Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hầu hết tập trung ở thể lục bát dài hơi mà vô hình trung chưa chú ý đến một số lượng khá lớn những bài lục bát ngắn đó là lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
H Thu Kễn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Tiến sĩ Hồ Văn Hải, người đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu, cũng như động viên, tạo điều kiện cho tôi tự lực nghiên cứu
Tôi xin gửi lời tri ân chân thành đến quý thầy cô đã truyền đạt cho chúng tôi nhiều kiến thức quý báu trong quá trình học Cao học tại trường
Xin gửi đến khoa Văn học và Ngôn ngữ, Phòng Sau đại học, Thư viện Trường Khoa học xã hội và Nhân văn, TP HCM lời biết ơn chân thành nhất vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành luận văn
Sau cùng xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi nhiều mặt trong thời gian qua
TP Hồ Chí Minh, ngày 17, tháng 03, năm 2017
Tác giả
H Thu Kễn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4.1 Mục đích 7
4.2 Nhiệm vụ 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Cấu trúc luận văn 8
Chương 1 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ THƠ LỤC BÁT 10
VÀ LỤC BÁT 2 DÒNG, LỤC BÁT 4 DÒNG HIỆN ĐẠI 10
1.1 Thơ và những xu hướng tiếp cận phổ biến 10
1.1.1 Thơ trong cuộc sống con người 10
1.1.2 Những xu hướng tiếp cận phổ biến 12
1.2 Lục bát trong nền thơ dân tộc 14
1.2.1 Lược sử về thơ lục bát 14
1.1.2 Những đỉnh cao của thơ lục bát 15
1.3 Lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng 20
1.3.1 Những hình thức lục bát phổ biến 20
1.3.2 Lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng 21
1.4 Tiểu kết 23
Chương 2 25
ĐẶC TRƯNG NGỮ ÂM TRONG THƠ LỤC BÁT 2 DÒNG 25
Trang 6VÀ LỤC BÁT 4 DÒNG HIỆN ĐẠI 25
2.1 Mặt ngữ âm 25
2.1.1 Ngữ âm trong thơ 25
2.1.2 Ngữ âm trong thơ lục bát 30
2.2 Âm điệu, vần điệu và nhịp điệu trong thơ lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng hiện đại 36
2.2.1 Âm điệu trong thơ lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng hiện đại 37
2.2.2 Vần điệu trong thơ lục bát hiện đại 2 dòng và lục bát 4 dòng 52
2.2.3 Nhịp điệu trong thơ lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng hiện đại 61
2.3 Tiểu kết 71
Chương 3 74
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG THỨC TẠO NGHĨA 74
TRONG THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI 2 DÒNG VÀ 4 DÒNG 74
3.1 Cấu trúc ngữ nghĩa của bài lục bát hiện đại 2 dòng và 4 dòng 78
3.1.1 Các kiểu mô thức ngữ nghĩa của lục bát hiện đại 2 dòng 79
3.1.2 Các kiểu mô thức ngữ nghĩa của lục bát hiện đại 4 dòng 87
3.2 Các phương tiện tu từ ngữ nghĩa trong lục bát hiện đại 2 dòng và 4 dòng 101 3.2.1 So sánh tu từ trong lục bát hiện đại 2 dòng và 4 dòng 102
3.2.2 Ẩn dụ tu từ trong lục bát hiện đại 2 dòng và 4 dòng 117
3.2.3 Hoán dụ tu từ trong lục bát hiện đại 2 dòng và 4 dòng 127
3.3 Tiểu kết 130
KẾT LUẬN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thơ lục bát là thể thơ mang đậm bản sắc dân tộc hơn bất kỳ thể thơ nào khác Thể thơ này mang nhạc điệu đặc trưng của tiếng Việt: sự hài thanh trên nền tảng của sự hài hòa âm điệu, vần điệu và nhịp điệu Hình thành và phát triển cùng lịch sử dân tộc, lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều của Nguyễn
Du rồi đến các tác giả hiện đại (như: Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Trương Nam Hương…), ở mỗi thời kỳ lục bát đều mang vẻ đẹp riêng và để lại nhiều tác phẩm hay Rõ ràng lục bát là thể thơ luôn mang trong mình năng lực và sức sống đặc biệt
Hiện nay, nhiều thể thơ của các dân tộc khác nhau trên thế giới đã du nhập vào Việt Nam, được ưa chuộng nhất phải kể đến Tứ Tuyệt (Trung Quốc), HaiKư (Nhật Bản) Đây là hai thể thơ cực ngắn nhưng lại rất hàm súc,
có khả năng chuyển tải một lượng lớn thông tin và tạo ra cảm xúc mãnh liệt Nhiều người đã tiếp nhận và sáng tác theo các thể thơ này Bên cạnh đó, một
số lại lựa chọn con đường cách tân thể thơ truyền thống của dân tộc với mong muốn thử nghiệm và tìm kiếm một hướng biểu đạt mới cho lục bát Do vậy, nhiều hình thức lục bát mới xuất hiện như: lục bát 3 dòng, lục bát trắc (…) Một số khác tìm đến con đường trở về với hình thức ban đầu của thể loại với hình thức tối thiểu 2 dòng và 4 dòng từng rất được ưa chuộng trong ca dao Điều được ghi nhận là lục bát hiện đại 2 dòng và 4 dòng đã có những biến đổi đáng kể so với lục bát ca dao mà vẫn giữ được bản sắc vốn có của thể loại Lục bát hiện đại 2 dòng và 4 dòng, với thế mạnh ngắn gọn, súc tích phù hợp với nhịp sống hối hả hiện đại đã có đủ khả năng cạnh tranh với các thể thơ khác trên thi đàn dân tộc
Đã từ lâu, lục bát được coi là Quốc thơ và mặc nhiên trở thành trung
tâm của nhiều phân ngành nghiên cứu Người ta tập trung khai thác nó trên
Trang 8nhiều phương diện nhằm tôn vinh vẻ đẹp của lục bát cũng như sự giàu đẹp của ngôn ngữ dân tộc Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hầu hết tập trung ở thể lục bát dài hơi mà vô hình trung chưa chú ý đến một số lượng khá lớn những bài lục bát ngắn đó là lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng hiện đại trong dòng chảy chung của thể thơ này Vì vậy, nghiên cứu lục bát 2 dòng và 4 dòng cũng là cách lấp đầy khoảng trống còn lại
Việc nghiên cứu thơ lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng hiện đại dưới góc
độ ngôn ngữ là rất cần thiết Đây là công việc thú vị, mới mẻ Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn đưa ra một hướng tiếp cận, đồng thời mong muốn một cái nhìn toàn diện, sâu và công bằng hơn cho một bộ phận lục bát mà từ trước đến nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề ngôn ngữ thơ nói chung và ngôn ngữ thơ lục bát nói riêng đã được các nhà nghiên cứu chú trọng khai thác từ lâu Cho đến nay đã có nhiều công trình lý thuyết mang giá trị làm cơ sở tiếp cận thơ Ở Việt Nam, có thể
kể đến các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Bùi Công Hùng, Hữu Đạt… Rồi các công
trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại lục bát như chuyên luận Lục bát và song thất lục bát của Phan Diễm Phương, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều của Phan Ngọc, các bài viết Tiếng Việt và thể lục bát của Nguyễn Thái Hòa, Nhịp chẵn, nhịp lẻ trong thơ lục bát của Lý Toàn
Thắng,…
Chuyên luận Ngôn ngữ thơ (1987) của Nguyễn Phan Cảnh được coi là
công trình khá quan trọng góp phần đặt nền móng cho lí thuyết nghiên cứu ngôn ngữ một thể loại văn học đặc thù (trong cái nhìn phân biệt giữa ngôn
ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi) Ở chương Lục bát, tác giả đã có những nhận
định quan trọng: ngoài việc đề cập đến cách thức phát sinh thể loại lục bát,
Trang 9Nguyễn Phan Cảnh cũng đã có được những lập luận khá thuyết phục cho vấn
đề về khả năng tồn tại của thể thơ truyền thống cách luật này Tác giả đã chú trọng đi vào một số bình diện của ngôn ngữ thơ: tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ, nhạc thơ, mức độ và cách thức hoạt động của trường nét dư trong vận động tạo thể
Trong chuyên luận Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ (1983), Bùi Công
Hùng đã đưa ra tập hợp những nguyên tắc chung về thi ca dưới ánh sáng của những luận điểm đã được tổng kết trước đó về kết cấu hình thức và lí thuyết
hệ thống Ông đã chỉ ra các bình diện, cấp độ, các cấu trúc trong thơ, tuyệt đối hóa mặt hình thức, tạm thời không quan tâm đến cơ chế sản sinh và cơ chế vận động để lí giải các biểu hiện của ngôn ngữ thơ
Trong chuyên luận Ngôn ngữ thơ Việt Nam (1998), Hữu Đạt đã sử dụng
các lí thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn để chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ tiếng Việt Trong đó tác giả đã đưa ra được những luận điểm quan trọng như kết cấu mảng miếng, nhạc thơ, một số đặc trưng của thơ lục bát
Trong chuyên luận Lục bát và song thất lục bát (1998), Phan Diễm
