3.Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là phương pháp được chú trọng nhằm: Tìm ra những cách tân của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 trên cả hai bình diện lí thuyết và thực tiễn; làm rõ đặc
Trang 1Bộ giáo dục và Đào tạoTrờng đại học vinh
-võ thị thanh hà
nhân vật tiểu thuyết tạ duy anh
chuyên ngành: lí luận văn học mã số: 602232
luận văn thạc sĩ ngữ văn
ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn đăng điệp
Vinh - 2006
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Cái mới của luận văn 10
6 Cấu trúc luận văn 10
Chương 1 11
TẠ DUY ANH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT 11
VIỆT NAM SAU 1975 11
1.1 Một cách nhìn mới về tiểu thuyết 11
1.1.1 Tiểu thuyết - Tấm màn bị xé rách 11
1.1.2 Tính chất trò chơi trong tiểu thuyết 17
1.1.3 Một cách nhìn mới mẻ về nhân vật tiểu thuyết 24
1.2 Những nỗ lực cách tân của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 28
1.2.1 Hành trình đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 đến nay 28
1.2.2 Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - những tìm tòi đổi mới 33
1.3 Tạ Duy Anh và những nỗ lực cách tân tiểu thuyết 46
1.3.1 Tạ Duy Anh - một gương mặt mới 46
1.3.2 Tạ Duy Anh : Từ Lão Khổ đến Thiên thần sám hối 50
1.3.3 Những cách tân trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh 51
Chương 2 60
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ ĐẶC SẮC CỦA 60
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH 60
2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh 60
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người theo kiểu sử thi trong tiểu thuyết Việt Nam 1945-1975 60
2.1.2 Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 đến nay 62
2.1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh 71
2.2 Đặc sắc về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh 89
2.2.1 Nhân vật phi lí, huyền thoại 89
2.2.1 Nhân vật đám đông 95
Trang 32.2.3 Nhân vật dẫn truyện 99
Chương 3 103
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG 103
TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH 103
3.1 Tái hiện số phận nhân vật bằng thủ pháp lắp ghép và phân mảnh 103
3.1.1 Tái hiện số phận Lão Khổ bằng phương pháp lắp ghép 105
3.1.2 Tái hiện số phận Chu Quý bằng phương pháp phân mảnh 106
3.2 Gấp bội điểm nhìn - cách khám phá tính cách nhân vật trong nhiều chiều 108
3.2.1 Điểm nhìn bên trong Thiên thần sám hối 112
3.2.2 Sự dịch chuyển điểm nhìn trong Đi tìm nhân vật 113
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Văn học Việt Nam từ sau 1975 đã và đang có những nỗ lực cách tân đáng ghi nhận Đặc biệt mối quan tâm lớn nhất của các nhà văn hậu Đổi mới (từ
1990 đến nay) chính là cuộc săn đuổi nghệ thuật "Vấn đề không còn là viết về cái
gì mà viết như thế nào" Trong thế hệ nhà văn này, Tạ Duy Anh là một gương
mặt nổi bật trên hành trình cùng người đọc kiếm tìm một thẩm mỹ mới, một
nhận thức mới về văn học
1.2 Dù có người đã cáo chung cho thể loại tiểu thuyết thì thể loại này vẫn phát triển mạnh mẽ, có vị thế cột sống và đóng vai trò quyết định căn cốt một diện mạo một nền văn học, là thể loại của thời đại hôm nay Đối với Tạ Duy Anh thì tiểu thuyết chính là nơi thể hiện rõ nhất tài năng cũng như sự dấn thân “khước
từ truyền thống” của anh để xác lập những hình thức nghệ thuật mới cho văn học
1.3 Nh©n vËt v¨n häc cã chøc n¨ng c¬ b¶n lµ kh¸i qu¸t nh÷ng qui luËt cña cuéc sống con ngêi, thÓ hiÖn nh÷ng k× väng , íc ao, nh÷ng hiÓu biÕt vÒ con ngêi,
