VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ Ở VIỆT NAMI MỞ ĐẦU Đổi mới quản lý nhà nước là hoạt động thường xuyên, lâu dài của mỗi quốc gia đểnâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kin
Trang 1VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ Ở VIỆT NAM
I MỞ ĐẦU
Đổi mới quản lý nhà nước là hoạt động thường xuyên, lâu dài của mỗi quốc gia đểnâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm thích ứng với bối cảnhtoàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng Là một nền kinh tếđang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam không chỉ cần tích cực, khẩn trươngtrong xây dựng, hoàn thiện pháp luật kinh tế, mà quan trọng hơn là phải đổi mớisâu sắc cả về tư duy lẫn phương pháp thực hiện Chính vì vậy, việc nâng cao vai trò
và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước là một trong những nội dung chủ yếu đểphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế
Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.
Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế dược thực hiện thông qua
cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.
Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)
Trang 21.2 Quản lý Nhà nước về kinh tế vừa là một khoa học vừa là nghệ thuật,nghề nghiệp
a) Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng Đó là các quy luật
và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giưã các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội.
Tính khoa học của quản lý Nhà nước về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan
và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển.
Để quản lý Nhà nước mang tính khoa học cần :
- Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để
đề ra nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động quản lý của Nhà nước về kinh tế.
- Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế giới.
- Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế.
- Nghiên cứu toàn diện đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt kinh tế - kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các
Trang 3mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý.
b) Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và là một nghề vì
nó lệ thuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quản lý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v của bộ máy quản lý kinh tế của Nhà nước.
Tính nghệ thuật của quản lý Nhà nước về kinh tế thể hiện ở việc xử
lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học Bản thân khoa học không thể đua ra câu trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế Kết quả của nghệ thuật quản lý là đưa ra quyết định quản lý hợp lý tối ưu nhất cho một tình huống quản lsy.
Quản lý Nhà nước về kinh tế là một nghề nghiệp với bộ máy là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan, nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản
lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước Những người làm việc trong các cơ quan đó đều phải được qua đào tạo như một nghề nghiệp để
Trang 4có đủ tri thức, kỹ năng năng lực làm công tác quản lý các lĩnh vực kinh
tế của Nhà nước.
2.từng bước được đổi mới Vai trò quản lý nhà nước về kinh tế
để tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của kinh tế thị trường (KTTT) vàđáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển đó, vai trò quản lý nhà nước(QLNN) về kinh tế cũng từng bước được đổi mới Nhà nước giảm bớt các chỉ tiêupháp lệnh, thu hẹp và từng bước xóa bỏ việc quản lý hoạt động sản xuất – kinhdoanh của các doanh nghiệp nhà nước bằng kế hoạch tập trung, quan liêu, baocấp.Thay vào đó là Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế thông qua pháp luật,chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, các công cụ kinh tế và lực lượng vậtchất cần thiết Nhà nước đóng vai trò là một chủ thể kinh tế trên thị trường, thôngqua việc đầu tư vốn và quản lý tài sản công; tách quyền sở hữu và quyền quản lý,
của địa phương và cơ sở; xóa bỏ các hình thức bao cấp; hạn chế, kiểm soát và xóa
bỏ độc quyền kinh doanh,…
Chính vì thế, “qua 30 năm đổi mới đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội
và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình,đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Kinh tế tăngtrưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước đượchình thành, phát triển”; đời sống nhân dân được cải thiện; nền độc lập, tự chủ củađất nước được giữ vững trong điều kiện hội nhập
đề, điều kiện cho nền kinh tế thị trường ra đời, phát triển, vừa quản lý, điều tiết,định hướng phát triển nền kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vừa giữ vững,tăng cường những yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị
Trang 5trường, như vậy đã góp phần quan trọng vào thành tựu đổi mới của đất nước nhữngnăm qua”
Tuy nhiên, khách quan đánh giá và thẳng thắn nhìn nhận, “hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước về kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, chưa phát huy đầy đủ những mặt tích cực và hạn chế tính
tự phát, tiêu cực, khuyết tật của kinh tế thị trường; chưa tách biệt rõ chức năng chủ
sở hữu với chức năng quản lý của Nhà nước, chức năng quản lý nhà nước với chứcnăng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước”
3 Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về kinh tế ở nước ta hiện nay là hếtsức cấp thiết
