3.3- Trong các nhận xét, đánh giá của những ng-ời nghiên cứu, phê bình, đọc thơ Nguyễn Đình Thi, có rất nhiều ý kiến nhận xét liên quan đến một số ph-ơng diện ngôn ngữ trong thơ ông.. An
Trang 1Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca, trong đó tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của một tác giả là một trong những h-ớng đi cần thiết của việc nghiên cứu ngôn ngữ học vừa mang tính chuyên sâu, vừa mang tính liên ngành hiện nay
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều tác phẩm nổi tiếng thuộc nhiều thể loại Trong đó, với t- cách là một nhà thơ, qua thi phẩm của mình, ông đã có những tìm tòi, những đóng góp lớn, tạo nên một phong cách, một giọng điệu thơ khác lạ trong thơ Việt Nam hiện đại Bởi vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi không chỉ góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ của một tác giả lớn mà còn góp phần tìm hiểu ngôn ngữ thơ ca Cách mạng nói riêng trong suốt mấy chục năm qua
1.2 Về mặt thực tiễn:
Thơ văn Nguyễn Đình Thi đã đ-ợc đ-a vào giảng dạy trong nhà tr-ờng Việc nghiên cứu thơ ông góp phần phân tích thơ của tác giả không chỉ trên bình diện nội dung mà còn ở bình diện hình thức, nghệ thuật ngôn từ , một lĩnh vực mà cho đến nay ch-a có một sự nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu t-ơng xứng với sự đóng góp và tầm cỡ của ông trong nền thơ ca Cách mạng Việt Nam
2 - Mục Đích , Nhiệm Vụ Nghiên cứu :
2.1- Mục đích :
Luận văn nhằm làm sáng tỏ các vấn đề sau :
a-Đặc điểm cơ bản của thơ Nguyễn Đình Thi từ các ph-ơng diện: cách sử dụng ngôn từ , cách tổ chức nội dung, cấu tạo các đơn vị trong thơ
Trang 2b- Các đặc tr-ng phong cách tiêu biểu và những đóng góp của nhà thơ về ph-ơng diện nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ thơ
2 2- Nhiệm vụ :
Tuyển tập thơ Nguyễn Đình Thi gồm 107 bài , tập hợp từ các tập thơ : Ng-ời chiến sĩ (1956, 1958), Bài thơ Hắc Hải (1959, 1961), Dòng sông trong xanh (1974), Tia nắng (1983), Trong cát bụi (1990), Sóng reo (1998)
Nhiệm vụ của luận văn là :
a Điểm qua lịch sử nghiên cứu thơ Nguyễn Đình Thi, trong đó chú ý mảng nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi trong mấy chục năm qua
b Tìm hiểu các ph-ơng diện hình thức, cấu tạo các câu thơ, bài thơ Nguyễn
từ
Nhìn chung, giới phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam cũng nh- n-ớc ngoài, ở những cách nhìn tuy khác nhau, nh-ng đều đánh giá rất cao các tác phẩm của ông “Sức mạnh của cây bút Nguyễn Đình Thi là sức mạnh của một nhà văn có trình độ kiến thức về nhiều mặt (chính trị, triết học, mỹ học, âm nhạc, thi ca ), có khả năng tổng hợp, nêu bật lên đ-ợc những t- t-ởng chủ đề lớn với chiều sâu và tầm khái quát cao” (47; tr.51)
3 2- Nguyễn Đình Thi làm thơ không nhiều nh-ng đều đặn, trải dài trong suốt thời gian từ những ngày đầu kháng chiến (1948) đến tận hôm nay (2002) Thơ
Trang 3ông gắn bó với cuộc sống, chiến đấu, lao động, thể hiện những tình cảm trong sáng,
đẹp đẽ về quê h-ơng đất n-ớc, thể hiện niềm vui, nỗi buồn của con ng-ời trong cuộc đời, tuy “vất vả , đau thương” nhưng “tươi thắm vô ngần”
ở giai đoạn đầu, các bài thơ của ông (đ-ợc in trong tập Ng-ời chiến sĩ
và Bài thơ Hắc Hải đã có nhiều ý kiến phê bình và đánh giá khác nhau Đáng chú
ý là cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi tại Việt Bắc năm 1949 Trong cuộc tranh luận này có hai loại ý kiến :
- Loại ý kiến thứ nhất: Phê phán loại thơ không vần của Nguyễn Đình Thi: trúc trắc, khô khan, từ ngữ quá tiết kiệm nên khó hiểu Thơ phải có vần, thơ không vần không phải là thơ (Cực đoan hơn, có ý kiến còn đề nghị loại bỏ thơ Nguyễn
Đình Thi ra khỏi thơ kháng chiến) Có nhận xét cho rằng các bài thơ (ở giai đoạn
đầu) của ông còn đề cập đế những điều, những việc còn xa rời thực tiễn, ch-a hoà vào được tâm hồn đại chúng “Thơ anh nh- hạt ngọc lung linh, chứ không phải là dòng suối lôi cuốn người ta đi “ (47; tr 222)
- Loại ý kiến thứ hai: Tán đồng những tìm tòi, thử nghiệm của Nguyễn Đình Thi Đánh giá thơ ông rất thành công Kết tội thơ Nguyễn Đình Thi không vần là không đúng “Miễn sao thơ phải có một tâm hồn, một nhạc điệu rung cảm được người ta , tức là thơ” (47; tr.222)
Qua các ý kiến khác nhau ấy, ta có thể thấy: Thơ Nguyễn Đình Thi đã tạo ra một phong cách khác lạ, nhà thơ là người “nhiều tài, nhiều thông minh, thích tìm những cái mới” (47; tr 224) Đồng thời, nhiều ý kiến cũng đã chỉ ra những chỗ còn ch-a đ-ợc của thơ ông
Sau hội nghị ấy, nhà thơ đã nhìn lại các sáng tác của mình Thơ ông đã gắn
bó, gần gũi hơn với đời sống xã hội và nỗi niềm của quần chúng Những bài thơ
đ-ợc sáng tác sau đó và cho đến hôm nay, đ-ợc đánh giá rất cao, tạo ra một phong cách, một giọng điệu không lẫn với ai “Thơ Nguyễn Đình Thi là kiểu thơ hiện đại
đích thực từ nội dung đế hình thức Làm thơ là một việc khó khăn vô cùng Đó là
con đ-ờng mà ng-ời ta có đi mà không có đến Nh-ng nhà văn hoá lớn Nguyễn
Đình Thi đã đi và đã đến với t- cách là một nhà thơ hiện đại có diện mạo và sắc thái riêng biệt trên thi đàn Việt Nam” (7; tr 248 )
Trang 43.3- Trong các nhận xét, đánh giá của những ng-ời nghiên cứu, phê bình, đọc thơ Nguyễn Đình Thi, có rất nhiều ý kiến nhận xét liên quan đến một số ph-ơng diện ngôn ngữ trong thơ ông
Các bài nghiên cứu, các ý kiến thảo luận về thơ Nguyễn Đình Thi nổi lên
mấy điểm :
a-Loại thơ không vần: ngôn ngữ tiết kiêm mạch thơ trúc trắc
b-Ngôn ngữ thơ, hình thức thơ có sự tìm tòi, đổi mới, sáng tạo
c-Ngôn ngữ thơ giản dị (điệu nói) giàu hình ảnh, hình thức câu thơ phóng khoáng
Trên đây, chúng tôi tóm l-ợc những điểm chủ yếu quá trình nghiên cứu thơ Nguyễn Đình Thi Nhìn chung, những ý kiến trên chỉ nêu một số đặc điểm khái quát về nhiều ph-ơng diện hoặc chỉ dừng lại phân tích một số bài thơ tiêu biểu Luận văn sẽ tiếp thu và đi sâu vào khảo sát khía cạnh ngôn ngữ nh- mục
đích đã đề ra
4 Ph-ơng Pháp Nghiên Cứu:
Luận văn tiến hành nghiên cứu thơ Nguyễn Đình Thi từ góc độ ngôn ngữ học H-ớng tiếp cận của đề tài là từ những vấn đề lý luận soi vào những vấn đề cụ thể; kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, tổng hợp và phân tích để tìm ra những
điểm phổ quát và riêng biệt về đặc tr-ng phong cách ngôn ngữ của một tác giả
Để thực hiện đ-ợc mục tiêu đã đề ra, trong quá trình khảo sát, chúng tôi sử
dụng các ph-ơng pháp thống kê , phân loại nguồn t- liệu , ph-ơng pháp phân tích
và chứng minh trong từng luận điểm; ph-ơng pháp đối chiếu để làm rõ những đặc
điểm chung và riêng của đối t-ợng nghiên cứu
5- Cái mới của đề tài :
5.1 Nêu một cách có hệ thống các đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi
từ những sáng tác ban đầu cho đến thời gian gần đây
5 2 Khẳng định bằng số liệu, dẫn chứng những đặc tr-ng cơ bản về ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi
6 -Bố cục của luận văn :
Trang 5Ngoµi phÇn më ®Çu vµ phÇn kÕt luËn, néi dung chÝnh cña luËn v¨n gåm :
Ch-¬ng 1 : Th¬ vµ ng«n ng÷ th¬ NguyÔn §×nh Thi
Ch-¬ng 2 : §Æc ®iÓm h×nh thøc cña th¬ NguyÔn §×nh Thi
Ch-¬ng 3 : §Æc ®iÓm ng«n ng÷ thÓ hiÖn néi dung th¬ cña NguyÔn §×nh Thi
Trang 6Ch-ơng 1 Thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi
1 -Thơ và ngôn ngữ thơ
1.1- Một số đặc điểm của thơ
Theo các nhà nghiên cứu, thơ ca là một loại hình nghệ thuật ra đời từ rất sớm, khi xã hội loại ng-ời còn thời kỳ hoang sơ Trong hình thái cổ sơ nhất, thơ ca tồn tại d-ới dạng những bài hát lễ nghi, những lời phù chú, đ-ợc sử dụng trong các hội
hè và tôn giáo “ Thơ bắt đầu từ cái ngày khi con người cảm thấy cần phải tự bộc lộ mình” (Hê- ghel) Thơ ca, đó là hình thức phổ biến (còn đối với thi sĩ, thì đó lại là hình thức chủ yếu ) để bộc lộ tâm tình ở dân tộc nào và thời đại nào cũng vậy
