A. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nền kinh tế thị trường cũng như quá trình hội nhập kinh tế thế đang đặt chúng ta trước nhiều cơ hội, thách thức lớn và tri thức về quản lý Kinh tế xã hội đang là một trong những vấn đề được đông đảo các nhà xã hội quan tâm. Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Hoạt động quản lý đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội và quản lý như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất. Đây chúng là việc lựa chọn các phương pháp quản lý. Một trong những phương pháp quản lý được sử dụng rộng rãi trong công tác quản lý hiện nay là phương pháp kinh tế. Trong thực tiễn quản lý, con người đem lại các loại phương pháp quản lý phong phú đa dạng, cụ thể hoá thành kĩ thuật quản lý. Việc sử dụng phương pháp kinh tế trong thực tiễn đã đem lại những hiệu quả cao trong quản lí nói chung và quản lí xã hội về kinh tế nói riêng. Các phương pháp quản lý luôn có mối quan hệ với nhau. Vận dụng tốt phương pháp quản lý này sẽ tạo điều kiện cho việc sử dụng tốt các phương pháp kia. Trong điều kiện phát triển và hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay thì việc sử dụng phương pháp kinh tế xét cho cùng vẫn là phương pháp quan trọng nhất vì nó thường đem lại hiệu quả rõ rệt, là tiền đề vững chắc và lâu dài để vận dụng các phương pháp còn lại trong quản lí kinh tế. 2. Mục đích nghiên cứu Nhằm làm rõ nội dung và vai trò của phương pháp kinh tế, cũng như tìm hiểu tình hình việc vận dụng phương pháp này trong QLXH về kinh tế. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao việc vận dụng phương pháp kinh tế trong QLXH về kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển. 3. Tình hình nghiên cứu Vấn đề này mặc dù đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu và cũng đã mang lại nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được đi sâu nghiên cứu trên một lĩnh vực cụ thể, cũng như việc áp dụng nó còn rất hạn chế và chua thục sự khoa học, cho nên hiệu quả mang lại chưa cao. 4. Kết cấu tiểu luận Tiểu luận gồm 3 phần: mở đầu, nội dung gồm 3 chương và phần kết thúc.
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nền kinh tế thị trường cũng như quá trình hội nhập kinh tế thế đang đặtchúng ta trước nhiều cơ hội, thách thức lớn và tri thức về quản lý Kinh tế - xãhội đang là một trong những vấn đề được đông đảo các nhà xã hội quan tâm.Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọicấp độ và có liên quan đến mọi người Hoạt động quản lý đóng vai trò vôcùng quan trọng trong đời sống xã hội và quản lý như thế nào để đạt hiệu quảtốt nhất Đây chúng là việc lựa chọn các phương pháp quản lý Một trongnhững phương pháp quản lý được sử dụng rộng rãi trong công tác quản lýhiện nay là phương pháp kinh tế Trong thực tiễn quản lý, con người đem lạicác loại phương pháp quản lý phong phú đa dạng, cụ thể hoá thành kĩ thuậtquản lý Việc sử dụng phương pháp kinh tế trong thực tiễn đã đem lại nhữnghiệu quả cao trong quản lí nói chung và quản lí xã hội về kinh tế nói riêng
Các phương pháp quản lý luôn có mối quan hệ với nhau Vận dụng tốtphương pháp quản lý này sẽ tạo điều kiện cho việc sử dụng tốt các phươngpháp kia Trong điều kiện phát triển và hội nhập kinh tế thế giới như hiện naythì việc sử dụng phương pháp kinh tế xét cho cùng vẫn là phương pháp quantrọng nhất vì nó thường đem lại hiệu quả rõ rệt, là tiền đề vững chắc và lâudài để vận dụng các phương pháp còn lại trong quản lí kinh tế
Vấn đề này mặc dù đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu và cũng
đã mang lại nhiều kết quả khả quan Tuy nhiên vấn đề này vẫn chưa được đisâu nghiên cứu trên một lĩnh vực cụ thể, cũng như việc áp dụng nó còn rấthạn chế và chua thục sự khoa học, cho nên hiệu quả mang lại chưa cao
4 Kết cấu tiểu luận
Trang 2Tiểu luận gồm 3 phần: mở đầu, nội dung gồm 3 chương và phần kếtthúc.