Có thể thấy rằng, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về kinh tế ở nước tahiện nay là hết sức cấp thiết, song đây cũng là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phứctạp, lâu dài và không thể chủ quan, nóng vội, hoàn thành “một sớm một chiều”.Thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ này đòi hỏi một sự tích cực, chủ động, nỗ lực vàsáng tạo cao của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị, với những lộ trình,bước đi, cách thức và giải pháp mang tính đồng bộ, khoa học và khả thi Trong đó,theo tinh thần Văn kiện Đại hội XII của Đảng, vấn đề này được thể hiện tập trung ởmột số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện nội dung, đổi mới phương thức lãnh đạo về kinh tếcủa Đảng đối với Nhà nước
Đây chính là tiền đề và điều kiện để Nhà nước giữ vững bản chất của nhân dân, donhân dân và vì nhân dân, thúc đẩy nền KTTT phát triển đúng định hướng XHCN
nghiên cứu và ban hành một hệ thống chính sách mới, cơ chế mới về kinh tế, sửađổi, bổ sung, phát triển pháp luật kinh tế, đổi mới tổ chức bộ máy quản lý kinh tế,
Trang 6đổi mới phương thức QLNN về kinh tế Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, vai trò quản
lý kinh tế – xã hội của Nhà nước đã ngày càng được đổi mới và mang lại hiệu quả
rõ rệt
Mặc dù vậy, đứng trước yêu cầu phát triển, hoàn thiện nền KTTT định hướngXHCN và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong giai đoạn mới, đòi hỏi Đảngphải tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo đối với Nhà nước về kinh tế, nhất là về nội dung
Về nội dung lãnh đạo, phải đổi mới cách ra nghị quyết, trước mắt cần rà soát lạicác nghị quyết của Đảng đã ban hành, xem những nghị quyết nào còn nguyên giá
Trang 7trị phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện, nhằm khắc phục hiện tượng nghị quyết nàychồng lên nghị quyết kia hoặc nhắc lại nội dung của các nghị quyết đã có trước.Đồng thời, “nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển kinh tế– xã hội của Đảng; tăng cường lãnh đạo việc thể chế hóa và việc tổ chức thực hiệnđường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về kinh tế”7,trong đó tập trung lãnh đạo việc hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN; lãnhđạo đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường thông thoáng, bình đẳng chocác thành phần kinh tế hoạt động theo luật pháp, cùng cạnh tranh bình đẳng và pháttriển lành mạnh; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, kết hợp hài hòa giữa tăngtrưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, chăm
lo xây dựng, phát triển con người Việt Nam
Mặt khác, tăng cường, sử dụng hợp lý các tổ chức, cán bộ nghiên cứu để tham mưucho Đảng trong việc xây dựng, lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện chủ trương,đường lối của Đảng về phát triển kinh tế – xã hội Tăng cường công tác kiểm tra,giám sát, sơ kết, tổng kết thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng;lãnh đạo việc bố trí cán bộ và lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện của đội ngũ cán bộhoạt động trong các lĩnh vực kinh tế
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương pháp quản lý kinh tế của Nhà nước.Xét về mặt lý luận, vai trò điều hành của Nhà nước là một bộ phận cấu thành củathể chế KTTT, được xác định như một “trọng tài” để điều khiển và giám sát sựphát triển của nền kinh tế Tuy vậy, thực tiễn ở nước ta thời gian qua vẫn còn hiệntượng Nhà nước vừa giữ vai trò là “trọng tài”, vừa tham gia vào nền kinh tế khithực hiện chức năng đầu tư vốn và thực hiện quyền chủ sở hữu đối với các chủ thểkinh tế nhà nước Nhà nước còn can thiệp trực tiếp, quá lớn trong nền kinh tế Vẫn
Trang 8sách Do đó, để quản lý kinh tế có hiệu quả, phát huy tối đa các nguồn lực trong xãhội, Nhà nước cần đổi mới theo hướng:
– Đổi mới tư duy quản lý kinh tế, chuyển dần chức năng “làm kinh tế” sang thựchiện tốt vai trò là “trọng tài” trong nền kinh tế; triệt để gạt bỏ cơ chế xin – cho;phân biệt rõ chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, trong đó “tách bạch nhiệm
vụ sản xuất – kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích Tách chức năng chủ sởhữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản lý nhà nước, chức năng quản trịkinh doanh của doanh nghiệp nhà nước”8, chức năng hành chính với chức năngdịch vụ công; xây dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động vàhiệu quả, lấy kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm tiêu chí đánh giá
– Đổi mới phương thức quản lý nền kinh tế thông qua việc giảm tối đa các canthiệp quá sâu bằng mệnh lệnh hành chính, trực tiếp của Nhà nước vào các hoạtđộng kinh tế vĩ mô, hoạt động của thị trường và doanh nghiệp
Thay vào đó, cần chuyển sang phương thức quản lý, điều hành gián tiếp, có tínhđịnh hướng và giám sát nhiều hơn, tập trung vào quản lý kinh tế vĩ mô bằng phápluật và biện pháp kinh tế là chủ yếu; điều tiết nền kinh tế bằng chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, hoạch định chính sách để huy động và
sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trên cơ sở các nguyên tắc của thịtrường
Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Phân định rõ chức năng của Nhà nước
và chức năng của thị trường Nhà nước quản lý và định hướng phát triển kinh tế –