“lµ ph¬ng tiÖn kh¸i qu¸t c¸c tÝnh c¸ch sè phËn con ngêi vµ c¸c quan niÖm vÒ chóng”, thÓ hiÖn quan niÖm nghÖ thuËt vµ lÝ tëng thÈm mü cña nhµ v¨n vÒ con ng-êi" [65] ChÝnh v× vËy nghiªn cøu nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh là một hướng đi nhiều triển vọng trong việc nhìn nhận khám phá tài năng của nhà văn cũng như những hướng cách tân của tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tạ Duy Anh là nhà văn có nhiều tác phẩm gây "sốt" đối với độc giả
và giới phê bình Luôn có ý thức cách tân văn học, thậm chí khiêu khích với thẩm mỹ truyền thống, Tạ Duy Anh nhận được không ít sự ủng hộ cũng như bài bác của độc giả
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đáng kể về hiện tượng này Trong các tài liệu mà chúng tôi bao quát được cho đến nay, tác
Trang 5phẩm Tạ Duy Anh mới chỉ được nghiên cứu ở qui mô nhỏ lẻ, các bài báo, phỏng vấn, điểm sách …Ở cấp độ lớn nhất đó là những khoá luận, luận văn khoa học
Cho đến nay, những bài viết, những công trình nghiên cứu công tâm nhất đối với Tạ Duy Anh có thể kể:
- Tạ Duy Anh - Người đi tìm nhân vật của Thụy Khuê Trong bài báo này Thụy Khuê chủ yếu nghiên cứu Tạ Duy Anh từ tiểu thuyết Đi tìm nhân vật Bài báo
đánh giá cao những nỗ lực cách tân của Tạ Duy Anh trong việc tìm đến một hình thức nghệ thuật tiểu thuyết mới Đặc biệt bà nhấn mạnh tính đa âm trong tiểu
thuyết của Tạ Duy Anh " Lão Khổ vẫn giữ bút pháp hiện thực cổ điển, Đi tìm
nhân vật đã biến chuyển nhiều để tạo ra một hiện thực mới, mà ký ức, hồi ức
không còn thụ động, không còn bất động trong mỗi trở về Những nghi vấn đầu tiên này đã là một bước ngoặt đặt ra cho tiểu thuyết: đi từ xác định đến hoài nghi, đẩy người đọc vào tình trạng: không thể có một sự đọc mà có nhiều sự đọc”
- Bài viết Vài nét về tác phẩm của tủ sách Quê hương đánh giá cao tiểu thuyết Đi
tìm nhân vật, cho rằng "đồng hoá cảnh ngộ với con người, coi cảnh ngộ cũng chỉ
là kết quả tất yếu khởi từ một động cơ để dọi ánh sáng về phía nguyên uỷ hình thành động cơ đó Những day dứt, những đau xót, những hãi hùng vì các cảnh ngộ chiến tranh, ngục tù, áp chế gần như chỉ là những nét mờ nhạt trước nỗi băn khoăn về nguồn cội của một xã hội ghê tởm tột cùng - cái xã hội gồm chứa những cảnh ngộ đó cùng với sự vong thân nhơ nhuốc chưa từng có của con người."
- Bài viết Tạ Duy Anh - Đi tìm nhân vật của Dương Thuấn cho rằng "Tạ Duy Anh đã thoát khỏi hoàn toàn lối viết truyền thống quen thuộc là hiện thực bị che phủ bởi nhiều lớp mùng màn, miêu tả dầm dề, hành động chậm chạp, ngôn ngữ sạch bóng trơn tru Anh đã chọn phương pháp tiếp cận hiện thực đa diện, đa chiều và gần nhất"
Trang 6- Luận văn: Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh của Nguyễn Thị Mai
Loan(ĐHSP HN, 2004) Trong luận văn này tác giả nghiên cứu những đổi mới của Tạ Duy Anh về mặt tư tưởng và nghệ thuật tiểu thuyết ở đề tài nông thôn
- Khóa luận: Tạ Duy Anh từ quan niệm nghệ thuật đến những đổi mới trong sáng
tác truyện ngắn của Nguyễn Thị Hương (ĐHSPHN,2005) Trong khóa luận này
tác giả đã nghiên cứu quan niệm sáng tác cũng như những nỗ lực đổi mới trong tác phẩm truyện ngắn Tạ Duy Anh từ nhiều góc độ: Hiện thực, con người, đổi mới về quan niệm nghệ thuật, gia tăng yếu tố kỳ ảo và chất tiểu thuyết trong truyện ngắn Tạ Duy Anh
- Luận văn: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến
nay của Nguyễn Thị Minh Thuỷ (ĐHVinh, 2005) Luận văn này trong khi nghiên
cứu sự cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay đã xem
Tạ Duy Anh như một hiện tượng nổi bật của nỗ lực cách tân tiểu thuyết Tuy nhiên vì phạm vi bao quát của luận văn là cả một giai đoạn văn học nên những nghiên cứu về Tạ Duy Anh còn ở mức khái quát Tác giả đã nghiên cứu những nét mới trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh gồm: hệ đề tài, chủ đề ; kết cấu , nhân vật
và ngôn ngữ Bên cạnh đó tác giả cũng nêu lên những hạn chế của Tạ Duy Anh trên con đường cách tân tiểu thuyết
Nhìn chung, các bài viết và các công trình nghiên cứu đồng thống nhất ở một điểm: Ghi nhận những nỗ lực của Tạ Duy Anh trong việc đổi mới văn học Ngay cả những người không thừa nhận tài năng của anh cũng phải công nhận
điều đó: Nguyễn Hoà cho rằng “Thiên thần sám hối được chú ý không phải vì nó
xuất sắc, mà chủ yếu do trong đó tác giả phơi bày mặt xấu của quan hệ người, quan hệ xã hội đương thời, và sự tha hóa một số giá trị tinh thần trong các quan
hệ ấy Điều này dễ giúp giải tỏa những ấm ức không phải người nào cũng có thể viết ra Nhân vật của Tạ Duy Anh nằm trong bụng mẹ để nghe ngóng sự đời, đấy
là một sáng tạo"[30] Dương Tường thì xem " Ði tìm nhân vật của Tạ Duy Anh
có cố gắng tìm tòi về phong cách Tôi cứ tưởng sau Bước qua lời nguyền chỉ ở
Trang 7mức trung bình là đã hết vốn, nhưng tác phẩm mới nhất của Tạ Duy Anh đã bước qua được chính anh Tôi có cảm giác như anh là một con ngài đã đục được kén để bay ra nhưng đôi cánh còn ướt nên bay chưa cao lắm"[48].
2.2 Tạ Duy Anh dành được thành công trên nhiều thể loại : truyện ngắn, tạp bút , truyện thiếu nhi, nhưng tiểu thuyết của anh mới là thể loại được quan
tâm nhiều nhất Tạ Duy Anh đã trình làng 4 cuốn tiểu thuyết: Khúc dạo đầu, Lão
Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối Trừ tiểu thuyết đầu không gây được
tiếng vang, 3 tiểu thuyết còn lại đã giành được sự quan tâm của công chúng, đặc
biệt Đi tìm nhân vật và Thiên thần sám hối đã làm bùng lên nhiều cuộc tranh
luận Hầu hết các cuộc tranh luận đã đề cập đến nội dung và nghệ thuật tiểu
thuyết Tạ Duy Anh Hoàng Ngọc Hiến khẳng định : “Tạ Duy Anh Bước qua lời
nguyền để đi đến Lão Khổ Thêm một tác giả thuyết văn học về bản chất và thân
phận người nông dân Việt Nam Đây là một cuốn tiểu thuyết quan trọng” [27]
Phạm Xuân Nguyên trong Văn học Việt Nam- nỗi buồn tiểu thuyết nhận xét “Đi
tìm nhân vật" của Tạ Duy Anh là một cuốn khá, đạt đến một tầm cỡ tiểu thuyết
nhất định, và nếu chỉ đau đời mà không đau nghề thì khó viết được, nhất là trong mặt bằng thấp của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay"[51]
Còn Thụy Khuê đã có cái nhìn sâu sắc : “Mối quan tâm lớn nhất của Tạ Duy Anh là cái vong bản, đánh mất mình của con người, dưới sự giằng dật xiêu dạt của lịch sử Tiểu thuyết Tạ Duy Anh đặt ra bí ẩn của sự tồn tại cùng câu hỏi
về thân phận của thế hệ tương lai trên bờ vực của cái ác, chứa đựng những ẩn số lớn về con người và nhân thế ” [36] Không chỉ đánh giá về nội dung, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự đổi mới về nghệ thuật trong tác phẩm Tạ Duy Anh
Ngay khi vừa mới ra đời (2004), tiểu thuyết Thiên thần sám hối đã được Hội nhà
văn Hà Nội tiến hành thảo luận nghiêm túc Hầu hết các ý kiến đánh giá cao những đổi mới trong nghệ thuật trần thuật của Tạ Duy Anh Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, cách kết thúc tác phẩm này ít nhiều thoả hiệp với truyền thống Việt Hoài thì ghi nhận Tạ Duy Anh đã bắt kịp với lối viết của các nhà văn trên thế
