suốt cả khổ thơ chuyển tải sự phức hợp trong tâm hồn tinh tế nhạy cảm:

Có một giọng hát khàn vang lên trong bức tranh mùa hạ nơi màu đất sẫm đồng trưa

nơi gốc đa rêu phủ

Có một giai điệu buồn lan ra dịu nhẹ

từ màu hoa cũ nhạt phai trong bức tranh tĩnh vật trái mùa

Có một dáng hình ngọn lửa

có một màu đồng hun ánh lên

trong những bản nhạc không lời của Bết thô ven

Em đã nghe những âm thanh vang lên từ màu sắc long lanh từ những âm thanh

hệt như em đang nghe trong màu đen mắt anh nỗi cô đơn rên rỉ như em đang thấy sau tiếng cười và những lời

đùa tếu của anh một nỗi buồn ẩm mốc (Lập thể[1, tr.97])

Trang 35

Thơ Giáng Vân là những dòng thơ dài ngắn ít vần kết hợp với nhau như một bản hợp tấu với nhịp điệu thơ dứt khoát, bất thường, rắn rỏi, mang âm thanh phong phú của cuộc sống của tâm hồn:

Ta biết lắm một ngày kia trong gió Nồng nàn câu hát gọi anh theo

Em biết không, ta buồn và ta khổ

Ta là con gái nhà quê

sự liên kết chặt chẽ, những đoạn thơ khổ thơ không vần thì lại có sức mạnh của

nhịp

2.3 VẦN VÀ NHỊP

2.3.1 Đặc trưng về vần

2.3.1.1 Vần căn cứ vào độ hoà âm của các âm tiết mang vần

Căn cứ vào độ hoà âm của các âm tiết mang vần có các loại vần sau:

Vần chính: là kiểu vần để tạo nên âm hưởng tốt nhất cho ngôn ngữ thơ do

yêu cầu hiệp vần hoàn toàn trùng lặp nhau: âm gốc và âm cuối hoàn toàn trùng lặp nhau hoặc kiểu vần có âm cuối trùng lặp mà ở âm gốc: i hiệp vần với ie (ia); ie hiệp vần với uô (ua) và ư hiệp vần với ươ (ưa) bởi vì khi phát âm i (trong ie) u (trong uô) và ư (trong ươ) được nhấn mạnh Còn ê, ô, ơ chỉ được lướt nhẹ Và rõ ràng ở đây trong sự hiệp vần i, ư và u không phân biệt với ie, ươ, ia, uô

Tác dụng của việc sử dụng nhiều vần chính làm cho câu thơ đọc lên dễ nghe, nhịp nhàng cân đối, sướng tai bởi vì như ở phần trước chúng ta đã đề cập tính nhạc của thơ là do sự trùng điệp âm thanh của các yếu tố tạo nên nó

Trang 36

Vần thông: cũng tạo nên âm hưởng tốt cho thơ vì kết cấu của loại vần này đã

dựa trên những mối quan hệ âm vị học chắc chắn và rõ rệt, cả về âm gốc và âm cuối giữa các âm tiết hiệp vần: âm gốc có sự hiệp vần của các nguyên âm cùng dòng và các nguyên âm cùng độ và âm cuối hoặc hoàn toàn trùng lặp hoặc cùng là phụ âm mũi (m, n, ng, nh) hay là phụ âm tắc điếc (p, t, c, ch) bán nguyên âm (u, i)

Vần ép: không xây dựng sự hài hoà nhiều cho ngôn ngữ thơ nhưng nó cũng

tạo nên một âm hưởng nhất định, bởi vì: âm gốc không có quan hệ âm vị học nào (âm gốc không cùng dòng không cùng độ nguyên âm) nhưng âm cuối thì hoặc trùng lặp hoặc cùng là phụ âm mũi hay phụ âm tắc (chỉ có quan hệ về âm cuối) nghĩa là có sự trùng lặp hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn nên vần ép vẫn xây dựng nên một sự hài hoà âm thanh nhất định

Qua khảo sát 90 bài thơ chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:

Thơ Giáng Vân là một điển hình sử dụng nhiều vần ép Thơ chị chủ yếu là sử dụng vần thông vần ép Thơ tự do toàn gieo vần ép:

Thế kỷ chúng tôi đầy biến cố

Hắn là một trong những hàng triệu phân tử

bị bắn ra ngoài vòng quay

Khinh khỉnh giấu đi niềm tuyệt vọng

Trang 37

Một đêm trăng suông nào đó hắn dài dại mỉm cười

Lòng thương nhớ một miền chưa hề đến

(Tường trình[62, tr.611])