Phương đã tập trung giải quyết tương đối triệt để những vấn đề chung về thể loại thơ như quá trình ra đời và phát triển của hai thể thơ lục bát và song thất lục bát từ điểm nhìn cấu trúc âm luật thể loại Đây là một bước tiến đáng ghi nhận trong việc phân định hình thức chính thống của thể thơ truyền thống
cách luật Công trình này cũng cùng xu hướng với chuyên luận Thơ và các vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức (1974) Tuy nhiên, tác
giả Phan Diễm Phương đã đưa ra và giải quyết vấn đề này một cách tập trung
và toàn diện hơn
Chuyên luận Giọng điệu trong thơ trữ tình (2002) của Nguyễn Đăng
Điệp là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu tập trung về một trong những vấn đề
Trang 10phức tạp nhất của thi pháp học hiện đại - vấn đề giọng điệu nghệ thuật Trong
phần nói về các cấp độ giọng điệu trong thơ tác giả có bàn về vấn đề dung lượng của một bài thơ Tác giả khẳng định: Thơ là một thể loại ý tại ngôn ngoại Việc kiệm lời, kiệm chữ là một yêu cầu tối quan trọng đối với nhà thơ
Có khi bài thơ chỉ một hoặc hai câu Chúng dù ngắn, vẫn là một sinh thể hoàn chỉnh, và giá trị của chúng, nếu đích thực, cũng không hề thua kém bất
kỳ giá trị của một tác phẩm dài hơi nào
Trong bài viết Thơ Tuyệt Cú, Haikư và Lục Bát, Nguyễn Thị Bích Hải
đã có những nhận xét xác đáng về hình thức cũng như tính hàm súc của ba thể thơ này Tác giả đã đề cập đến con đường phát triển của lục bát từ lục bát hai dòng trong ca dao đến lục bát dài hơi rồi lại quay về dạng nguyên thủy của nó trong sáng tác của Bút Tre, Nguyễn Duy Tuy nhiên, bài viết này chỉ dừng lại
ở những luận điểm khái quát trên cơ sở so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của ba thể thơ cực ngắn của ba dân tộc
Trong chuyên luận Thi pháp ca dao (1992), Nguyễn Xuân kính đã sơ
lược về quá trình phát triển của lục bát, các đỉnh cao của lục bát, đưa ra những
số liệu cụ thể về tỉ lệ ưu thế của lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng trong ca dao, tác giả sơ bộ khẳng định: đây là một đặc điểm của thể loại chứ không phải một ưu điểm
Trong tác phẩm Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam (2000), Nguyễn Vũ
Tiềm đã trích dẫn một lượng lớn những bài lục bát 4 dòng và lục bát 2 dòng hoặc cắt ra từ những bài lục bát dài hơi đã chứng tỏ khả năng vận hành độc lập và tính hàm súc cao của lục bát ngắn hiện đại Những bài thơ (hay những đơn vị trích dẫn) này đã kết tinh thành những viên ngọc quý và ghim chặt vào
kí ức của độc giả yêu thơ hiện đại
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm 100 bài lục bát 2 dòng và 100 bài lục bát 4 dòng hiện đại được tác giả luận văn chọn từ các bài thơ đạt giải trong các cuộc thi thơ, được đăng báo, tạp chí và từ các tập thơ của các tác giả
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong các bài lục bát 2 dòng và
4 dòng hiện đại đăng trên báo, tạp chí, các tập thơ của các tác giả được xuất bản
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Trên nguyên lý chung là quy nạp, luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê, phân loại nhằm định lượng hóa một số đặc trưng ngôn ngữ cơ bản và khái quát của các tác phẩm lục bát hiện đại được lựa chọn khảo sát
Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm định tính hóa một số đặc trưng ngôn ngữ cụ thể của một số phương thức và phương tiện ngôn ngữ tiêu biểu trong thơ lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng
6 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng hiện đại trên cả hai bình diện cấu trúc âm luật và phương thức, phương tiện tạo nghĩa
Luận văn đặc biệt vận dụng các thao tác định lượng, định tính trong cái nhìn đồng đại và lịch đại để chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ của một bộ phận lục bát trong dòng chảy chung của một thể thơ truyền thống cách luật thông qua tâm điểm của hệ quy chiếu là ngôn ngữ thơ lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng hiện đại
Luận văn không dừng lại ở việc chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ mà còn chỉ ra cách thức tồn tại, khuynh hướng vận động của lục bát 2 dòng, lục bát 4 dòng hiện đại Đồng thời đưa ra những dự báo về bộ phận nhỏ này trong dòng chảy chung của lục bát: khả năng tồn tại và xu hướng phát triển
7 Cấu trúc luận văn
Tương ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở
đầu và phần Kết luận, nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về ngôn ngữ thơ lục bát và lục bát 2
dòng, lục bát 4 dòng hiện đại
Trang 13Chương 2: Đặc trưng ngữ âm trong thơ lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ THƠ LỤC BÁT
VÀ LỤC BÁT 2 DÒNG, LỤC BÁT 4 DÒNG HIỆN ĐẠI
1.1 Thơ và những xu hướng tiếp cận phổ biến
1.1.1 Thơ trong cuộc sống con người
Thơ là sản phẩm do con người sáng tạo nên, đồng thời cũng là đối tượng được trân trọng, tôn sùng như một tín ngưỡng Từ thời Arixtot, thơ đã được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, sau hơn hai mươi thế kỷ, các thành tựu nghiên cứu về loại hình nghệ thuật này vẫn chưa làm người ta thỏa mãn
Điều làm nên bề rộng, chiều sâu và vẻ đẹp lung linh đầy ma lực của thơ nằm ở chất liệu cấu tạo nên nó – đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên cấu tạo nên thơ đồng thời cũng là phương thức biểu đạt của thơ Ngôn ngữ thơ thống nhất nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ chung Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ đời sống đã được nâng cao, mài dũa Để chiếm lĩnh được ý nghĩa thẩm mỹ của một tác phẩm thơ, con người không chỉ đơn giản dựa vào những
gì tri giác trực tiếp (nghe thấy, nhìn thấy) mà phải qua thao tác tưởng tượng, liên tưởng Có thể nói ngôn ngữ thơ là nơi tập trung, bộc lộ, phát huy tối đa tinh hoa, những điểm ưu việt của một ngôn ngữ dân tộc Không ở đâu ngôn ngữ lại biến hóa bất ngờ, tạo ra những hào quang liên tưởng kì ảo tạo nên những rung động tinh tế, mãnh liệt như trên mảnh đất thi ca
Đã có nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau về thơ thông qua các thao tác phân tích và đơn vị - bình diện tiếp cận Những phát biểu đó phần nào cho thấy bản chất, đặc trưng quá trình sáng tạo thơ cũng như giá trị của nó trong đời sống tinh thần con người xưa nay
Bielinxki có lần nêu lên câu hỏi: Thơ là gì? và ông tự trả lời: Thơ là sự sống,
là cái mỉm cười của sự sống đang reo vui và thoăn thoắt biến hóa… thơ là ánh tươi hồng trên môi thiếu nữ, là tiếng cười hiền lành, trong trẻo của trẻ
Trang 15thơ Khi nói về thơ, Puskin thì ông lại nói: Thơ là nghệ thuật, là tài nghệ, là
sự sáng tạo có tính chất nghệ sĩ, nghĩa là rút cuộc thơ phải được sáng tạo trong ngôn từ Cuộc sống tự nó đẹp nhưng chưa phải là thơ Nhắc đến điều này tuy không mới, nhưng ngày nay vẫn có nhiều người hiểu chất thơ ở ngoài ngôn từ! [46, 125] Phan Ngọc đã đưa ra một định nghĩa về thơ: Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc do chính hình thức ngôn ngữ này (chữ quái đản trong trường hợp này được Phan Ngọc giải thích là khác lạ so với thông thường) Từ việc chỉ ra Quá trình sáng tạo thơ và hướng Tiếp cận nghệ thuật thơ, Bùi Công Hùng nhìn nhận thơ trong sự so sánh với văn xuôi Ông cho rằng: Ngôn ngữ thơ không dày đặc như trong văn xuôi, mà chia cắt ra các phần ngắn hay dài theo âm luật Các thành phần này được chia thành câu thơ và thường được chia ra thành các dòng thơ nhỏ hơn Thơ lấy chất liệu từ đời sống được lưu
lại qua cảm giác của nhà thơ tạo thành những biểu tượng, thông qua liên tưởng, tưởng tượng để hình thành tứ thơ Từ đó nhà thơ lựa chọn từ ngữ, nhạc điệu, hình tượng để tổ chức bài thơ Như vậy, ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ mang tính hàm súc và giàu hình tượng, là kết quả của quá trình dày công sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Mặt khác khi đề cập đến các thành phần cơ bản trong từng câu thơ, đoạn thơ trong một bài thơ, trong từng tập thơ cho thấy các đơn vị cấu thành nên nó vừa có tính độc lập cao lại vừa có tính hệ thống Nguyễn Phan Cảnh đã nhìn nhận thơ từ những đặc trưng ngôn ngữ của nó: thuyết hệ hình, kỹ thuật lắp ghép và trường nét dư Thuyết hệ hình mà tác giả đưa ra không mới song qua đó một lần nữa việc xem xét thơ từ phương thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất được khẳng định là đúng và có sức thuyết phục cao Ông đi vào lý giải nguồn gốc