Thơ là gì ? là một câu hỏi đặt ra từ lâu Bằng trực quan cảm tính thì ai cũng
dễ thấy nh-ng để đ-a ra lời giải đáp rõ ràng, có cơ sở khoa học, thì không đơn giản chút nào Trong nghiên cứu, việc xác định về một quan niệm, một định nghĩa thơ
là cần thiết Ng-ời ta đã bàn nhiều về thơ Các ý kiến thật là đa dạng, thậm chí đối lập nhau Điều đó phần vì do quan điểm, do đứng ở nhiều góc độ khác nhau, phần vì thơ là một loại hình nghệ thuật độc đáo đặc sắc nh-ng cũng vô cùng phức tạp về nhiều ph-ơng diện
Điểm qua một số công trình nghiên cứu về thơ, có thể thấy những điểm cơ bản th-ờng đ-ợc nêu lên là :
Thơ là tiếng nói của tình cảm con ng-ời, là sợi dây th-ơng mến ràng buộc
con ng-ời, bộc lộ tình cảm con người “Thơ là một hành động giao cảm, một hành
động tín nhiệm (Solmi & Cadoresi); (Dẫn theo 17 ; tr.17) “Thơ là một điệu hồn
đi tìm những hồn đồng điệu” “Thơ là tiếng nói tri âm” (Tố Hữu)
Thơ là tiếng nói của tâm hồn, của niềm mong -ớc ở đặc điểm này, các ý kiến
phát biểu dưới những dạng khác nhau “ Thơ ca đáp ứng một nhu cầu mơ ước” (J Gaucheron) “Thơ là một giấc mơ qua đấy người ta mơ ước về một cuộc đời tốt
đẹp hơn” (S Prudhomme) “ Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao
đẹp” (Sóng Hồng) “Cái chỗ đến cuối cùng của thơ là phải đem đến một cái gì nâng sự sống lên” (Huy Cận )
Thơ là một ph-ơng diện tinh hoa của con ng-ời và tạo vật Nhiều ý kiến nhìn
nhận thơ ở góc độ này “Thơ là cái nhuỵ của cuộc sống” (Tố Hữu) “Thơ là lọc
Trang 7lấy tinh chất, là sự vật được phản ánh vào trong tâm tình” (Xuân Diệu) Thơ là hoa tiểu thuyết là quả” (Nguyễn Đình Thi ) “Thơ là tinh hoa là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm” (Thanh Tịnh) “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống” (Lưu Trọng Lư )
Thơ ca là sự sáng tạo Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo “Thơ ca là sáng
tạo của sáng tạo” (P Gamara) “Thi sĩ là những người sáng tạo ra những quy tắc của thi ca” (Maiacôpxki) ( Dẫn theo17; tr 18 )
Nhà thơ Nguyễn Đình Thi cũng đã có lần phát biểu rằng: Thơ ông “là một cuộc tìm tòi Nói đến thơ, đó là một cái gì tha thiết nhất của tôi" (tuy nó có cái vui của nó ) (47; tr 225 )
Trên đây chúng tôi l-ợc dẫn một số quan niệm, một số định nghĩa về thơ Qua đó có thể rút ra một nhận xét chung rằng: Thơ ca là một loại hình nghệ thuật liên quan đến nhiều mặt của đời sống, là một sản phẩm đặc biệt của lao động nghệ thuật, có tính đặc thù và sáng tạo
1 2- Ngôn ngữ thơ
Mọi ý t-ởng, mọi cảm xúc của con ng-ời chỉ có thể trở nên rõ ràng, mạch lạc khi thể hiện qua ngôn ngữ Ng-ời ta th-ờng nhắc đến một luận điểm: Tác phẩm văn ch-ơng là nghệ thuật của ngôn từ , chính là nói đến vai trò của ngôn ngữ trong sáng tạo nghệ thuật Quả đúng nh- vậy
Thơ ca có một hình thức tổ chức đặc thù
Tr-ớc hết nhìn vào hình thức, trên trang in, các yếu tố ngôn ngữ thơ không
dày đặc nh- văn xuôi Thơ có nhiều khoảng trống Câu thơ củng khác câu văn xuôi, ngắt nhịp ngắt dòng cũng khác Đó là hình thức đầu tiên mà ng-ời ta có thể nhận thấy Trên cái nền tổ chức hữu hạn, đặc thù ấy, sự thể hiện các yếu tố về vần
điệu, nhịp điệu , ý nghĩa đã tạo cho ngôn ngữ thơ một phẩm chất đặc biệt “Thơ
là một kiến trúc đầy âm vang” (Hê- ghel)
Ngôn ngữ thơ ca tr-ớc hết là một thứ ngôn ngữ đ-ợc trau chuốt, tinh luyên
từ ngôn ngữ “nguyên liệu ” – lời nói hàng ngày Maiacôpski cho rằng: “Quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống nh- những ng-ời lọc quặng, lọc ra cái tinh chất Thơ ca là cái tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là cái ánh ngời phi th-ờng của nó.”
Trang 8Nội dung phản ánh của thơ ca cũng không có gì khác ngoài đời sống – xã hội, nh-ng cái quan trọng là nó tạo ra cảm xúc, tạo nên những rung động trong tâm hồn với những liên tưởng theo nhiều chiều hướng khác nhau “ Thơ chỉ chọn một
ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì toàn thể động lên theo” (Nguyễn Đình Thi ) Vì vậy mà một bầu trời trong xanh, một con sóng vỗ bờ, một ánh sao trong vũng n-ớc đêm, một tiếng còi tàu đều có thể là thi liệu của thơ , qua đó mà nảy nở cảm xúc vốn ẩn tàng trong mỗi con ng-ời Nh-ng đặc tr-ng hơn cả là cách thức biểu hiện ngôn từ và hình thức tổ chức bài thơ Với thơ, ng-ời ta không chỉ tiếp nhận cả cái hình thức đặc thù của nó Có nghĩa là với thơ, ng-ời ta không chỉ thấy đ-ợc những suy nghĩ khác th-ờng, cảm xúc khác th-ờng mà còn là cách diễn
đạt khác thường Giáo sư Phan Ngọc nhận xét: “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ng-ời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này” (35; tr 29, 30 )
Quả thực, trong giao tiếp hàng ngày, không ai lại tổ chức ngôn ngữ nh- thế Hình thức đó làm nên sức sống lâu bền cho thơ, dễ nhớ, dễ thuộc Do đó mà văn xuôi có một thứ ngữ pháp riêng, và thơ lại có một thứ ngữ pháp riêng, không giống văn xuôi
Trong thơ, các yếu tố âm tiết, vần, nhịp, dòng thơ, khổ thơ và niêm luật khác làm nên diện mạo và hình thức riêng cho nó, (nh- các thể lục bát và Đ-ờng luật…)
Tuy vậy, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, thơ ca ngày càng mở rộng nội dung phản ánh, nhất là hình thức biểu hiện Nhiều sự biến đổi, cách tân về hình thức đã làm cho nó ngày càng đi về phía đại chúng, hơn thế, đi về h-ớng tự nhiên hơn, diễn tả đ-ợc muôn mặt tế vi của đời th-ờng Thể thơ tự do ra đời, không phá vỡ cú pháp thơ đã tồn tại hàng ngàn năm, mà đã mở ra cho thơ một h-ớng diễn
đạt mới trên cái nền truyền thống Chính nhờ hình thức có tính uyển chuyển và linh hoạt mà thơ mới có thể diển tả dễ dàng hơn những điều mà ng-ời ta có thể nghĩ ra , và cứ ngỡ rằng chỉ nói đ-ợc bằng văn xuôi:
M-a đi ! M-a đi ! M-a cho mãnh liệt
M-a lèm nhèm chúng tôi chẳng thích đâu
Nh-ng chẳng có m-a rào thì cứ m-a ngâu
Hạt m-a bụi m-a li ti cũng đ-ợc
Trang 9Mặt chúng tôi ngửa lên hứng n-ớc
Một giọt nhỏ thôi , cát cũng dịu đi nhiều
(Đợi m-a trên đảo Sinh Tồn – Trần Đăng Khoa )
Sự phát triển thơ theo h-ớng giản nở vần nhịp, tiến tới câu thơ tự do, tự nhiên nh- lời nói thông th-ờng:
Anh không ở lại yêu hoa mãi đ-ợc Thiêu xong, anh về các trời khác cũng đầy hoa Chỉ tiếc không có tình yêu ở đó
Anh thành một nhúm x-ơng gio trong bình
Em đừng khóc Ngoài v-ờn hoa cỏ mọc Cho dù trái đất không còn anh Anh vẫn còn nguyên trái đất Tặng cho mình
Trong thơ Việt Nam hiện đại, bên cạnh sáng tác theo thể thơ truyền thống, nhiều tìm tòi đổi mới về hình thức đã làm cho câu thơ gần với câu văn xuôi:
Xe không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ mất rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất , nhìn trời ,nhìn thẳng
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật )
Trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Chính Hữu, Phạm Tiến Duật là những ng-ời đã góp phần sáng tạo
ra những câu thơ rất gần gũi với văn xuôi nh-ng vẫn giàu chất thơ Nguyễn Đình Thi là người nêu những ý kiến mạnh mẽ về thơ tự do, thơ không vần: “Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm ngàn phía nh-ng lúc nào cũng là một sức đang lớn lên như thổi” “ Vần là một lợi khí rất đắc lực cho sự truyền cảm Nh-ng không phải hết vần là hết thơ Khi đã bỏ luật lệ rồi, đủ cảm xúc tự nhiên thì cứ nói, thành vần cũng đ-ợc, không thì thôi Nói nh- lời nói th-ờng vậy” ( 47; tr.227)
Trang 10Bằng thực tiễn sáng tác của mình, Nguyễn Đình Thi đã có những bài thơ tự
do không vần, nh-ng nó vẫn giàu chất thơ Những hiện t-ợng này chúng ta sẽ có dịp khảo sát ở ch-ơng sau
Một trong những yếu tố quan trọng tạo chất thơ liên quan đến tổ chức ngôn ngữ, mà cụ thể ở đây là tổ chức các tiếng – vốn là một đơn vị rất cơ bản của câu
thơ- là nhịp điệu
Nhịp điệu là một thuật ngữ đ-ợc nói đến trong nghiên cứu văn học, nh-ng
