1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý xã hội về kinh tế

230 619 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về thực chất, chức năng QLXH về KT xác định loại công việc, khối lượng công việc mà nhà QLXH về KT phải làm cũng như trình tự của các công việc đó để có thể đạt tới mục tiêu phát triển k

Trang 1

Chương 1

đối tượng và phương pháp nghiên cứu của môn học quản lý xã hội về kinh tế

I Đối tưîng nghiên cứu

Môn học quản lý xã hội về kinh tế mang những đặc trưng chung của khoa học quản lý, đồng thời cũng có những đặc điểm riêng Môn học nghiên cứu những quan hệ quản lý trong các lĩnh vực kinh tế của nền kinh tế quốc dân Đó

là quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý xã hội về kinh tế và đối tưîng quản lý xã hội về kinh tế trên bình diện toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Quan hệ quản lý là một trong ba mặt của quan hệ sản xuất, với tư cách là mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý xã hội về kinh tế theo luật định và đối tưîng quản lý là con ngưêi, cộng đồng ngưêi trong quá trình sản xuất nói riêng và trong các quá trình kinh tế nói chung, do vậy quan hệ quản lý không những mang tính chất kinh tế, mà còn có tính chất tổ chức, tính chất tâm

lý xã hội Tính đa diện đó của quan hệ quản lý xã hội về kinh tế quy định tính tổng hợp, tính liên ngành của môn học Quản lý xã hội về kinh tế là môn học nằm ở vùng giáp ranh, vùng đan xen giữa nhiều môn khoa học như Kinh tế học, Điều khiển học, Chính sách công và các môn khoa học nghiên cứu các quy luật chung về xã hội như Triết học, Xã hội học, Luật học, Tâm lý học

Môn học Quản lý xã hội về kinh tế có nhiệm vụ nghiên cứu các quan hệ quản lý của chủ thể quản lý xã hội về kinh tế trên những mặt cơ bản, trên các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế quốc dân Môn học nghiên cứu các khái niệm, các phạm trù cơ bản, các yếu tố, bộ phận cấu thành của hệ thống quản lý xã hội

về kinh tế; mối quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống quản lý xã hội về kinh tế; nguyên tắc, chức năng; hình thức, phương pháp; thông tin, quyết định; bộ máy quản lý và cán bộ quản lý xã hội về kinh tế; các nguyên tắc và hình thức tổ chức quản lý xã hội đối với các loại hình doanh nghiệp; lĩnh vực tài chính, tiền tệ;

Trang 2

kinh tế đối ngoại; cỏc dự ỏn đầu tư Trờn cơ sở nghiờn cứu những vấn đề cơ bản núi trờn ở gúc độ phương phỏp luận chung, mụn học Quản lý xó hội về kinh tế cũn nghiờn cứu quỏ trỡnh đổi mới kinh tế ở Việt Nam, trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoỏ tập trung sang cơ chế thị trờng định hướng xó hội chủ nghĩa, những định hướng cơ bản của sự hỡnh thành, đổi mới và phỏt triển hệ thống quản lý xó hội đối với nền kinh tế quốc dõn Việt Nam, định hướng đổi mới phương phỏp, chớnh sỏch, cụng cơ quản lý kinh tế ở Việt Nam.

Quản lý xó hội về kinh tế là hoạt động vừa cú tớnh khoa học và cú tớnh nghệ thuật vỡ vậy mụn học quản lý xó hội về kinh tế cũng đề cập cả hai gúc độ khoa học và nghệ thuật Tớnh khoa học của mụn học đề cập đến cỏc khỏi niệm, cỏc phạm trự, tớnh quy luật, cỏc nguyờn tắc của quản lý xó hội về kinh tế Tớnh nghệ thuật của quản lý xó hội về kinh tế đợc nghiờn cứu và trỡnh bày dưới dạng nờu lờn những kinh nghiệm, những hiện tượng, những trờng hợp và hỡnh mẫu điển hỡnh đợc tổng kết từ thực tiễn quản lý ở cỏc cơ sở, cỏc khõu, cỏc cấp của nền kinh tế

Mụn học Quản lý xó hội về kinh tế dựa trờn nền tảng lý luận cơ bản của Chủ nghĩa Mỏc - Lênin, đồng thời sử dụng những thành tựu, kiến thức cơ bản của nhiều mụn khoa học khỏc như Kinh tế học, Toỏn học, Điều khiển học, Khoa học tổ chức, Luật học, Xó hội học, Tõm lý học…để thực hiện nhiệm vụ của nú Mụn học cũng rất coi trọng việc khai thỏc những thành tựu quản lý xó hội về kinh tế trờn thế giới, vận dụng vào điều kiện Việt Nam Mụn học Quản lý xó hội

về kinh tế gúp phần tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chớnh sỏch, quỏn triệt và thực hiện đờng lối, chớnh sỏch của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xõy dựng và phỏt triển kinh tế, mà trực tiếp là trong sự nghiệp xõy dựng và phỏt triển hệ thống quản lý xó hội về kinh tế

Nh vậy, cú thể núi một cỏch khỏi quỏt, mụn học Quản lý xó hội về kinh tế

cú bốn đặc điểm chớnh: Tớnh liờn ngành, tớnh khoa học, tớnh nghệ thuật, tớnh ứng dụng Bốn đặc điểm này quy định mụn học phải phỏt triển những lý luận khoa học và nghệ thuật quản lý để giải quyết linh hoạt, sỏng tạo những vấn đề thực

Trang 3

tiễn quản lý nền kinh tế quốc dân đặt ra, đồng thời góp phần bổ sung hoàn chỉnh chính sách và cơ chế quản lý kinh tế.

II PHƯƠNG PHáP nghiên cứu CủA MÔN HäC QUảN Lý Xã HộI Về KINH Tế

Quản lý xã hội về kinh tế là môn học chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ giữa chủ thể quản lý kinh tế với đối tượng quản lý kinh tế để đạt được những mục tiêu mà kinh tế đặt ra, do đó ngoài việc tuân thủ các phơng pháp truyền thống như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, môn học Quản lý

xã hội về kinh tế coi trọng phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phân tích, Đối tưîng nghiên cứu của môn học Quản lý xã hội về kinh tế là các quá trình kinh tế - xã hội đang diễn ra, do đó cần coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn, thông qua thực tiễn để kiểm chứng mức độ phù hợp của chính sách công cụ Ngoài ra, trong một số trêng hợp có thể sử dụng phương pháp thực nghiệm, về thực chất là làm thử một số phương án để xem xét, nếu đúng thì tổng kết thành cơ chế chính sách, nếu sai thì sửa chữa hoặc lựa chọn phương án khác

Câu hỏi và bài tập

1 Trình bày đối tượng và phương pháp nghiên cứu của môn học quản lý

xã hội về kinh tế?

2 Khẳng định sau đây đúng hay sai:

- Quản lý xã hội về kinh tế là môn học chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ giữa chủ thể quản lý kinh tế với đối tượng quản lý kinh tế.

- Đối tượng nghiên cứu của môn học Quản lý xã hội về kinh tế là các quá trình kinh tế - xã hội đang diễn ra

Trang 4

-Môn học Quản lý xã hội về kinh tế có nhiệm vụ nghiên cứu các quan hệ quản lý của chủ thể quản lý xã hội về kinh tế trên những mặt cơ bản, trên các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế quốc dân

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG quản lý xã hội về kinh tế

I QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ KINH TẾ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Trang 5

động của chủ thể QLXH về KT lên đối tượng QLXH về KT được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, điều khiển, phối hợp, động viên, kiểm tra,…

- Chủ thể QLXH về KT và đối tượng QLXH về KT cấu thành hệ thống quản lý xã hội về kinh tế Nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như các đơn vị kinh tế cơ sở nói riêng đều được xem như một hệ thống quản lý gồm hai phân hệ: chủ thể QLXH về KT và đối tượng QLXH về KT Mỗi phân hệ cũng có thể

là một hệ thống phức tạp

- Quản lý xã hội về kinh tế là quá trình lựah chọn và thiết lập các hệ thống chức năng, nguyên tắc, phương pháp, cơ chế, công cụ, cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ QLXH về KT và bảo đảm hệ thống thông tin cho các quyết định quản lý kinh tế

- Mục tiêu của QLXH về KT là huy động tối đa các nguồn lực – mà trước hết là nguồn lực lao động- để phát triển kinh tế phục vụ lợi ích cho mọi người

2.Vai trò của QLXH về KT trong đời sống xã hội

QLXH về KT là một tất yếu khách quan của sự phát triển khoa học – công nghệ, sự xã hội hóa lực lượng sản xuất và xu thế phân công hợp tác trên phạm

vi quốc gia và quốc tế Tình tất yếu khách quan của QLXH về KT thể hiện ở vai trò to lơn của nó trong xã hội:

Một là, QLXH về KT là một nguồn lực quan trọng để tăng trưởng kinh tế Tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn và khoa học – công nghệ được coi là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng kinh tế Song, trên thực tế, nhiều quốc gia giàu về tài nguyên, phong phú về lao động,…nhưng tăng trưởng lại chậm Ngược lại, không ít quốc gia mặc dù tài nguyên thiên nhiên hạn chế, vón và nguồn lao động cũng rất hạn chế nhưng lại nhanh chóng trở nên giàu có nhờ vào

sự nỗ lực của QLXH về KT Nếu như ở những thế kỷ trước người ta so sanh sự giàu có, văn minh giữa các quốc gia bằng các chỉ tiêu số lượng về gang thép, dầu mỏ, than đá, ngũ cốc, lao động, vốn liếng…thì ngày nay được thay bằng hàm lượng giá trị, hàm lượng trí tuệ của sản phẩm và các chỉ tiêu nhân văn.Hai là,QLXH về KT thực hiện chức năng định hướng và điều tiết nền kinh

tế Vai trò định hướng của QLXH về KT được thực hiện thông qua việc xác

Trang 6

định mục tiêu, hình thành các nguyên tắc để chi phối các hoạt động quản lý và quá trình lao động sản xuất kinh doanh Mặt khác, việc thực hiện các chức năng

kế hoạch hóa, tổ chức, điều khiển, động viên, kiểm tra trong quản lý kinh tế thực chất là nhằm định hướng đối tượng quản lý hành động theo nguyên tắc và đạt tới mục tiêu đã xác định Trong xu thế mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế với tính chất đa dạng hóa, đa phương hóa, QLXH về KT đặc biệt là quản lý nhà nước về kinh tế có vai trò quyết định trong việc hướng dẫn và tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế từng bước tham gia vào thị trường khu vực và quốc tế