Ngay trong thể thơ lục bát là thể thơ người ta thường hiệp vần chính; thì thơ

Giáng Vân cũng hiệp rất nhiều vần thông một cách tự nhiên:

…Dẫu em không đợi không mong

Ai xui con sóng thôi đừng nhớ thương Bao nỗi nhớ, bấy ngả đường

Em như nắng, cứ vui buồn đầy vơi…

(Thơ viết cho mình[7, tr.266])

Chính nhờ sử dụng vần thông, vần ép mà Giáng Vân có thể gửi gắm cảm xúc suy tư dồi dào, phong phú, đa diện, đa chiều của mình vào những bài thơ dài, những câu thơ dòng thơ tự do cũng rất dài Tuy sử dụng chủ yếu là vần ép, vần thông nhưng thơ chị vẫn rất thơ, giàu nhạc tính, tạo nên âm hưởng riêng bởi vì vần được hiệp ở khắp các vị trí: Vần chân, vần lưng đặc biệt là vần chuỗi

2.3.1.2 Vần căn cứ vào vị trí gieo vần

Căn cứ vào vị trí gieo vần có các loại vần sau:

Vần chân: là những vần đứng ở vị trí cuối dòng thơ

Vần lưng: là những vần đứng ở vị trí trong dòng thơ (giữa dòng thơ)

Vần chân và vần lưng trong thơ nữ Nghệ An được gieo rất linh hoạt, có sự

phối hợp với nhau Vị trí của vần được phân bố theo nhiều dạng khác nhau

a Vần chân thả xuống vần lưng:

Cách hiệp vần này bắt gặp nhiều ở thơ Lê Thị Thu Thuỷ:

Tôi có người mẹ như người cha

Nhà tôi không nóc

(So sánh[1, tr.237])

Vần lưng “nhà” ở đầu dòng thơ sau bắt với vần chân “cha” ở dòng thơ trước:

ở bài “Kẻ được yêu”[1, tr.135] cũng là phát triển của kiểu hiệp vần này:

Lấy lời tỏ tình làm giấy thông hành

Trang 38

Anh đi vào thành phố của tôi Vần lưng “anh” , “thành” ở dòng thơ dưới bắt với vần chân “hành” ở

Các âm tiết hiệp vần hàng loạt, liên tục trong dòng thơ thứ nhất “mình”,

“em”, “thẳm”, “ngọn”, “đèn”, “đêm” và có mặt ở dòng thơ thứ hai “ngang”,

“niềm”

Vần chuỗi cũng xuất hiện nhiều trong thơ Thanh Hương:

Em yêu một vầng trăng đầu tháng

Biết chắt chiu nâng niu từng giọt sáng

(Yêu một vầng trăng[1, tr.65])

Ngoài các vần chân “tháng” , “sáng” hiệp với nhau một cách thông thường thì có các vần “em”, “vầng”, “trăng”, “tháng” hiệp với nhau và ở dòng sau là

“chiu” với “niu” ; “nâng”, “từng”, “sáng”

Thơ Tuyết Nga cũng vậy:

Nào thôi… đã có cánh ong Thoáng đâu sau phía tím hồng màn sương

(Ru mình[1, tr.89])

Không tính “ong” thả xuống vần lưng “hồng” theo quy tắc của thể thơ lục bát, thì vần chuỗi rõ nhất ở trong câu lục bát này là: “đâu” với “sau”

c.Vần chuỗi móc xích:

Khi các vần chuỗi xuất hiện không chỉ trên một dòng thơ mà xuất hiện liên

tiếp nối kết các dòng thơ với nhau ta có dạng vần chuỗi móc xích Vần xuất hiện dày đặc trong thơ Vân Anh:

Ngày xa anh giấc ngủ chẳng bình yên

Trang 39

Thời gian đọng giữa đôi bờ mong nhớ

Em lang thang trong hình dung trăn trở

Ngoảnh phía nào cũng váng vất hình anh

(Thơ viết những ngày xa[1, tr.26])

Và cũng như trong thơ các nữ tác giả khác:

- Muốn sang mà chẳng được sang Dẫu là một chuyến đò ngang cuối ngày

(Thái Dương Liễu-Tâm cảm[1, tr.76])

Khuôn vàng thắm với đa đoan Lửng lơ như giọt nước tràn trong chai

(Nguyễn Thị Tố Nga-Lửng lơ[1, tr.91])

Sự xuất hiện dày đặc, liên hoàn của vần trong thơ gọi lên những âm điệu đặc biệt làm tăng tính liên kết, tăng sức gợi cảm của tứ thơ