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Phương pháp quản lí xã hội về kinh tế là tổng thể các cách thức tác
động có chủ đích của các chủ thể quản lí lên hệ thống kinh tế quốc dân, nhằmđạt được mục tiêu quản lí kinh tế - xã hội đặt ra
- Phương pháp kinh tế là sự tác động vào đối tượng quản lí thông qua
các lợi ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lí lựa chọn phương án hoạt động
có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động
- Quản lí xã hội về kinh tế là sự tác động có kế hoạch, sắp xếp tổ chức,
chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra của chủ thể quản lí xã hội về kinh tếđối với các quá trình xã hội và hoạt động của con người trong quá trình tổchức và quản lí đối với toạn bộ nền kinh tế quốc dân, để chúng phát triển phùhợp với quy luật, đúng ý chí, đạt được mục đích của chủ thể quản lí, với chiphí thấp
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất là phát triển nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng XHCN
1.2 Vai trò của việc sử dụng phương pháp kinh tế trong QLXH về kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trong công tác quản lý, việc xây dựng mục tiêu cũng như hìnhthành các nguyên tắc quản lý mới chỉ giúp các nhà quản lý xác địnhđược những định hướng, chuẩn mực mà họ phải tuân thủ trong quá trìnhthực hiện các tác động quản lý, nhưng phải làm thế nào, bằng cách thức
cụ thể nào để đạt mục tiêu đã đề ra là vấn đề chỉ được giải quyết thôngqua các phương pháp quản lý Phương pháp quản lý nói chung và
Trang 4phương pháp kinh tế nói riêng có liên quan chặt chẽ đến hiệu quả thựchiện mục tiêu của quản lý, xác định con đường, biện pháp, thủ thuật…
mà các nhà quản lý cần lựa chọn, sử dụng để đạt hiệu quả cao nhấttrong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra
Quản lý chỉ thành công khi các yếu tố nguồn lực được khai thác
và sử dụng hợp lý trong đó nguồn lực con người đóng vai trò quyếtđịnh Nhu cầu của con người bao gồm cả hai yếu tố vật chất và tinhthần Trong đó vật chất luôn là yếu tố đầu tiên quyết định sự tồn tại củacon người Do đó sử dụng phương pháp kinh tế sẽ kích thích tối đa sự
tự giác, sáng tạo, tính chủ động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ củacác nhân viên Mặt khác khi sử dụng phương pháp kinh tế, chủ thể quản
lý có thể giảm được đáng kể khối lượng công việc bằng việc trao quyềnchủ động cho cấp dưới, nhất là với nghiệp vụ, biện pháp tiến hành cáccông việc cụ thể mang tính sự vụ mà vẫn đảm bảo được rằng nhiệm vụgiao cho cấp dưới có thể được hoàn thành một cách tốt nhất
Công tác quản lý nói chung, công tác quản lý kinh tế nói riêngtrong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay đòihỏi các nhà quản lý phải tăng cường sử dụng phương pháp này xuấtphát từ vai trò quan trọng đặc biệt của phương pháp kinh tế
1.3 Đặc điểm của phương pháp kinh tế
1.3.1 Cơ sở của phương pháp.
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động vào quan hệ kinh tếcủa con người, trong đó trước hết và chủ yếu phải nói tới quan hệ về lợiích kinh tế Lợi ích kinh tế là động lực cơ bản thúc đẩy con người tíchcực lao động, là vấn đề quan trọng đầu tiên của các bên quan tâm trongquá trình thiết lập và thực hiện các mối quan hệ Phương pháp kinh tếthông qua lợi ích kinh tế để tác động, động viên sự năng động, sáng tạocủa các đối tượng quản lý trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chủ thểquản lý giao cho họ
Trang 51.3.2 Đặc trưng của phương pháp.