Thứ ba, QLXH về KT tạo điều kiện để phát triển năng lực cá nhân và tinh thần tập thể trong lao động sản xuất QLXH về KT được thực hiện thông qua những hình thức, phương pháp, công cụ…mà chủ thể QLXH về KT đến tập thể

và cá nhân người lao động Bằng sự tác động ấy sẽ khơi dậy và phát huy lòng nhiệt tình và ý thức tự giác của từng người trong lao động – bao gồm lợi cíh vật chất và lợi ích tinh thần – càng được thỏa mãn thì tình tích cực và sự sáng tạo của người lao động càng được phát huy Cũng thông qua lao động sáng tạo, con người được hoàn thiện về thể lực, nhân cách, đặc biệt là rèn luyện kỷ luật lao động, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại Hiệu quả của các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng không chỉ phụ thuộc vào năng lực và sự sáng tạo của các cá nhân mà còn phụ thuộc vào sức mạnh của tập thể Vì thế, nhà QLXH về

KT bắt buộc phải thiết lập một môi trường thuận lợi để nhiều người căng hợp tác, phối hợp hoạt động nhằm tạo ra “tính trội” theo lý thuyết hệ thống NHư thế

có nghĩa là người lao động sẽ được học tập, rèn luyện tính tập thể, ý thức cộng đồng nhất là trong lao động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, nhà QLXH về KT còn góp phần tích cực vào việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế của Đảng, đưa pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, thực hiện quyền sở hữu XHCN một cách hiện thực và mang lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội Đây cũng chính

là môi trường để chứng minh rằng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự quản lý hiệu quả của Nhà nước đối với toàn xã hội

Trang 7

II CHỨC NĂNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ KINH TẾ

1 Khái niệm

Chức năng QLXH về KT là tập hợp các hoạt động quản lý kinh tế mang

tính tất yếu của chủ thể quản lý xã hội về kinh tế, nảy sinh từ sự phân công chuyên môn hóa các hoạt động quản lý xã hội về kinh tế nhằm đạt tới mục tiêu trong quản lý kinh tế.

Từ khái niệm trến cho thấy, chức năng QLXH về KT là những công việc mang tính tất yếu khách quan của các chủ thể quản lý kinh tế các cấp Về thực chất, chức năng QLXH về KT xác định loại công việc, khối lượng công việc mà nhà QLXH về KT phải làm cũng như trình tự của các công việc đó để có thể đạt tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô và mục tiêu lợi nhuận trong các cơ sở sản xuất kinh doanh Căn cứ để hình thành các chức năng quản lý kinh

tế là sự phân công chuyên môn hóa các hoạt động quản lý kinh tế Vì thế, sự phân công chuyên môn hóa càng sâu đòi hỏi sự hợp tác càng chặt chẽ và các chức năng quản lý càng được phân định rõ ràng, mạch lạc Hệ thống quản lý trong nền kinh tế là một chỉnh thể bao gồm nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều bộ phận Mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi bộ phận đó gắn liền với các chức năng quản

lý nhất định Vì thế, chức năng QLXH về KT xác định vị trí của các cấp các ngành, các bộ phận quản lý trong hệ thống quản lý kinh tế nói chung Nếu không xác định được chức năng và không thực hiện tốt các chức năng đó thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý kinh tế của mình Từ các chức năng QLXH về KT đã được xác định, chủ thể quản lý các cấp đề ra các nhiệm vụ cụ thể của công việc quản lý, đồng thời thiết kế bộ máy quản lý và bố trí cán bộ vào các bộ phận thích hợp của bộ máy quản lý Cũng xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận quản lý, chủ thể QLXH về KT tiến hành các hoạt động kiểm tra, điều chỉnh nhằm hướng các bộ phận quản lý vào một mục tiêu chung

2 Các loại chức năng QLXH về KT

QLXH về KT là một hoạt động gồm nhiều hành vi, công đoạn và cấp độ khác nhau, gắn liền với các quá trình thu nhận, xử lý và ra quyết định quản lý

Trang 8

Mặt khác, công việc quản ký kinh tế không chỉ do một người tiến hành mà nó liên quan đến từng đơn vị kinh tế cơ sở, từng địa phương, ngành kinh tế cũng như trên tổng thể toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì vậy chức năng QLXH về KT rất đa dạng và phong phú Tính đa dạng và phong phú của các chức năng QLXH

về KT ngày càng tăng lên do sự phát triển của khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin; sự đòi hỏi của cơ chế thị trường và xu hướng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế

Tuy nhiên có thể phân loại các chức năng QLXH về KT dựa vào một số các tiêu chí sau:

2.1 Phân loại theo cấp độ quản lý

Theo cấp độ quản lý, chức năng QLXH về KT được phân thành: chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh.Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, các cơ quan quản lý kinh tế các cấp, các ngành thực hiện các hoạt động dự đoán và sự báo, xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cấp mình, ngành mình; đồng thời tổ chức, phối hợp, kiểm tra, điều chỉnh,…hoạt động kinh tế trên cơ sở mục tiêu đã được xác định Để tiến hành các hoạt động tổ chức, phối hợp, kiểm tra, điều chỉnh…đó, nhà nước sử dụng các công cụ riêng có như pháp luật, kế hoạch, chính sách kinh tế và lực lượng kinh tế của nhà nước Mục tiêu cuối cùng mà quản lý nhà nước phải đạt tới là tăng trưởng kinh tế bền vững đồng thời bảo đảm công bằng xã hội

Chức năng quản lý sản xuất kinh doanh, các đơn vị kinh tế cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành các hoạt động tác nghiệp hàng ngày nhằm tạo

ra lợi nhuận, nâng cao vị thế cạnh tranh và đứng vững trên thị trường xã hội Công việc quản lý các đơn vị kinh tế cơ sở trong cơ chế thị trường hoàn toàn khác với công việc của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế Quản lý sản xuất kinh doanh thực chất là quản lý các quá trình cạnh tranh, xác định chỗ đứng của các doanh nghiệp trên thị trường trên cơ sở kết hợp các yếu tố nguồn lực kinh doanh và sự nắm bắt nhanh nhạy nhu cầu về hàng hóa dịch vụ trên thị trường bào gồm cả thị trường trong nước và thị trường thế giới

Trang 9

2.2 Phân loại theo lĩnh vực quản lý

Do sự đòi hỏi của cơ chế thị trường và để bao quát các cấp quản lý trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, chức năng QLXH về KT được phân thành các lĩnh vực sau đây:

- Chức năng quản lý tài chính: các hoạt động khai thác, sử dụng và quản lý vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh;

- Chức năng quản lý khoa học và công nghệ: các hoạt động nghiên cứu, phát minh và ứng dụng những thành tựu mới về khoa học và công nghệ vào sản xuất để tăng năng xuất lao động, nâng cao năng xuất lao động và hạ giá thành sản phẩm;

- Chức năng tổ chức bộ máy và công tác nhân sự: xác định số cấp, số khâu trong bộ máy quản lý kinh tế, để từ đó bố trí sắp xếp cán bộ vào các bộ phận của

bộ máy đó;

- Chức năng điều hành sản xuất kinh doanh: phối hợp các yếu tố tài chính, công nghệ, lao động, vật tư nguyên liệu…để chế tạo ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng

- Chức năng marketing: các hoạt động tiếp cận nhu cầu của thị trường (thị trường trong nước và ngoài nước) và thỏa mãn nhu cầu thông qua các công việc quảng cáo, chào hàng và chiêu hàng

2.3 Phân loại theo giai đoạn của quá trình quản lý

2.3.1 Chức năng dự báo

Trong QLXH về KT dự báo là hệ thống các giả định về trạng thái của đối tượng quản lý trong tương lai Nói cách khác, dự báo là đoán trước các quá trình, hiện tượng kinh tế có thể xảy ra trong thời gian tới, làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch và quyết định các giải pháp về phát triển kinh

tế Thông qua công tác dự báo sẽ phát hiện các xu hướng vận động của nền kinh

tế, sự tác động của môi trường bên trong và bên ngoài từ đó phát hiện những cơ hội thuận lợi và có những giải pháp ứng phó với những bất lợi có thể xảy ra Do vậy, dự báo là một giai đoạn không thể thiếu được của quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, ngành kinh tế, địa phương

Trang 10

cũng như đơn vị kinh tế cơ sở Tuy kết quả của các dự đoán chỉ mang tính chất hướng dẫn và không phải là những chỉ số hoàn toàn chính xác nhưng dự đoán bao giờ cũng dựa trên cơ sở khoa học vì thế nó là căn cứ để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô và kế hoạch sản xuất kinh doanh ở tầm vi mô.

Nội dung dự báo thường tập trung vào các yếu tố: thị trường, tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, dân số, sự biến động của nền kinh tế khu vực và thế giới Trong nền kinh tế thị trường đầy biến động, hoạt động dự báo gặp rất nhiều khó khăn nhưng lại hết sức cần thiết Nó đòi hỏi nhà quản lý phải kết hợp các yếu tố khoa học, kinh nghiệm và sự mẫn cảm nghề nghiệp; phải cập nhật những thông tin có liên quan đến hoạt động kinh tế, đặc biệt đối với lĩnh vực, sản phẩm mà mình đang trực tiếp kinh doanh Đồng thời các thông tin dự báo phải phản ánh đầy đủ cả mặt chất lẫn mặt lượng, cả trước mắt và lâu dài, tạo nên những căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội và sản xuất kinh doanh

2.3.2 Chức năng kế hoạch

Kế hoạch là một chức năng quản lý bao gồm xác định mục tiêu, đồng thời xây dựng chương trình hành động và các bước đi cụ thể nhằm đạt tới mục tiêu Như vậy, lập kế hoạch chính là việc ra quyết định quản lý Tiến trình lập kế hoạch thực chất là quá trình nhận thức cơ hội, phân tích thực trạng và lựa chọn các phương án; đồng thời tổ chức các phương tiện để đạt tới được các mục tiêu

đã được xác định trước, ở đây có sự phân biệt giữa dự báo và kế hoạch Cả hai phạm trù đều đề cấp đến tương lai của sự vật, hiện tượng song dự báo chỉ là sự nhận định, tiên đoán còn kế hoạch bao gồm không chỉ các hoạt động dự báo mà quan trọng hơn là làm thay đổi, hạn chế hoặc thúc đẩy xu hướng vận động của

sự vật, hiện tượng Nói cách khác, dự bảo là những hoạt động tiền đề của kế hoạch Thực hiện chức năng kế hoạch cho phép các nhà quản lý hình dung và

mô tả sự phát triển của một nền kinh tế, một ngành, địa phương và từng doanh nghiệp qua các thời kỳ từ đó hình thành các phương án hoạt động trên cơ sở dự kiến những rủi ro có thể gặp phải, cũng như những thuận lợi cần phải tận dụng

Trang 11

Như vậy, hoạt động trong lĩnh vực kế hoạch, một mặt sẽ tạo ra tầm nhìn chiến lược cho các nhà quản lý kinh tế, giúp họ phát hiện chính xác và đầu tư phù hợp vào những lĩnh vực, sản phẩm, thị trường mang lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội, mặt khác, còn làm giảm những bất trắc và hạn chế các hoạt động kinh tế trùng lắp, gây lãng phí cho các chủ thể kinh tế do thiếu sự tính toán sắp đặt từ trước Ngoài ra, công việc xác định mục tiêu và xây dựng chương trình phát triển kinh tế không chỉ là một chức năng quản lý kinh tế mà còn là căn cứ để hình thành và thực hiện các chức năng khác như tổ chức, điều khiển, kiểm tra và điều chỉnh, hạch toán.