đây là một khái niệm còn nhiều cách hiểu rộng hẹp khác nhau (47; tr.14…) Có thể hiểu rằng: Nhịp điệu là cách ngắt nhịp trong một dòng thơ (có thể là trong một
đoạn thơ, bài thơ) Nhịp điệu có chức năng vừa biểu thị ý t-ởng vừa biểu thị cảm xúc
Trong văn xuôi, nhịp điệu buông thả tự nhiên, vai trò ngữ nghĩa lấn át, bao trùm, cho nên nhịp diệu th-ờng không đ-ợc cảm nhận rõ nét Tuy vậy, ta vẫn thấy
rõ có những khi nhà văn đã sử dụng nhịp điệu làm cho câu văn có sức truyền cảm
Ví dụ: Dân tộc ta, / nhân dân ta, / non sông đất n-ớc ta, / đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, / ng-ời anh hùng dân tộc vĩ đại / và chính Ng-ời đã làm rạng rỡ Tổ quốc ta / nhân dân ta /và non sông đất n-ớc ta /
(Điêú văn do đồng chí Lê Duẩn đọc tại lễ truy điệu Chủ Tich Hồ Chí Minh ngày 9-9-1969)
Tuy nhiên, so với văn xuôi, nhịp điệu trong thơ lại nổi lên rõ nét hơn
Maiacôpxky nhấn mạnh: “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lượng cơ bản của câu thơ” Còn N Tinianôp phân biệt rõ nhịp điệu văn xuôi và thơ: “Trong văn xuôi, (nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian đ-ợc cảm thấy rất rõ, hiển nhiên đó không phải là những t-ơng quan về thời gian có thực giữa các sự kiện mà chỉ là những t-ơng quan có tính -ớc lệ Trong thơ thì thời gian không thể cảm giác đ-ợc Các tiểu tiết của chủ đề và những đơn vị lớn của chủ đề đều đ-ợc cân bằng bởi cấu trúc của thơ” (Dẫn theo 14; tr 42)
ở cấp độ tổ chức một bài thơ, đơn vị để thể hiện nhịp (ngắt nhịp ) là các tiếng trong dòng thơ (câu thơ) Trong mỗi dòng thơ lại có cách ngắt nhịp phụ thuộc vào thể thơ Từ nhịp điệu chung của luật thơ ấy, ng-ời sáng tác sẽ có những cách
sử dụng linh hoạt, nhất là trong thơ tự do, rõ nhất là loại thơ không vần
Trang 11Một yếu tố không kém phần quan trọng của thơ là nhạc điệu Nhạc điệu
đ-ợc hình thành do các yếu tố ngắt nhịp, phối thanh, gieo vần giữa các tiếng trong dòng thơ và trong cả bài thơ Paul Valery định nghĩa: “Thơ là sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa” (Dẫn theo 14; tr.45) Âm thanh ở đây chính là tính nhạc của thơ Thơ có thể không vần, nh-ng có nhịp điệu và nhạc điệu làm nên chất thơ, chất nhạc
Ví dụ : Có những buổi vui sao
Đình Thi đã nói rõ “nhịp điệu trong thơ không chỉ là nhịp điệu bằng bằng, trắc trắc, lên bổng xuống trầm nh- tiếng đàn bên tai ( ) Thơ có một thứ nhạc nữa, một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn ( ) “Đó là nhịp điệu thành hình của cảm xúc, hình ảnh liên tiếp hoà hợp
mà những tiếng và chữ gợi ra những ngân vang dài; ngay những khoảng lung linh giữa chữ, những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động” (49; tr.50 )
Tóm lại, từ những điều trình bày trên, có thể nhận xét rằng: Thơ là phản ánh cuộc sống và biểu thị tâm trạng thông qua một hình thức rất đặc thù, khác th-ờng
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ nghệ thuật giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, những
điểm ấy tạo nên tính đặc thù của thơ trong sự phản ánh và biểu thị tâm trạng của con ng-ờì
Nói đến thơ - những khái niệm và đặc điểm xung quanh thuật ngữ này – còn nhiều vấn đề phức tạp Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ đi vào nhấn mạnh một vài khía cạnh mà theo chúng tôi là thực sự có liên quan đến thơ Nguyễn Đình Thi và liên quan đến việc phân tích thơ Nguyễn Đình Thi từ góc độ ngôn ngữ
Trang 122 Nguyễn Đình Thi và thơ Nguyễn Đình Thi
2.1- Một vài nét về sự nghiệp văn ch-ơng của Nguyễn Đình Thi
Nguyễn Đình Thi thuộc thế hệ mà sự nghiệp văn ch-ơng đ-ợc hình thành và phát triển từ sau Cách mạng Tháng Tám Tr-ớc khi đến với văn ch-ơng, ông tham gia tích cực vào phong trào học sinh sinh viên yêu n-ớc và hội văn hoá cứu quốc (1941- 1943) Hoà nhập vào không khí đấu tranh cách mạng của dân tộc, Nguyễn
Đình Thi đã sớm khẳng định sâu sắc t- cách công dân, t- cách của ng-ời tri thức cách mạng Những năm tháng hoạt động này đã góp phần hình thành bản lĩnh, vốn sống và tài năng trong những sáng tác của ông Ông viết về triết học, lý luận phê bình Những vấn đề về chính trị và văn nghệ đ-ợc soi sáng từ góc độ triết học, tạo
ra ấn t-ợng mạnh, một chất trí tuệ sắc sảo
Ông là tác giả của những bài hát nổi tiếng: Diệt phát xít, Ng-ời Hà Nội …
Ông viết nhiều vở kịch gây những “sự kiện”trong đời sống sân khấu Việt Nam:
Con nai đen, Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan Các truyện ngắn của ông
đ-ợc đánh giá rất cao (Giải th-ởng báo văn nghệ 1951-1952) Ông là nhà văn nổi
tiếng với những tác phẩm mang tính sử thi (Vỡ Bờ) hoặc đề cập đến những vấn đề nóng bỏng của chiến tranh (Xung kích (1951), Vào lửa (1966), Mặt trận trên cao
(1967)
Ông là tác giả của sáu tập thơ kết tinh những suy nghĩ cảm xúc mãnh liệt của
ông về đất n-ớc, con ng-ời và thời đại trong những năm tháng không thể nào quên
Có thể nói, ở lĩnh vực sáng tác nào, ông cũng để lại những thành tựu nổi bật Ông là một chứng nhân của nhiều hoàn cảnh lịch sử mà đời sống và sự nghiệp văn ch-ơng cuả ông song hành với đời hoạt động cách mạng, đời kháng chiến Tất cả đã hình thành và phát triển ở ông một bản lĩnh vững vàng, một trình
độ văn hoá sâu rộng, một trí tuệ sắc sảo và đặc biệt rất giàu tính sáng tạo Điều đó
in dấu rất rõ trong các tác phẩm của ông, nhất là trong thơ mà chúng ta có dịp tìm hiểu ở phần tiếp theo
2 2 Một số quan niệm của Nguyễn Đình Thi về thơ
Nguyễn Đình Thi không chỉ là ng-ời sáng tác nổi tiếng mà ông còn là một
Trang 13nhà lý luận phê bình sắc sảo Ng-ời ta nhận thấy giữa sáng tác và lý luận ở ông rất nhất quán, hài hoà Quan niêm của ông về nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng
đ-ợc phát biểu khá hệ thống và rõ ràng Điều này giúp cho ng-ời nghiên cứu về thơ văn ông có một chổ dựa đáng tin cậy, nó góp phần lý giải những đặc điểm về nội dung và hình thức trong các tác phẩm của ông
Để có thể đi vào tìm hiểu thơ Nguyễn Đình Thi, thiết nghĩ cần nêu một số quan niêm của ông về thơ đ-ợc trình bày d-ới dạng các bài viết hoặc bài nói, hay những lời tâm sự phỏng vấn từ năm 1948 đến nay
Trong một lần nói chuyện, Nguyễn Đình Thi bộc bạch : “Tôi sinh ra không phải trong một gia đình dòng dõi nho học, tuổi nhỏ của tôi ở ngoài chữ Hán Khi đi học tiểu học thời Pháp thuộc, tôi cũng đ-ợc học mỗi tuần một giờ chữ Hán trong
ba năm sơ học rồi thôi Sau này làm nghề cầm bút, cũng phải tự học thêm chút ít
để hiểu nghĩa các từ gốc Hán khi dùng đến
Do vậy, các từ ngữ gốc Hán không có mấy âm h-ởng trong trí t-ởng t-ợng
và xúc cảm của tôi, từ những ngày tôi còn nhỏ
Ví dụ: nghe “lâm tuyền, viễn phố” tôi không cảm thấy gì nhiều nh-ng nghe rừng suối, phố xa thì trong tôi gợi động lên nhiều thứ Cái vốn sâu tiếng nói trong tôi là lời ăn tiếng nói thông th-ờng và trong văn học là ca dao và thơ Nôm của các nhà thơ cổ điển đời trước” ( 46; tr.17)
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Đình Thi đã dành cho thơ một vị trí trang trọng Ông xem đây là một thể loại có thể bộc lộ đ-ợc những suy nghĩ, chiêm nghiệm và những tình cảm chân thành nhất
Khi nói về thơ, tr-ớc hết ông nhấn mạnh mặt cảm xúc Ông nhận xét :
“Tâm hồn chúng ta có một rung động khi nó ra khỏi tình trạng bình thường, khi nó không chiếu theo thói quen nh- một dây da trong bộ máy, khi nó thức tỉnh
tự soi vào để tự nhận thấy đang ở một độ rung chuyển khác th-ờng, do một sự va chạm nào với thời gian bên ngoài, với thiên nhiên, với những ng-ời khác, rồi do sự
tự soi sáng ấy mà cảm xúc hình thành được hẳn” (49; tr.67)
Nói về sự diễn đạt, ông nhận xét: “Thơ của một thời mới trong những bước
đầu ít khi chịu đựng đ-ợc những chân trời rộng mở để tìm kiếm sức mới của nó Văn xuôi lôi cuốn ng-ời nh- dòng n-ớc, đ-a ta đi lần l-ợt từ điểm này đến điểm