và phương thức cấu tạo các tín hiệu đơn, cụ thể là các biện pháp tu từ trên cơ
sở cấu trúc phổ biến của ngôn ngữ thơ Từ đó chỉ ra cách tổ chức kép lượng
Trang 16ngữ nghĩa và phương thức lắp ghép tạo bất ngờ cú pháp là phương thức cơ
bản trong cấu tạo tác phẩm thơ Trong đó, vấn đề trường nét dư được đề cập
và lí giải khá triệt để Thơ là một ngôn ngữ đã được loại nét dư theo những cách thức khác nhau đến mức tối đa chỉ còn lại những nét khu biệt Hệ quả là, nếu bằng cách nào đấy khôi phục lại những nét dư cho văn bản thơ, bài thơ sẽ biến thành văn xuôi
Tóm lại, những lí giải nói trên thể hiện sự trăn trở về thơ như một hiện tượng đặc biệt không thể thiếu đồng hành cùng đời sống tinh thần của nhân loại Thơ là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ, thơ không xa lạ với mọi người nhưng không ai có thể đi đến tận cùng giá trị của nó Thơ hấp dẫn con người suốt bao nhiêu thế hệ có lẽ một phần lớn cũng vì điều này
1.1.2 Những xu hướng tiếp cận phổ biến
Một bài thơ, dù dài hay ngắn xét cho cùng đều là một chỉnh thể nghệ thuật được cấu thành bởi hai mặt hình thức và nội dung Khi tiếp xúc với thơ không thể bỏ qua mặt hình thức, nếu chỉ để ý đến ý thơ mà quên đi nhạc thơ thì đó là một cách tiếp cận thiên lệch Không có nghệ thuật nào không bắt đầu bằng hình thức, bằng sự sáng tạo về hình thức để thực hiện sự sáng tạo về nội dung Nội dung phải được hoàn tất trong một hình thức xác định Đối với
nghệ thuật ngôn từ, điều này lại càng được chú trọng hơn Để tiếp cận một bài
thơ, không chỉ dừng ở việc liệt kê tiểu sử tác giả, tóm tắt nội dung, nêu chủ đề
bài thơ, hay giải thích ý nghĩa chung chung mà còn phải lắng nghe cả những
giai điệu réo rắt của âm thanh trên từng con chữ
Xu hướng tiếp cận từ bình diện ngữ âm Ngữ âm hay còn gọi là nhạc
tính của thơ Những nhà thẩm âm của thơ vừa phải uyên thâm về tứ vừa phải hiểu biết về nhạc Hai phẩm chất này phải hòa quyện với nhau Từ góc nhìn
về âm điệu, mỗi dân tộc có thể có một thể thơ độc quyền Nó là cái gen trong
lời ăn tiếng nói của cả cộng đồng phát triển trong hàng ngàn năm lịch sử Mỗi
Trang 17thể thơ được hình thành xuất phát từ nhiều tác động khác nhau: tư tưởng, tình cảm, văn hóa và tư duy của dân tộc đó Đặc biệt là thể thơ này phải phôi thai
từ ngôn ngữ cộng đồng và cũng là phương tiện tôn vinh vẻ đẹp của ngôn ngữ cộng đồng sử dụng nó Ngữ âm trong thơ giúp phân biệt thơ với văn xuôi, giữa thể thơ này với thể thơ khác, giữa thời đại này với thời đại khác, thậm chí giữa bài thơ này với bài thơ khác và giữa các tác giả với nhau Mặt ngữ
âm tạo nên nhạc tính thơ Tính nhạc được xuất phát từ những rung cảm tinh tế
và sâu sắc nhất của hồn người lưu lại bằng âm thanh ngôn ngữ Do đó nhạc tính là phương tiện biểu hiện tình cảm Khi đọc một bài thơ, cái đầu tiên đến với người đọc là nhạc thơ Nhạc thơ gây ấn tượng từ sự khác biệt của các tiếng lòng khác nhau Đọc thơ cũng chính là đọc tiếng lòng nhà thơ đã được gửi gắm qua câu chữ, âm thanh của tiếng lòng vang vọng như những con sóng cảm xúc ám ảnh người đọc, làm người đọc xúc động khi tìm ra được sự đồng cảm Trong thơ, mỗi biến tấu về nhạc điệu: bằng – trắc, trầm bổng, lối vắt dòng, ngắt nhịp, điệp âm, điệp vần, điệp cấu trúc, những hình thức cố ý phân chia dòng thất thường nhằm tạo nên nhịp điệu lạ, cách bố trí câu thơ, bài thơ toàn vần bằng hay toàn vần trắc liên tiếp,… đều mang dụng ý nghệ thuật nhất định Khi phân tích thơ, nếu bỏ qua những điểm nhấn ngữ âm này coi như người đọc chưa thấy được vẻ đẹp thực sự của ngôn bản thơ
Xu hướng tiếp cận từ bình diện ngữ nghĩa Đây là xu hướng chủ đạo
Khác với cách tiếp cận từ bình diện ngữ âm, tiếp cận thi ca từ phương diện ý nghĩa có những thuận lợi riêng Nhạc thơ cần đến sự nhạy cảm của cảm nhận,
ý thơ chỉ cần năng lực trải nghiệm và liên tưởng Ngôn ngữ thơ mang tính đa trị Đó là ngôn ngữ giàu hình tượng, giàu sức gợi và hàm súc Sự chuyển nghĩa trong thơ được tạo nên từ việc sử dụng dày đặc các biện pháp tu từ và phương tiện tu từ ngữ nghĩa: ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, điệp từ, từ cổ, thành ngữ,… cách kết hợp bất thường các đơn vị ngôn ngữ trên trục ngữ đoạn,
Trang 18chuyển đổi trật tự thành phần câu, tạo nghĩa mới mang tính lâm thời và gây ấn tượng nơi người đọc Tiếp cận thơ từ góc độ ngữ nghĩa, cần những kiến thức nhất định về từ vựng, các phương thức chuyển đổi ý nghĩa của ngôn từ…
Việc tiếp cận văn bản thơ có thể đi theo nhiều hướng khác nhau, như: tiếp cận ở bình diện cấu trúc, tiếp cận trên bình diện cảm xúc, tiếp cận trên bình diện tín hiệu thẩm mỹ, tiếp cận liên văn bản… Tuy nhiên, văn bản thơ là một hệ thống mang giá trị tổng thể của 2 mặt căn bản Vì vậy, nhà nghệ sĩ ngôn từ phải xây dựng những mô hình cấu trúc ngữ nghĩa phù hợp nhất với tiết điệu để có thể phát huy tối đa năng lực biểu đạt Việc tiếp cận thơ từ phương diện ngữ âm - ngữ nghĩa chính là cách tiếp cận toàn diện và thuyết phục nhất Nó giúp cho quá trình tri giác thơ trở nên toàn diện, khoa học và có
vần lưng ở tiếng thứ tư của câu bát cổ hơn loại gieo vần lưng ở tiếng thứ sáu Tác giả Nguyễn Xuân Kính, người có công đầu trong sưu tầm và nghiên cứu
ca dao đã đưa ra một số liệu cụ thể để chứng minh đại đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát Nhắc đến ca dao là người ta nghĩ ngay đến thể thơ này
Theo thống kê, trong số 1015 lời của cuốn Ca dao Việt Nam có tới 973 lời
được sáng tác theo thể lục bát, chiếm 95%, các thể còn lại (song thất, song thất lục bát, hỗn hợp, bốn tiếng…) chiếm 5% [27, 219] Như vậy, hầu hết các
Trang 19nhà nghiên cứu đều trực tiếp hay gián tiếp khẳng định thể lục bát là thể thơ cổ điển thuần Việt, có nguồn gốc từ ca dao
1.1.2 Những đỉnh cao của thơ lục bát
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều có chung nhận định, từ lúc hình thành đến nay, lục bát đã phát triển qua 4 giai đoạn: 1 – Lục bát ca dao; 2 –
Lục bát Truyện Kiều; 3 – Lục bát Thơ Mới; 4 – Lục bát hậu hiện đại Có thể
nói, quá trình phát triển của tiến trình văn học Việt Nam, thể lục bát có vai trò đặc biệt và có sức sống mạnh mẽ Từ lúc ra đời đến nay lục bát đã luôn vận động, biến đổi và phát triển cùng với thời gian Vì lẽ đó, lục bát đã kết tinh những gì tinh túy nhất của tinh hoa văn hóa Việt Ở mỗi thời kỳ, lục bát đều mang vẻ đẹp riêng tạo thành những dấu ấn đậm nét
Thành tựu nổi bật nhất của lục bát dân gian là ca dao Đó là tiếng nói tâm tình cất lên từ đồng ruộng, nơi khởi thủy những tình cảm trong sáng nhất,
tự nhiên nhất của cha ông Từ lâu lục bát ca dao đã đi vào lời ca tiếng hát, những bài hát ru con của các bà, các mẹ một cách tự nhiên như chính sự ra đời của nó Mặt khác, những giá trị của lục bát ca dao còn được lưu giữ bằng
cách tiếp thu và sử dụng chất liệu dân gian để làm mới nó qua nhiều thế hệ trong tiến trình phát triển, mà tiêu biểu là tuyệt tác Truyện Kiều của đại thi
hào Nguyễn Du, và sau này là các sáng tác của lục bát hiện đại
Đến Nguyễn Du, lục bát đã thực hiện một bước nhảy đột biến, sự ra đời
của Truyện Kiều đã hoàn toàn thay đổi số phận của một thể loại văn học vốn trước đó chỉ được coi là bình dân lên ngang tầm thể thơ hàn lâm Tác phẩm
không chỉ mang giá trị nhân đạo sâu sắc mà còn là nơi khẳng định tài năng sử
dụng ngôn ngữ điêu luyện Ở Truyện Kiều, ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ
bình dân đã hòa quyện với nhau, bổ sung cho nhau và phát huy cao độ những