Trang 8giới: “Sự lao động nghiêm túc của nhà văn thể hiện một nỗ lực tìm tòi đổi mới
kỹ thuật viết của mình Nhà văn đã dùng những kỹ thuật viết hiện đại của thế giới những phá cách về mặt cấu trúc tính đa thanh, phúc điệu, điểm nhìn mới từ một bào thai trong bụng mẹ và lăng kính nhận thức đa chiều, Việt hoá các môtíp trong văn học thế giới, cách viết ẩn dụ, ngụ ngôn, hiện thực huyền ảo” [31]
2.3 Nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh cũng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm
Hầu hết các ý kiến đầu xoay vấn đề đạo đức, phi đạo đức của nhân vật Bên cạnh đó, có một số nhà nghiên cứu nhìn từ góc độ nghệ thuật để đánh giá các nhân vật: Lão khổ, Bào thai… Hầu hết ý kiến đều thống nhất: Nhân vật của
Tạ Duy Anh không có sự trung gian, nhờ nhờ xam xám về ngoại hình Người cực xấu thì xấu như Lão Kiền, đẹp thì đẹp như hoa như ngọc, như Quý Anh, bà
Ba, như những sản phụ chờ sinh Nhưng bản chất của con người thì luôn luôn ở ranh giới thiện - ác Nhân vật nào cũng luôn luôn bị đặt trong trạng thái đấu tranh với xã hội, với môi trường với kẻ thù, với người thân, với chính bản thân mình
Dư luận xung quanh những tác phẩm Tạ Duy Anh cho đến thời điểm này chưa có dấu hiệu của sự lắng xuống Sẽ có những người cảm thấy hài lòng về một khía cạnh nào đó trong tác phẩm của nhà văn này, lại sẽ vẫn còn có những người chưa hài lòng ở nhiều điểm khác, tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận những giá trị cơ bản trong sáng tác Tạ Duy Anh Điều này thể hiện sự phức tạp trong việc nghiên cứu các sáng tác của các nhà văn hiện đại Tuy nhiên, dù khen hay chê, có một điểm chắc chắn khi đọc tác phẩm Tạ Duy Anh cũng như của các tác giả khác ở thời kỳ này, đó là : "Hình như có một dấu hiệu của cái hay bây giờ
là sự không hời hợt, bắt người ta phải suy nghĩ" (Phong Lê)
2.4 Trong các tài liệu mà chúng tôi bao quát được, nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh chỉ mới được đề cập đến qua một số bài viết nhỏ lẻ, vì vậy
Trang 9mà còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ Tuy nhiên, những bài viết ấy, dù ở dạng khái quát, vẫn là những gợi ý quý báu cho chúng tôi thực hiện luận văn này.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Sự nghiên cứu tập trung vào ba tiểu thuyết của Tạ Duy Anh:
1 Lão Khổ 2 Đi tìm nhân vật 3 Thiên thần sám hối.
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp khảo sát- thống kê: Để khái quát các đặc điểm của nhân vật tiểu thuyết Tạ Duy Anh, chúng tôi tiến hành khảo sát thống kê nhằm đưa ra những tỉ lệ nhất định Trong luận văn, phương pháp này được vận dụng chủ yếu khi : thống kê tần số xuất hiện của các kiểu loại con người trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh, trình bày hệ thống sự kiện diễn ra trong cuộc đời nhân vật Lão Khổ và Chu Quí
2 Phương pháp miêu tả- phân tích: Phương pháp này nhằm cụ thể hoá các đặc điểm về nhân vật tiểu thuyết Tạ Duy Anh trên cơ sở những nét khái quát mà phương pháp khảo sát thống kê đã chỉ ra
3.Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là phương pháp được chú trọng nhằm: Tìm ra những cách tân của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 trên cả hai bình diện lí thuyết và thực tiễn; làm rõ đặc điểm nhân vật tiểu thuyết Tạ Duy Anh so với các nhà văn trước đó và cùng thời
Trang 105 Cái mới của luận văn.