Việc sử dụng phương pháp kinh tế luôn gắn liền với việc sử dụngcác loại đòn bẩy kinh tế, các hình thức kích thích kinh tế, các mối quan
hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trường Thực chất của phương phápquản lý là tác động vào lợi ích kinh tế của đối tượng quản lý Điều đóchỉ được thực hiện thông qua các đòn bẩy kinh tế như thuế, lãi suất, giá
cả, tỉ giá hối đoái (dưới góc độ kinh tế quản lý vĩ mô) hoặc tiền lương,thưởng, khoán… (dưới góc độ kinh tế vĩ mô)
Phương pháp kinh tế tác động lên đối tượng quản lý không bằngcưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích Trong đó chủ thể quản lý saukhi xác định mục tiêu, nhiệm vụ cho đối tượng quản lý sẽ đưa ra nhữngđiều kiện khuyến khích về kinh tế - những phương tiện vật chất có thể
sử dụng để đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án phù hợp để thựchiện có hiệu quả Lợi ích đó thể hiện qua thu nhập của mỗi người, lấylại từ thành quả chung, phù hợp với mức độ lợi ích chung, coi nhẹ lợiích cá nhân của mỗi người sẽ làm triệt tiêu động lực của họ Do đóngười quản lý phải hết sức coi trọng vận dụng phương pháp kinh tế đểđạt hiệu quả tốt nhất trong quản lý
1.3.3 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp kinh tế.
Phương pháp kinh tế là phương pháp sử dụng các hình thức kinh
tế khách quan để tác động đến lợi ích kinh tế của đối tượng quản lý,dùng lợi ích và thông qua lợi ích kinh tế của đối tượng quản lý, dùnglợi ích và thông qua lợi ích để định hướng, hướng dẫn và thúc đẩy hoạtđộng của đối tượng quản lý đạt được mục tiêu đề ra với kết quả caonhất
Ưu điểm cơ bản của phương pháp kinh tế ở chỗ nó tác động vàolợi ích kinh tế, từ đó tạo động lực thúc đẩy con người tích cực lao động.Động lực đó sẽ càng lớn nếu chủ thể quản lý nhận thức đầy đủ và kếthợp đúng đắn lợi ích tồn tại khách quan trong tổ chức Lợi ích của các
cá nhân đạt được đặt trong lợi ích chung của hệ thống Mỗi đối tượng
Trang 6quản lý vì lợi ích vật chất thiết thân của mình mà phát huy đến mức tối
đa khả năng sáng tạo, tính chủ động trong quá trình thực hiện nhữngnhiệm vụ mà cấp trên giao cho họ
Ngoài ra phương pháp kinh tế mở rộng quyền hoạt động cho cácđối tượng quản lý đi đôi với việc tăng cường trách nhiệm kinh tế của
họ Ý thức tổ chức kỉ luật của người lao động cũng được tăng cường,tính tự giác được đề cao hơn là những biện pháp mang tính bắt buộc, gòép
Tuy nhiên phương pháp kinh tế cũng có những hạn chế vốn cócủa nó Nếu lạm dụng phương pháp kinh tế sẽ dẫn người ta tới chỗ chỉnghĩ lợi dụng ích vật chất, thậm chí lệ thuộc vào vật chất, tiền của màquên tinh thần, đạo lý, có thể dẫn tới những hành vi phạm pháp Độnglực từ lợi ích cá nhân của mỗi người nếu không định hướng và kiểmsoát, nó sẽ dẫn người ta đến chỗ làm ăn phi pháp, phi đạo lý
1.4 Nội dung của phương pháp kinh tế.
1.4.1 Lợi ích kinh tế.
Nhu cầu của con người là vô cùng phong phú đa dạng, tập trungvào 2 nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và tinh thần trong đó yếu tốvật chất luôn đóng vai trò quyết định Mục đích lao động của con người
là vì lợi ích vật chất Với mong muốn làm giàu cho bản thân, cho giađình và cho xã hội, con người dưới tác động của các lợi ích vật chấtnhư tiền lương, tiền thưởng sẽ là những động lực cơ bản để thúc đẩy sựhăng say lao động của họ Tuy nhiên lợi ích vật chất gắn liền với nhucầu về tinh thần Người quản lý phải biết kết hợp cả hai yếu tố này đểphát huy cao nhất năng lực của các thành viên trong tổ chức