2.3.1.3 Vần trong đoạn thơ

Căn cứ vào vị trí của vần trong đoạn thơ, khổ thơ có các loại vần: Vần liền, vần cách, vần ôm

a Vần liền: Là các âm tiết hiệp vần liên tiếp nhau giữa các dòng thơ (AA – A)

Vần liền chiếm tỉ lệ 69% trong thơ nữ Nghệ An Thể hiện vai trò chủ đạo trong việc liên kết của hình thức nhằm chuyển tải tình cảm, cảm xúc của nhà thơ Vần liền khiến cho mạch thơ, mạch cảm xúc liên kết với nhau một cách chặt chẽ, liền mạch trong thơ:

Em vẫn đi về một chiếc bóng chênh vênh

Cứ ngỡ như đơn chiếc thân mình

Ai biết giữa miền sâu thẳm Cõi hồn em đang có anh

( Trần Phương Lan-Thuỷ chung[1, tr.74])

b Vần cách: Là các âm tiết hiệp vần xen kẽ nhau không liên tục (ABAB)

Vần cách có mặt không nhiều trong thơ nữ Nghệ An chiếm tỉ lệ 13% Loại vần cách khiến cho câu thơ có sự lồng ghép, đan xen, hoà kết cả hình thức cũng như ngữ nghĩa:

Trang 40

Quê hương tôi thương nhớ Ven sông Lam phù sa Đôi bờ dâu xanh biếc Bầu bí trổ đầy hoa

(Nguyễn Thị Minh Châu-Quê tôi[1, tr.40])

Vần cách ở đây ngoài hai vần chân “sa” “hoa” hiệp với nhau thì có hiện tượng vần chân “nhớ” thả xuống vần lưng “bờ” một cách rất thoải mái tự nhiên

theo dòng hồi tưởng

c Vần ôm: Các âm tiết cuối dòng đầu và dòng cuối khổ thơ hiệp vần với

nhau; các âm tiết ở giữa khổ thơ hiệp vần với nhau (ABBA)

Vần ôm chiếm tỉ lệ 18% trong thơ nữ Nghệ An Loại này tạo nên sự cuộn chặt hoà quyện của những dòng thơ và cũng là dòng cảm xúc:

Bốn mùa đi rất nhanh Đường về chia hai ngả Nhưng có một điều kỳ lạ Mùa nhãn ấy mãi còn xanh

(Nguyễn Thị Minh Lộc-Có một mùa nhãn xanh [1, tr.80])

Sự hiệp vần của “ngã” với “lạ” được ôm trọn bởi “nhanh” và “xanh” gợi nên dấu ấn sâu đậm của kỷ niệm đẹp về tình yêu đã ra đi trong quá khứ 2.3.1.4 2.3.1.4 Các loại vần căn cứ theo các thành tố kết thúc âm tiết

2.4 Bảng vần mở, vần nửa mở, vần nửa khép, vần khép Tài liệu

khảo sát

SL vần khảo sát

Vần khép

TNNA 3957 978 24,7 931 23,5 1444 36,5 602 15,2 TNHN 2000 440 22 496 24,8 864 43,2 200 10

Theo kết quả thống kê phân loại của chúng tôi thì số lượng các vần có tỷ lệ như sau:( Xem bảng 2.4)