Trang 14khác Thơ trái lại chỉ chọn một ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì toàn thể
động lên theo” (49; tr47)
ở một đoạn khác, trở lại ý này, ông nhấn mạnh: “Mỗi thể thơ có một khả năng, một thứ nhịp điệu của nó nh-ng nếu theo dõi những thời kỳ lớn của lịch sử thì một thời đại mới của nghệ thuật th-ờng bao giờ cũng tạo ra một hình thức mới Thơ của một thời mới trong những b-ớc đầu ít khi chịu những hình thức đều đặn,
cố định” (49; tr 80)
Những ý kiến của Nguyễn Đình Thi, về mặt lý luận cũng phù hợp với với thực tiễn sáng tác của mình Nhiều bài thơ của ông đ-ợc viết nột cách tự do, thoải mái, không quá nệ vào vần điệu, không -a sự nhịp nhàng dễ dãi của câu chữ ý t-ởng đó đã hình thành từ rất sớm trong những ngày đầu sáng tác thơ của ông Chúng ta nhớ rằng năm 1948, trong một hôi nghị tranh luận về thơ của mình, tr-ớc các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng nh-: Tố Hữu, Xuân Diệu, Thế Lữ, Xuân Thuỷ, Thanh Tịnh, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố … nhà thơ trẻ Nguyễn Đình Thi (lúc đó mới 24 tuổi) đã phát biểu rất khảng khái về chủ đích, h-ớng đi, tình yêu sáng tác
Đặc biệt, với loại thơ không vần mà lúc đó nhiều ng-ời tỏ ra không mặn mà, Nguyễn đình Thi nói rõ:
"- Khi đã bỏ luật lệ rồi, đủ cảm xúc tự nhiên thì cứ nói thành vần cũng đ-ợc, không thì thôi Nói nh- lời nói th-ờng vậy
-Rút ra những cái trong cuộc sống
- Tôi mong đi tới những câu thơ nh- lời nói th-ờng mà đến độ cảm xúc mãnh liệt Nếu cần nói một hơi dài dùng những câu dài Nếu hơi ngắn thì nói ngắn Những hình ảnh thơ mới bây giờ tôi t-ởng t-ợng nó cần phải khoẻ, gân guốc, xù xì, chất phác, chung đúc tự nhiên Những bài thơ cũ, cùng một nhịp điệu đều đều tôi không chịu được Bài thơ chất phác kia tác động vào tâm hồn ta hơn” (47; tr.227, 228)
Vai trò của từ ngữ, cũng được ông rất chú trọng: “Chữ và tiếng trong thơ phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm Ng-ời làm thơ chọn chữ và tiếng không phải chỉ vì ý nghĩa của nó Điều kỳ diệu của thơ là mỗi chữ, ngoài ý nghĩa của nó bỗng phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy Sức mạnh của câu thơ là ở sức gợi ấy” ( 47; tr.280 )
Trang 15Vai trò của nhịp điệu trong thơ cũng đ-ợc Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh nhiều lần Nhưng ở đây, ông nói rõ nhịp điệu đặc trưng: “Còn trong thơ, tiếng nói
đi đến ngọn nguồn của nó, nh- tia lửa bay lên từ tâm hồn con ng-ời đang xúc
động, nh- chiếc lá non từ chồi nụ nở ra Mỗi từ nh- một viên ngọc nguyên thuỷ, một giọt ánh sáng, và câu thơ nh- dòng n-ớc nguồn trong suốt Tiếng nói thơ là tiếng nói đầy âm nhạc, tiếng nói của nhịp điệu – nhịp điệu của âm thanh vật chất, của tiếng nói con ng-ời Và nhịp điệu của những cảm xúc, ý nghĩ, trình tự hoà quyện nối tiếp nhau” (46; tr.9)
Trên đây, chúng tôi l-ợc dẫn những luận điểm chính của Nguyễn Đình Thi phát biểu về thơ nói chung, thơ của mình nói riêng Có 3 điểm chủ yếu là:
1- Thơ là tiếng nói của cảm xúc chân thành từ trong đời sống Thơ phải đ-ợc viết ra từ ngôn ngữ của đời sống tâm hồn mình
2 – Ngôn ngữ thơ phải giàu hình ảnh, giàu sức gợi, giàu nhạc điệu
3 – Không câu nệ vào vần, thơ có thể nh- lời nói th-ờng, miễn là cảm xúc tự nhiên
Đây là những ý đ-ợc ông nêu ra một cách có hệ thống và nhất quán trong các thời kỳ khác nhau Những luận điểm này giúp ta tìm hiểu thơ ông và cũng góp phần soi sáng hoặc tham khảo cho những vấn đề mà ngôn ngữ thơ đã và đang cần giải đáp trong nghiên cứu từ tr-ớc đến nay
3 - Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu thơ Nguyễn Đình Thi
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài trên nhiều lĩnh vực Nh-ng cũng có ng-ời lấy làm tiếc là “Nguyễn Đình Thi ham nhiều thứ quá, ham dựng nhiều
“nhà” quá!" Có người còn lo ngại sự đa tài ấy sẽ lại là cái “hoạ” của ông, rằng chính ông lại tự che khuất ông!
Nh-ng bằng sự bền bỉ, kiên trì suốt hơn nữa thế kỷ sáng tác đã là một sự minh chứng đầy tính thuyết phục, góp phần giải toả những lo ngại, thậm chí giải toả những nhận định, đánh giá mà không phải lúc nào cũng thoả đáng về ông Nguyễn Đình Thi làm thơ không nhiều Nh-ng ngay những bài thơ đầu tay, thơ ông đã có một giọng điệu riêng “và cứ thế rỉ rả cho đến tận bây giờ, góp vào thi ca Việt Nam một thi pháp lạ, một vẻ đẹp sang trọng” (12)
Trang 16Điểm qua các ý kiến đánh giá về thơ Nguyễn Đình Thi, chúng ta thấy có mấy
điểm đ-ợc nhiều bài viết chú ý sau đây :
3.1 -Về phong cách nghệ thuật
Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định thơ Nguyễn Đình Thi tạo ra một phong cách mới lạ “ Thơ Nguyễn Đình Thi đi theo một lối riêng, rất ít chịu ảnh hưởng của thơ mới, không mô phỏng thơ ca cách mạng thời kỳ tr-ớc năm 1945 Ông nói cái mới với phong cách mới, không lệ thuộc nhiều những yếu tố bên ngoài” (Hà Minh Đức; 47; tr.20) “Thơ Nguyễn Đình Thi ngay từ những năm đầu của kháng chiến chống Pháp đã ít nhiều mang một cảm xúc kín đáo, với dáng dấp mới lạ” (Nguyễn Xuân Nam; 34)
“Thơ Nguyễn Đình Thi có cái chất ngời sáng như trong một số bài lý luận của ông Và nó càng ít có sự lôi cuốn say s-a, sự nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình
và chất hùng ca nh- trong nhạc của ông Chất thơ Nguyễn Đình Thi thiên về trầm t-, bình lặng t-ởng nh- nhà thơ vừa nói chậm rãi vừa nghĩ ngợi về điều mình nói (Trần Hữu Tá; 42)
3.2 Về đê tài, chủ đề
Thơ Nguyễn Đình Thi gắn liền với cách mạng, với hai cuộc kháng chiến thần
thánh của dân tộc, “Với quan điểm nhất quán về thơ, từ các tập Ng-ời chiến sĩ, Bài thơ Hắc Hải, Dòng sông trong xanh, đến Tia nắng rồi Trong cát bụi cảm hứng lớn
trong thơ Nguyễn Đình Thi tập trung vào cảm hứng về cách mạng, đất n-ớc trong chiến tranh và xây d-ng trên cái nền đó là số phận, niềm vui và hạnh phúc của cá nhân theo năm tháng của của cuộc đời” (16; tr.21)
“Mọi sáng tác của Nguyễn Đình Thi, dù ở bất cứ ở lĩnh vực nào nhưng đặc biệt là với thơ, bao giờ ông cũng gắn chặt với nỗi vui buồn của nhân dân và đất nước” ( 7; tr.250) “Nổi bật lên nh- một điểm sáng xuyên suốt trong thơ anh là sự quan tâm đối với vấn đề hạnh phúc của con ng-ời, con ng-ời lao động, con ng-ời Việt Nam” (29)
“Có những nhà thơ chỉ nói cái vui chiến đấu và chiến thắng Nguyễn Đình Thi còn nói thêm những xót xa mất mát và có lúc hình nh- anh nhấn quá nhiều Nh-ng trái lại, cần nói anh hiểu rõ cái giá chúng ta phải trả, hiểu rõ phẩm chất cao quý của đồng bào, đồng chí chúng ta, hiểu rõ hạnh phúc to lớn mà chúng ta giành
được” (43; tr.175)
Trang 173.3 - Về hình thức ngôn ngữ
Nhiều ý kiến đánh giá sự mới lạ, cách tân trong hình thức, ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi ý kiến khen cũng nhiều và chê cũng không ít Một số ý kiến cho rằng: Thơ Nguyễn Đình thi trúc trắc, khó đọc Có những bài ở giai đoạn đầu ch-a nói đ-ợc nỗi niềm của quần chúng Có nhiều câu thơ khó hiểu, một số bài còn có
sự u uất , gò bó
Nh-ng nhìn chung thơ Nguyễn Đình Thi đ-ợc đánh giá cao Suy ngẫm thật sâu thơ ông, ta dễ dàng thấy rằng, ngay từ những ngày đầu xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, “Nguyễn Đình Thi đã ráo riết chủ trương cách tân triệt để hình thức câu thơ, cách tân sâu sắc lối biểu cảm của thơ, đặc biệt đối với thể thơ thất ngôn Câu thơ Nguyễn Đình Thi, “thường biến ảo bất kỳ” Câu thơ dài ngắn, ngắt dòng hoàn toàn tuỳ thuộc hơi mạch bên trong của tứ thơ, hồn thơ chứ không cố định, không bị
gò ép theo một thể thơ nào Thơ Nguyễn Đình Thi “được gạn chắt tinh tế, được viết một cách chắc chắn, nhọc nhằn, kỷ lưỡng và đầy trách nhiệm” (7; tr.251)