mặt tích cực của nó Ngôn ngữ Truyện Kiều đã đạt đến mức tinh hoa Từng câu, từng chữ trong Truyện Kiều đều là những viên ngọc quý mà cho đến nay
Trang 20vẫn còn làm cho bao thế hệ hậu thế phải nghiêng mình bái phục vì thực sự không thể tìm ra bất kỳ một lựa chọn tối ưu hơn khả dĩ thay thế trong số 3254
câu lục bát đồ sộ ấy Có thể nói từ khi ra đời đến nay, Truyện Kiều được coi là
tác phẩm kỳ lạ bậc nhất trong lịch sử văn học nước nhà Lật lại tiểu sử của kiệt tác này, nguồn gốc ra đời của tác phẩm cũng rất đặc biệt Từ việc mượn
cốt truyện và nhân vật của một tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc có tên Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (vốn là một loại tiểu thuyết diễm
tình), Nguyễn Du đã sử dụng cấu trúc lối diễn ca của truyện thơ Nôm và thể lục bát dân gian để tạo nên một kiệt tác văn chương được coi là hàn lâm bậc nhất trên thi đàn thơ Việt Tác phẩm đã được dịch ra hàng trăm thứ tiếng trên
thế giới Nhờ Truyện Kiều của thi sĩ làng Tiên Điền mà người ta mới biết đến Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Những cuộc bút chiến nảy
lửa đã diễn ra xung quanh hai tác phẩm này để rồi vinh quang thuộc về
Truyện Kiều, vì người đọc nhận ra sự khác biệt rất xa của hai tác phẩm: một
tiểu thuyết diễm tình ủy mị và một thiên tuyệt bút mang rất nhiều giá trị Nhà
nghiên cứu Đào Duy Anh đã từng nhận xét: Trong lịch sử ngôn ngữ và lịch sử văn học Việt Nam, nếu Nguyễn Trãi với Quốc Âm Thi tập là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du với Truyện Kiều lại là người đặt nền móng cho văn học hiện đại nước ta Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, có thể nói rằng ngôn ngữ Việt Nam đã trải qua một cuộc thay đổi
về chất và đã tỏ rõ khả năng biểu hiện đầy đủ và sâu sắc…[1] Ngòi bút tài
hoa và uyên bác ấy thể hiện rõ nét ở việc vận dụng từ ngữ với chiều sâu văn hóa và sự sáng tạo tuyệt vời Có thể tìm thấy hàng trăm nghìn điển cố, điển
tích, thành ngữ, tục ngữ, tiếng lóng… được làm mới đã tạo nên sức nặng cho
từng con chữ, dòng thơ, khổ thơ và toàn bộ tác phẩm Chính sự uyên thâm đó
mà cho đến nay, sau gần 300 năm ra đời Truyện Kiều vẫn còn là một miền đất
Trang 21vô cùng màu mỡ, huyền diệu và lạ kỳ thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu
Đầu thế kỷ XX, phong trào cách tân thơ nổ ra rầm rộ do ảnh hưởng từ làn gió lãng mạn phương Tây Bộ mặt của thơ thay đổi rõ nét, chuyển sang
giai đoạn mới: giai đoạn hiện đại hóa Người ta làm mới thơ bằng cách tìm ra
những hình thức biểu đạt mới, sáng tạo ra những thể thơ mới Trong bối cảnh
đó, một điều đáng ngạc nhiên là lục bát không bị loại khỏi cuộc chơi mà đóng
một vai trò quan trọng tạo nên diện mạo mới cho vườn hoa muôn sắc của Thơ Mới 1932 -1945 Lục bát trong Thơ Mới khai thác triệt để đa dạng các chức năng và nội dung thể loại nhằm thể hiện những cung bậc cảm xúc, những trạng huống tâm hồn phong phú tinh vi của con người hiện đại Trong đó nổi bật nhất là chức năng trữ tình với nội dung bày tỏ tư tưởng tình cảm của cái
tôi cá nhân cá thể Cấu trúc, nhịp điệu của lục bát rất phù hợp diễn tả tâm
trạng bâng khuâng, mơ hồ của các thi sĩ Thơ Mới Mặt khác, lục bát Thơ Mới
đã có những thay đổi, không chỉ có nhịp chẵn, khoan thai, đều đặn mà còn có
những cách ngắt nhịp đa dạng, biến hóa hơn: Có gì như thể nhớ mong? – Nhớ nàng/ Không/ Quyết là không/ nhớ nàng! (Người hàng xóm, Nguyễn Bính); Anh đi đấy/ anh về đâu? – Cánh buồm nâu/ cánh buồm nâu/ cánh buồm (Vô
đề, Nguyễn Bính) Thêm nữa, cấu trúc lục bát Thơ Mới đã mang dáng dấp hiện đại khác hẳn cấu trúc cũ: đơn vị cú pháp không trùng với đơn vị câu thơ, đơn vị ý nghĩa từ câu lục tràn sang câu bát mà các nhà nghiên cứu gọi là hiện tượng vắt dòng: Trời cao xanh ngắt Ô kìa – Hai con hạc trắng bay về bồng lai (Tiếng sáo thiên thai, Thế Lữ); Mùa thi sắp đến! Em thơ – Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau (Mùa thi, Xuân Diệu) Theo thống kê, trong tuyển tập Thơ Mới 1932 – 1945, tác giả và tác phẩm (2004) do Lại Nguyên Ân tập hợp,
trong tổng số 1089 tác phẩm và 89 nhà thơ được tuyển chọn, lục bát có 147 tác phẩm (chiếm 13,6%) Nếu so với hai thể loại mà Thơ Mới dùng nhiều nhất
Trang 22là 7 chữ và 8 chữ thì lục bát chiếm 1/3 Hai thể tứ tuyệt và bát cú đường luật chính thống của văn học trung đại đã bị lục bát vượt xa về số lượng Thực tế này cho thấy, lục bát, một thể thơ cổ truyền của dân tộc đến thời hiện đại, trong thế cạnh tranh với nhiều thể loại vẫn giữ được vị thế vững chắc trên thi đàn Có thể kể ra hàng loạt tên tuổi như: Thế Lữ, Huy Cận, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Trần Huyền Trân, Hồ Dzếnh… Trong các nhà Thơ Mới kể trên thì Nguyễn Bính là người sử dụng lục bát nhiều nhất và cũng thành công rực rỡ ở thể loại này với một lượng tác phẩm đồ sộ trong 7
tập thơ: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Mây tần (1942), Người con gái lầu hoa (1942), Bóng giai nhân (1942) Một điều đặc biệt có thể bắt gặp trong sáng tác Nguyễn Bính các hình
ảnh rất mực bình dị, mộc mạc, và chân quê Thơ lục bát Nguyễn Bính có khuynh hướng trở về với làn điệu ca dao về hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu cũng như lối diễn đạt Nguyễn Bính được Hoài Thanh, Hoài Chân – tác giả
Thi nhân Việt Nam dành cho những nhận xét ưu ái nhất: Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn hiên ngang sống như thường Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn giữ được chất nhà quê nhiều lắm, và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê ẩn náu trong lòng ta
Nếu như lục bát Nguyễn Bính trở về với chất nhà quê của những cảm xúc tinh tế, những nỗi buồn của cái tôi cá thể thì lục bát Tố Hữu có khuynh hướng trở về với cội nguồn nhưng là để cất lên tiếng ca chung cho cả cộng đồng trong cuộc kháng chiến vĩ đại Ở Tố Hữu có sự kết hợp hài hòa giữa lý tưởng cao đẹp, sáng tỏ nhất của thời đại với hình thức ngôn ngữ mới của thi
ca Thơ Tố Hữu được coi là đỉnh cao thơ trữ tình sử thi trong văn học Việt Nam hiện đại Ngôn ngữ thơ lục bát Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói (chữ dùng của Trần Đình Sử) Đây là một đặc điểm của quá trình cộng
sinh thể loại trong quá trình hiện đại hóa văn học, biến tấu câu thơ điệu ngâm
Trang 23thành câu thơ điệu nói Lục bát Tố Hữu vận dụng một cách thuần thục và rất mực tự nhiên lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân Thành ngữ, tục ngữ, tiếng địa phương được sử dụng như những phương tiện tu từ trong thơ Tố Hữu Chính những phương tiện ngôn ngữ này kết hợp với giọng tâm tình ngọt ngào, đằm thắm đã tạo nên cái duyên đặc biệt và sức hấp dẫn kỳ lạ cho lục bát
Tố Hữu Ông cũng là nhà thơ có sự nhạy cảm đặc biệt với nhạc tính của tiếng Việt Lục bát Tố Hữu phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt Đó
là sự hòa hợp của thứ nhạc bên trong của tâm hồn và thứ nhạc bên ngoài của bài thơ Đọc lục bát Tố Hữu, ta có cảm giác những câu thơ như những lớp
sóng cảm xúc tuôn trào và tạo ra những xung động lớn: Vui sao một sáng tháng năm – Đường về Việt Bắc, lên thăm cụ Hồ - Suối dài xanh mướt nương ngô – Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn (Sáng tháng năm); Nhớ gì như nhớ người yêu – Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương - Nhớ từng bản khói cùng sương – Sớm khuya bếp lửa người thương đi về (Việt Bắc) Lục bát
Tố Hữu vừa ru người bằng nhạc vừa thức người bằng ý
Khi thời đại hào hùng và cảm hứng lãng mạn đã qua đi, lục bát cũng hoàn thành một chặng đường phát triển của mình đồng thời thay đổi để thích nghi, hòa nhập với những yêu cầu vô cùng phức tạp trong tâm lý của con
người thời mở cửa Một loạt tác giả mới xuất hiện với phong cách sáng tạo
độc đáo góp phần làm nên diện mạo mới của lục bát: Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Trương Nam Hương, Lê Đình Cánh, Thu Nguyệt, Đoàn Thị Lam Luyến,