1.4.2 Thưởng phạt kinh tế.
Công tác quản lý đòi hỏi phải tạo ra và duy trì một môi trường,
mà ở đó mọi người làm việc cùng nhau trong các nhóm để hoàn thànhmột mục tiêu chung Một nhà quản lý không thể làm được việc đó nếukhông biết cái gì sẽ thúc đẩy mọi người Yếu tố thưởng phạt kinh tế đã
Trang 7được các nhà quản lý sử dụng như một động lực thúc đẩy các hành vimong muốn và xuất phát từ mức độ hoàn thành công việc của đối tượngquản lí Theo đó, nhân viên sẽ được thưởng nếu như họ hoàn thành tốtcông việc và sẽ bị phạt nếu như không hoàn thành nhiệm vụ mà tổ chứcgiao cho.
1.4.3 Các khoản hỗ trợ kinh tế gián tiếp.
Phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩycon người hành động vì nhu cầu vật chất là điều kiện cơ bản về cuộcsống của mọi người Do đó khi con người thực hiện công việc nào đóđều quan tâm đến lợi ích vật chất, và thu nhập Ngoài tiền lương, tiềnthưởng, phúc lợi cũng là lợi ích bổ sung cho thu nhập của con người.Phúc lợi không liên quan đến công việc, nhưng nó có ý nghĩa củng cốthêm mục tiêu của tổ chức, giúp thu hút và động viên các thành viênlàm việc tốt hơn cho tổ chức
Trang 8Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP KINH TẾ TRONG QLXH VỀ KINH TẾ CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI Ở
NGHỆ AN HIỆN NAY
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Nghệ An
2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên
Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Với diện tích 16.487km Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp Lào,phía đông giáp biển Đông Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh,nằm cách thủ đô Hà Nội 300 km về phía nam
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Kinh tế
Hiện nay ngành công nghiệp của Nghệ An tập trung phát triển ở 3 khuvực là Vinh - Cửa lò gắn với Khu kinh tế Đông Nam, Khu vực Hoàng Mai vàkhu vực Phủ Quỳ Phấn đấu phát triển nhiều ngành công nghiệp có thế mạnhnhư các ngành chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến thuỷ hải sản, dệt may,vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ,
đá trang trí, sản xuất bao bì, nhựa, giấy
Nghệ An có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế với nhiềutài nguyên thiên nhiên: Tỉnh Nghệ An có 1.648.728 ha diện tích đất tự nhiên
Có diện tích rừng rộng lớn với nhiều lâm sản quý Toàn tỉnh có 113 vùng mỏlớn nhỏ và 171 điểm quảng, nổi bật là than, thiếc, boxit, đá vôi, đất sét, sét ximăng
Toàn tỉnh có 92km bờ biển với trên 267 loài cá sinh sống trong đó cótrên 62 loài kinh tế cao, có 20 loài tôm với trữ lượng khoảng 600 tấn
Ngoài ra Nghệ An cũng có nhiều tiềm năng du lịch: Có bãi tắm Cửa Lò
là khu nghỉ mát; Khu du lịch biển diễn Thành, huyện Diễn Châu - một bãibiển hoang sơ và lãng mạn; khu di tích Hồ Chí Minh, khu di tích đền Cuông
Trang 9Năm 2008, Khu du lịch Bãi Lữ được đưa vào khai thác Với nhiều lắm nhữngdanh lam thắng cảnh, hệ thống di tích, văn hoá phong phú về số lượng, độcđáo về nội dung, đa dạng về loại hình, Nghệ An đang là miền đất hứa, là địachỉ du lịch hấp dẫn đối với du khách.