xã hội bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết phù hợp vớikinh tế thị trường, giảm thiểu can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính”9
– Hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, công khai,minh bạch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế Trong
Trang 9đó, “phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý kinh tế, xã hội giữatrung ương và địa phương, bảo đảm sự tập trung thống nhất quản lý của trung ương
và phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền địaphương”10
– Tập trung cải cách thủ tục hành chính gắn với nâng cao chất lượng chính sách,pháp luật; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đáp ứng theo yêu cầu thực tế và
nhiệm vụ QLNN, phù hợp cam kết hội nhập và thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi vàlòng tin cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; công khai, minh bạch cácquy trình, thủ tục hành chính; rà soát bãi bỏ hoặc cải cách thủ tục hành chính theohướng đơn giản, nhanh gọn và phổ cập rộng rãi mô hình“một cửa, một đầu mối” ởtất cả các cơ quan QLNN
Thứ ba, đổi mới và hoàn thiện đồng bộ hệ thống các yếu tố bảo đảm QLNN vềkinh tế có hiệu quả
Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường cùng các thể chế hỗtrợ thị trường và QLNN (như tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, bảo hiểm,…), trong đó
quan tâm, ưu tiên phát triển đồng bộ và vận hành thông suốt các thị trường, nhất làcác thể chế thị trường bậc cao (như: thị trường tài chính, thị trường chứng khoán,thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản và thị trường lao động
có tổ chức) hoạt động theo hướng bảo đảm lành mạnh hóa và ổn định vững chắckinh tế vĩ mô, loại bỏ nguy cơ mất an toàn hệ thống, phục vụ có hiệu quả hoạtđộng sản xuất – kinh doanh; bảo đảm đúng nguyên tắc thị trường gắn với tăngcường quản lý, kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước và giám sát của xã hội; gắn kếtgiữa các loại thị trường trên địa bàn, giữa thị trường địa phương với hệ thống thịtrường cả nước và quốc tế
Trang 10– Xác định rõ “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước Thực tiễn đã chứng minh,nếu kinh tế nhà nước không đủ mạnh thì Nhà nước không thể điều tiết các thànhphần kinh tế khác vươn lên trong hợp tác, cạnh tranh với nhau và với các đối tácnước ngoài.
Vì vậy, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước,trọng tâm là đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh củadoanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa theo nguyên tắc thị trường
Tuy kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng không bao cấp và chống độcquyền; thực hiện nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; mọi thành phầnkinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theopháp luật
– Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lựccông tác, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao, chú trọng giáo dục đạođức và trách nhiệm công vụ,… để tạo điều kiện phát triển và quản lý có hiệu quảnền KTTT định hướng XHCN; đánh giá cán bộ, công chức, viên chức phải trên cơ
sở kết quả thực hiện nhiệm vụ
Mặt khác, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh và nângcao chất lượng công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải cách cơ bản chế
độ tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức
Như vậy, theo tinh thần Văn kiện Đại hội XII của Đảng, việc đổi mới, nâng caohiệu lực, hiệu quả QLNN về kinh tế đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trìnhphát triển, hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tếngày càng sâu rộng của nước ta trong điều kiện mới không chỉ là một tất yếu kháchquan, mà còn đòi hỏi một sự đầu tư nghiên cứu lý luận sâu sắc và đánh giá, tổngkết thực tiễn công phu, nghiêm túc, đồng thời tích cực tham khảo kinh nghiệm của
Trang 11các nước tiến tiến trên thế giới,… để không ngừng bổ sung, phát triển và hoànthiện đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước ta.
4 Đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam
Thứ nhất, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trườnghiện đại, tuân thủ các quy luật của thị trường với vai trò điều tiết của nhà nước,khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường và bảo đảm an sinh xã hội Tuynhiên, những hạn chế của thị trường cần được giải quyết bằng chính sách chủ độngcủa nhà nước Thay vì khắc phục, sửa chữa những thất bại của thị trường thì trongnền kinh tế thị trường, nhà nước cần phải có năng lực dự báo, đưa ra những kịchbản để giảm thiểu những tác động tiêu cực từ những hạn chế cố hữu của kinh tế thịtrường
Thứ hai, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự phát triển hài hòa vềđộng lực tăng trưởng, về vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể vàkinh tế tư nhân Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định kinh tế nhànước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nềnkinh tế độc lập, tự chủ
Thứ ba, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh Trong đó, Nhà nước chủ động giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế với công bằng xã hội Công bằng xã hội không chỉ là phương tiện để phát triểnnền kinh tế thị trường, mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội mới; gắn với bìnhđẳng xã hội, không chỉ dừng ở phân phối lợi ích công bằng mà phải là công bằngtrong cơ hội phát triển của mỗi thành viên xã hội