Lý giải về thơ không vần của Nguyễn Đình Thi, có ý kiến nhận xét “chính vì chú trọng đến hình ảnh trong thơ, Nguyễn Đình Thi không chú trọng nhiều đến chức năng tạo nhạc, ng-ợc lại thiên về chức năng tạo hình của ngôn ngữ ( ) Thơ Nguyễn Đình Thi th-ờng kiệm lời, đọc thơ ông ta bắt gặp một thi pháp hiện
đại : kiệm lời đúc ảnh” ( 22; tr 280)
Về mặt sử dụng ngôn ngữ cụ thể, có ý kiến nhấn mạnh một số điểm nổi bật của thơ Nguyễn Đình Thi: là “thơ trữ tình điệu nói từ ngữ dùng giản dị, giàu hình
ảnh và hàm súc, hình thức câu thơ phóng khoáng tự do” (9; tr.310)
4 Tiểu kết :
Trong ch-ơng này, chúng tôi nêu một số vấn đề mang tính chất tiền đề lý luận
có liên quan trực tiếp đến đề tài, những vấn đề gồm :
1-Thơ là một loại hình nghệ thuật đặc thù , độc đáo Ngôn ngữ Thơ là một
ph-ợng diện hình thức góp phần đặc biệt quan trọng làm nên phong cách, diện mạo của thơ
2- Nguyễn Đình Thi là một nhà thơ đã tạo nên một phong cách độc đáo Những ý kiến của ông về thơ đã làm tiền đề cho việc định h-ớng sáng tác, soi sáng cho việc tìm hiểu thơ ông
Trang 183 - Hơn nửa thế kỷ sáng tác, thơ Nguyễn Đình Thi gắn bó với đời sống với
cách mạng, là sự kết tinh sâu sắc suy nghĩ, tình cảm của ông với cuộc đời Thơ Nguyễn Đình Thi đặt ra nhiều vấn đề trong việc nghiên cứu, từ ph-ơng diện nội dung đến hình thức, đặc biệt là ph-ơng diện ngôn ngữ thơ
Dựa vào những vấn đề có tính chất lý luận, những quan niệm và định h-ớng sáng tác trên đây, phần tiếp theo luận văn sẽ đi sâu vào khảo sát các đặc điểm về hình thức (ch-ơng 2) và nội dung (ch-ơng3)
Trang 191 Dẫn nhập :
Trong ngôn ngữ, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức rất chặt chẽ và rất phức tạp Thơ có một cách thức phản ánh cuộc sống mang tính đặc thù Hình thức thơ đ-ơng nhiên phải phù hợp với nội dung và cách thức phản ánh mang tính đặc thù ấy
Mỗi bài thơ có thể xem nh- là một chỉnh thể Khi xem xét mặt hình thức trong thơ Nguyễn Đình Thi, chúng tôi chủ yếu đi vào tìm hiểu các khía cạnh sau: thể thơ, các đặc điểm về tổ chức trong câu thơ (vần, nhịp điệu), đặc điểm về từ ngữ và một số cấu trúc điển hình của bài thơ
Qua những đặc điểm này, ta có thể thấy rõ hơn về phong cách, diện mạo riêng của thơ Nguyễn Đình Thi trong thơ ca nói chung, thơ Việt Nam hiện đại nói riêng
2 Thể thơ :
2.1- Nhận xét chung :
Trong những khái niệm liên quan đến thơ, thuật ngữ “thể thơ” chưa được
định nghĩa rõ ràng Nh-ng qua phân loại về thể thơ, ng-ời ta th-ờng lấy số tiếng và vần để phân loại các thể thơ
Căn cứ vào số tiếng (trong câu thơ ) có: thể thơ 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng, thơ tự do số tiếng không đều nhau)
Căn cứ vào luật thơ, có hai loại: Thơ cách luật ( thơ có quy tắc và luật lệ ổn
định, gồm thơ Đ-ờng luật, lục bát, song thất lục bát ); Thơ không cách luật (thơ
Lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc Đặc điểm nổi bật của thể thơ này
là câu 6 và câu 8 luân phiên nối tiếp nhau, tiết tấu làm nên đặc tr-ng của thể thơ này trên cơ sở sự hài hoà về hiệp vần và hài âm
Trong sáng tác của mình, Nguyễn Đình Thi ít sử dụng thể lục bát nh-ng bài thơ lục bát của ông lại tạo nên một đặc tr-ng rất là ấn t-ợng
Trang 20Đoạn thơ lục bát trong tr-ờng ca Bài thơ Hắc Hải có thể tách ra nh- một bài
có tính độc lập, nói về đất n-ớc Việt Nam
Việt Nam đất n-ớc ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Tr-ờng Sơn sớm chiều Quê h-ơng biết mấy thân yêu
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều th-ơng đau Mặt ng-ời vất vả in sâu
Gái trai cùng một áo nâu nhuộm bùn
Đất nghèo nuôi những anh hùng Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên
Đạp quân thù xuống đất đen Súng g-ơm vứt bỏ lại hiền nh- x-a Việt Nam đất nắng chan hoà Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh Mắt đen cô gái long lanh
Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung
Đất trăm nghề của trăm vùng Khách ph-ơng xa tới lạ lùng tìm xem Tay ng-ời nh- có phép tiên
Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ
………
Ta đi ta nhớ núi rừng
Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ Nhớ đồng ruộng nhớ khoai ngô
Bát canh rau muống quả cà dòn tan
Cả đoạn thơ -bài thơ này, trừ những câu thơ nói về cảnh khổ lầm than của con ng-ời, mang phong vị ca dao, rất quen thuộc, gần gũi với những bài ca dao nói
về quê h-ơng đất n-ớc Đó là tiếng hát vọng về từ trong sâu thẳm trái tim, từ cách gieo vần ngắt nhịp, hoà phối âm thanh đến hình ảnh:
Trang 21Việt Nam đất n-ớc ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lã rập rờn
Mây mờ che đỉnh Tr-ờng Sơn sớm chiều
Mắt đen cô gái long lanh Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung
Nhớ đồng ruộng nhớ khoai ngô
Bát canh rau muống quả cà dòn tan
Bài “ thuần” nhất theo thể lục bát là Chiều thu nhớ Bác Hồ:
Nắng chiều trên lúa xôn xao Mây chiều l-ng núi cao cao rạng ngời
Nổi bật ở bài thơ này là cách gieo vần, sự hài thanh rất chuẩn mực và đạt tới
sự nhuần nhuyễn cổ điển
Đó là sự tuân thủ luật “Bằng –Trắc” ở các tiếng 2, 4, 6, ở câu lục, 2, 4, 6, 8, ở câu bát, là sự gieo vần ở các vị trí đúng luật, là sự đối lập bổng – trầm ở các tiếng trong một câu thơ :
Nắng chiều trên lúa xôn xao
T B B T B B Mây chiều / l-ng núi / cao cao rạng ngời
Trang 22T B T T B B B B
Tác giả đã khai thác, sử dụng những đặc tr-ng của thể thơ lục bát truyền thống: vần chân (ở câu lục) và vần l-ng (ở câu bát) hiệp vần với nhau, ở thanh bằng tạo thanh điệu hài hoà, nhẹ nhàng Các tiếng ở trong câu cũng chủ yếu là
nhịp chẵn Các từ láy, từ ghép sóng đôi suất hiện (xôn xao, cao cao, bồi hồi, n-ớc non, nhớ th-ơng, rạng ngời, ) Các từ ngữ chỉ không gian đ-ợc đ-a vào: nắng chiều, mây chiều, mây hồng, sông xa, quê h-ơng
Tất cả những yếu tố đó đã tạo ra ở bài thơ một không gian thơ tràn ngập tình cảm bâng khuâng nh-ng sâu lắng Bài thơ chỉ có 8 câu, nhỏ gọn nh- một nén tâm h-ơng, nhớ th-ơng ngậm ngùi viếng Bác
2.3- Thể thơ Đ-ờng luật :
Thơ Đ-ờng luật ngoài quy tắc chặt chẽ về niêm luật (vần, nhịp, đối ), còn
có sự quy định về số tiếng (5 hoặc 7 tiếng) và số câu: tứ tuyệt (4 câu) bát cú (8 câu) và tr-ờng thiên (trên 8 câu )
Khảo sát thơ Nguyễn Đình Thi, ta thấy trong số 107 bài, ông chỉ sáng tác ba bài theo thể Đ-ờng luật Trong đó có hai bài ở dạng tứ tuyệt:
V-ờn bàng rụng đầy mặt đất S-ơng lạnh bên đ-ờng đoá cúc hoang
Chầm chậm n-ớc sông trôi lấp loáng
Ai một mình đi trong ánh trăng
(S-ơng lạnh )
Năm m-ơi năm nh- một bóng mây
Gió thu lại thổi suốt đêm dài
Vẫn nghe khúc hát ng-ời năm ấy
Chén r-ợu bên đèn n-ớc mắt đầy
(Gió thu )
Đối chiếu với thể tứ tuyệt nguyên thể, thơ tứ tuyệt của Nguyễn Đình Thi
niêm luật không hoàn toàn theo thể Đ-ờng luật nghiêm nhặt Chẳng hạn: Chén r-ợu bên đèn n-ớc mắt đầy là một câu thơ tạo cảm giác “ngang ngang” vì trong
dòng thơ tiếng thứ t- và tiếng thứ 7 cùng vần bằng nh-ng phải khác về âm vực (cao thấp) nh-ng trong câu thơ này lại cùng dấu huyền (đèn - đầy )
Trang 23Những bài thơ khác tuy có dạng thất ngôn bát cú (Nh- dòng sông, Nhớ) hay dạng tr-ờng thiên (Bài thơ Hắc Hải , Dòng sông vẫn rì rào ), nh-ng về âm luật
đều có h-ớng của thơ tự do Tác giả th-ờng tự do trong gieo vần, nhịp và nhất là trong bố cục (không theo cấu trúc, đề, thực, luận, kết )
Nói chung những bài thơ này không còn ở dạng nguyên thể mà có dạng phối hợp xen kẻ giữa các thể Do đó khi xem xét loại này , chúng tôi khảo sát chúng ở dạng thể thơ tự do
2.4 Thơ tự do :
2.4.1 Một số đặc điểm của thơ tự do
Theo các nhà nghiên cứu, thơ tự do xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ XX, cùng với phong trào thơ mới ở Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhất là những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, thơ tự do khá phát triển, trở thành một xu h-ớng mới, ngày càng đ-ợc khẳng định