Đỗ Trọng Khơi, Nguyễn Ngọc Hưng, Văn Công Hùng, Bùi Giáng, Nguyễn Thị Khánh Minh, Nguyễn Vũ Tiềm, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Oánh, Triều Tâm Ảnh, Trần Đăng Khoa, Mai Văn Hai, Điền Ngọc Phách, Phạm Thiên Thư…
Trang 241.3 Lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng
1.3.1 Những hình thức lục bát phổ biến
Lục bát có hình thức tối thiểu gồm hai dòng thơ, dòng lục trên và dòng bát dưới tạo thành một câu thơ hoàn chỉnh diễn đạt trọn vẹn một ý được ví như nhịp thở đều đặn Mặt khác, giữa hai dòng thơ có mối quan hệ khá chặt chẽ về mặt âm luật Đó là việc gieo thanh bằng - trắc ở các vị trí đã định và yêu cầu hiệp vần (vần bằng) thường là thuần âm ở vần chân dòng lục với vị trí
thứ 6 trong dòng bát: Anh như táo rụng sân đình – Em như gái rỡ đi rình của chua; Ước gì sông rộng một gang – Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi; Đôi ta chẳng đặng sum vầy – Khác nào chiếc nhạn lạc bầy kêu sương… Về
sau, do nhu cầu biểu đạt ý nghĩa, cần một hình thức rộng rãi hơn, hiện tượng hiệp vần chân giữa dòng bát và dòng lục đã xuất hiện trong câu lục bát mới Đây là một nét sáng tạo có vai trò quyết định cho sự phát triển về dung lượng của thể thơ lục bát góp phần tạo nên sự linh động tuyệt vời về độ hài âm Nhờ tính chất bắc cầu này, sự hiệp vần không xảy ra sự đứt đoạn Tình trạng này
thể hiện rất rõ ở các hình thức lục bát có dung lượng từ 4 dòng trở lên: Bồng
em mà bỏ vô nôi – Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu - Mua vôi chợ quán chợ
cầu – Mua cau Bát Nhị, mua trầu Hội An; Rủ nhau xuống bể mò cua – Đem
về nấu quả mơ chua trên rừng - Em ơi chua ngọt đã từng – Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau… Sau mỗi cặp 6-8 lại diễn ra một lần nối vần, tính hài
hòa về nhạc điệu lục bát nhờ vậy được đảm bảo Có thể ví sự liên kết này như một vòng tròn mà mỗi câu lục bát như một cá nhân trong mối quan hệ với những người khác Đó cũng là cơ sở xuất hiện các hình thức lục bát có độ dài
số câu khác nhau tùy vào nhu cầu sáng tạo của tác giả Như vậy, hình thức của lục bát có thể là một đơn vị tối thiểu là 2 dòng, hoặc có thể kéo dài 4 dòng, 6 dòng, 8 dòng, 10 dòng hoặc lên đến vài ngàn dòng (truyện thơ Nôm) Thông thường, một bài thơ lục bát kết thúc ở câu bát nên các hình thức của
Trang 25thơ lục bát là chẵn (trừ một số trường hợp đặc biệt kết thúc ở dòng lục trong
ca dao, hay một số ít tác phẩm của các tác giả hiện đại nhằm tạo nên một độ hẫng về cảm xúc) Các hình thức lục bát dài hơi không xuất hiện trong ca dao,
do đặc điểm ứng đối tức thời và lưu giữ thông qua hình thức truyền miệng
dân gian Trong Tuyển tập thơ Mới 1932 – 1945, tác giả và tác phẩm, tác phẩm có dung lượng nhỏ nhất là Hoa cỏ may của Nguyễn Bính với 2 dòng lục
bát Chứa phần nhiều là những bài 4 dòng (15 bài), 8 dòng (14 bài), 10 dòng (10 bài), 12 dòng (17 bài), 14 dòng (11 bài) Những bài có dung lượng lớn
như Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính (110 dòng), Lòng son sắt của Phạm Huy Thông (98 dòng), Độc hành ca của Trần Huyền Trân (92 dòng), tác phẩm dài nhất là Bóng ai của Cẩm Lai (140 dòng) Như vậy, có thể thấy
hình thức lục bát được sử dụng phổ biến trong văn học hiện đại nhìn chung có dung lượng nhỏ
1.3.2 Lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng
Về mặt hình thức, có thể coi lục bát là thể thơ cách luật ngắn nhất trong lịch sử văn học nước nhà Một đơn vị tối thiểu gồm một cặp 6-8 với 14 âm tiết tương đương với một đơn vị phát ngôn Một câu hỏi được đặt ra: với một hình thức khiêm tốn như vậy làm sao lục bát lại có thể đứng vững trên văn đàn ở vị trí đại diện cho thơ Việt? Một bài thơ chỉ có 2 dòng thì sức nặng câu chữ đặt vào câu thơ ấy phải rất lớn, và tất nhiên nếu thành công nó vẫn có giá trị ngang hàng một tác phẩm dài hơi
Thực tế cho thấy, trong lịch sử hình thành và phát triển, nền văn học của nhiều nước trên thế giới có những thể thơ cực ngắn nhưng được coi là viên ngọc của cả một nền thi ca Thơ Tứ Tuyệt của Trung Quốc (gồm 28 âm tiết), hay thể Haikư của Nhật Bản (17 âm tiết) là những thể thơ như vậy Từ đây, có thể thấy một hình thức nhỏ không phải là trở ngại đối với thi ca mà
Trang 26điều quan trọng là hình thức đó có phù hợp với tâm thức cộng đồng và có khả năng chuyển tải những thông điệp mà nhà thơ muốn ký thác hay không
Theo thống kê của Nguyễn Xuân Kính, trong tổng số 973 lời được sáng
tác theo thể lục bát của Ca dao Việt Nam trước cách mạng, số bài hai dòng là
620 bài (chiếm 63%), số bài 4 dòng là 242 bài (chiếm 24%), số bài 6 dòng là
70 bài (khoảng 7%), số bài 8 dòng là 21 bài (khoảng 2%), số bài 10 dòng là
12 bài (hơn 1%), gộp các bài từ 12 dòng trở lên là 8 bài (gần 1%) Có thể thấy, số lời ca dao gồm 2 dòng và 4 dòng chiếm từ 70% trở lên, trong đó số lượng lục bát 2 dòng giữ vị trí áp đảo Cần thấy rằng tính chất ngắn gọn của thể lục bát ca dao là một đặc điểm chứ không phải là ưu điểm của thể loại Đặc điểm này xuất phát từ phương thức hình thành và tồn tại của lục bát ca dao Tuy nhiên, cho đến nay những bài lục bát 2 dòng của ca dao vẫn sống trong tâm thức cộng đồng và nền văn học nước nhà như một di sản quý báu của dân tộc Điều đó đã gián tiếp khẳng định khả năng chứa đựng và tiềm năng đặc biệt trong một hình thức thơ cực ngắn
Trong suốt chặng đường phát triển của dòng văn học viết Trung đại, Cận đại, không có sáng tác nào sử dụng hình thức lục bát 2 dòng mà chủ yếu
là lục bát trường thiên, vì đây là giai đoạn truyện thơ Nôm lên ngôi Chững lại một thời gian khá dài, đến những năm đầu thế kỷ XX, hình thức lục bát 2
dòng mới quay trở lại trong Hoa cỏ may nổi tiếng của Nguyễn Bính, rồi sự xuất hiện của Bút Tre với những bài lục bát 2 dòng được quần chúng nhiệt liệt tiếp nhận ngâm ngợi trên cửa miệng bởi sự ngộ nghĩnh của nó Sau Bút Tre
cũng có rất nhiều cây bút thử trải nghiệm với hình thức này như Nguyễn Duy, Thu Bồn, Lê Đạt, Bùi Giáng, Đỗ Trọng Khơi, Vũ Quần Phương, Nguyễn Thái Dương, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Vũ Tiềm, Phạm Thiên Thư Mặc dù so với các hình thức lục bát khác, lục bát 2 dòng vẫn chiếm một số lượng khiêm tốn trong sáng tác của các tác giả kể trên, nhưng nhìn xuyên suốt tiến trình phát
Trang 27triển của văn học hiện đại có thể thấy hình thức lục bát 2 dòng đang được chú
ý Nếu như lục bát 2 dòng vắng bóng ở giai đoạn Trung đại, Cận đại thì lục
bát 4 dòng vẫn được sử dụng và có tác phẩm hay như Sông lấp (Tú Xương)
Sang thời hiện đại, lục bát 4 dòng đã giữ một địa vị khá vững về số lượng và chất lượng trong thể lục bát nói riêng và thơ Việt nói chung Mặt khác, số lượng lục bát 2 dòng và lục bát 4 dòng tăng lên một phần do trong không khí
mở cửa, nhiều giá trị thơ nước ngoài đã hội nhập vào Việt Nam Trong đó có những thể thơ cực ngắn như Haikư, Tứ Tuyệt Đã có nhiều người tiếp nhận và sáng tác theo các thể loại này Một số khác lại tìm về với cội nguồn dân tộc ở hình thức lục bát hai dòng và lục bát 4 dòng nhằm khẳng định tính hàm súc và khả năng biểu đạt của thể thơ truyền thống dân tộc
1.4 Tiểu kết
Thơ ca là sản phẩm mang những giá trị đặc biệt và tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của con người Con người sáng tạo ra thơ đồng thời cũng là đối tượng thưởng thức với mong muốn khám phá tận cùng vẻ đẹp thơ
ca Giá trị của một văn bản thơ là tổng hòa các đơn vị ngôn ngữ nằm trong hệ thống với sự kết hợp nhuần nhuyễn của nhạc điệu và ý nghĩa Do đó việc tiếp cận thơ ca từ góc độ ngữ âm và ngữ nghĩa là hướng tiếp cận khoa học, toàn diện nhất
Khởi thủy từ dân gian, lục bát là sự kết duyên đặc biệt của ngôn ngữ và văn hóa dân tộc Trong thời gian dài tồn tại, vận động, phát triển lục bát đã chứng tỏ được vị thế của mình trên thi đàn Ở mỗi thời kỳ lục bát đều để lại những dấu ấn riêng gắn liền với những thành tựu cụ thể Lục bát ca dao là tiếng hát tâm tình ngọt ngào sâu lắng của ông cha cất lên từ đồng ruộng Lục