Nội dung của các hoạt động kế hoạch bao gồm xác định mục tiêu, lựa chọn các phương án và tổ chức các phương tiện để thực hiện mục tiêu Các mục tiêu, phương án và phương tiện ấy được xây dựng cho các thời kỳ dài ngắn khác nhau gọi là kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Dự thuộc loại hình nào, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng phải thỏa mãn các yêu cầu sau đây:

- Coi trọng công tác tiền kế hoạch, tức là các hoạt động dự báo, điều tra, thăm dò nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng chương trình phát triển kinh tế;

- Kế hoạch phải có khả năng thích ứng với sự biến đổi của nhu cầu thị trường, coi thị trường vừa là đối tượng vừa là căn cứ của kế hoạch;

- Phân định rõ ràng chức năng kế hoạch ở tầm vĩ mô và trong những đơn

Trang 12

biến đổi của môi trường bên ngoài Nói cách khác, trong cơ chế thị trường, kế hoạch phải là những “cân đối động”.

2.3.3 Chức năng tổ chức

Với tư cách là một chức năng QLXH về KT, tổ chức là việc thiết lập bộ máy quản lý trong đó gồm nhiều bộ phận được chuyên môn hóa có liên hệ với nhau nhằm thực hiện các nhiệm vụ quản lý vì một mục tiêu chung Như vậy, tổ chức chỉnh là công việc xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý các cấp, các ngành trong nền kinh tế Cơ cấu đó được xây dựng trên cơ sở kế hoạch phát triển của các cấp, các ngành; đồng thời là lực lượng vật chất để tiến hành các hoạt động điều khiển, kiểm tra, điều chỉnh và hạch toán Để thích ứng với nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, việc xây dựng cơ cấu tổ chức QLXH về KT phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:

- Phải căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế mà kế hoạch đã

đề ra, bao gồm cả mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt lẫn lâu dài;

- Phải kết hợp cả hai yếu tố ổn định và biến đổi trong quá trình xây dựng

và vận hành cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế Nghĩa là, bộ máy quản lý kinh tế cần duy trì một số lượng cần thiết các bộ phận được chuyên môn hóa theo chức năng trong một thời gian nhất định Tuy nhiên, do sự thay đổi của nhiệm vụ của phát triển kinh tế và sản xuất kinh doanh, bộ máy quản lý kinh tế phải từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động

- Con người chính là “vật liệu” để xây dựng cơ cấu tổ chức, chất lượng của

cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào chất lượng của vật liệu tạo nên nó Vì thế, phải lựa chọn được các chuyên gia thành thạo trong các chuyên môn nhất định để bố trí sắp xếp vào các bộ phận của bộ máy quản lý các cấp;

- Tổ chức là một chức năng không thể thiếu được trong quản lý kinh tế, bởi vậy các nhà quản lý phải xuất phát từ những nhu cầu của thực tiễn hoạt động kinh tế, năng lực của cán bộ đồng thời tiếp thu kinh nghiệm của thế giới

để không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý từ các cơ sở kinh tế đến tổng thể nền kinh tế quốc dân

Trang 13

2.3.4 Chức năng điều khiển

Điều khiển là cách thức, nghệ thuật tác động của chủ thể quản lý kinh tế đối với tập thể người lao động Nói cách khác, điều khiển là các hoạt động chỉ huy, phối hợp, liên kết các bộ phận và những người lao động trong nền kinh tế cũng như nội bộ một doanh nghiệp để thực hiện kế hoạch

Các chức năng kế hoạch, tổ chức dự được thực hiện tốt đến đâu nhưng không có hoạt động điều khiển thì không thể chuyển biến được sự vật hiện tượng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được xây dựng, bộ máy quản lý kinh tế đã được thiết lập nhưng bộ máy đó không hoạt động, nghĩa là không có

ai chỉ huy thì không có sản phẩm cuối cùng Vì thế, điều khiển là quá trình tổ chức thực hiện các quyết định quản lý kinh tế và các chức năng điều khiển có tác dụng phối hợp, liên kết các chức năng khác Chức năng điều khiển được thể hiện ở những nội dung sau đây:

- Phối hợp, liên kết các bộ phận cấu thành của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung nhằm tạo ra sự hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng giữa các bộ phận ấy;

- Phân công công việc, bố trí con người vào các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, đồng thời liên kết họ vào một chỉnh thể nhằm tạo ra “tính trồi” theo lý thuyết hệ thống;

- Kết hợp các yếu tố tài chính, lao động, kỹ thuật – công nghệ, nguyên vật liệu…để tiến hành sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao nhất

- Hướng dẫn các cơ quan quản lý và những người dưới quyền thực hiện các quyết định quản lý kinh tế, đồng thời đóng vai trị dẫn dắt các chủ thể kinh tế khai thác, xâm nhập thị trường và lĩnh vực kinh doanh mới;

- Tạo ra động lực để khuyến khích, động viên các cấp, các ngành và những người lao động phát huy khả năng sáng tạo để tăng năng xuất lao động, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh tế

Để thực hiện những nội dung nêu trên, đòi hỏi nhà quản lý phải có quyền

uy, đó là uy tín về phẩm chất và năng lực; phải mạnh dạn phân cấp cho người dưới quyền trên cơ sở xác định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi của

Trang 14

mỗi người Nhà quản lý phải thông đạt chính xác các quyết định quản lý, bao gồm mục tiêu, nội dung, yêu cầu và các định mức nhất thiết Phải kết hợp các phương pháp hành chính, kinh tế, giáo dục động viên trong hoạt động điều khiển Đối với các hoạt động điều khiển mang tính chất tác nghiệp trong doanh nghiệp, nhà quản lý ngoài những kiến thức kinh tế và năng lực tổ chức điều hành phải có tác phong linh hoạt, nhạy bén trong việc phán đoán và xử lý tình huống để kịp thời đối phó mọi tác động từ môi trường bên ngoài làm cản trở sự phát triển của doanh nghiệp.

2.3.5 Chức năng kiểm tra và điều chỉnh

Kiểm tra là việc theo dõi và xem xét công việc có được thực hiện như kế hoạch đã được vạch ra hay không, đồng thời chỉ ra ưu điểm để phát huy, khuyết điểm để khắc phục Như vậy, kiểm tra là yêu cầu khác quan của hoạt động quản

lý và là một chức năng không thể thiếu được của QLXH về KT Nhờ chức năng kiểm tra mà quá trình kinh tế được duy trì ổn định và có cơ hội để phát triển Kết quả kiểm tra cho phép các chủ thể quản lý tự đánh giá lại mình sau một chu

kỳ sản xuất kinh doanh, từ đó có phương án hoàn thiện chất lượng quản lý để đạt kết quả cao hơn Công việc kiểm tra phải bao quát toàn bộ các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế và xuyên suốt từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình tái sản xuất mở rộng trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng như các đơn

vị kinh tế cơ sở Tuy nhiên, nội dung và phương pháp kiểm tra phải được lựa chọn sao cho không làm cản trở đến hoạt động kinh tế, nhất là đối với các đơn

vị kinh tế cơ sở, mặt khác vẫn thường xuyên theo sát tình hình phát triển kinh tế

và tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhằm thỏa mãn những yêu cầu nêu trên, nội dung kiểm trâ cần tập trung vào những vấn đề sau:

- Kiểm tra việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm hướng các hoạt động kinh tế theo đúng quỹ đạo, đồng thời bảo đảm quyền

tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở

- Kiểm tra việc thực hiện nội quy, quy định do địa phương , đơn vị kinh tế

đề ra nhằm phát hiện lệch lạc, qua đó lập lại kỷ cương đối với hoạt động của các

bộ phận, các tập thể và từng người lao động

Trang 15

- Kiểm tra tiến độ thực hiện công việc trên cơ sở các định mức về thời gian, về kinh tế kỹ thuật đã đề ra.

- Kiểm tra hiệu quả của việc quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên, lao động, tiền vốn, công nghệ trong phát triển kinh tế và sản xuất kinh doanh

- Kiểm tra tình hình phân phối sản phẩm, quyền lợi của người lao động cũng như chế độ an toàn lao động trong phạm vi doanh nghiệp

- Kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, các cam kết và các hợp đồng kinh tế đối với bên ngoài

Kiểm tra không vì mục đích tự thân mà để phát hiện sự sai lệch của thực tế

so với kế hoạch từ đó có những giải pháp để điều chỉnh Do vậy kiểm tra luôn gắn với điều chỉnh Từ kết quả của kiểm tra nếu có sự mâu thuẫn, vi phạm hay rối loạn trong các quá trình kinh tế thì người quản lý phải điều tiết, uốn nắn để các quá trình đó trở lại hoạt động bình thường và có hiệu quả Chức năng điều chỉnh còn thể hiện ở các quyết định quản lý bổ sung đối với những vấn đề mới nảy sinh hoặc bản thân kế hoạch chưa lường hết được Điều đó đòi hỏi nhà quản

lý phải nhạy bén và không bảo thủ

2.3.6 Chức năng hạch toán

Hạch toán bao gồm hạch toán kỹ thuật, hạch toán thống kê và hạch toán kế toán là một trong những phương tiện nhằm cung cấp thông tin thực hiện cho nhà quản lý Trước khi ra quyết định quản lý, cán bộ quản lý các cấp phải tính toán nhu cầu xã hội về loại hàng hóa dịch vụ mà mình định làm, tính tỉa các yếu tố thuộc về năng lực sản xuất kinh doanh đặc biệt là vốn liếng từ đó xây dựng kế hoạch phát triển cho doanh nghiệp, địa phương, ngành kinh tế và trên phạm vi

cả nước Nói cách khác, nhà quản lý các cấp phải tính toán để quyết định sản xuất sản phẩm gì, bằng công nghệ nào, tiêu thụ ở đâu, tiêu thụ như thế nào Điều quan trọng hơn cả là phải tính toán kết quả cuối cùng của một chu trình ra quyết định quản lý kinh tế, từ khâu dự báo, xây dựng kế hoạch đến khâu tổ chức, điều khiển, kiểm tra và điều chỉnh

Như vậy hạch toán là một chức năng rất quan trọng của QLXH về KT bởi

vì trong hoạt động QLXH về KT tiết kiệm và hiệu quả là mục tiêu trực tiếp

Trang 16

buộc các chủ thể quản lý kinh tế phải phấn đấu để đạt tới Vấn đề là pahir sử dụng các thước đo phù hợp để có thể hạch toán chính xác các yếu tố định tính lẫn định lượng về hiệu quả kinh tế - xã hội của các quyết định quản lý Chức năng hạch toán phải xuyên suốt các khâu dự báo, kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra và điều chỉnh; đồng thời bao quát toàn bộ nền kinh tế quốc dân: các ngành kinh tế, các vùng kinh tế cũng như các đơn vị kinh tế cơ sở.