Đặc điểm nổi bật của thơ tự do là nó không tuân theo những quy tắc về cách luật (nh- thơ Đ-ờng luật, lục bát ) Do đó, hình thức thơ tự do không cố định số tiếng, số câu trong bài Mạch thơ có thể liên tục hoặc ngắt quãng
Ví dụ, trong bài Tiếng trúc tuyệt vời Thế Lữ đã dùng những câu thơ dài ngắn
khác nhau, tạo nên âm điệu, tiết tấu đầy chất vang ngân thoải mái trog việc thể hiện cảm xúc:
Tiếng địch thổi đâu dây
Cớ sao mà réo rắt ? Lơ lửng cao đ-a tận chân trời xanh ngắt Mây bay gió quyến mây bay
Tiếng vi vút nh- khuyên van nh- dìu dặt
Nh- hắt hiu cùng hơi gió heo may
ánh chiều thu
L-ớt mặt hồ thu S-ơng hồng lan nhẹ trên sóng biếc Rặng lau già xao xác tiếng reo khô
Nh- khua động nỗi nhớ nhung th-ơng tiếc Trong lòng ng-ời đứng bên hồ
Trang 24Trong bài thơ, yếu tố vần vẫn đ-ợc thể hiện qua các câu, các khổ, có tác dụng liên kết bài thơ, nh-ng d-ờng nh- mạch thơ, hình ảnh thơ có sức liên kết mạnh mẽ, hơi thơ phóng khoáng, tự do hơn
Nh- vậy, về mặt hình thức, thơ tự do vẫn có thể có vần, nh-ng nó không còn trở thành một qui tắc chặt chẽ,mà nhịp điệu lại nổi lên nh- một yếu tố chủ đạo Nhịp điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xác định và cấu tạo nh- thơ Đ-ờng luật, thơ lục bát (nói chung là không xác định bởi những yếu tố và nguyên tắc cụ thể) mà th-ờng do những qui tắc nôị tại, thậm chí rất vô hình, chi phối
Về nội dung, thơ tự do cũng nh- các thể thơ khác, phản ánh những rung động của tâm hồn về con ng-ời và cuộc đời với những hình ảnh cô đọng, chắt lọc, tinh
tế
Thơ tự do không đồng nghĩa với tuỳ tiện, Xuân Diệu phát biểu: “Tự do là mình đặt cho mình một kỷ luật linh động, tuỳ theo mỗi tr-ờng hợp, nh-ng luôn luôn có kỷ luật Muốn ca hát mà chẳng theo tiết tấu nhịp nhàng thì ai nghe? Làm thơ tự do tức là mỗi đề tài tự tạo ra một nhịp điệu riêng cho thích hợp, cái điệu ấy không đ-ợc ph-u l-u mà cần thiết Phải cao tay lắm mới sai khiến đ-ợc thơ tự do
Tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm” (18; tr.408)
Một xu h-ớng tìm tòi mới từ thơ tự do là thơ không vần Thơ không vần là một trong những vấn đề đ-ợc đ-a ra tranh luận tại Hội nghị văn nghệ Việt Bắc tháng 9-1949 nhân các bài thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi
Nh- vậy, khi văn học ph-ơng Tây tràn vào Việt Nam, dòng thơ mới xuất hiện Bên cạnh các thể thơ khác là sự lên ngôi của thơ tự do với nhiều tìm tòi sáng tạo mới
2.4.2 Thể thơ tự do trong thơ Nguyễn Đình Thi:
Qua thống kê các thể thơ của Nguyễn Đình Thi,ta thấy tình hình nh-
sau:Trong tổng số 107 bài (tất cả các thể thơ) thì thơ tự do có đến 94 bài (chiếm tỉ
lệ 87, 800/0)
Nh- vậy đại đa số thơ Nguyễn Đình Thi thuộc thể thơ t- do
Nh-ng thơ tự do Nguyễn Đình Thi cũng có nhiều loại Cụ thể là trong số 94 bài thơ tự do, có:
- Thơ tự do có vần: 41 bài trong tổng số 94 bài (tỉ lệ : 43,730/0)
- Thơ tự do không vần: 24 bài trong tổng số 94 bài (tỉ lệ : 25,530/0)
Trang 25- Thơ tự do phối hợp có vần với không vần: 29 bài trong tổng số 94 bài (tỉ lệ 30,740/0)
Qua số liệu trên, có thể thấy: bài thơ tự do có vần có số l-ợng ít hơn so với hai loại kia (thơ tự do không vần và loại thơ phối hợp) Trong đó đáng chú ý là trong thể thơ tự do này, nhà thơ rất chú trọng loại thơ phối hợp xen kẽ giữa có vần
và không vần trong một bài thơ (có thể gọi đó là thể thơ phối xen)
Có thể nói, sự phối xen giữa vần với không vần (cùng với việc sử dụng các thể hỗn hợp (thể lục bát xen kẽ với thơ tự do hoặc thể thơ tự do xen kẽ với thơ
Đ-ờng luật) đã tạo cho thơ Nguyễn Đình Thi một hình thức mới, tự do, phóng khoáng
Xin nêu một số dẫn chứng về các loại trên :
Về thể thơ tự do có vần :
Đêm nay trong v-ờn hoa ngổn ngang ụ súng / Bên ven hồ lốm đốm trăng
xanh / Nghe quanh ta đêm hè nóng bỏng / Mắt bồi hồi em đi bên anh (Chia tay trong đêm Hà Nội )
Về thể thơ tự do không vần:
Đêm nhạt nắng / M-a thầm lòng phố cũ / Ngã t- đèn đảo gió / ánh mắt kia
nh- thanh g-ơm (Hà Nội đêm nay)
Thể thơ xen kẻ có vần – không vần:
Ôi những vạt ruộng vàng / Chiều rung rinh lúa ngả / Bờ tre đang reo ánh lửa/ Mái nhà sàn toả khói xanh / H-ơng gào xa văng vẳng / Một mảnh trăng dốc ngả
chập chùng / B-ớc chân bóng động nghiêng bờ núi (Đ-ờng núi)
Bên cạnh những câu thơ, bài thơ có vần, không vần và xen kẽ nh- vậy, ta còn gặp trong thơ Nguyễn Đình Thi có sự phối hợp câu thơ dài, ngắn khác nhau:
Đất n-ớc muôn nơi / Nghèo xơ xác hôm nay chói lọi / Gió thổi đ-ờng xa t-ơi
đỏ / Dạt dào lúa ngã thân yêu ( Lúa )
Qua tháng năm / Tôi đã đi / Gập ghềnh nhiều đoạn đ-ờng / S-ơng mù gió lửa
/ Trải buồn vui ngọt đắng ( Dòng sông trong xanh )
Hoặc phối hợp các thể thơ tự do – lục bát :
Tôi ngắt những hoa rừng tím đỏ / Ngắt nhiều hoa nữa nhiều trên tay / Chị áo choàng khiêng súng mê say / Nhìn anh bộ đội má hây hây hồng / Mấy năm hoang
Trang 26vắng đồi n-ơng / Hôm nay n-ớc suối quê h-ơng lại c-ời / Anh không nằm d-ới cỏ /
Tiếng hát hôm nay anh vẫn hát trên đồi ( Hoa rừng )
Đoạn thơ dẫn trên vừa có vần lại vừa có những câu không gieo vần với nhau, vừa có dạng thơ 7 chữ , xen lẫn lục bát biến thể với câu thơ tự do
Nhiều bài thơ Nguyễn Đình Thi có hình thức ở dạng hợp thể hay phối xen nh- vậy Thơ ông chạy tung các ngã, rất khó quy về một dạng cố định
2.5- Thơ văn xuôi
2.5.1- Đặc điểm:
Trong thơ có những câu dài (từ 11, 12 tiếng trở lên) Khi gặp những bài thơ như thế “ Nhịp điệu câu thơ lại bị dãn ra, tiết tấu không rõ rệt, nhạc điệu thơ bị hoà tan trong nhịp điệu bình th-ờng của văn xuôi Những câu thơ dài từ 11, 12 tiếng trở lên sẽ dần biến thành câu thơ văn xuôi và bài thơ gồm những câu thơ đó có xu hướng trở thành bài thơ văn xuôi” ( 27; tr 188 )
Có thể vận dụng ý kiến trên đây để xếp một loại thơ, tuy có dạng tự do, nh-ng câu thơ tràn ra, không tuân theo một quy tắc nhất dịnh nào là thơ - văn xuôi R.Tagore cũng đã từng làm những bài thơ nh- vậy:
- Con ng-ời vạch những đ-ờng cày trên ruộng, để viết nên no ấm, mùa màng
- Cũng con ng-ời nắn nót trên trên trang sách nhỏ, vun xới cho tâm hồn, điều thiện niềm vui
- Tình yêu vẫn nguyên vẹn là điều bí mật, ngay cả khi đã đ-ợc thổ lộ
Vì chỉ ai yêu thực sự mới biết mình đ-ợc yêu
(Dẫn theo Tài hoa trẻ, số 227, ngày 4/ 9 /2002, tr.58)
Những câu thơ trên có dạng thơ -văn xuôi, mỗi bài thơ chỉ có 2 câu nh-ng
có nội dung rất hàm súc như “núi non trong một hạt cát và biển sông trong một giọt nước long lanh”
ở Việt Nam, thơ Huy Cận cũng có bài ở dạng thơ - văn xuôi:
Lúa mới đã gặt rồi đang phơi dàn trên sân rộng
Những hạt lúa nhám và thơm nh- má hồng tơ của chàng trai m-ời tám Những hạt lúa căng tròn nh- ngực mới, nở căng, ôm sự sống bồi hồi
Những hạt lúa đúc nắng sữa mùa thu, những hạt lúa tháng m-ời
( Bài thơ cuộc đời )
Trang 27Những câu thơ trên dài nh- câu nói th-ờng, nh-ng lại giàu tính nhạc, từ ngữ
và hình ảnh đ-ợc chọn lọc Các câu thơ có tính nhạc bên trong
Nh- vậy, có thể hiểu: Thơ văn xuôi là những câu dài nh- câu văn xuôi bình th-ờng nh-ng vẫn có tiết tấu, nhịp điệu (tức là vẫn có chất thơ) trong câu và giữa các câu với nhau; ý thơ th-ờng súc tích, giàu hình ảnh Đó là những điểm làm cho thơ - văn xuôi vẫn nằm trong địa hạt thơ
2 5.2 Thơ -văn xuôi của Nguyễn Đình Thi
Thơ -văn xuôi của Nguyễn Đình Thi gồm có 11 bài trên tổng số 107 bài
(chiếm tỉ lệ 10%) Đó là các bài: Vì sao , Với Lý Bạch đêm nay, Buổi chiều cuối năm, Chi một chút, Nơi dựa, Có lẽ ,Truyền thuyết về chim ph-ợng, Hoa chua
me đất, V-ợt biển, Những chiếc lá, Tia nắng Trong đó có những bài rất ngắn: Chỉ một chút, Niềm nhỏ, Tia nắng
Ví dụ : Em đấy -, em tia nắng đến khẽ trong căn nhà nghèo nàn của anh
Anh nhìn Mỗi hạt bụi bay thành hạt vàng (Tia nắng ) Có bài bao gồm có một
số câu đối thoại (Hoa chua me đất, Vì sao)
Chẳng hạn : - Vì sao ng-ời Việt Nam đánh Mỹ đ-ợc lâu thế ?