Lần đầu tiên luận văn đặt vấn đề nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh một cách tương đối hệ thống và toàn diện Tuy nhiên, chúng tôi cũng xem như đây chỉ là một đề án, một thử nghiệm bước đầu để khám phá cây bút tiểu thuyết nhiều cách tân này
6 Cấu trúc luận văn
Tương ứng với những nhiệm vụ đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tạ Duy Anh trong bối cảnh đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người và đặc sắc của thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Trang 11Chương 1
TẠ DUY ANH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT
VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Một cách nhìn mới về tiểu thuyết
Với tính chất cô đọng, gọn gàng, không thể phủ nhận ưu thế của thể loại truyện ngắn trong một xã hội bùng nổ thông tin, nhịp điệu cuộc sống đang chuyển động siêu tốc như hiện nay Truyện ngắn mang lại khả năng đột phá lớn,
là sự phá vỡ chiều hướng êm ả và sự cân bằng vốn đang trở thành vô nghĩa Nó
đẹp như một tiếng nổ của ánh sáng Tại một hội nghị của Hiệp hội các nhà xuất
bản Anh, Giáo sư Steiner phán:"Ngày nay, tiểu thuyết làm gì đọ sức nổi với những thể loại mạnh khỏe hơn, chẳng hạn như một bài phóng sự hảo hạng, những kiểu tự sự trực tiếp, xông thẳng vào thực tại"[22] Thế nhưng, mặc dù người ta đã từng tuyên bố về cái chết của tiểu thuyết thì thể loại này vẫn có một sức sống mãnh liệt Nó có tầm quan trọng, vị trí không thể thay thế trong nền văn hóa của nhân loại.Và thời đại ngày hôm nay, với những đặc thù của đời sống bề bộn, hỗn loạn, xói mòn khủng hoảng lòng tin, với những chuyển biến trong tư tưởng của người cầm bút, chính là thời của tiểu thuyết - một thể loại phức hợp để nhận thức cuộc sống Về mặt mỹ học, Bêlinxki (1811- 1848) từng nêu lên một
quan điểm biện chứng: “…Nếu như có tư tưởng của thời đại thì cũng có những
hình thức của thời đại Với sự đổi mới về sáng tác, quan niệm về tiểu thuyết cũng
đã có những biến đổi sâu sắc” Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi xem xét sự
đổi mới về quan niệm tiểu thuyết trên ba khía cạnh sau
1.1.1 Tiểu thuyết - Tấm màn bị xé rách
Chúng tôi xin mượn hình ảnh trong tiểu luận "Tấm màn" của Milan Kundera- một tiểu thuyết gia lớn của Pháp, gốc Czech để nói về phẩm chất mới
mẻ đầu tiên của tiểu thuyết
Nhưng trước khi giải trình về hình ảnh này cũng như nêu lên những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại của các nhà nghiên cứu mà Kundera là một hiện tượng nổi bật, chúng tôi xin được tóm tắt một số quan điểm truyền thống về tiểu
Trang 12thuyết để dễ dàng so sánh và làm nổi bật được sự mới mẻ trong quan niệm về tiểu thuyết hiện đại.