bát Truyện Kiều là sự thăng hoa của ngôn ngữ dân tộc lên một tầm cao mới:
trí tuệ và uyên bác Lục bát Thơ Mới là vườn hoa muôn sắc, là cây đàn muôn
điệu, trong đó, lục bát Nguyễn Bính vẫn giữ nét chân quê, và vẫn cứ là người
Trang 28nhà quê trước những luồn gió Âu hóa tác động mạnh mẽ đến nhận thức thi ca
Lục bát Tố Hữu là tiếng ca thúc giục, tranh đấu và là tiếng lòng tha thiết của người chiến sĩ cách mạng trong tiếng ca chung của cộng đồng kháng chiến vĩ đại Lục bát trở về với đời sống đa diện phức tạp với những nhu cầu thể hiện
đa dạng của hàng loạt các tác giả (Nguyễn Duy, Trương Nam Hương, Đồng Đức Bốn, Phạm Thị Ngọc Liên, Nguyễn Trọng Tạo…) làm nên diện mạo riêng cho lục bát hiện đại
Lục bát 2 dòng và 4 dòng hiện đại là một điểm nhấn ngày một được định hình rõ nét trong dòng chảy chung của lục bát Sự vận động này của thể loại thể hiện mong muốn tìm tòi một hình thức mới cho thể thơ đã quen tuôn theo cảm xúc một sự hạn định về hình thức và cô đọng về ý nghĩa Sự tồn tại của lục bát ca dao 2 dòng và 4 dòng cùng với sự tái sinh của hình thức này trong văn học hiện đại góp phần khẳng định sức mạnh tiềm tàng của lục bát
dù ở trong hình thức nào đi chăng nữa, đồng thời cho thấy tính hàm súc, khả năng biểu hiện của một hình thức thơ cực ngắn
Trang 29Chương 2 ĐẶC TRƯNG NGỮ ÂM TRONG THƠ LỤC BÁT 2 DÒNG
VÀ LỤC BÁT 4 DÒNG HIỆN ĐẠI 2.1 Mặt ngữ âm
2.1.1 Ngữ âm trong thơ
Ngữ âm thơ chính là nhạc điệu của thơ Theo Từ Điển thuật ngữ văn học: nhạc điệu thơ là cấu tạo ngữ âm của lời văn nghệ thuật hình thành bởi vật liệu âm thanh của ngôn từ thể hiện đặc sắc của văn học như một nghệ thuật của thời gian Yếu tố hình thái vật chất tạo nên nhạc điệu là điệp âm, điệp vận với các hình thức đa dạng của chúng: bằng, trắc, nhịp điệu, niêm, đối, vần, yếu tố tượng thanh, ngữ điệu Cái làm nên hồn của nhạc điệu là sự liên tưởng của tổ chức âm thanh với cảm giác âm nhạc (nhạc cảm) trong lòng người Sự liên tưởng này không phải bao giờ cũng cụ thể, trực tiếp, nhưng bao giờ cũng có một mối liên hệ giữa âm hưởng, nhịp điệu với điệu tâm hồn
Và chỉ khi nào nhận ra mối liên hệ ấy mới cảm được nhạc điệu [43, 192]
Theo định nghĩa này, nhạc thơ bao gồm hai thành phần: hình thức (cấu tạo ngữ âm) và nội dung (nhạc cảm)
Trong hệ thống ngôn ngữ, luôn chứa các đơn vị âm thanh và các thuộc tính âm thanh phân biệt hoặc đối lập nhau Trong khi tổ chức bài thơ và tổ chức các quá trình loại thể, các đơn vị này được sắp xếp trên trục ngữ đoạn và trục đối vị (theo nguyên tắc song song) cùng với cơ chế thanh học, nét dư bị loại bỏ, tiết tấu và vần được hình thành, đi vào thế bền vững nhờ sự xuất hiện luân phiên các đơn vị âm thanh trong không gian và thời gian Sự lặp lại các đơn vị âm thanh này theo chu kỳ sẽ tạo nên sự xúc cảm mỹ học, giúp chuỗi ngôn ngữ dễ dàng đi vào lòng người và thuận lợi cho lưu giữ cũng như truyền đạt
Trang 30Nói như vậy không có nghĩa mặt ngữ âm có trước rồi chi phối quá trình sáng tạo bài thơ Thực tế sáng tác cho thấy, khi cảm xúc bên trong thôi thúc, nhà thơ thai nghén tứ thơ trong một thời gian dài (tứ thơ được coi là trung tâm của quá trình sáng tạo nghệ thuật) từ đó nhà thơ lựa chọn hình thức ngữ âm phù hợp để thể hiện và bài thơ được sinh hạ Mỗi thi phẩm là một sự hôn phối giữa hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa Mặt nghĩa bước đầu quyết định lựa chọn hình thức ngữ âm Đến lượt mình, âm thanh ngôn ngữ tác động ngược lại làm nên cái hồn và tính đa dạng, đa chiều cho nội dung Từ đó, có những thi phẩm
đã thành công ngoài sức mong đợi vượt qua khỏi tầm kiểm soát của người mẹ
đã hạ sinh nó
Ngôn ngữ thơ là loại ngôn ngữ của sự hòa điệu Xét ở một góc độ nào
đó, nhạc thơ có quan hệ mật thiết với âm nhạc Chúng đều là nghệ thuật của giai điệu, tiết tấu Tuy nhiên, nhạc thơ mang tính khu biệt riêng Nếu âm nhạc chỉ là chất liệu âm thanh vật lý đơn thuần trong cấu trúc của nó thì nhạc thơ lại là một tổ chức phức hợp Một đơn vị âm thanh của âm nhạc không có nghĩa, nhưng một đơn vị âm thanh của thơ lại mang nghĩa Khi ta đọc thầm một bài thơ thì âm vang của sự hòa điệu vẫn hiển hiện trong tâm tưởng Đó là một cấu trúc âm thanh ẩn náu bên trong lớp vỏ ngôn từ Ju M Lotman gọi
đây là cấu trúc bề sâu, cấu trúc đích thực của văn bản thơ
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều đơn vị, nhiều cấp độ khác nhau Mỗi đơn vị ngôn ngữ luôn tồn tại các thuộc tính âm thanh như cao
độ, cường độ, trường độ, âm sắc Chính cấu tạo phức tạp này mà ngôn ngữ khi làm chất liệu của thơ đã trở thành một hình thức nghệ thuật đặc thù trong
sự phân biệt các loại hình nghệ thuật khác Nhìn từ phương diện ngữ âm, ba thành tố cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự hình thành nhạc tính của thơ là
âm điệu, vần điệu, nhịp điệu Khi tham gia vào bản hòa tấu của thơ, các thành
tố này có vai trò khác nhau Mức độ cũng như cách thức tác động của mỗi
Trang 31thành tố tùy thuộc vào cảm hứng và thể loại Vai trò của ba thành tố này càng lớn thì thi phẩm càng giàu nhạc điệu, và do vậy, khả năng biểu đạt thông qua các ấn tượng ngữ âm càng đậm nét
Về âm điệu Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ đơn lập Âm tiết tiếng Việt là
đơn vị phát âm nhỏ nhất và cũng là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa (đa số các âm tiết trùng với một hình vị, hay trùng với một từ đơn) Mỗi âm tiết được coi là một tiết đoạn với các quan hệ bên trong (âm đầu, vần, âm cuối, thanh điệu) và mối quan hệ bên ngoài về mặt ngữ pháp (ngữ đoạn, cú đoạn) Thanh điệu chính là thành phần quan trọng đầu tiên quyết định tính nhạc trong thơ Việt Đây là âm vị siêu đoạn tính trải dài trên toàn bộ âm tiết Lê
Anh Hiền cho rằng cái nền của vần thơ Việt Nam là sự phối trí hai nhóm thanh bằng trắc với nhau Tiếng Việt có sáu thanh chính (ngang, huyền, sắc,
hỏi, ngã, nặng) được phân loại dựa vào hai hệ đối lập: đối lập về âm vực có phù (ngang, ngã, sắc) – trầm (huyền, hỏi, nặng), đối lập về âm điệu có bằng (ngang, huyền) – trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng) Các âm trắc cao độ rất tương đối bởi độ gãy của sóng âm, do đó chúng mang động lực sóng âm mạnh nhưng mất độ vang, trong khi đó các âm bằng mang động lực sóng âm yếu nhưng độ vang xa Sự điều hòa có chu kỳ bằng trắc trầm bổng, dài ngắn trên dòng thơ
và giữa các dòng thơ tạo nên sự nhịp nhàng, hòa hợp của sóng âm Âm điệu trong thơ Việt được tạo nên nhờ sự sắp xếp hài hòa các thanh điệu theo quy tắc song song trên trục đối vị Khi sự luân phiên này đi vào thế ổn định sẽ tạo nên những điểm nhấn ngữ âm, thể thơ hình thành Theo Châu Minh Hùng,
trong tiếng Việt hệ thống thang bậc các thanh điệu đã tồn tại đủ tiềm năng của chủ âm, át âm, trung âm, âm chuyển tiếp như cấu trúc âm nhạc Âm trắc tiếng Việt đa dạng về sắc thái, chúng đóng vai trò như những âm át, âm trung hoặc âm chuyển tiếp để gây động lực cho cả chuỗi ngữ lưu, trong khi âm bằng chỉ có thanh ngang và huyền nhưng thường đóng vai trò chủ âm của
Trang 32chuỗi ngữ lưu [13, 36] Chính những điểm nhấn ngữ âm này góp phần tác
động đến nhịp điệu và vần điệu câu thơ tạo nên giai điệu đặc trưng cho thể loại Khi sự luân phiên bị phá vỡ, giai điệu chung sẽ thay đổi tạo nên những biến tấu Sự nối tiếp các tiếng có cùng thanh điệu liên tục trên một dòng thơ
cũng tạo nên âm hưởng đặc biệt dễ dàng tác động đến người tiếp nhận: Đưa người ta không đưa qua sông - Sao có tiếng sóng ở trong lòng - Bóng chiều không thắm không vàng vọt - Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong (Tống biệt hành, Thâm Tâm); Cuộc đưa tiễn với những đối lập giữa ngoại cảnh và lòng
người được thể hiện qua hình thức câu hỏi tu từ và cấu tạo của các dòng thơ
mang âm điệu đối lập bằng trắc: câu đầu toàn thanh bằng (Đưa người ta không đưa qua sông), câu tiếp theo nổi lên những âm tiết mang thanh trắc ở