- Th-a chị vì chúng tôi yêu đất n-ớc chúng tôi cũng nh- chị yêu con chị
- Đế quốc Mỹ mạnh lắm các bạn đánh thế nào
- Cọp dữ nanh dài vuốt nhọn
Vẫn có thể bị đàn ong quật ngã ( Vì sao )
Và có nhiều bài dài (Với Lý Bạch đêm nay, Buổi chiều cuối năm, Truyền thuyết về chim ph-ợng , V-ợt biển )
Ví dụ : Đến l-ợt tôi hôm nay v-ợt biển / Thuyền nhỏ tôi đã sữa soạn nhiều buồm / Buổi sáng nắng hồng tôi kéo nắng lên lá buồm màu biếc, hăng hái ra khơi / Thuyền đi thuận gió Nh-ng lòng ch-a thoả Tôi kéo lên lá buồm thứ hai / Rồi một lá buồm lớn nữa, một lá nữa, tôi kéo hết lên bao nhiêu lá buồm nhiều màu sắc / Rực rỡ những cánh buồm phồng gió, con thuyền tôi rẽ sóng chồm bay / Tôi đứng mắt ngời sáng nh- một vị ng-ời trời / Bỗng,một cơn gió lốc, con thuyền cồng kềnh những cánh buồm lật chao đi, chìm nghỉm / May ch-a đến nỗi xa bờ
( V-ợt biển )
Trang 28Đặc điểm chung của các bài thơ - văn xuôi ở đây là các câu th-ờng dài (ít nhất có 8 tiếng , nhiều nhất có 35 tiếng ,độ dài trung bình 15-16 tiếng) Câu thơ
đ-ợc vắt ra nhiều dòng trên trang in, cuối mỗi câu có dấu câu kết thúc.Vần có thể
có, có thể không, nhịp điệu không rõ ràng cố định mà nó th-ờng lan toả hoạc tiềm
ẩn giữa các câu
Nội dung các câu th-ờng là kể hoặc tả nhiều hình nhiều cảnh nhằm bộc lộ
những chủ đề nào đó, hoạc rõ ràng (ví dụ : Nơi dựa, Truyền thuyết về chim ph-ợng ) hoặc ngầm ẩn (ví dụ : V-ợt biển, Hoa chua me đất ) nh- các thể thơ
khác
Tóm lại,Thơ Nguyễn Đình Thi có nhiều loại khác nhau: lục bát, Đ-ờng luật, thơ tự do, thơ văn xuôi Thể thơ lục bát, Đ-ờng luật tuy có số l-ợng ít nh-ng rất nhuần nhị, tinh tế Phổ biến nhất trong thơ Nguyễn Đình Thi vẫn là thơ tự do Thơ
tự do (dù là có vần hay không vần) làm nên giọng điệu, diện mạo của thơ ông Vì vậy, khi tìm hiểu các đặc điểm về thơ Nguyễn Đình Thi, ở phần sau, chúng tôi chủ yếu dựa vào loại thơ này
3 Một số đặc điểm trong tổ chức câu thơ Nguyễn Đình Thi
3.1 Vần trong thơ Nguyễn Đình Thi
Vần là gì ? Đó là “sự hoà âm, sự cộng hưởng âm thanh giữa các đơn vị ngôn ngữ trên những vị trí nhất định nhằm liên kết các vế t-ơng đ-ơng: b-ớc thơ, dòng thơ, khổ thơ
Vần có tác dung liên kết và tạo nên hiện tượng hoà âm” ( 27; tr 177 )
Khảo sát vần trong thơ Nguyễn Đình Thi có thể nêu ra một số điểm nổi bật sau đây :
3.1.1 Thơ có vần kết hợp với thơ không vần
Có nhiều bài thơ ông gieo vần rất chuẩn, đều đặn từ đầu đến cuối ( nh- : Quê h-ơng Việt Bắc, Về nhà, Buổi chiều ấy, Mùa thu vàng, Gió bay ) Nh-ng cũng
có nhiều bài thơ, vần chỉ là điểm tựa ban đầu Nhiều khi ng-ời viết bỏ vần lấy ý
Do đó, nh- đã nói ở phần thể thơ tự do trên đây, vần trong thơ Nguyễn Đình Thi rất linh hoạt Các câu thơ, các bài thơ không gò bó vào một số vần cứng nhắc
( Ng-ời tử sĩ, Bài thơ viết cạnh đồn Tây, Hoa rừng )
Trang 29Kiểu gieo vần th-ờng gặp trong thơ Nguyễn Đình Thi là các câu thơ đ-ợc gieo vần với nhau chủ yếu là vần chân (thơ tự do, thơ tứ tuyệt )
Buổi chiều ấy nh- hai đứa trẻ Anh dắt tay em chạy giữa m-a Cùng vui quá và cùng run quá
Đến nơi ch-a từng biết bao giờ
( Buổi chiều ấy )
Em b-ớc nhanh dáng xiêu xiêu
D-ới trời chim én dập dìu
Trăm ngàn -ớc mơ đập cánh
Bay quanh em giữa buổi chiều
( Chim én )
Sự trùng hợp giữa các yếu tố trong khuôn vần cũng đ-ợc sử dụng rất linh hoạt
Có khi là vần chính (trùng nhau hoàn toàn phần vần )
Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói c-ời thiết tha
( Đất n-ớc )
Có khi là vần thông (không trùng hợp hoàn toàn âm chính và âm cuối )
Khói nhà máy cuộn trong s-ơng núi Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng
Ôm đất n-ớc những ng-ời áo vải Đã đứng lên thành những anh hùng
( Đất n-ớc )
Nh- hai con chim trên mặt biển Bay giữa mênh mông sóng n-ớc mờ Chỉ có mây trời và gió lớn
Làm bạn cho ta bay mãi xa
( Buổi chiều ấy )
Trang 30Thống kê một số bài thơ có vần, ta thấy tỷ lệ vần thông vần chính trong các dòng thơ nh- sau :
Chẳng hạn , trong bài thơ Đất n-ớc, số cặp gieo vần chính là : 8, số cặp gieo vần thông là: 15, hoặc vần thông vần chính bằng nhau (nh- Chia tay trong đêm
Hà Nội, tỉ lệ: 10/10) Nh-ng điều quan trọng là nhà thơ không hoàn toàn phụ
thuộc vào vần Vần thông chính là điều kiện để cho nhà thơ vừa tạo mặt liên kết hình thức, vừa thể hiện đ-ợc ý một cách thoải mái hơn
Do đó, nhà thơ thơ th-ờng phối hợp sử dụng linh hoạt :
Ngày nắng đốt theo đêm m-a giội / Mỗi b-ớc đ-ờng mỗi b-ớc hi sinh / Trán
cháy rực nghĩ trời đất mới / Lòng ta bát ngát bình minh
(Đất n-ớc )
Tìm thấy nhau rồi không lạc nữa / Anh dắt tay em chạy giữa m-a / Quên những chông gai quên tất cả / Bỏ lại sau l-ng mọi bến bờ
(Buổi chiều ấy )
Hiện t-ợng câu thơ có vần xen kẽ không vần đã nêu ở phần tr-ớc rất phổ biến trong các baì thơ tự do của Nguyễn Đình Thi (chiếm gần 30 %) Xu h-ớng này đã tạo ra một loại thơ “tràn câu”, ít chú trọng, câu nệ vào luật lệ, đó là loại thơ không vần, thơ văn xuôi Nh- chúng ta đã biết, loại thơ này làm nên một bảng màu đậm nét, in dấu rõ sự tìm tòi, mạnh dạn đổi mới hình thức trong thơ của ông
3.2 Một số đặc điểm tiết tấu trong thơ Nguyễn Đình Thi
Trong thơ nói chung, thơ tự do nói riêng, tiết tấu ( hay còn gọi là nhịp điệu)
có vai trò đặc biệt quan trọng Nhà thơ Sóng Hồng viết :
Vần hay không tôi vẫn cho là thứ yếu Nh-ng vắng âm thanh réo rắt đố thành thơ
Không long lanh hình t-ợng, chắp cánh -ớc mơ
Thì thơ đó còn thua vè một chút
( Gửi nhà thơ trẻ )
Nguyễn Đình Thi cũng đã từng nhấn mạnh, khi thơ không vần thì phải có
“luật bên trong rất mạnh” Những cụm từ “âm thanh réo rắt” “luật bên trong” chính là cách các nhà thơ nhắc đến vai trò của tính nhạc, tiết tấu trong thơ
Trang 31Vậy tiết tấu là gì ? “Tiết tấu là sự lặp lại liên tục, đều đặn các hiện tượng tương tự trên các dòng thơ theo như quy luật phối thanh nhất định” (27; tr.173) Tiết tấu thể hiện rõ ở số tiếng trong câu thơ, và nhất là sự ngắt nhịp và phối thanh trong câu thơ
3.1.2.1 Số tiếng trong câu thơ :
Căn cứ vào số tiếng trong câu thơ, ta có thể chia làm hai loại :
Điểm chung của các bài thơ có số tiếng cố định, đều đặn nh- trên là: chúng
đều thuộc những bài thơ có vần Và nói chung, chúng không khác về hình thức thể hiện so với thơ của các nhà thơ khác
Trong văn học dân gian, mỗi thể thơ đều có một cách thức biểu hiện đặc tr-ng : câu thơ 2-3 tiếng : thuộc thể đồng dao; câu thơ 4-5 tiếng: thuộc thể vè hoặc
kể chuyện, hay nói lối; thơ 7, 8 tiếng : thuộc thể thơ Đ-ờng luật; còn lục bát, song thất lục bát : là thể thơ truyền thống, nội dung trữ tình Dĩ nhiên, vai trò của các thể thơ ấy không đ-ợc chuyển dịch theo kiểu cơ giới vào thơ ca hiện đại
Điều đáng l-u ý là trong thơ của mình, Nguyễn Đình Thi không sáng tác bài nào theo thể 2, 3 và 4 tiếng
Thơ Nguyễn Đình Thi chủ yếu là từ 5 tiếng trở lên Có những đoạn thơ , bài thơ trở nên quen thuộc với bao thế hệ độc giả :
Một nhà sàn đơn sơ vách nứa / Bốn bên suối chảy cá bơi vui / Đêm đêm cháy bùng bên bếp lửa / ánh đèn khuya còn sáng trên đồi / Nơi đây sống một ng-ời tóc bạc / Ng-ời không con mà có triệu con / Nhân dân ta gọi ng-ời là Bác / Cả đời
ng-ời là của n-ớc non ( Quê h-ơng Việt Bắc )
Trang 32Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh / Soi sáng đ-ờng chiến sĩ giữa đèo mây / Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh / S-ởi ấm lòng chiến sĩ d-ới ngàn cây / Anh yêu em nh- anh yêu đất n-ớc / Vất vả đau th-ơng t-ơi thắm vô ngần / Anh nhớ em
mỗi b-ớc đ-ờng anh b-ớc / Mõi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn ( Nhớ )
b Bài thơ có số tiếng không cố định:
Phổ biến trong thơ Nguyễn Đình Thi là các câu thơ có số tiếng không đều nhau Có những dòng thơ chỉ có một hoặc hai tiếng :
Ngoài phố lại ầm ầm lũ c-ớp Bắt
Khám Chăng dây
( Đêm sao )
Chiều mờ gió hút
Em Bóng nhỏ
Đ-ờng lầy
( Không nói )
Nhiều hơn cả vẫn là những câu thơ dài ngắn xen kẽ : 70 bài / 107 bài ( tỷ lệ