Có thể khắng định, các chức năng của QLXH về KT nêu trên tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó từng chức năng có tính độc lập tương đối vừa có mối quan hệ phụ thuộc các chức năng khác Quá trình ra quyết định QLXH về KT là quá trình thực hiện các chức năng theo một trình tự nhất định Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chức năng nào trong chuỗi các chức năng

ấy đều ảnh hưởng xấu tới thành công trong công tác QLXH về KT

iiI nguyên tắc quản lý xã hội về kinh tế

Việc quản lý kinh tế của các chủ thể phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý

xã hội nói chung và phải được vận dụng cơ thể vào lĩnh vực kinh tế để hình thành các nguyên tắc quản lý xã hội về kinh tế nhất định

1 Khái niệm

Nguyên tắc quản lý xã hội về kinh tế là các quy tắc lãnh đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thể quản lý phải tuân thủ trong quá trình quản lý xã hội về kinh tế.

Yêu cầu của các nguyên tắc quản lý xã hội về kinh tế: Các nguyên tắc quản lý xã hội về kinh tế do con người đặt ra nhưng không phải do sự suy nghĩ chủ quan phải tuân thủ các đòi hỏi khách quan của quy luật

- Các nguyên tắc phải phù hợp với mục tiêu của quản lý;

- Các nguyên tắc phải phản ánh đúng tính chất và các quan hệ quản lý;

- Các nguyên tắc quản lý phải bảo đảm tính hệ thống, tính nhất quán và phải được bảo đảm bằng pháp luật;

Các nguyên tắc quản lý xã hội về kinh tế phản ánh các yêu cầu khách quan của các quy luật chi phối lên quá trình quản lý xã hội về kinh tế, tức là muốn biết có nguyên tắc nào thì trước tiên phải biết có các quy luật nào? Đối với nước

Trang 17

ta, theo quan điểm hiện nay của Đảng, có các nguyên tắc cơ bản trong quản lý

xã hội về kinh tế ở phạm vi Nhà nước là:

- Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế;

- Tập trung dân chủ;

- Kết hợp hài hoà các loại lợi ích;

- Hiệu quả, tiết kiệm;

2 Các nguyên tắc quản lý xã hội về kinh tế

2.1 Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế

Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế bảo đảm quan hệ đúng đắn giữa kinh tế và chính trị và tạo được động lực cùng chiều cho mọi người dân trong xã hội là một trong những nguyên tắc cơ bản của việc quản lý kinh tế có căn cứ khoa học trong phạm vi quốc gia

Phát triển luận điểm của C.Mác và F.¡ngghen về sự tương quan giữa chính trị và kinh tế, V.I.Lªnin đã xác định sự thống nhất biện chứng và sự tác động qua lại giữa hai phạm vi hoạt động của con người đó là chính trị và kinh tế

Sự thống nhất và sự tác động khách quan lẫn nhau giữa chính trị và kinh tế được thể hiện với các đặc điểm:

- Sự thống nhất và mối liên hệ lẫn nhau giữa chính trị và kinh tế không có nghĩa là sự đồng nhất giữa chóng vì đó là hai phạm vi khác nhau của hoạt động con người tuy chóng được phát triển trong sự thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau Không thể nhìn thấy ngay lợi ích kinh tế trực tiếp và đầy đủ trong mọi hành động chính trị Đôi khi muốn đạt được lợi ích kinh tế nào đó, cần có hàng loạt biện pháp chính trị quá độ Có thể có lợi ích chính trị trong những trường hợp

mà lợi ích kinh tế trực tiếp không đáng kể và được con người chấp nhận

Trong sự thống nhất giữa chính trị và kinh tế, vai trò quyết định thuộc về kinh tế Nhà nước xã hội chủ nghĩa giữ vai trò người cải tạo kinh tế trên cơ sở vận dụng tự giác các quy luật khách quan Thực tế đó có thể là lý do để đánh giá cao vai trò của chính trị, để giải thích chính trị như là nhân tố quyết định so với kinh tế Nhưng cho dù phạm vi chính trị có phức tạp chăng nữa, suy cho cùng

nó bị quy định bởi các điều kiện kinh tế Chính do các điều kiện kinh tế hiện

Trang 18

nay tạm đủ sống mà ở các nước tư bản chủ nghĩa phong trào đấu tranh chính trị đang bị co hẹp.

Chính trị không phải là một cách thụ động thực tế kinh tế Nó là phương tiện mạnh mẽ tác động đến các quá trình kinh tế khách quan Sự tác động ngược lại của chính quyền Nhà nước đến sự phát triển kinh tế có ba loại: Tác động cùng hướng thì sự phát triển kinh tế sẽ nhanh, tác động ngược hướng thì sự phát triển kinh tế bị kìm hãm, hoặc nó cản trở sự phát triển kinh tế trong những hướng nhất định và thúc đẩy sự phát triển kinh tế theo những hướng khác Trong trường hợp này cuối cùng dẫn đến một trong hai trường hợp trên Rõ ràng, trong trường hợp thứ hai và thứ ba, chính quyền có thể gây thiệt hại to lớn cho sự phát triển kinh tế; đường lối chính trị sai sẽ dẫn tới bế tắc về kinh tế

- Dưới chủ nghĩa xã hội, chính trị và kinh tế không thể tách rời nhau vì chính sách của Đảng là cơ sở cho mọi biện pháp lãnh đạo kinh tế, hướng dẫn sự phát triển không ngừng của nền kinh tế

Nội dung (yêu cầu) của nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế là:

- Phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận kinh tế và quản lý kinh

tế Cụ thể là:

+ Đảng phải vạch ra đường lối chủ trương phát triển kinh tế xã hội,

+ Đảng phải chỉ rõ con đường, biện pháp, thủ đoạn, phương tiện để thực hiện được đường lối chủ trương đã vạch ra,

+ Đảng phải động viên được đông đảo quần chúng, đoàn kết nhất trí thực hiện đường lối chủ trương chống nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa và phải nắm chắc vấn đề nhân sự của bộ máy,

- Phải phát huy vai trò điều hành, quản lý của Nhà nước Cụ thể là:

+ Nhà nước phải biến đường lối chủ trương của Đảng thành kế hoạch, chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới,

+ Nhà nước phải dùng quyền lực của mình để hoàn chỉnh hệ thống pháp luật làm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh,

Trang 19

+ Nhà nước phải chăm lo, giải quyết vấn đề cán bộ, vấn đề lao động, vấn

đề việc làm và đời sống dân cư,

+ Nhà nước triển khai việc thực hiện kế hoạch do Nhà nước vạch ra

+ Nhà nước phải kiểm tra, tổng kết việc thực hiện kế hoạch

- Vừa phải phát triển kinh tế sản xuất, vừa phải chăm lo vấn đề an ninh quốc phòng của đất nước Vừa đấu tranh chống nạn tham nhũng và tệ quan liêu, vừa đấu tranh chống nguy cơ diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch

2.2 Tập trung dân chủ

Nội dung của nguyên tắc: Phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý xã hội về kinh tế Tập trung phải trên cơ

sở dân chủ, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ tập trung

Biểu hiện của tập trung:

- Thông qua hệ thống kế hoạch;

- Thông qua hệ thống pháp luật và chính sách quản lý xã hội về kinh tế;

- Thực hiện chế độ một thủ trưởng ở tất cả các đơn vị, các cấp;

Biểu hiện của dân chủ:

- Mở rộng phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, phân biệt rõ chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và chức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp

- Hạch toán kinh tế;

- Chấp nhận kinh tế thị trường, chấp nhận cạnh tranh, chấp nhận mở cửa;

- Giáo dục, bồi dưỡng trình độ kiến thức cho quần chúng;

- Kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và từng vùng lãnh thổ;

- Xoá bỏ dần chế độ chủ quản, cấp hành chính chủ quản và sự phân biệt giữa xí nghiệp Trung ương và xí nghiệp địa phương

Điều 6, Hiến pháp năm 1992( sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định:

“Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức

và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”

Trang 20

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước; trong quản lý xã hội về kinh tế ở nước ta thể hiện.