giữa dòng thơ như lớp sóng đột ngột trào dâng (Sao có tiếng sóng ở trong lòng), sau đó là sự luân phiên đều đặn bằng – trắc ở dòng thứ ba (Bóng chiều không thắm không vàng vọt) để rồi kết thúc bằng dòng thơ gần như toàn
thanh bằng (Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong)
Về vần điệu Vần là bộ phận không thể thiếu trong cấu trúc âm tiết Hạt
nhân của vần là âm chính (các nguyên âm), phần kết thúc của vần có thể là các phụ âm không bật hơi, bao gồm các phụ âm zêro, hai bán nguyên âm –j và –w và 3 cặp tương liên mũi - miệng: m/p, n/t, ŋ/k Tiếng Việt gồm 154 vần chia thành 4 loại theo yếu tố kết thúc: vần mở (có âm cuối zero), vần nửa mở (có âm cuối bán nguyên âm), vần nửa khép (có âm cuối là âm mũi), và vần khép (có âm cuối là âm tắc miệng) Vần thơ là hiện tượng hòa âm ở cuối (hoặc giữa) các dòng thơ nhằm đánh dấu ranh giới giữa chúng và nối kết chúng lại với nhau Vần là nhân tố phát sinh trong quá trình điều chỉnh và chuẩn hóa giai điệu Theo Nguyễn Quang Hồng, nếu một từ được gieo vần đồng thời là từ then chốt trong câu thơ thì nhờ đó mà từ sẽ trở nên rất ấn tượng Cần thấy rằng, gieo vần là hiện tượng phổ quát trong các nền thi ca của
Trang 33các dân tộc Tuy nhiên, ở mỗi nền thi ca, trong mỗi thể loại, cách thức gieo vần có những đặc điểm riêng Xuất phát từ đặc trưng loại hình ngôn ngữ, người Việt có truyền thống nói năng suôn câu, thuận miệng (trong văn xuôi),
có vần và cân đối, hài hòa (trong thơ hay trong khẩu ngữ) Kết quả là truyền
thống hiệp vần trở thành phổ biến trong tất cả các thể thơ Về phạm vi và mức
độ hòa âm: Sự hòa âm của vần thơ bao giờ cũng diễn ra trong nội bộ một âm
tiết Do đó mức độ hòa âm do các thành tố trong các âm tiết gieo vần quyết
định Nhìn chung, âm đầu có xu hướng tăng cường sự khác biệt, thanh điệu
và âm đệm đóng vai trò nước đôi: hoặc tăng cường hoặc giảm bớt sự tương đồng giữa các âm tiết được gieo vần [25, 190-194] Nếu vần đồng nhất thì ta
có các vần chính, nếu vần cái có sự khác biệt ít nhiều ta có các vần thông Nếu các vần thông gieo khác thanh sẽ sinh ra các vần lỏng Về vị trí gieo vần:
Thông thường vần được gieo ở cuối mỗi dòng thơ Trong thơ Việt, vần còn được gieo ở giữa dòng (vần lưng), đặc điểm này làm cho thơ Việt (chủ yếu là
ở thể lục bát) có đặc trưng riêng biệt so với thi ca của các dân tộc khác Những vị trí gieo vần thường là điểm phân nhịp trong dòng thơ
Về nhịp điệu Nhịp là nhân tố quyết định nhạc tính thơ Thơ đi bằng nhịp điệu [63,20] Nhịp điệu là xương sống của thơ Thơ có thể bỏ vần, bỏ
quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ mọi quy luật bằng trắc nhưng không thể vứt bỏ nhịp điệu [38, 213-214] Nhịp sinh ra động lực và điều hòa vận động Nhịp điệu bị chi phối bởi loại thể và cảm xúc của chủ thể sáng tạo, như Hegel đã
nói: Cái tôi là cái bao giờ cũng nhận thấy một sự đồng nhất như bản thân mình và bắt nguồn từ mình và gặp lại mình nhờ nhịp [40, 409] Khi khoảng
cách giữa các âm tiết được sắp xếp đều đặn về thời gian sẽ hình thành nhịp chẵn, ngược lại là nhịp lẻ Tác dụng của nhịp chẵn là sự cộng hưởng liên tục giữa các bước sóng âm thanh, gây ấn tượng về sức lan tỏa; nhịp lẻ tạo nên sự sinh động trong dòng chảy âm thanh từ những xung đột sóng âm
Trang 342.1.2 Ngữ âm trong thơ lục bát
Lục bát là thể thơ cách luật cổ truyền của dân tộc Sản sinh từ lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động nên ngôn ngữ lục bát từ lâu đã trở thành một
thứ ngữ năng của cộng đồng người Việt Phạm Đình Toái đã nhận định: Tao nhân, hào khách mở miệng thành câu, khuê phụ, điền phu buông lời đúng điệu, cho đến ngạn ngữ ca dao các câu trẻ con đùa hát mà cũng đều tự nhiên đúng thể [49, 181] Thai nghén và hạ sinh trong môi trường đó, khi các giai
điệu, tiết tấu đã ăn vào tâm hồn con người, ngôn ngữ lục bát chính là sự kết tinh và chọn lọc những điểm ưu việt nhất của ngôn ngữ cộng đồng Âm điệu, nhịp điệu và cách gieo vần trong thơ lục bát đều thể hiện sự mềm dẻo, uyển
chuyển và sự tinh tế trong ngữ thi người Việt
Mặt ngữ âm đóng một vai trò quan trọng trong thơ lục bát Nhạc tính trong thơ được tạo ra từ việc kết hợp hài hòa âm điệu qua sự thống nhất các mặt đối lập: trầm – bổng, êm dịu – mạnh mẽ, bằng phẳng – trắc trở trong các bước nhảy của các đơn vị âm thanh Điều này không chỉ góp phần tạo ra sự
khác biệt giữa thơ với văn xuôi mà còn tạo cho lục bát một bản sắc nhạc điệu
rất ấn tượng Với lục bát - thể thơ cách luật cổ truyền của dân tộc thì yêu cầu
về mặt ngữ âm luôn được đặt lên hàng đầu Người sáng tác lục bát phải tuân
theo một khuôn khổ âm luật nhất định Mô hình chung của lục bát hướng tới
sự hài hòa, nhịp nhàng Sự hài hòa đó thể hiện ở cách ngắt nhịp chẵn, hoặc luôn kết thúc ở nhịp chẵn, ở số lượng âm tiết trong một dòng thơ, ở cấu trúc 6 – 8 và sự luân phiên đối lập bằng trắc tạo thành những nốt nhấn ngữ âm ổn định Lục bát chọn vần lưng làm chủ âm có chức năng điều chỉnh sóng âm, phát huy các cung bậc đa dạng của thanh điệu Việt Nhờ đó mà lục bát dễ
dàng cải biến thành những hình thái âm thanh khác nhau trên nền chung của
âm luật Mặt khác độ vang vọng của âm tiết vần lưng sẽ tạo nên sự tiếp nối chu kỳ âm thanh Một đặc điểm nữa của lục bát là luôn kết thúc dòng thơ ở
Trang 35âm tiết bằng tạo nên dư âm trong sự tĩnh tại, trầm lắng Chính những sáng tạo trong mô hình ngữ âm đã tạo nên nét độc đáo cho thể thơ này trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển Không một thể thơ Việt nào ngoài lục bát thể hiện một cách đầy đủ nhất sự uyển chuyển, mềm mại, phong phú của các thanh điệu, vần điệu và nhịp điệu tiếng Việt Tuy nhiên, cũng bởi những đặc điểm đó mà không phải ai cũng có thể lưu lại danh tính của mình trên thi đàn Mọi sự dễ dãi đều không có chỗ đứng trong thể thơ này
Âm điệu lục bát được thể hiện qua những yếu tố cơ bản của mô hình bố
trí thanh điệu phổ biến:
lục bát hiện đại có xu hướng trở về với ca dao Trong Truyện Kiều, số cặp lục
bát theo mô hình chuẩn mực như trên là 24 (đứng thứ 2 sau mô hình b b t t b b / t b b t t b t b với 25 lần xuất hiện) [50, 63] Tác giả Nguyễn Văn Tuấn (“Đọc
Truyện Kiều bằng thống kê học”, Tạp chí Văn học, số 1 2002) đã tách riêng
từng dòng lục hoặc bát để tính số lượng biến thể Tuy nhiên, đơn vị cú pháp tối thiểu của thể thơ này là 2 dòng Vì vậy, những số liệu mà ông đưa ra vẫn chưa hoàn toàn đảm bảo tính khoa học Do nhịp đôi là nhịp cơ bản của lục bát nên cuối mỗi nhịp (2 âm tiết) là một điểm nhấn ngữ âm Điểm nhấn đó là âm tiết mang những thuộc tính âm thanh nổi trội có khả năng tạo ra điệu tính cho
ngữ lưu Mô hình âm điệu có thể chỉ giữ lại tính cách luật ở những vị trí nhất
định Theo đó ta có mô hình sau:
Trang 36cố định, vần bằng chiếm ưu thế, thanh bằng được coi là vần chủ âm và cũng
là vần kết thúc mỗi dòng thơ Âm tiết t4 như một điểm nhấn nhằm tạo nên tính đa dạng trong dòng thơ Khi phát âm, người Việt có thói quen tạo nên điểm nhấn kết thúc một ngữ đoạn (2 âm tiết hoặc 4 âm tiết) vì là điểm nhấn nên ấn tượng ngữ âm của chúng rất rõ và khó thay đổi (Cao Xuân Hạo gọi là
âm tiết trọng âm) Dần dần các vị trí này đi vào ổn định, hình thành tính cách luật Vị trí nào ít biến đổi nhất thì vị trí đó là những trọng âm quan trọng trong dòng thơ Hai âm tiết b6 và b8 hầu như không biến đổi, b2 và t4 có biến đổi nhưng không đáng kể Còn ở vị trí bất luận rơi vào 2 trường hợp (bằng hoặc trắc), các âm tiết này đóng vai trò như khinh âm nên ấn tượng ngữ âm không
rõ ràng, dễ thay đổi Tuy nhiên, nếu biết cách phát huy hiệu quả cao độ ở
những vị trí này sẽ tạo nên sự cộng hưởng ngữ âm rất lớn Buồn đêm mưa của
Huy Cận là bài thơ rất thành công nhờ sự kết hợp thanh điệu (bằng cao – bằng
thấp) ở các vị trí trong việc xây dựng một không gian tâm tưởng: Đêm mưa
làm nhớ không gian - Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la - Tay nương nước giọt mái nhà - Nghe trời nặng nặng nghe ta buồn buồn… Mặt khác, các tiếng