60,52% ) : Đêm sao, Đ-ờng núi, Không nói, Sáng mát trong, Đôi mắ , Em bé gái, Hà nội đêm nay, Lá cờ, Mùa xuân, Đất n-ớc, Chia tay trong đêm Hà Nội, Gió bay, Hoa không tên
Chẳng hạn : Dừng chân trong m-a bay :5 tiếng
Ướt đầm mái tóc :4 tiếng
Em , em nhìn đi đâu :5 tiếng
Môi em đôi mắt :4 tiếng
Trang 33Đ-ờng lầy :2 tiếng
Đất trào mối lửa :4 tiếng
Ôi nơi em :3 tiếng (Nơi em)
Trong sáng tác của mình, có vẻ nh- Nguyễn Đình Thi rất -a lối thơ có câu chữ dài ngắn tự do này Và thực sự nó giúp cho thi sĩ có thể diễn tả mọi suy nghĩ, cảm xúc một cách tự nhiên, thoải mái
Tự do nh-ng không tuỳ tiện Bởi vì yếu tố nhịp điệu (tiết tấu), đặc tr-ng của thơ, vẫn đ-ợc dảm bảo, nó giữ cho thơ không rơi vào lối diễn đạt của văn xuôi
Và chính loại câu thơ dài ngắn không đều trong một bài thơ đã tạo ra những bài thơ không vần , một trong điểm nổi bật trong thơ Nguyễn Đình Thi
3.1.2.2 Ngắt nhịp và phối thanh trong thơ Nguyễn Đình Thi
Sự ngắt nhịp (phân nhịp) các tiếng trên một dòng thơ tạo nên b-ớc thơ B -ớc thơ thể hiện tiết tấu (nhịp điệu) Nói cách khác: b-ớc thơ là một biện pháp của tiết tấu do sự ngắt nhịp tạo thành, nó bao gồm một nhóm vài ba tiếng làm thành, giữa các b-ớc thơ có những chỗ ngắt
Nhịp thơ, b-ớc thơ làm thành những nét đặc tr-ng của các thể thơ Chẳng hạn, thơ lục bát th-ờng có nhịp chẵn : 2/2/2
Nắng chiều / trên lúa / xôn xao
Mây chiều / l-ng núi / cao cao / rạng ngời
(Nguyễn Đình Thi)
Trong thơ Đ-ờng luật th-ờng là nhịp phối hợp chẵn lẽ : 4/3
Ao sâu n-ớc cả / khôn chài cá
Trang 34V-ờn rộng rào th-a / khó đuổi gà
Khảo sát ngắt nhịp trong thơ Nguyễn Đình Thi tr-ớc hết xét ở dòng thơ, chúng
ta thấy nổi lên mấy điểm sau đây :
- ở những bài thơ số tiếng đều đặn (6 tiếng ) nhịp thơ phân bố : 2/2/2 :
Sơn La / những lũng / đầy s-ơng
Những đồi / vàng hoe / lúa chín
Những buổi / rời tay / bịn rịn Chân đi / quấn quít / bờ m-ơng
( Quê h-ơng Việt Bắc )
Gặp em / trên cao / lộng gió Rừng lạ / ào ào / lá đỏ
( Lá đỏ )
- ở bài thơ 7 tiếng : Nhịp th-ờng là :3/ 4
Gió lạnh lẽo / thổi trên hè vắng Tuyết vẫn bay / tơi tả đầy trời Sống hay chết / đây mầm cách mạng
Mất hay còn / ôi đất tháng M-ời
( Bài thơ Hắc Hải )
Nh-ng nói chung nhịp trong thơ Nguyễn Đình Thi không phân bố đều đặn,
có nhịp chẵn, nhịp lẻ ; trong một bài số tiếng đều nhau nh-ng ngắt nhịp cũng có thể khác nhau, chẳng hạn :
Ngôi sao nhớ ai / mà sao lấp lánh 4/4 Soi sáng đ-ờng / chiến sĩ / giữa đèo mây 3/2/3
Ngọn lửa nhớ ai / mà hồng đêm lạnh 4/4 S-ởi ấm lòng / chiến sĩ d-ới ngàn cây 3/2/3
Anh yêu em / nh- anh yêu đất n-ớc 3/5
Trang 35Vất vã / đau th-ơng / t-ơi thắm vô ngần 2/2/4 Anh nhớ em / mỗi b-ớc đ-ờng / anh b-ớc 3/3/2 Mỗi tối anh nằm / mỗi miếng anh ăn 4/4
(Nhớ)
Buổi chiều ấy nh- / nh- hai đứa trẻ 3/4 Anh dắt tay em / chạy giữa m-a 4/3 Cùng vui quá / và cùng run quá 3/4 Đến nơi / ch-a từng biết / bao giờ 2/3/2 Nh- hai con chim / trên mặt biển 4/3 Bay giữa mênh mông / sóng n-ớc mờ 4/3 Chỉ có mây trời / và gió lớn 4/3 Làm bạn cho ta / bay mãi xa 4/3
(Buổi chiều ấy)
Việc ngắt nhịp thơ với số tiếng không đều đặn nh- vậy, ta cũng bắt gặp trong thơ
tự do của các nhà thơ khác
Con mang tấm lòng / th-ơng mẹ 4/2
Đi qua / nghìn dặm quê h-ơng 2/4 Này đây núi / này đây sông 3/3 Này đây buổi chiều / khói thổi cơm lặng lẽ 4/5 Nơi nào cũng hiền / nh- đời của mẹ 4/4 (Chính Hữu )
Em ơi / buồn làm chi 2/3 Anh đ-a em về / Sông Đuống 4/2 Ngày x-a / cát trắng phẳng lì 2/4
Trang 36Bến Phan L-ơng / nép bên rừng / im lặng 3/3/2
Ngang đồi / một tia vàng / bay vút 2/3/2
Một vầng sao / ngời muôn vầng sao 3/4
Ngoảnh trông lại / đã bạc đầu 3/3
Thoáng đời ng-ời / tiếng c-ời khóc 3/3
Bay vào vô tận / sóng reo 4/2
ý của mình
Với những bài thơ có vần, nhịp thơ đã làm cho câu thơ, bài thơ Nguyễn Đình Thi hài hoà, uyển chuyển Nh-ng nhà thơ có thể không hoàn toàn chú trọng đến vần tạo ra những bài thơ không vần Lúc này nhịp điệu trong đó có nhịp thơ, b-ớc thơ) lại làm cho bài thơ mang một âm h-ởng khác lạ Nó vừa là tiếng nói thơ , lại vừa nh- tiếng nói bình th-ờng, tự nhiên, phóng khoáng, bắt nguồn từ cảm xúc về cuộc sống
Khi nói về quá trình sáng tác bài thơ Đất n-ớc, nói về ngắt nhịp, ông giải
thích rõ điều này : “ Câu thơ
Ng-ời ra đi đầu không ngoảnh lại Sau l-ng thềm nắng lá rơi đầy
Trang 37Rất gần với tâm trạng của tôi Câu thơ nói lên một thiên nhiên đẹp , rất tự nhiên và tôi cũng không có ý định tô điểm hoặc tạo nên cái đẹp một cách cầu kỳ nh- có ng-ời nhận xét về cách ngắt nhịp của câu thơ này Họ cho rằng nắng và lá
cùng rơi đầy trên thềm nhà vắng lặng và câu thơ phải ngắt nhịp sau chữ “thềm”
Sau l-ng thềm / nắng lá rơi đầy
Tôi nghĩ nh- thế cầu kỳ quá Bản thân cái đẹp vốn giản dị, tự nhiên Viết về
Hà Nội phải làm sao tạo đươc không khí Hà Nội, con người cũng như cảnh vật ” ( 34; tr.157 )
ở cuối bài thơ Đất n-ớc, các câu thơ diễn tả nhịp điệu gấp gáp, mạnh mẽ:
Súng nổ rung trời giận dữ
Đã tiếp nhận đ-ợc những âm vang mạnh mẽ của chiến tr-ờng khi hàng dàn
đại bác cùng thi nhau bắn vào đầu giặc ở những chiến dịch tr-ớc ch-a có đ-ợc những không khí và những âm vang mạnh mẽ đó Hình ảnh những đoàn dân công tới tấp đến chiến tr-ờng , bộ đội ào ào di vào những chiến dịch gợi lên một cái gì rất mạnh mẽ của không khí tức n-ớc tràn bờ Tôi viết:
Trang 38nh-ng cũng có những câu thơ ngắn vắt dòng Ông không coi trọng vần, không phối thanh bằng trắc theo cái luật bên ngoài mà coi trọng nhịp điệu bên trong Vì vậy, ta gặp trong thơ Nguyễn Đình Thi có những bài, những câu thơ m-ợt
mà, giàu chất nhạc :
Sáng mát trong nh- sáng năm x-a
Gió thổi mùa thu h-ơng cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
( Đất n-ớc )
Hoặc :
Chiều nay rung rinh lúa ngả
Dải áo chàm bay múa
Vai áo bạc quàng súng tr-ờng
Đoàn quân vẫn đi vội vã
Bụi Tr-ờng Sơn nhoà trời lửa
Lại có những bài mà mỗi câu nh- tách rời , ng-ời ta chỉ cảm nhận đ-ợc tiết tấu của nó bằng sự đồng điệu :
Trang 39Anh mang nỗi nhớ của em
Đi qua cuộc đời nh- con thú bị săn đuổi Tháng ngày các vết th-ơng
Nh- những giọt im lặng trên đ-ờng Hôm nay lại mồ hôi đầm đìa nhoà mắt Tim anh đập nh- con ngựa nào phi suốt đêm Mang tin gì về đâu
Phối hợp nhiều thanh bằng kết hợp với thanh trắc trong một dòng thơ :
Ví dụ :
Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm
Ngây ngất s-ơng mây
Lối mòn không dấu chân
Gió nổi
Đâu đây tiếng suối rì rào ( Đ-ờng núi )
- Phối hợp thanh cao ( bổng ) với thanh thấp ( trầm ) và bằng – trắc , giữa các tiếng trong câu và nhất là giữa các câu với nhau :
Ôi những vạt ruộng vàng (Bằng- thấp ) Chiều nay rung rinh lúa ngả (Trắc –thấp ) Dải áo chàm bay múa ( Trắc –cao )
Trang 40Tiếng hát ai trên n-ơng (Bằng – cao )
Bờ tre đang reo ánh lửa (Trắc – thấp ) Mái nhà sàn toả khói xanh (Bằng –cao) H-ơng gào xa văng vẳng (Trắc – thấp)
(Đ-ờng núi)
Gặp em trên cao lộng gió (Trắc –cao) Rừng lạ ào ào lá đỏ (Trắc –thấp)
Em đứng bên đ-ờng (Bằng –thấp) Nh- quê h-ơng ( Bằng –cao ) Vai áo bạc quàng súng tr-ờng ( Bằng –thấp Đoàn quân vẫn đi vội vã ( Trắc – cao )
Bụi Tr-ờng Sơn nhoà trời lửa ( Trắc – thấp )
(Lá đỏ)
Qua đó ta thấy thơ ông th-ờng kết hợp nhiều yếu tố tự nhiên của âm thanh giữa bằng – trắc , cao – thấp , tạo nên tính nhạc Trên cái nền ngữ âm đó , kết hợp với “ nhịp điệu bên trong”nhiều bài thơ Nguyễn Đình Thi có một đặc tr-ng về nhịp
điệu vừa lan toả , vừa sâu lắng Bên cạnh đó , nhiều bài lại có những câu xen vào nh- lời nói th-ờng , xù xì , gân guốc :
Rừng núi / Đêm này / Em c-ời / Sao anh gục buồn thế
( Đôi mắt )
Tội nghiệp con bé cùng hai thằng nhỏ / chắc đói mềm rồi / Tôi phải về chúng
nó đợi
( Ng-ời mẹ)
ở đây ông rời bỏ hẳn nhạc điệu để lấy ý Số câu nh- vậy khá nhiều Cho nên
có người gọi thơ Nguyễn Đình Thi là thơ “trữ tình điệu nói” ( 9)
Với h-ớng nh- vậy , nhiều bài trong tuyển tập thơ này có dạng thơ - văn xuôi