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước, hội tụ tất cả các yếu tốcho phát triển kinh tế đặc biệt là kinh tế biển Với lợi thế là địa phương cóchiều dài bờ biển khoảng 82 km cùng nhiều tiềm năng về thuỷ hải sản, thắngcảnh thiên nhiên đẹp, một cảng vận chuyển hiện đại, nằm trong hành langkinh tế Đông - Tây và trên các tuyến du lịch quốc gia và quốc tế đã tạo điềukiện thuận lợi cho Nghệ An tận dụng, khai thác và phát triển mạnh các ngànhkinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế
Ngoài tiềm năng về nuôi trồng, khai thác thuỷ hải sản, phát triển côngnghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch , vùng ven biển Nghệ An còn có tiềmnăng để phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Trênthực tế, ngành nghề TTCN, làng nghề ven biển Nghệ An tuy đã được chútrọng phát triển nhưng tốc độ còn chậm, hiệu quả chưa cao, chưa tương xứngvới tiềm năng, lợi thế của tỉnh Vì thế, việc nhìn nhận một cách khách quanthực trạng, qua đó nghiên cứu đề xuất những giải pháp cơ bản để khắc phụctình trạng này có ý nghĩa quan trọng
2.2 Thực trạng việc sử dụng phương pháp kinh tế trong QLXH về kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế thế giới ở Nghệ An hiện nay.
Để thực hiện mục tiêu đưa Nghệ An trở thành tỉnh công nghiệpvào năm 2020, bên cạnh việc sử dụng phối hợp các phương pháp quản
Trang 10lí xã hội về kinh tế tỉnh Nghệ An đã đẩy mạnh việc sử dụng các Phươngpháp kinh tế Cụ thể là việc vận dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bẩykinh tế, các định mức kinh tế kĩ thuật trong quản lí xã hội về kinh tế.điều đó được thể hiện rõ thông qua việc hoạch định đưa ra các chínhsách tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế cũng như đầu tư, khuyếnkhích, đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh.Nền kinh tế tỉnh nhà đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận thông quaviệc sử dụng hệ thống các công cụ đòn bẩy kinh tế cũng như vận dụngcác quan hệ hàng hóa – tiền tệ, quan hệ thị trường…
2.2.1 Những thành tựu đạt được
-Về hệ thống các đòn bẩy kinh tế
Thực hiện chính sách tăng mức lương tối thiểu do nhà nước banhành Tỉnh Nghệ An cũng đã nhanh chóng tăng mức lương tối thiểu chongười lao động, cũng như có chính sách về tiền thưởng và trợ cấp phùhợp nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất lao động
Trước khủng hoảnh kinh tế các doanh nghiệp đã gặp nhiều khókhăn trong vấn đề thanh toán thuế Để dảm bảo cho các doanh nghiệp,đơn vị sản xuất kinh doanh tiếp tục hoạt đông hiệu quả chính quyềnTỉnh cũng đã có sự hỗ trợ kịp thời, tăng mức gia hạn nộp thuế cũng nhưcho nợ thuế
Để thu hút vốn đầu tư Nghệ An đã có nhiều chính sáh ưu đãi như - Hỗtrợ xúc tiến đầu tư với dự án FDI, trong nước là là 0,03% và 0,15% vốn đầutư
Ưu đãi thuế: Các dự án hưởng ưu đãi theo quy định hiện hành, ngoài racòn được ngân sách tỉnh hỗ trợ bằng 100% thuế thu nhập doanh nghiệp thựcnộp trong 3 năm tiếp theo
Hỗ trợ về mặt bằng: Ngân sách tỉnh hỗ trợ bồi thường, giải phóng mặtbằng theo phương án được phê duyệt với mức: dự án nông, ngư ngiệp là 10-30%; các dự án còn lại 50%
Trang 11Bên cạnh đó có những chính sách, kế hoạch hợp lí nhằm ổn định giá cảthị trường Tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa.
-Trong vận dụng phương pháp kinh tế trong QLXH về kinh tế
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII, giai đoạn 2010
- 2015 xác định: Đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp trong sản phẩm nội tỉnh, hướng hoạt động sản xuất công nghiệp vào các lĩnh vực phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn.