- Các cơ quan quyền lực Nhà nước đều do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Các cơ quan hành chính Nhà nước, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân đều do cơ quan quyền lực Nhà nước bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan bầu ra mình

- Các cơ quan Nhà nước cấp dưới phải phục tùng cơ quan Nhà nước cấp trên; các cấp chính quyền địa phương phải phục tùng cơ quan Trung ương

- Tăng cường quyền quản lý tập trung thống nhất của Trung ương, kết hợp chặt chẽ với việc phân cấp hợp lý, để tăng cường và phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương và cơ sở

- Thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tập thể, mọi người phải phục tùng người chỉ huy trong các cơ quan Nhà nước tổ chức theo chế độ thủ trưởng và trong điều hành công việc ở các công sở

Nguyên tắc tập trung dân chủ đối lập với tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán Nguyên tắc này cũng đối lập với tình trạng phân tán, cục bộ, địa phương, vô tổ chức, vô kû luật

2.3 Kết hợp hài hoà các loại lợi ích xã hội

Quản lý xã hội về kinh tế trước hết là quản lý con người, là tổ chức mang tính tích cực lao động của người lao động Con người có những lợi ích, những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định Do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý là phải chú ý đến lợi ích của con người để khuyến khích việc làm có hiệu quả phát huy tính tích cực lao động của họ

- Lợi ích là sự vận động tự giác, chủ quan của con người nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người

- Lợi ích là một động lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của con người

- Lợi ích còn là phương tiện của quản lý cho nên phải dùng nó để động viên con người

Trang 21

Nội dung của nguyên tắc là phải kết hợp hài hoà 3 loại lợi ích: Lợi ích của

xã hội (hoặc thu gọn hơn là lợi ích của Nhà nước); lợi ích của tập thể và lợi ích của cá nhân trên cơ sở các đòi hỏi của các quy luật khách quan

Các biện pháp kết hợp tốt 3 loại ích:

- Thực hiện đường lối phát triển kinh tế đúng đắn dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đặc điểm của đất nước Đường lối đó phản ánh lợi ích cơ bản và lâu dài của toàn xã hội cũng tức là lợi ích của mọi thành viên xã hội

- Xây dựng và thực hiện các quy hoạch và kế hoạch chuẩn xác Kế hoạch quy tụ quyền lợi của cả hệ thống và phải có tính hiện thực cao

- Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán kinh tế và vận dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế để quản lý một cách có hiệu quả mọi tiềm năng và cơ hội

Người lao động, các tập thể của họ không phải chỉ có lợi ích vật chất mà còn có lợi ích tinh thần Có những động cơ tinh thần, tư tưởng thúc đẩy hoạt động lao động của con người như: Giá trị lao động của mỗi người đối với xã hội, niềm tự hào và vinh dự lao động, lương tâm lao động và nhiệt tình sản xuất, niềm vui sáng tạo, hứng thú tăng thêm kiến thức và tìm tòi, sự phấn khởi về tình cảm Sự thích thú thẩm mü về lao động và kết quả lao động của mình Con người còn có những quyền lợi về chính trị, tự do, dân chủ, quyền hưởng thụ những giá trị văn hoá tinh thần do xã hội bảo đảm cho họ

Nhận thức lợi ích chẳng qua là vạch rõ khuynh hướng của các quy luật, phạm vi cường độ tác động của chúng, chỉ khi nào các hình thức và phương pháp quản lý phù hợp với lợi ích của xã hội, của tập thể và của cá nhân thì các quy luật của chủ nghĩa xã hội mới được nhận thức đúng đắn và được vận dụng khéo léo nhằm mục đích phát triển nền kinh tế xã hội Cho nên việc nghiên cứu lợi ích, việc thoả mãn và kết hợp chung là cơ sở vững chắc để cải tiến các phương pháp quản lý trong quản lý xã hội về kinh tế

2.4 Tiết kiệm và hiệu quả

Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt của một vấn đề Trong nền kinh tế sản xuất nhỏ, tiết kiệm thường đóng khung trong tiết kiệm tiêu dùng cá nhân, hoặc

Trang 22

người ta chỉ lo tiết kiệm trong việc sản xuất từng đơn vị sản phẩm, không tính đến và cũng không thể đáp ứng nhu cầu to lớn của toàn xã hội về tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng Đó là lối tiết kiệm theo kiểu làm ăn “cò con”, “dè xẻn”, không bảo đảm hiệu quả kinh tế cho nền sản xuất xã hội

Trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, từng nhà tư bản rất quan tâm tiết kiệm và quản lý của họ cũng nhằm tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao trong từng đơn

vị xí nghiệp

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tiết kiệm bao gồm cả tiết kiệm trong sản xuất, xây dựng và tiêu dùng Tiết kiệm cả lao động sống, lao động vật hoá và nguồn lực khác của đất nước Đặc biệt là nguồn lực về con người và nguồn lực thiên nhiên Cơ sở khách quan của chế độ tiết kiệm trong quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa và cũng là bảo đảm chắc chắn cho chế độ ấy trở thành hiện thực trong hoạt động kinh tế là tính kế hoạch trong toàn bộ nền sản xuất xã hội và sự nhất trí về lợi ích cơ bản trong xã hội xã hội chủ nghĩa giữa các giai cấp, các tầng lớp, các cá nhân người lao động xã hội chủ nghĩa, giữa lợi ích cá nhân tập thể và toàn xã hội

Để thực hiện nguyên tắc này, Nhà nước, các chủ thể quản lý kinh tế cần phải:

- Có đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn, phù hợp với đòi hỏi của các quy luật khách quan

- Xây dựng và thực hiện các quy hoạch và kế hoạch chuẩn xác để khai thác một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước

- Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán kinh tế Lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư

- Đổi mới các chính sách là đòn bẩy kinh tế nhằm khuyến khích sử dụng

có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực của đất nước

Trang 23

- Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng công quỹ trong các cơ quan,

cơ sở kinh tế Nhà nước

- Thực hành chế độ tiết kiệm, chống tham nhũng, xử lý nghiêm chỉnh những hành vi làm lãng phí, làm thất thoát tài sản xã hội chủ nghĩa

- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc quản lý và sử dụng tài sản xã hội chủ nghĩa

3 Yêu cầu vận dụng các nguyên tắc QLXH về KT

Việc hình thành các nguyên tắc QLXH về KT là công việc hết sức khó khăn Nhưng vận dụng chúng để thiết lập cơ chế, chính sách, giải pháp về QLXH về KT lại không kém phần phức tạp nó tùy thuoochj vào năng lực, trình

độ nghệ thuật của nhà quản lý Tuy nhiên, quá trình vận dụng nguyên tắc quản

lý kinh tế phải đảm bảo những yêu cầu chung sau đây:

Một là, coi trọng việc hoàn thiện hệ thống nguyên tắc QLXH về KT Như

đã đề cập nguyên tắc QLXH về KT mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Nhận thức của nhà quản lý luôn có giới hạn, trong khi quá trình kinh tế diễn ra đa dạng và có sự thay đổi thường xuyên Vì thế, phải không ngừng nghiên cứu lý luận để nâng cao khả năng nhận thức quy luật, đồng thời tổng kết thực tiễn nhằm hoàn thiện nội dung các nguyên tắc QLXH về KT Việc hoàn thiện hệ thống nguyên tắc QLXH về KT còn đòi hỏi một mặt phảu tự giác tôn trọng và kiên trì tuân thủ các nguyên tắc, mặt khác cần phát hiện những nguyên tắc không còn phù hợp, bổ sung nguyên tắc QLXH về KT mới phù hợp với quy luật khách quan và do sự đòi hỏi của thực tiễn vận hành nền kinh tế

Hai là, vận dụng tổng hợp các nguyên tắc QLXH về KT Mỗi nguyên tắc đều có mục đích, nội dung, yêu cầu riêng đối với quá trình QLXH về KT Từ việc nhận thức một cách đúng đắn vai trò của các nguyên tắc trong nền kinh tế phải biết vận dụng tổng hợp các nguyên tắc QLXH về KT trong việc xây dựng

cơ chế, chính sách, phương pháp, cơ cấu tổ chức bộ máy QLXH về KT nhằm phát huy ưu thế của từng nguyên tăc, đồng thời bảo đảm các nhân tố cần thiết của quá trình QLXH về KT, đó là: mục tiêu, động lực, phương tiện, phương pháp QLXH về KT

Trang 24

Ba là, lựa chọn hình thức và phương pháp vận dụng nguyên tắc QLXH về

KT phù hợp Hệ thống nguyên tắc chi phối việc hình thành các quyết định QLXH về KT ở tầm vĩ mô Tuy nhiên, phải tùy thuộc vào đối tượng quản lý, cấp quản lý và những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể để lựa chọn và quyết định hình thức, phương pháp vận dụng các nguyên tác QLXH về KT

Để lựa chọn hình thức và phương pháp vận dụng các nguyên tác QLXH về

KT, nhà quản lý QLXH về KT phải nắm vững được chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước và chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; hiểu rõ nội dung và yêu cầu của nguyên tắc; thực trạng kinh tế - xã hội của quốc gia và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra cần tiếp cận kinh nghiệm và những thành tựu mới, tiến bộ của nhân loại về QLXH về

KT để vận dụng hiệu quả các nguyên tắc trong việc đề ra các quyết định QLXH

về KT

Bốn là, cần có quan điểm toàn diện và hệ thống trong việc vận dụng các nguyên tắc QLXH về KT Trong QLXH về KT, hệ thống nguyên tắc giữ vai trò định hướng cho việc hình thành các quyết định quản lý, bao gồm phương pháp,

cơ chế, công cụ, tổ chức bộ máy QLXH về KT Chính vai trò định hướng đó đã quy định tính toàn diện và tính hệ thống của nguyên tắc QLXH về KT Yêu cầu bảo đảm tính toàn diện và tính hệ thống càng đặc biệt quan trọng đối với nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả Cụ thể là tiết kiệm và hiệu quả cần được xem xét trên bình diện rộng, thời gian dài và với thái độ thận trọng, tránh tư tưởng cục bộ, cách nhìn thiển cận và những quyết định vội vàng về QLXH về KT Điều này

có ý nghĩa sâu sắc trong việc lựa chọn các phương án đầu tư nước ngoài vào trong nước, các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, giao quyền sử dụng ruộc đất lâu dài cho nông dân ở Việt Nam

Iv Quá trình đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trưâng định hướng xhcn

1 Quá trình đổi mới quản lý xã hội về kinh tế

Đổi mới kinh tế, tức là chuyển đổi cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình đầy khó khăn, phức tạp Đó là cuộc tìm tòi, sáng tạo không ngừng của

Trang 25

toàn Đảng, toàn dân; là sự đổi mới có ý nghĩa cả về nhận thức, quan điểm, về thể chế chính sách, về bộ máy và cán bộ Cho đến nay, toàn bộ quá trình xác lập, phát triển và đổi mới quản lý xã hội về kinh tế của nước ta có thể chia ra làm ba giai đoạn: Giai đoạn trước năm 1979, giai đoạn từ năm1979 đến năm

1986 và giai đoạn từ năm1986 đến nay

1.1 Giai đoạn thực hiện thuần tuý cơ chế kế hoạch hoá tập trung (trước năm 1979)

Trước Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương (khoá IV) của Đảng (tháng 9 -1979) nền kinh tế nước ta được quản lý thuần tuý bằng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Ngay từ đầu cơ chế đó bộc lộ những nhược điểm, khuyết tật, nhưng trong điều kiện có hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, có viện trợ lớn và chiến tranh kéo dài nên các nhược điểm của cơ chế cũ chưa bộ lộ gay gắt Đặc biệt trong mười năm 1955 - 1965 đất nước ta vẫn dành được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực xây dựng, phát triển kinh tế, giáo dục, y tế.v.v và