chẵn (2), (4), (6) của dòng lục và dòng bát phải niêm kết dính với nhau theo từng cặp: tiếng thứ (2) đều bằng, tiếng thứ (4) đều trắc, tiếng thứ 6 đều bằng Tiếng thứ (6) và (8) của dòng bát đều gieo vần với thanh bằng Ở đây, phối
Trang 37điệu có sự đối lập bằng - trầm (huyền) và bằng – bổng (ngang) Vị trí của
trầm và bổng không cố định mà thường xuyên có sự chuyển đổi Đám mây
của Đặng Hồng Thiệp cũng có sự hòa phối âm điệu của các âm tiết hiệp vần
tương tự: Đám mây danh lợi bồng bềnh - Làn hương một nắm buồn tênh cõi
người - Kéo nhau lên đỉnh chơi vơi - Đám mây vần vũ luân hồi chợ tan
Phan Diễm Phương cho rằng: đối lập trầm – bổng là một nguyên tắc rất đặc trưng của thi luật dân tộc, thể hiện trước hết ở thể lục bát Như vậy, sự
đối lập các thanh bằng - trắc ở mức độ nào đó có thể vi phạm (bằng thành trắc
ở vị trí (2), trắc thành bằng ở vị trí (4); đối lập trầm - bổng là quy tắc phối điệu buộc phải tuân thủ Hồ Văn Hải đã thống kê số lượng mô hình câu lục bát (xét về mặt lí thuyết) là 128 dạng, chưa tính đến khả năng hoán đổi cho nhau giữa b6 và b8 [16, 63] Cũng theo Hồ Văn Hải, nếu có sự biến đổi của b2
và t4 thì mô hình âm điệu có tới 2048 dạng Qua đó có thể thấy khả năng biến đổi âm điệu của lục bát là rất lớn
Vần điệu lục bát được kiến tạo từ những điểm dừng nhất định trong
mỗi dòng thơ Vần điệu được tạo ra cơ bản từ âm tiết hiệp vần Vần có vai trò kết nối các dòng thơ tạo nên sự nhất quán và hòa hợp, là nút chứa đựng năng lượng của bài thơ Thi luật dân gian Việt thường lấy chủ âm vần lưng với động lực vừa vọng vừa vang, kết thúc mà vẫn tiếp nối chu kỳ âm thanh Thơ lục bát là một kết hợp giữa phát ngôn gồm 6 âm tiết mang vần chân - bằng với phát ngôn 8 âm tiết có âm tiết thứ 6 mang vần lưng – bằng Hai âm tiết đi sau
vần lưng vừa tạo ra ngữ đoạn đệm, vừa tạo nguồn cho vần mới để liên kết với
dòng thơ đi sau Bằng cách này, kết cấu 6-8 tối ưu hóa được sự phân bố về năng lượng của vần điệu
Vần điệu trong thơ lục bát khá ổn định Lúc đầu sự phối vần chỉ mang tính hình thức thuận miệng, dễ ngâm, dễ nhớ Càng về sau vần lục bát càng
Trang 38phát huy được thế mạnh của mình trong sự gắn kết chặt chẽ với ngữ nghĩa
Do đó, nghiên cứu lục bát, vần điệu là yếu tố quan trọng không thể bỏ qua
Gieo vần trong thơ lục bát mang những đặc trưng riêng Một cặp lục bát chỉ gieo vần chân và vần lưng Với hình thức từ 4 dòng trở lên, mối liên
hệ giữa vần ở các dòng thơ trở nên phong phú hơn như là liên kết chặt (xảy ra giữa 2 dòng lục – bát), liên kết lỏng (xảy ra giữa 2 dòng bát – lục) Về sau,
mỗi cặp lục bát lại có thể xuất hiện một bước nhảy về vần Ở các vị trí này, sự hiệp vần không quá khắt khe mà diễn ra linh hoạt hơn Tính chất bắc cầu của
vần lục bát khiến cho sự hiệp vần có thể kéo dài đến vô tận hoặc có thể thay thế các kiểu vần xét về độ hoà âm mà không xảy ra sự đứt đoạn Ví dụ, trong
Truyện Kiều: Trăm năm trong cõi người ta – Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét
nhau – Trải qua một cuộc bể dâu – Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
chứa đựng bước nhảy về vần (nhau – dâu) Nhưng trong bài thơ khá ngắn, Câu lục bát đánh rơi của Nguyễn Đình Vinh lại có cách xử lí vần điệu hoàn
toàn chặt chẽ: Tôi đi nhặt chút nắng tôi - Nhặt câu lục bát đánh rơi thuở nào - Câu lục rớt ở cầu ao - Để cho câu bát chìm vào ven sông - Nắng thơm rớt tận cánh đồng - Câu thơ ướt sũng mà không kịp về - Câu lục trôi dạt bên đê - Mẹ tôi vớt cả câu thề để hong…
Hình thức đầu tiên của lục bát là ca dao 2 dòng, sự liên kết các câu
thành bài cho phép người ta chắp nối các đơn vị ngữ âm và ngữ nghĩa lại với
nhau Mỗi một cặp lục bát như một đơn vị độc lập mà sự liên kết ngữ âm với các cặp dòng khác chỉ là một yếu tố bị kéo theo Vì vậy, bài thơ lục bát hiện đại có nhiều dòng có thể tách ra thành từng đoạn và tạo thành các khổ Giá trị biểu đạt và mức độ hòa âm của vần còn thể hiện ở việc hiệp vần cùng thanh hay khác thanh Hiệp vần của lục bát rất phong phú, linh hoạt (có thể hiệp vần chính, vần thông hay vần lỏng); Việc lưu giữ - truyền đạt các tham số của đơn
vị âm thanh là do nguyên âm và phụ âm thực hiện qua vần Do đó cần tính
Trang 39đến khả năng hoạt động các âm tiết hiệp vần (vần mở, vần nửa mở, vần nửa khép) mang những đặc trưng riêng nếu được vận dụng có chủ ý sẽ phát huy
hết nội lực của mình Trong bài thơ trên chỉ có cặp lục bát đầu hiệp vần cùng
thanh (bằng – trầm) còn các dòng thơ khác hiệp vần khác thanh, các thanh bằng (trầm – bổng) luân phiên nhau tạo nên âm điệu nhịp nhàng, uyển chuyển xuyên suốt bài thơ Ngoài hai dòng đầu hiệp vần thông (có sự khác biệt trong
âm tiết hiệp vần), các cặp câu còn lại hiệp vần chính Các cặp vần nửa mở, vần mở, vần nửa khép luân phiên khắp bài thơ… Tất cả những đặc điểm đó trong âm tiết hiệp vần đã góp phần tấu lên trọn vẹn khúc tâm tình những xúc động đang trào dâng trong tâm hồn tác giả với khao khát giữ vững giá trị chở
nặng vẻ đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộc đang dần bị bỏ quên
Nhịp điệu trong thơ mang tính đặc trưng của thể loại Nhịp một bài thơ
cũng giống như nhịp một bản nhạc Từ một nhịp cơ bản, rồi trên cái nhịp cơ bản ấy nhịp điệu sẽ cải biến để đem đến tính đa dạng Nếu chỉ chấp nhận đơn thuần cái nhịp cơ bản thì bài nhạc hay bài thơ sẽ nhạt Nhịp cơ bản của thơ lục bát là nhịp đôi, 2/2/2 trong dòng lục và 2/2/2/2 trong dòng bát Nhịp này được duy trì trong mọi dòng thơ để tạo cái nền chung của thể loại Trên cái nền ấy, tùy vào nội dung ngữ nghĩa, lại có những nhịp khác chồng lên để phá vỡ cái
vẻ đơn điệu của câu thơ Vấn đề nghiên cứu những nhịp đặc biệt của lục bát
chỉ được chú tâm đến sau chuyên luận Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc Trong chuyên luận này Phan Ngọc đã thống kê
tần suất xuất hiện của các loại nhịp: 3/3; 4/4; 1/5; 3/5; 3/3/2 và chỉ ra tác dụng
cụ thể của các loại nhịp này với vai trò là một hình thức nghệ thuật có tác dụng biểu đạt cao nhất nội dung ý nghĩa và tạo nên tính đa dạng về nhạc điệu cho cả thiên truyện dài 3254 dòng Từ những viên ngọc đầu tiên ấy, lục bát hiện đại đã tiến thêm một bước mới trong sự phát triển của mình Các tác giả lục bát hiện đại đã sử dụng nhiều cấu trúc nhịp điệu khác nhau trong sáng tạo
Trang 40nghệ thuật góp phần biểu hiện rõ hơi thở thời đại trong thi phẩm Những loại nhịp đặc biệt được sử dụng trong chuỗi ngữ lưu làm cho lục bát thoát khỏi giai điệu đều đều vốn có để hướng tới tính đa dạng và phong phú trong cách
thể hiện Chẳng hạn, lối ngắt nhịp trong bài Chia của Nguyễn Trọng Tạo: Chia cho em/ một đời tôi - Một cay đắng/ một niềm vui/ một buồn… - Chia cho em/ một đời say - Một cây si/ với/ một cây bồ đề … - Chia cho em/ một đời thơ – Một lênh đênh/ một dại khờ/ một tôi… có thể thấy cách ngắt nhịp
của bài thơ rất linh hoạt Bài thơ có 3 khổ, mỗi khổ 4 dòng đã có đến 3 nhịp lẻ
ở mỗi dòng bát trong cặp lục - bát đầu tiên mỗi khổ Hay cách ngắt nhịp rất
đặc biệt trong Lục bát ở đèo Ngang của Phạm Thị Ngọc Liên: …Tàu trôi/ ta cũng bồng bềnh/ trôi theo – Bướm non tơ/ khóc trong chiều – Vẫy tay/ gửi/ một lời yêu/ lỡ làng – Thôi thì thôi/ nỗi buồn vàng – Thả ta xuống/ đỉnh trời hoang/ một mình… Rõ ràng, với lục bát hiện đại, nhịp điệu đã thực sự trở
thành một hình thức ngữ âm có sự xuyên thấm và thống nhất cao độ với nội dung ý nghĩa và mang khả năng chuyển tải cao nhất những trạng thái cảm xúc
phức tạp, tinh tế, đầy khúc mắc và biến ảo của cái tôi cá nhân trong thời đại
mới Từ việc tạo nên những ấn tượng đặc biệt về ngữ âm, lục bát hiện đại dễ dàng neo đậu lại trong trí nhớ người đọc Rồi một lúc nào đó vô tình ngâm nga vài câu thơ ấy ta lại chợt thấy xúc động bởi vẻ đẹp của âm thanh đã thực
sự đi đến nơi sâu nhất của sự đồng cảm Nếu một bài thơ hay là nhờ vào tính
đa chiều của trực cảm, của liên tưởng, của tâm cảm, của tâm tình, của chiêm
nghiệm, của tiềm thức và tâm linh thì nhịp điệu là yếu tố chính hiện thực hóa