Tỉnh kết hợp phát triển các ngành có thế mạnh ở địa phương với pháttriển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như: cơ khí chế tạo,thiết bị kỹ thuật điện, điện tử công nghệ thông tin , sớm đưa Nghệ An thành
"tỉnh khá" như mong muốn của Bác Hồ, trở thành tỉnh công nghiệp vào năm2020
Thực tế cho thấy, công nghiệp Nghệ An đã khởi sắc, giá trị sản xuấtcông nghiệp năm 2010 đạt gần 8.500 tỷ đồng, tăng gấp 6,4 lần so với năm
2001 và tăng 18,6% so với năm 2009, đạt 101% kế hoạch Cơ cấu ngành côngnghiệp đã chuyển từ đa ngành, manh mún sang hình thành được một số ngànhcông nghiệp chủ lực (sản xuất xi măng, mía đường, sản xuất bia, sản xuấtđiện, chế biến lâm sản, khai thác chế biến khoáng sản ) Tiểu thủ côngnghiệp, ngành nghề nông thôn; khôi phục phát triển nghề, xây dựng làng nghềphát triển nhanh, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Để đạt được kếtquả đó, tỉnh Nghệ An đã xây dựng và phê duyệt quy hoạch phát triển côngnghiệp trên địa bàn Ngoài hai khu công nghiệp nằm trong khu kinh tế ĐôngNam, có 8 khu công nghiệp được Chính phủ đưa vào quy hoạch với tổng diệntích 2.860 ha Trong đó, khu công nghiệp Bắc Vinh 60 ha, cơ bản đã lấp đầydiện tích với 23 dự án, có 16 dự án đã đi vào sản xuất; khu công nghiệp NamCấm 327 ha, cơ bản đã lấp đầy với 52 dự án, đã có 22 dự án đã đi vào sảnxuất Tỉnh đang đầu tư hạ tầng khu công nghiệp Hoàng Mai đã có 5 dự ánđược cấp giấy chứng nhận đầu tư Những lĩnh vực thế mạnh, có tiềm năng,
có sức cạnh tranh của tỉnh như: chế biến nông, lâm sản, khai thác chế biếnkhoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng được tỉnh tập trung đầu tư với công
Trang 12nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, cạnh tranh với thị trườngtrong nước và quốc tế.
Đặc biệt, Nghệ An triển khai thực hiện đồng loạt nhiều giải pháp thúcđẩy công nghiệp phát triển như: ban hành hệ thống cơ chế chính sách pháttriển trên các lĩnh vực với những cơ chế khuyến khích đầu tư thông thoángbằng ưu đãi về đơn giá thuê đất, giải phóng mặt bằng; hỗ trợ đầu tư xây dựngcác công trình kết cấu hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính; hỗ trợ đào tạonghề; tạo điều kiện vay vốn của các tổ chức tín dụng; huy động các nguồn lựcđầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhất là giao thông đểphục vụ sản xuất Nhờ đó các sản phẩm mũi nhọn đều tăng nhanh, nhất làcác sản phẩm trong sản xuất, chế biến nông, lâm sản, chế biến bột đá, thiếc,sản xuất xi măng… Đặc biệt, năm 2010 Nghệ An đã phát triển chăn nuôi bòsữa theo công nghệ hiện đại với quy mô lớn tại huyện Nghĩa Đàn và bắt đầuxây dựng nhà máy sữa hiện đại nhất Đông Nam Á Đáng lưu ý, trong pháttriển công nghiệp từ nay đến năm 2015, tỉnh Nghệ An tập trung đầu tư một số
dự án công nghiệp quy mô lớn: Trung tâm nhiệt điện Quỳnh Lập (huyệnQuỳnh Lưu), công suất 2.400 MW; nhà máy xốp KOBELCO Việt Nam, đồngthời hoàn thành các dự án xi măng chuyển tiếp Trong công nghiệp khaithác, chế biến khoáng sản, từng bước mở rộng và đầu tư chiều sâu các nhàmáy chế biến ở Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Nam Cấm trong đó bột đá siêu mịn đạt