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vân Anh, Nguyễn Văn Hùng, Đào Tam Tỉnh (1999), Thơ nữ Nghệ An (chọn lọc), NXB Hội văn học nghệ thuật Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ nữ Nghệ An (chọn lọc)
Tác giả: Vân Anh, Nguyễn Văn Hùng, Đào Tam Tỉnh
Nhà XB: NXB Hội văn học nghệ thuật Nghệ An
Năm: 1999
2. Bùi Kim Anh, Trần Thị Thắng, Trần Thị Mỹ Hạnh, Phan Thị Thanh Nhàn (2003), Các nhà thơ nữ Việt Nam sáng tác và phê bình, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ nữ Việt Nam sáng tác và phê bình
Tác giả: Bùi Kim Anh, Trần Thị Thắng, Trần Thị Mỹ Hạnh, Phan Thị Thanh Nhàn
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2003
3. ARISTOTE(1999), Lưu Hiệp, Nghệ thuật thơ ca, Văn Tâm điêu long, NXBVH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: ARISTOTE
Nhà XB: NXBVH
Năm: 1999
4. Diệp Quang Ban(2003), Giao tiếp – văn bản – mạch lạc – liên kết - đoạn văn, NXBKH XH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp – văn bản – mạch lạc – liên kết - đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXBKH XH Hà Nội
Năm: 2003
5. Nguyễn Nhã Bản(1995), Nhát cắt thời gian trong tâm thức người Nghệ, Ngôn ngữ (số 4) Tr 65, 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhát cắt thời gian trong tâm thức người Nghệ
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Năm: 1995
6. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Nguyễn Văn Cảnh, Phan Xuân Đạm, Nguyễn Thế Kỷ(2001), Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ), NXBNA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ)
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Nguyễn Văn Cảnh, Phan Xuân Đạm, Nguyễn Thế Kỷ
Nhà XB: NXBNA
Năm: 2001
7. Thuý Bắc, Đoàn Hương, Đỗ Bạch Mai, Xuân Tùng, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Trác(1994), Thơ nữ Việt Nam (tuyển chọn) 1945- 1995, NXB Hội nhà văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ nữ Việt Nam (tuyển chọn) 1945- 1995
Tác giả: Thuý Bắc, Đoàn Hương, Đỗ Bạch Mai, Xuân Tùng, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Trác
Nhà XB: NXB Hội nhà văn Hà Nội
Năm: 1994
8. Võ Bình(1984), Bước thơ, Ngôn ngữ (số phụ 2) tr 12- 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước thơ
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1984
9. Võ Bình(1985), Vần trong thơ lục bát, Ngôn ngữ (Số phụ 1) tr 12-15, 10. Nguyễn Phan Cảnh(2001), Ngôn ngữ thơ, NXB văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần trong thơ lục bát", Ngôn ngữ (Số phụ 1) tr 12-15, 10. Nguyễn Phan Cảnh(2001), "Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Võ Bình(1985), Vần trong thơ lục bát, Ngôn ngữ (Số phụ 1) tr 12-15, 10. Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin
Năm: 2001
11. Phan Mậu Cảnh(1998), Bàn về các tác ngôn đơn thuần tiếng Việt (khái niệm, phạm vi, phân loại), Ngôn ngữ số 1 tr 64 – 70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về các tác ngôn đơn thuần tiếng Việt (khái niệm, phạm vi, phân loại
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 1998
12. Nguyễn Tài Cẩn(1996), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB đại học quốc gia Hà Nội 13. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán(2001), Đại cương ngôn ngữ học tập 1,2NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt", NXB đại học quốc gia Hà Nội 13. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán(2001)", Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn(1996), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB đại học quốc gia Hà Nội 13. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB đại học quốc gia Hà Nội 13. Đỗ Hữu Châu
Năm: 2001
14. Nguyễn Văn Chiến(1991), Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc trong tiếng Việt, Ngôn ngữ số 2 tr 53- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1991
15. Đoàn Văn Chúc(1997), Văn hoá học, NXBVHTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: NXBVHTT Hà Nội
Năm: 1997
16. Mai Ngọc Chừ(1998), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, NXB ĐH&THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB ĐH&THCN
Năm: 1998
17. Hoàng Cao Cương(1984), Về khái niệm ngôn điệu, Ngôn ngữ, số 2, tr.58 – 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm ngôn điệu
Tác giả: Hoàng Cao Cương
Năm: 1984
18. Hoàng Cao Cương(1993), Suy nghĩ về mối quan hệ giữa âm vị học và thi pháp tiếng Việt trên phương diện văn hoá, Việt Nam: Những vấn đề ngôn ngữ văn hoá, tr 45 – 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về mối quan hệ giữa âm vị học và thi pháp tiếng Việt trên phương diện văn hoá
Tác giả: Hoàng Cao Cương
Năm: 1993
19. Nguyễn Đức Dân(1998), Lô gic và tiếng Việt, NXBGD Hà Nội . 20. Nguyễn Đức Dân(1998), Ngữ dụng học, NXBGD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lô gic và tiếng Việt", NXBGD Hà Nội . 20. Nguyễn Đức Dân(1998)", Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân(1998), Lô gic và tiếng Việt, NXBGD Hà Nội . 20. Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXBGD Hà Nội . 20. Nguyễn Đức Dân(1998)"
Năm: 1998
21. Phan Huy Dũng(1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), luận án tiến sỹ ngữ văn, đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
22. Phạm Đức Dương, Về mối quan hệ nguồn gốc của các ngôn ngữ nhóm Việt - Mường , Ngôn ngữ số1, tr 46 – 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ nguồn gốc của các ngôn ngữ nhóm Việt -Mường
23. Hữu Đạt(2000), Văn hoá và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, NXBVHTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXBVHTT Hà Nội
Năm: 2000

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w