đã tạo cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Như vậy, trong chừng mực đáng kể, cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã đáp ứng yêu cầu của thời chiến, đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng; đấu tranh giải phóng miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

Khi đất nước thống nhất, hoà bình được xác lập trên toàn quốc thì cơ chế quản lý tập trung bao cấp càng bộc lộ nhược điểm, trở thành lực cản của sự phát triển, nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực Tác động tiêu cực của nó biểu hiện rõ rệt trên các khía cạnh: Không tạo được động lực phát triển, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả, hạn chế tính chủ động, năng động, sáng tạo của cơ chế kinh tế và của người lao động.Trong cơ chế cũ các nhược điểm đã được phát hiện ngay trong thời kỳ chiến tranh chống Mü, đã có ba Hội nghị Trung ương: Hội nghị lần thứ mười chín Ban chấp hành Trung ương khoá III (1-1971), lần thứ 20 (4 -1972) và lần thứ hai mươi hai (4-1973) đã phê phán cơ chế hành chính - bao cấp và đưa ra phương hướng, biện pháp khắc phục, nhưng càng khắc phục thì tình trạng tập

Trang 26

trung, quan liêu bao cấp càng nặng nề thêm Khi đất nước thống nhất thì cơ chế

đó đã mở rộng ra trên phạm vi cả nước với mức độ cao hơn

1.2 Giai đoạn thử nghiệm từ năm 1979 đến năm1986.

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khoá IV) tháng 9-1979 được coi là mốc khởi đầu công cuộc đổi mới quản lý xã hội kinh tế của nước ta Tại Hội nghị này, lần đầu tiên, Đảng ta đưa ra quan điểm phát triển kinh tế hàng hoá, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, thể hiện ở những chủ trương cụ thể

như “bỏ ngăn sông, cấm chợ” “cho sản xuất bung ra”, thừa nhận sự tồn tại

nhiều thành phần kinh tế Những quan điểm mới đó ra đời trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta lúc đó cực kỳ khó khăn, sản xuất trong hầu hết các ngành đều đình đốn, đời sống nhân dân, cán bộ, lực lượng vũ trang quá khó khăn, một số cơ sở, địa phương đã tìm cách “xé rào” phá bỏ thể chế cũ, tìm cách

tự sản xuất và tiêu thụ để có thể nuôi sống người lao động

Trên cơ sở các quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương (khoá IV), Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, thể chế mới nhằm khuyến khích phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá Những chính sách tiêu biểu: Chỉ thị 357 của Chính phủ (3-10-1979) cho phép nông dân được nuôi và mua bán trâu, bò; trâu, bò được coi là hàng hoá; Chỉ thị số 100 của Ban Bí thư (13-1-1981) về: “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”; Quyết định số 25/CP (21-1-1981) của H«Þ đồng Chính phủ “Về một số chủ trương biện pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền chủ động sản xuất - kinh doanh và quyền tự chủ về sản xuất - kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh” Từ đây, nền kinh tế nước ta xuất hiện tình huống tồn tại song trùng hai cơ chế quản lý: Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp tác động trong phần kế hoạch A và một phần kế hoạch B của các xí nghiệp và trong phần sản phẩm khoán của các hợp tác xã nông nghiệp; cơ chế tự do (có thể coi như thị trường sơ khai) tác động trong phần kế hoạch C và phần còn lại của kế hoạch B của xí nghiệp, phần sản phẩm vượt khoán của nông dân Cũng

từ đó bắt đầu một cuộc đấu tranh cọ sát quyết liệt diễn ra trên hầu hết các lĩnh

Trang 27

vực giữa hai cơ chế theo xu hướng xoá bỏ từng bước cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xác lập cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Trên thực tế nền kinh tế nước ta, từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khoá IV (năm 1979), các quan hệ hàng hoá - tiền tệ được chấp nhận như một tất yếu khách quan, nhưng ở mức độ coi như mặt thứ yếu,

bổ sung cho hệ thống kế hoạch pháp lệnh tập trung Nhưng, chính từ sự chấp nhận đó đã thúc đẩy phát triển quan hệ hàng hoá - tiền tệ; đồng thời, đây được coi như quá trình thử nghiệm đổi mới và từng bước tổng kết, so sánh, lựa chọn, trong đó có cuộc đấu tranh khá gay gắt về tư tưởng, lý luận và chính sách Chính từ thực tiễn tìm tòi, thử nghiệm đó mà Đại hội VI của Đảng đã đi tới bước đổi mới căn bản, xem quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá như bộ phận hữu cơ của quá trình từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Điều đó có nghĩa là, trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về nguyên tắc, đất nước ta có thể bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng tất yếu phải kinh qua quá trình phát triển các quan hệ hàng hoá - tiền tệ Qua nhiều thập kû trước đây, tư tưởng kinh tế xã hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến, kiêng kỵ quan hệ hàng hoá và cơ chế thị trường, coi nó là biểu hiện thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản Tư tưởng Lªnin trong chính sách kinh tế mới bị xem như bước lùi tạm thời bất đắc dĩ Tư tưởng và thực tiễn đổi mới quản lý xã hội về kinh tế từ năm 1979 cho thấy các quan hệ thị trường, quan hệ hàng hoá, tiền tệ cần phải được sử dụng để phát triển sản xuất

Từ quá trình đấu tranh đổi mới quản lý xã hội về kinh tế giai đoạn đầu ở nước ta cho phép khẳng định: Không phải chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa thua chế độ tư bản chủ nghĩa, không phải con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, mà là kinh tế hiện vật thua kinh tế hàng hoá Kinh tế hàng hoá không phải thuộc tính riêng có của chủ nghĩa tư bản Với tư cách một quan hệ thị trường đã có từ rất lâu trước chế độ tư bản chủ nghĩa, sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong chủ nghĩa xã hội Các quan hệ ấy tồn tại và phát triển trong sự tác động qua lại với tất cả các quá trình kinh tế khách quan khác Tuy nhiên, bản chất

Trang 28

kinh tế - xã hội của các quan hệ ấy thay đổi phụ thuộc vào hình thái kinh tế – xã hội trong đó nó tồn tại và phát triển Trong điều kiện trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp, lại phải trải qua chiến tranh và chia cắt lâu dài, quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là một quá trình phức tạp, đặc thù mang tính lịch

sử - cụ thể

1.3 Giai đoạn đổi mới toàn diện từ 1986 đến nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 được coi là bước ngoặc có tính lịch sử đổi mới cơ chế quản lý xã hội về kinh tế Tư tưởng

cơ bản về đổi mới quản lý xã hội về kinh tế của Đại hội VI là:

- Phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trên cơ sở đổi mới cơ chế kinh tế, chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần và chuyển sang nền sản xuất hàng hoá

- Phải kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý có kế hoạch theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ

- Đến tháng 3 -1989, sau khi tổng kết hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương (khoá VI)

đã khẳng định: Cả nước là một thị trường thống nhất, có nhiều lực lượng thuộc các thành phần kinh tế cùng tham gia, thực hiện cơ chế đánh giá thoả thuận, giá kinh doanh Nhà nước bá quyền định giá, giữ giá bằng những biện pháp hành chính, mà thực hiện sự điều tiết bằng những biện pháp và công cụ kinh tế là chủ yếu Cũng từ tháng 3-1989, Nhà nước quyết định chuyển toàn bộ lương thực và 80% vật tư sang kinh doanh Đến đầu năm 1990, Nhà nước quyết định chuyển nốt 20% vật tư còn lại sang kinh doanh Bước chuyển sang cơ chế giá cả thị trường có điều tiết như vậy thể hiện sự thận trọng, từng bước thử nghiệm, đồng thời cũng thể hiện sự đấu tranh giữa hai cơ chế, từng bước xác lập cơ chế quản

lý mới Điều đó cũng làm cho nền kinh tế không bị những cơn sốc quá lớn.Giai đoạn tị năm 1989 đến nay, với việc thực hiện cơ chế giá kinh doanh,

cả nước là một thị trường thống nhất, gắn với thị trường thế giới và hàng loạt các biện pháp đồng bộ khác về tài chính, lãi suất ngân hàng và các biện pháp

Trang 29

chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN.

- Về sản xuất nông nghiệp, sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (5 - 4 -1988) đã tạo cơ sở cho hộ nông nghiệp trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, đòi hỏi phải đổi mới căn bản hợp tác xã nông nghiệp.Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng là 5 năm phấn đấu gian khổ, quyết liệt để thực hiện đổi mới mạnh mẽ Nhưng tình hình trong nước

và thế giới hết sức phức tạp: 5 năm liền lạm phát ba con số, đời sống nhân dân lao động và những người sống bằng tiền lương và trợ cấp xã hội giảm sút mạnh; nhiều xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp đình đốn Tình hình thế giới diễn biến phức tạp đã tác động xấu đến tình hình chính trị, kinh tế,

xã hội nước ta, nhưng đây cũng là thời kỳ thể hiện tinh thần độc lập dân chủ của Đảng và nhân dân ta quyết tâm đổi mới quản lý xã hội về kinh tế Với nỗ lực và quyết tâm cao trong việc kiên trì con đường đổi mới nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bước đầu hình thành, lạm phát giảm dần, sản xuất phát triển, từ một nước phải nhập lương thực trở thành nước xuất khẩu mỗi năm hàng triệu tÊn gạo, hàng tiêu dùng ngày càng phong phú, đời sống nhân dân bắt đầu được cải thiện, dân chủ trong xã hội được phát huy, lòng tin của nhân dân từng bước được khôi phục

Có thể khẳng định những kết quả đạt được trong thời kỳ này còn nhiều hạn chế và chưa vững chắc, nhiều vấn đề kinh tế và xã hội bức xúc nảy sinh, nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Đặc biệt thời kỳ cuối thập kû 80 đầu thập kû 90 của thỊ kû XX là thời kỳ biến động lớn của chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, quan hệ kinh tế giữa nước ta với các thị trường truyền thống bị đảo lộn, đã tác động sâu sắc đến nước

ta cả về chính trị, kinh tế, tư tưởng và tổ chức Trước tình hình phức tạp đó, Đảng ta vẫn kiên trì đường lối đổi mới, coi đổi mới để phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, tiếp tục tìm tòi đổi mới quản lý kinh tế

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) đã đề ra nhiệm vụ phải

“Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý

Trang 30

kinh tế Sắp xếp lại và củng cố các đơn vị kinh tế Từng bước hình thành và

mở rộng đồng bộ các thị trường Đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ

mô trọng yếu”1 và cải tiến công tác điều hành của Nhà nước Đại hội VII của

Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định sáu đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà

nhân dân ta xây dựng và bảy phương hướng cơ bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Phương hướng về kinh tế bao gồm: Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đại hoá gắn với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội để cải thiện đời sống nhân dân Về quan hệ sản xuất phải thiết lập từng bước quan hệ sản xuất

xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế quốc doanh

và tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh

tế làm chủ yếu

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6 -1996) của Đảng trên cơ

sở tổng kết toàn diện những thành công và những tồn tại, những bài học chủ yếu

của công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước Đảng ta đã xác định: “Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế “xã hội đến năm 2000; tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích luỹ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thỊ kû sau”

1 §¶ng céng s¶n ViÖt Nam: V¨n kiÖn §¹i héi §¹i biÓu toµn quèc lÇn thø VIII, Nxb, Sù thËt, Hµ Néi, 1991, tr 71.