200 ngàn tấn/năm, đá xẻ 600 ngàn m2/năm; duy trì ổn định khai thác và luyệnthiếc đảm bảo sản lượng thiếc tinh luyện đạt từ 2.500 - 3.000 tấn/năm; đábazan đạt 300.000 tấn; tổ chức quản lý các loại quặng khác như: than, sắt,vàng, titan; kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy khai thác chế biến sợi cáchnhiệt từ đá bazan tại khu công nghiệp Hoàng Mai, công suất 10.000 tấn/năm;nhà máy khai thác chế biến đá Marble xuất khẩu tại Quỳ Hợp, công suất60.000 m2/năm Trong công nghiệp chế biến, tập trung đầu tư phát triển vùngnguyên liệu mía, đảm bảo sản lượng đường sản xuất ổn định 16 vạn tấn/năm;nâng công suất các nhà máy chè, đi đôi với tổ chức tốt vùng nguyên liệu để
Trang 13đạt sản lượng 12.000 tấn chè búp khô, trong đó chú trọng phát triển chè chấtlượng cao
Từ những kết quả đạt được, Nghệ An đang đẩy nhanh tiến độ đầu tưvào các hạng mục hạ tầng như: khu kinh tế Đông Nam, khu công nghiệpĐồng Hồi, khu công nghiệp Hoàng Mai, khu công nghiệp Nghĩa Đàn và cáckhu công nghiệp nhỏ; triển khai nạo vét luồng vào cảng Cửa Lò để tàu mộtvạn tấn đầy tải ra vào thường xuyên; đầu tư nâng cấp cảng nước sâu Cửa Lò,càng Đông Hồi Tỉnh nâng cấp mở rộng sân bay Vinh; tiếp tục xây dựng, nângcấp, mở rộng các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, các trục đường chính miền Tây và cáccông trình trọng điểm như đường Hoàng Mai nối thị xã Thái Hòa, đại lộ Vinh
- Cửa Lò, đường ven biển Nghi Sơn - Cửa Lò, đường nối Nam Cấm - ĐôLương - Tân Kỳ; cầu Yên Xuân (Hưng Nguyên), đường nối quốc lộ 48 - quốc
lộ 35 Thanh Hóa Các công trình thủy nông, thủy lợi đều có kế hoạch đầu tưnâng cấp, làm mới, nạo vét, cải tạo hệ thống kênh mương nội đồng để đảmbảo đến năm 2015 có 85% diện lúa chủ động được nước tưới tiêu
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước, đặc biệt từ khi LuậtDoanh nghiệp ra đời, doanh nghiệp Nghệ An đã có bước phát triển nhanh thểhiện sức sống mãnh liệt của nền kinh tế tỉnh nhà Tính đến hết tháng 6/2010,trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có 7.396 doanh nghiệp Sự phát triển của doanhnghiệp Nghệ An đã đóng góp quan trọng vào việc huy động các nguồn lực xãhội để đầu tư phát triển, góp phần tích cực cho tăng trưởng, chuyển dịch cơcấu kinh tế của tỉnh nhà, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, đóng gópđáng kể cho thu ngân sách của tỉnh Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm giaiđoạn 2005-2010 là 9,74%, thu nhập bình quân đầu người tăng 2,5 lần, đạtmức 14 triệu đồng/năm; thu ngân sách tăng nhanh từ 1.700 tỷ đồng/năm 2005lên 5.000 tỷ đồng/năm 2010 Thu hút đầu tư tăng nhanh, nhiều dự án lớn đãđược triển khai và phát huy hiệu quả Đạt được kết quả trên, ngoài các cơ chế,chính sách của Trung ương, UBND tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sáchphát triển doanh nghiệp như: Quyết định 10/2009/QĐ-UBND về khuyếnkhích hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, Quyết định 109/2004/QĐ-
Trang 14UBND hỗ trợ quỹ khuyến công, Quyết định 84/2007/QĐ-UBND quản lý nhànước về doanh nghiệp, Quyết định 57/2009/QĐ-UBND về ưu đãi đầu tư,Quyết định 113/2007/QĐ-UBND về cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển cáckhu công nghiệp nhỏ…Hàng năm, UBND tỉnh đã trích ngân sách cùng vớitranh thủ Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp của Trung ương để hỗ trợ doanhnghiệp đầu tư, giải phóng mặt bằng, san lấp, đào tạo nghề, phát triển nguồnnhân lực, tập huấn nâng cao nhận thức kỹ năng cho doanh nghiệp, đầu tưnâng cao năng lực cho Hiệp hội, cung cấp thông tin cho doanh nghiệp Các cơchế, chính sách của tỉnh đã tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển nhanh vàbền vững.