Hoàng Ngọc Tuấn trong khi xem xét vấn đề cái mới trong tiểu thuyết thế
kỷ 20 đã đề cập đến những quan niệm cũ về tiểu thuyết, gồm những đặc điểm tổng quát sau đây Trước hết, nó được viết bằng văn xuôi và mang tính cách hiện thực, chủ yếu nhắm vào việc nghệ tả một cách đầy đủ và trung thực những kinh nghiệm trong đời sống con người Loại văn xuôi hiện thực này chủ yếu giải trí người đọc bằng cách kể chuyện, qua đó, người đọc thích thú theo dõi những phát triển và diễn biến đời sống của một hay nhiều nhân vật Những phát triển và diễn biến trong tiểu thuyết thường xảy ra theo trình tự thời gian dựa trên một chủ đề mang tính đạo đức hay luân lý Và cuối cùng, tính cách mỹ học của tiểu thuyết nằm trong vẻ đẹp về hình thức, phản ảnh qua ngôn ngữ gọn gàng, súc tích; tính nhất quán giữa tổng thể và các phân đoạn; sự phát triển hợp lý và tinh tế từ phần này đến phần kia Vẻ đẹp về hình thức có tác dụng làm cho cuộc kể chuyện được mạch lạc, trôi chảy, hợp lý và, do đó, làm tăng khả năng lôi cuốn người đọc vào cõi “hiện thực” hư cấu của câu chuyện
Quan niệm này, mặc dù đã là một sự cách tân lớn so với quan niệm cổ điển trước đó (đòi hỏi nghệ thuật thể hiện cuộc sống theo một khuôn thức lý tưởng cuộc sống như nó nên là), vẫn vấp phải những nghịch lý
Để diễn tả hiện thực như chính nó, tiểu thuyết phải sử dụng ngôn ngữ như một tấm gương phản chiếu trung thực, qua đó, mọi sự vật và diễn biến được nhìn thấy đúng như sự thực không bị bóp méo Nhưng ngôn ngữ không bao giờ có thể đồng nhất với đối tượng được mô tả, nghĩa là không bao giờ nó có thể tả thực đúng đối tượng của nó, mà cùng lắm chỉ là một gợi ý về đối tượng ấy Bởi ngôn ngữ không thể diễn tả hết những góc cạnh phức tạp và phong phú của thế giới, hiện thực trong tiểu thuyết chỉ là một thứ hiện thực đã được “biên tập”, nghĩa là
đã được chọn lựa, xếp đặt lại, cắt xén, tô màu
Song song với việc quan niệm tiểu thuyết phải phản ánh trung thực đời sống, tiểu thuyết truyền thống còn cho rằng tiểu thuyết nhất thiết phải tồn tại trên
Trang 13một cốt chuyện và chủ yếu thuyết phục người đọc ở các diễn biến sự kiện Truyền thống kể chuyện bằng văn xuôi làm cho tác giả trở thành người kể chuyện chứ không phải người tạo ra câu chuyện.
Điều này trái ngược với quan niệm hiện đại về tiểu thuyết, tiêu biểu là của Kundera Tiểu thuyết, đối với ông phải khám phá cuộc sống đằng sau tấm màn
giả trang bị xé rách Một tấm màn huyền ảo, dệt bằng những huyền thoại, được
treo trước thế giới Cervantes cho don Quichotte ra đi và xé rách tấm màn Thế giới mở ra trước chàng kỵ sĩ lang thang trong sự trần truồng hài hước của nó Giống như một người đàn bà trang điểm trước khi vội vã đến cuộc hẹn đầu tiên với tình nhân, thế giới, khi nó chạy đến với chúng ta vào giờ khắc chúng ta sinh
ra, đã được trang điểm, đã đeo mặt nạ, đã được tiền diễn giải Và không chỉ những kẻ phò chính thống bị mắc lừa mà ngay cả những kẻ nổi loạn hau háu đối nghịch với tất cả cũng thế, bọn họ không nhận ra rằng mình dễ bảo đến mức nào; bọn họ chỉ nổi loạn chống những gì được diễn giải (tiền diễn giải) là đáng để nổi loạn Chính bằng cách xé tấm màn của tiền diễn giải mà Cervantes thiết lập thứ nghệ thuật mới mẻ này; hành động phá hủy của ông được phản chiếu và được kéo dài trong mỗi tiểu thuyết xứng danh là tiểu thuyết; đó là dấu hiệu bản nguyên nghệ thuật tiểu thuyết [38] Như vậy, tiểu thuyết, theo M Kundera phải bóc trần
tất cả những gì diễn ra đằng sau tấm màn hào nhoáng che phủ thế giới Lẽ dĩ nhiên, việc bóc trần này không chỉ đơn giản là mô tả hiện thực ở những góc khuất tối, tiêu cực Tiểu thuyết hiện đại không chủ tâm khai thác bề mặt sự kiện,
mà chủ tâm truy tầm những tầng sâu của ý thức con người trước những vấn đề xã hội Thế giới bên trong con người không phải chỉ là một cõi nhỏ nhoi và bị khép kín trong những định chế của ý thức hệ và văn hoá Ngược lại, nó có thể là một thế giới cực kỳ phong phú, chứa đựng tất cả những mảnh đa sắc của hiện thực thế giới vô biên bên ngoài Hơn thế nữa, nó thường đặt những chủ đích tư tưởng đằng sau tấm màn đa sắc của nghệ thuật ngôn từ Trật tự tuyến tính giả định của hiện thực bên ngoài bị triệt tiêu, để từ đó một “trật tự” khác của thế giới bên trong được nhìn thấy đúng như chính nó Một thế giới phi thời gian, phi không
Trang 14gian, bất định, năng động và vĩnh viễn bất khả đoán.