Trang 31

66-Tị thực tiễn hơn 20 năm qua ở nước ta cũng như kinh nghiệm nhiều nước

đã cho thấy, quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN, đồng thời gia nhập thị trường thế giới, là quá trình đổi mới tất yếu và tiến bộ, mang tính cách mạng sâu sắc, chính vì vậy cũng là quá trình rất khó khăn, phức tạp Mọi quan niệm đơn giản, nóng vội, hoặc bảo thủ, trì trệ đều không tránh khỏi dẫn tới sai lầm, gây rối loạn kéo dài, thậm chí đổ vỡ

Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường là một quá trình toàn diện, nhiều mặt Nhiều người đã hiểu quá trình này một cách đơn giản như sự thay đổi cơ chế quản lý, mà không thấy đó thực chất là quá trình vừa chuyển đổi cơ chế quản lý, vừa cấu trúc lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu sở hữu, cơ cấu nhân lực, lao động ; là quá trình đổi mới sâu sắc hệ thống kinh tế, giáo dục và khoa học, nhất là về kinh tế, pháp lý, quản lý cho đến những yếu tố thuộc lĩnh vực tâm lý

xã hội, đạo đức, lối sống cho phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng kinh tế trong nước và sự cạnh tranh kinh tế ngày càng gay gắt trên bình diện quốc tế Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường như vậy là tình huống chưa

có tiền lệ, do đó tất yếu phải có thời gian thì nền kinh tế mới có thể đi vào quỹ đạo, chưa nói là ngang sức với nước ngoài về trình độ phát triển kinh tế thị trường Trong quá trình đó không tránh khỏi thời kỳ đầu chấp nhận tự do thương mại, xuất hiện trạng thái thị trường sơ khai (thị trường thiếu, tự phát, còn rối loạn), trong khi đó do phân tán nhỏ, kinh tế ngầm, thậm chí kinh doanh phi pháp mà chính chóng vừa góp phần phát triển, vừa gây rối loạn, các nhân tố

có sứ mệnh tạo lập trật tự là hệ thống ngân hàng, hệ thống tài chính, hệ thống doanh nghiệp lớn và bộ máy quản lý nhà nước còn yếu kém, thậm chí tiêu cực Trong điều kiện đó, rất cần có sự lãnh đạo, quản lý vĩ mô đủ bản lĩnh và trí tuệ

để ổn định kinh tế và chính trị, định hướng đúng, điều tiết có hiệu quả nền kinh tế

Lịch sử phát triển kinh tế của nhiều quốc gia đã chỉ rõ bài học: ổn định chính trị là điều kiện cực kỳ quan trọng là tiền đề của sự phát triển kinh tế

Đồng thời, xét về mặt nào đó, kinh tế thị trường được coi như công cụ để phát triển, do đó có thể “chung sống” với nhiều hình thái kinh tế - xã hội, nhiều thiết

Trang 32

chế chính trị - xã hội khác nhau Đổi mới về kinh tế theo hướng phát triển cơ chế thị trường đi trước một bước là vấn đề hàng đầu, bảo đảm ổn định chính trị, đồng thời tạo khả năng từng bước đổi mới hệ thống chính trị Bài học lớn trong bước chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta chỉ rõ: Đổi mới không phải nhất nhất đều bắt nguồn từ cấp trên xuống, quần chúng chỉ là người thụ động thừa hành Trong một mức độ đáng kể, quá trình đó nhiều khi khởi đầu của đông đảo quần chúng thực hiện quyền tự chủ, tự do làm ăn sinh sống, Đảng đã kịp thời nắm bắt, tổng kết, định hướng, từng bước đi tới đổi mới chính sách và

cơ chế quản lý kinh tế Đó là quá trình tìm tòi, mò mẫm, thử nghiệm sáng tạo bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, từ quần chúng, từ thực tế và là quá trình được Đảng kịp thời nhận thức, thích nghi và giữ vai trò lãnh đạo Với sự nghiệp to lớn, thì chiến lược hành động như trên là hoàn toàn đúng đắn Có thể ví đó là phương thức hành động khôn ngoan và dũng cảm của người thám hiểm, vừa đi vừa mở đường với sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng

Quá trình đổi mới ở nước ta lại diễn ra trong quá trình khủng hoảng kinh tế

- xã hội do đó càng khó có khả năng làm đâu đúng đó, thong dong, suôn sẻ Sự nghiệp đổi mới sâu sắc có tính cách mạng khó tránh khỏi những sai sót Chúng

ta dám nhìn thẳng vào sự thật, không ảo tưởng “miễn dịch” cũng không hốt hoảng khi xảy ra khủng hoảng Điều đáng chú ý là năm 1989 chúng ta thẳng thắn thừa nhận có khủng hoảng kinh tế - xã hội, thì cũng ngay năm đó, chúng ta

đề ra được những giải pháp khắc phục đúng đắn, làm cho khủng hoảng dịu hẳn

và từ đó đến nay đã đạt được những bước tiến đáng kể, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2 Đánh giá những thành tựu bước đầu và những vấn đề đang đặt ra trong quản lý xã hội về kinh tế

2.1 Thành tựu

Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam trong những năm vừa qua, nước ta đã giành được những thành tựu to lớn có tính chiến lược về kinh tế là: Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển, quan hệ sản xuất được điều chỉnh hợp với yêu

Trang 33

cầu phát triển của lực lượng sản xuất, cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành, ngày càng phát huy tác dụng, đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thành tựu đó được thể hiện

cả về mặt kinh tế và vỊ mỈt xã hội

2.2 Khuyết điểm và yếu kém

Bên cạnh ưu điểm và thành tựu đạt được, việc đổi mới quản lý xã hội về kinh tế còn nhiều khuyết điểm và yếu kém sau đây:

- Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp; năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, đầu tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều

- Trong phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới vừa lúng túng, vừa buông lỏng, chưa phát huy tốt tiềm năng, giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất của các thành phần kinh tế Kinh tế nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chủ đạo; chưa có chuyển biến đáng kể trong việc sắp xếp đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước; kinh tế tập thể chưa mạnh; chưa có đủ chính sách để khuyến khích tư nhân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh, đồng thời quản lý tốt thành phần kinh tế này

- Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ nhất quán, chưa tạo động lực mạnh để phát triển Có những chính sách đúng bị biến dạng qua nhiều tầng nấc hành chính quan liêu Việc ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành luật còn chậm

- Nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí của công, tiêu cực trong bộ máy nhà nước chưa được ngăn chặn, thậm chí tiếp tục tăng lên Phân hoá giàu - nghèo ngày càng tăng, tệ nạn xã hội phát triển, trật tự an toàn xã h«Þ chưa được bảo đảm tốt

- Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế chậm được sắp xếp lại, tinh giản và nâng cao chất lượng, tệ quan liêu, cửa quyền, mất dân chủ còn nặng nề Năng

Trang 34

lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý về kinh tế và quản trị kinh doanh chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ.

Đặc biệt đáng chú ý là sau thời kỳ phát triển mạnh mẽ (1991-1995), tình hình kinh tế - xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn, nhịp độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1996 -1999 chậm dần, năm 2000 - 2005 đã tăng trở lại nhưng vẫn chưa đạt mức tăng trưởng cao như những năm giữa thập niên 90 Nhiều chỉ tiêu quan trọng không đạt mức do Đại hội của Đảng đề ra

3 Đường lối tiếp tục đổi mới quản lý xã hội về kinh tế

3.1 Những yêu cầu đối với quản lý xã hội về kinh tế

- Nâng cao trình độ và năng lực quản lý kinh tế bao gồm quản lý xã hội về kinh tế và quản trị kinh doanh đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thích nghi với nền kinh tế thị trường và trình độ quản lý của các nước trong khu vực và trên thế giới

- Cần thực hiện đúng và tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý xã hội về kinh tế, vừa đảm bảo dân chủ, phát huy tính tự chủ độc lập sáng tạo của cấp dưới, của các ngành, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế để phát triển kinh tế có hiệu quả; đồng thời bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, thiết lập trật tự kû cương, bảo đảm sự kiểm soát và quản lý tài sản công

- Phải kỊt hợp quản lý xã hội về kinh tế với quản lý xã hội nói chung để đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, hạn chế sự băng hoại đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phá hoại môi trường sinh thái, hạn chế các tiêu cực xã hội

- Cần xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức quản lý xã hội về kinh tế

có phẩm chất và năng lực, vừa trong sạch vừa đủ trình độ (lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý hiện đại, ngoại ngữ ) và thích ứng với điều kiện mới

- Phải bảo đảm tính hiệu quả của quản lý, bộ máy gọn nhẹ, khắc phục quan liêu, phiền hà, giải quyết công việc nhanh nhậy, linh hoạt

3.2 Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý xã hội về kinh tế

* Quan điểm và phương hướng chung

Trang 35

Cơ chế quản lý xã hội về kinh tế ở nước ta trong những năm tiếp theo là sự

kế tục và phát triển cơ chế quản lý kinh tế từ Đại hội VI, với quan điểm nhất quán: “Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp”, đổi mới quản lý kinh tế nhằm phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác

Cơ chế quản lý phải phù hợp với cơ cÂu kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi và phải có tác dụng thúc đẩy phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Cơ cÂu thành phần kinh tế cũng là yếu tố quan trọng quyết định quá trình đổi mới cơ chế quản lý xã hội về kinh tế

Cơ cấu thị trường có ảnh hưởng to lớn đến đổi mới cơ chế quản lý xã hội

về kinh tế Quá trình đổi mới kinh tế nước ta cho phép nhận thức đúng đắn hơn

về cơ cấu thị trường, về các quan điểm đổi mới cơ chế quản lý xã hội về kinh tế trong điều kiện cơ cÂu thị trường ngày càng phát triển một cách đầy đủ

* Nội dung đổi mới cơ chế quản lý xã hội về kinh tế.

- Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế

- Đổi mới công tác hoạch toán

- Đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt chú trọng chính sách tài chính tiền tệ

- Giải quyết tốt các chính sách xã hội

- Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý xã hội về kinh tế của Nhà nước

* Những nhân tố cần thiết bảo đảm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Định hướng xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là bản chất của nền kinh tế nước ta, nó thể hiện bản lĩnh chính trị của Đảng ta trong công cuộc đổi mới

Lý luận và thực tiễn đã chứng tỏ kinh tế thị trường có thể tồn tại với nhiều

cơ chế xã hội, là thành tựu của nhân loại, do đó nó được coi như một phương tiện, gắn liền với một thiết chế chính trị và ý tưởng của Nhà nước đương quyền

Trang 36

Chủ nghĩa xã hội với mục tiêu tốt đẹp, nhân văn cần phải sử dụng động lực của kinh tế thị trường làm cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, đó là mục tiêu cao cả của chế độ xã hội mà Đảng và nhân dân ta đang hướng tới.

- Mục đích là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng

cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân

- Về sở hữu, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc

- Về quản lý, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước

- Về phân phối, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp và các nguồn khác vào sản xuất - kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội

v phương pháp quản lý xã hội về kinh tế

1 Khái niệm

Các phương pháp quản lý của chí thể quản lý xã hội về kinh tế (hoặc là các phương pháp quản lý xã hội về kinh tế) là tổng thể các cách thức tác động có chủ đích của các chủ thể quản lý lên hệ thống kinh tế quốc dân, nhằm đạt được mục tiêu quản lý kinh tế - xã hội đặt ra

2 Các phương pháp quản lý xã hội về kinh tế

2.1 Phương pháp hành chính

Phương pháp hành chính trong quản lý xã hội về kinh tế là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết định dứt khoát mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong những tình huống nhất định

Đặc điểm cơ bản của phương pháp hành chính trong quản lý xã hội về kinh tế là tính bắt buộc, tính quyền lực

Trang 37

Vai trò của phương pháp hành chính trong quản lý xã hội về kinh tế rất to lớn Nó xác lập trật tự kû cương làm việc trong hệ thống, khâu nối các phương pháp khác lại thành một hệ thống; có thể giấu được ý đồ hoạt động và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng.

Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng: Tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối tượng của quản lý xã hội về kinh tế

Các phương pháp hành chính đòi hỏi chủ thể quản lý phải có quyết định dứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ người thực hiện, loại trừ khả năng có sự giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giao

Tác động hành chính có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết định Vì vậy, các phương pháp hành chính hết sức cần thiết trong những trường hợp hệ thống quản lý rơi vào những tình huống khó khăn, phức tạp

Đối với những quyết định hành chính thì cấp dưới bắt buộc phải thực hiện, không được lựa chọn, chỉ có cấp thẩm quyền ra quyết định mới có quyền thay đổi quyết định

Sử dụng các phương pháp hành chính đòi hỏi các cấp quản lý phải nắm vững những yêu cầu chặt chẽ sau đây:

Một là, quyết định hành chính chỉ có hiệu quả cao khi quyết định đó có

căn cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế

Hai là, khi sử dụng các phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn

và trách nhiệm của cấp ra quyết định

Tóm lại, các phương pháp hành chính là hoàn toàn cần thiết, không có

phương pháp hành chính thì các chủ thể không thể quản lý kinh tế có hiệu quả Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật với các thể chế quản lý kinh tế phù hợp là nội dung cơ bản của quản lý xã hội về kinh tế ở nước ta hiện nay

2.2 Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế là sự tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động

Trang 38

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của con người đều tuân theo các quy luật kinh tế khách quan Sự chi phối của các quy luật đối với hoạt động của con người đều thông qua lợi ích kinh tế Các phương pháp kinh tế chính là các phương pháp tác động của chủ thể quản lý xã hội về kinh tế thông qua sự vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế - kỹ thuật; tức là về thực chất các phương pháp kinh tế là một biện pháp để sử dụng các quy luật kinh tế.

Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là nó tác động lên đối tượng quản

lý không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu nhiệm vụ phải đạt, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ Các phương pháp kinh tế tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân của đối tượng bị quản lý, chứa đựng nhiều yếu tố kích thích kinh tế cho nên tác động rất nhạy bén, linh hoạt, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người lao động

và các tập thể lao động

Các phương pháp kinh tế mở rộng quyền hành động cho các cá nhân và các doanh nghiệp, đồng thời cũng tăng trách nhiệm kinh tế của họ Điều đó giúp chủ thể quản lý giảm được nhiều việc điều hành, kiểm tra, đôn đốc chi ly, vụn vặt mang tính chất sự vụ hành chính, nâng cao ý thức kû luật tự giác của con người và của mọi doanh nghiệp Việc sử dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn được Nhà nước định hướng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch, các mục tiêu kinh tế của từng thời kỳ của đất nước Nhưng đây không phải là những nhiệm vụ gò ép mệnh lệnh chủ quan mà là những mục tiêu, nhiệm vụ có căn cứ khoa học và cơ sở chủ động

Ngày nay, xu hướng chung của các nước là mở rộng việc áp dụng các phương pháp kinh tế Để làm việc đó, cần chú ý một số vấn đề quan trọng sau đây:

Một là, phải hoàn thiện hệ thống các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực

vận dụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trường

Hai là, để áp dụng phương pháp kinh tế phải thực hiện sự phân cấp đúng

đắn giữa các cấp quản lý theo hướng mở rộng quyền hạn cho các cấp dưới

Trang 39

Ba là, sử dụng phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý phải có một

trình độ và năng lực về nhiều mặt Bởi vì sử dụng các phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý phải hiểu biết và thông thạo nhiều loại kiến thức và kinh nghiệm quản lý, đồng thời phải có bản lĩnh tự chủ vững vàng

2.3 Phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục là cách tác động vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ

Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý kinh tế vì đối tượng của quản lý là con người - một thực thể năng động và là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội Do đó để tác động lên con người không chỉ dùng các phương pháp hành chính, kinh tế, mà còn có tác động tinh thần, tâm lý - xã hội

Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý Đặc trưng của các phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho người lao động phân biệt phải - trái, đúng - sai, lợi - hại, đẹp - xấu, thiện - ác, từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với doanh nghiệp

Các phương pháp giáo dục thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng người lao động, có tác động giáo dục rộng rãi trong xã hội

Nội dung giáo dục:

- Giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước để mọi người dân đều hiểu, đều ủng hộ và đều quyết tâm xây dựng đất nước, có ý chí làm giàu

- Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, có năng suất, có hiệu quả, có tổ chức

- Xoá bỏ tâm lý và phong cách của người sản xuất nhỏ;

- Xoá bỏ tàn dư tư tưởng phong kiến;

- Xoá bỏ tàn dư tư tưởng tư sản;

- Xây dựng tác phong đại công nghiệp;

Các hình thức giáo dục: Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng (sách, báo, đài phát thanh, truyền hình ), sử dụng các đoàn thể, các hoạt động

Trang 40

có tính xã hội Tiến hành giáo dục cá biệt, sử dụng các hội nghị tổng kết, hội thi tay nghề, hội chợ triển lãm v.v , sử dụng các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả v.v

2.4 Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý trong quản lý xã hội

về kinh tế

Để thực hiện tốt chức năng kinh tế và quản lý xã hội về kinh tế của mình, trong quá trình quản lý kinh tế các chủ thể quản lý kinh tế cần vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý xã hội về kinh tế Yêu cầu này xuất phát từ những căn cứ sau:

- Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, hoạt động nhiều động cơ

- Các phương pháp quản lý hoạt động mang tính hệ thống

Việc vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý xã hội về kinh tế được thể hiện trong quá trình đề ra và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý của các chủ thể Đó chính là việc sử dụng tổng hợp các công cơ từ công cơ kế hoạch

và pháp luật đến các đòn bẩy kinh tế và các công cơ khác như các phương tiện thông tin đại chóng và hệ thống giáo dục đào tạo v.v

2.5 Nghệ thuật quản lý xã hội về kinh tế

Nghệ thuật quản lý kinh tế của các chủ thể là việc xem xét động tĩnh công việc để chế ngù nó một cách có hiệu quả nhất, thực hiện thành công mọi ý đồ, chiến lược, mục tiêu, kế hoạch phát triển đất nước

- Cơ sở của nghệ thuật quản lý xã hội về kinh tế: Nghệ thuật quản lý xã hội

về kinh tế được tạo lập trên cơ sở của tiềm lực, tài thao lược quản lý và yếu tố giữ được bí mật ý đồ

- Tiềm lực, sức mạnh của đất nước là một thực lực cơ bản để tạo cơ sở cho nghệ thuật quản lý Đó là sự cÂu kết lòng dân, là sức mạnh của khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, là khả năng nắm bắt được thông tin nhanh hơn, sớm hơn và chính xác hơn các đối thủ khác; đó đồng thời cũng là khả năng thu hút các nguồn lực từ các nơi khác về với mình

- Kiến thức thông tin: Là khả năng nhận biết được các quy luật diễn ra trên mọi mặt của các hoạt động kinh tế của hệ thống

Ngày đăng: 10/11/2014, 22:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Khoa Nhà nước - Pháp luật, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2003) Giáo trình “Các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
40. Khoa kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2003), Giáo trình “Nguyên lý quản lý kinh tế”, Nxb Chính trị quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý quản lý kinh tế
Tác giả: Khoa kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Khác
6. Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Nghị quyết số 51/2001/QH10 (2001), về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khác
8. Quốc hội (2003), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội Khác
11. Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội (1999), Quản lý công nghệ, Nxb Tài chính Khác
12. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1998), Công nghệ và Quản lý công nghệ, Nxb Khoa học và Kỹ thuật. HN Khác
14. Luật Bảo vệ khoáng sản năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2005 Khác
16. Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004).17. Luật Đất đai (2003) Khác
20. Học viện Hành chính quốc gia, Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005, phần 2, quyển 2 Khác
21. Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Khoa học quản lý, Giáo trình chính sách kinh tế - xã hội, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2000 Khác
22. Đỗ Hoàng Toàn (1997), Giáo trình Lý thuyết quản lý kinh tế, Nxb Giáo dục, HN Khác
23. Trương Văn Bản (1996), Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước, Nxb CTQG, HN Khác
24. Lương Xuân Quơ (1994), Cơ chế thị trường và vai trò Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam, Nxb Thống kê, HN Khác
25. Học viện Tài chính (2002), Kin tế đầu tư, Nxb Tài chính, HN Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w