Coi công nghệ thông tin và truyền thông là công cụ quan trọng hàngđầu và là ngành kinh tế mũi nhọn để thực hiện các Mục tiêu phát triển thiênniên kỷ, xây dựng xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, tạo đà phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế khu vực và thếgiới Tỉnh Nghệ An đã có sự phối hợp, đoàn kết, hợp tác với các tỉnh, thànhphố trên cả nước thúc đẩy lĩnh vực công nghệ thông tin, trong đó tập trungvào việc hoàn thiện môi trường pháp lý, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng thông tin,phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, đẩy mạnh ứng dụng và phát triểncông nghệ thông tin trong các ngành kinh tế - xã hội, đặc biệt chú trọng việcphát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đông đảo và có chất lượng đểsớm đưa Nghệ An trở thành trở thành trung tâm phát triển Công nghệ thôngtin của vùng
Nhờ có định hướng đúng đắn đó cộng với sự nỗ lực của ngành du lịch,
sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và sự phốihợp giúp đỡ của các ngành, các cấp; du lịch Nghệ An đã có sự phát triển vượtbậc cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả kinh doanh Hoạt động của ngành
Du lịch đã đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách của địa phương; thúcđẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế-xã hội của nhiều vùng miền; góp phần thựchiện chính sách xóa đói giảm nghèo và cải thiện cuộc sống cho cộng đồng tại
Trang 15các khu, điểm du lịch, đồng thời hỗ trợ cho công tác bảo đảm ổn định an ninh
và quốc phòng trên địa bàn
Rừng là một trong những tài nguyên được xác định tiềm năng lớn pháttriển kinh tế -xã hội, bảo vệ môi trường Trong quá trình đổi mới, Đảng vàNhà nước đã có nhiều chính sách thúc đẩy nghề rừng.Cùng với chính sáchgiao khoán rừng và đất lâm nghiệp, Chính phủ đã chỉ đạo các địa phươngtriển khai các chương trình dự án hỗ trợ trồng và bảo vệ rừng như: 327, 661,thể chế hoá giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 163/CP gắn với phân chia 3loại rừng, phân cấp quản lý rừng theo Nghị định 245/CP, tạo ra hệ thống rừngđặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất, từng bước làm tốt chức năng pháttriển kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
2.2.2 Những hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của hạn chế
- Hạn chế
+ Về hệ thống các đòn bẩy kinh tế
Chính sách tiền lương tối thiểu hiện nay còn phân biệt đối xử giữa baloại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, danh nghiệpnhà nước,doanh nghiệp tư nhân) Một mặt, điều này tạo nên sự bất bình đẳngđối với người làm công ăn lương khi xác định mức sàn tiền công trả chongười lao động Mặt khác, do mức lương tối thiểu áp dụng khác nhau, làmcho chi phí đầu vào giữa các doanh nghiệp theo từng loại hình cũng khácnhau, tạo nên sự bất bình đẳng trong kinh doanh.phải đẩy nhanh việc thựchiện xác định lộ trình thống nhất mức lương tối thiểu, xác định cơ chế bìnhđẳng trong kinh doanh giữa các thành phần, phù hợp với kinh tế thị trường vàcác yêu cầu của WTO” Mức lương tối thiểu hiện nay nhìn chung là còn lạchậu, chậm điều chỉnh so với mức điều chỉnh của giá cả sức lao động trên thực
tế Do vậy, tiền lương tối thiểu trở nên mang tính hình thức, không thể hiệnđầy đủ bản chất và vai trò điều chỉnh trong xã hội Mặt khác mức lương tốithiểu hiện nay không thực tế, chỉ có ý nghĩa khi xác định các mức an sinh xãhội, bảo hiểm Còn trong thực tế giao dịch lao động thì không ai dùng mứclương tối thiểu này