Nói chính xác hơn, tiểu thuyết suy xét hiện hữu chứ không phải hiện thực
Hiện hữu không phải là cái gì xảy ra, hiện hữu là thế giới của những khả hữu con người, bất cứ cái gì con người có thể trở nên, bất cứ cái gì hắn có khả năng làm Tiểu thuyết gia là người vẽ bức bản đồ sự hiện hữu bằng cách khai phá khả hữu này hay khả hữu kia của con người [39].
Quả thật, sự xuất hiện cảm hứng sự thật là một tất yếu nhưng cũng là điều tất yếu mà văn học phải vượt qua để tìm đến những chiều sâu mới Chính trong việc phơi bày hiện thực và tiếp theo đó là sự phân tích và suy ngẫm về hiện thực
mà văn chương ngày càng thấy lồ lộ chân dung con người, vấn đề con người: số phận của nó, vai trò của nó trong lịch sử, trách nhiệm và sự vật lộn của mỗi người trong sự tồn tại của chính nó trước những thử thách của một đời sống đầy biến động Cảm hứng mới về con người từng bước rõ nét dần trong văn học thay thế cho cảm hứng về sự phơi bày hiện thực Đây là bước đi tiếp theo của văn học
và là nguồn nuôi dưỡng tiếp tục cho sự hình thành một mô hình văn học mới của văn học đương đại Hiện thực chỉ là cái nền cho sự diễn biến những cuộc đời, những số phận, những trạng thái tinh thần Các nhà văn viết về hiện thực không nhằm mục đích mô tả hiện thực mà chủ yếu để trình bày trạng thái tồn tại của con người trong hiện thực Nguyên tắc quan trọng của tiểu thuyết hiện đại, do
đó, là tìm kiếm một phương thức phản ánh không lệ thuộc vào thực tại khách quan Tiểu thuyết không chỉ tái hiện hiện thực mà còn nỗ lực vươn đến sáng tạo những hiện thực mới, một thực tại ảo chỉ có trong ý nghĩ Công việc của tiểu thuyết gia, nói như Nguyễn Thanh Sơn, phải giống như công việc của Robinson
ở ngoài hoang đảo Nghĩa là tạo ra một thế giới mới, thế giới hoàn toàn khác Tác giả đoạn tuyệt với hiện thực xung quanh, thả cho trí tưởng tượng của mình bay bổng để tạo ra những vùng không - thời gian của tiểu thuyết chỉ tuân theo logic nội tại của nó Tiểu thuyết hiện đại không hề loại trừ tiểu thuyết hiện thực, nhưng tiểu thuyết hiện thực chỉ là một mảnh đất nhỏ Mọi quá trình lý giải tác phẩm dựa vào sự so sánh với thực tại chính vì vậy mà có những khe hở, những
Trang 15khoảng cách giữa văn bản và thế giới thực, giữa nghệ thuật và cuộc sống Nó kết hợp trong một tác phẩm những yếu tố rất thực với những yếu tố ảo, bịa và đưa tác giả vào văn bản Tư tưởng hậu hiện đại đã đi tới kết luận rằng tất cả những gì được coi là hiện thực, trên thực tế không gì khác hơn chính là sự hình dung về nó.
So sánh với quan niệm về tiểu thuyết của các nhà lí luận thế kỉ XIX chúng
ta thấy đã có một sự thay đổi rõ rệt trong tư duy về thể loại Bêlinxki và Turghênhep nhấn mạnh đến chức năng phản ánh của tiểu thuyết “Tiểu thuyết là
sự phản ánh nên thơ đời sống xã hội Bên trong nó quan trọng là sự huyền bí của trái tim con người, sự tham gia của con người và những quan hệ của nó với tất cả mối quan hệ quần chúng…” (Bêlinxki) Cùng thời, (1818-1883) Turghênhep - nhà tiểu thuyết cự phách của văn học Nga và châu Âu cũng từng nêu một nguyên
lý đồng dạng: “Tiểu thuyết là lịch sử cuộc sống.” Chính những quan niệm này đã thu hẹp phạm vi phản ánh của tiểu thuyết
Tiểu thuyết, theo Kundera, thể hiện trong mình “tinh thần của phức tạp”,
“hiền minh của hoài nghi”, nó không đi tìm các câu trả lời mà đặt ra các câu hỏi,
nó nghiên cứu “không phải hiện thực mà hiện sinh”, nghiên cứu chính ngay bản
chất sự tồn tại của con người, cái ẩn mật của bản ngã, là cuộc chiêm nghiệm đời
sống con người trong cái bẫy thế giới này đang dần dà biến thành Kundera
không thể thoả mãn với quan niệm về tiểu thuyết như về sự phản ánh hiện thực, đối với ông đó trước hết là “sự tổng hợp trí tuệ lớn”, tự do thu nhận vào mình những suy tư về bất kỳ đề tài nào Tiểu thuyết không chỉ là một thể loại (trong các thể loại văn học), mà là một giai đoạn, một cấp độ mới trong tư duy nghệ thuật của con người về thế giới
Khi tấm màn giả trang bị xé rách, thế giới hiện ra trong sự trần truồng hài hước cũng chính là lúc tâm thế con người trước cuộc sống hoàn toàn thay đổi Thái độ sùng kính ngưỡng mộ chuyển thành phi thành kinh, phi huyễn hoặc đối với đối tượng mô tả Con người nhìn thế giới với sự "thản nhiên", "bất cần", không quan trọng hóa bất cứ điều gì, thậm chí suồng sã, bỡn cợt Con người nhìn
Trang 16nhận lại và có thái độ nghi hoặc đối với mọi giá trị đã được định giá Theo Kundera, "cuốn tiểu thuyết có tính tra vấn, mỉa mai, thoát khỏi thiên kiến tư tưởng có thể giúp định hướng trong cái thế giới hiện nay của những sự thật bị bóp méo và những tình cảm bị trương phình Nếu như trữ tình với cảm hứng thiếu suy nghĩ chỉ làm cho tư tưởng bị tê liệt đi, thì tiểu thuyết bằng “sự hiền minh của hoài nghi” sẽ đánh thức tư tưởng dậy, giúp hiểu ra sự phức tạp khôn cùng của cuộc sống"[39] Kundera dành một vai trò hết sức quan trọng cho sự mỉa mai khi ông đối lập cái cười “ác quỷ” mang tính tra vấn, khiêu khích và do
đó đưa tới nhận thức, với cái cười “thiên thần” mang tính phụ hoạ, tán dương, dẫn đến sự cảm nhận sai lệch về thế giới Ngay cả lịch sử, một đối tượng đã
được xác tín và cần phải xem xét trong sự thành kính nhất thì ông vẫn cho rằng
“tiểu thuyết gia không phải là thằng hầu của những sử gia Anh không thể kể về, hay bàn về lịch sử, nhưng khám phá ra những khía cạnh chưa biết tới của hiện hữu con người Những biến động lớn lao của lịch sử đối với anh ta giống như cái đèn giọi bất thình lình làm sáng tỏ những khía cạnh ẩn giấu và vạch trần chúng ra” [38] Như vậy nhà văn tư duy lại lịch sử bằng phương pháp tiểu thuyết Lịch sử cũng chỉ làm một cái nền đất để từ đó những tư tưởng hoài nghi đâm chồi và nảy nở
Quan điểm của M.Kundera có nhiều điểm tương đồng với M.Bakhtin khi ông coi tiểu thuyết là thể loại tiếp xúc với khu vực hiện tại đang diễn ra, chưa định hình, còn nhiều biến đổi, do đó nó phá bỏ khoảng cách sử thi, nó dân chủ trong quan hệ thẩm mỹ với hiện thực, với đối tượng, với độc giả
Chỉ tiểu thuyết mới biết cách xé rách tấm màn giả dối ngăn cách con người với thế giới, phát hiện những điều mới mẻ và tra vấn con người ở mọi khía cạnh sâu kín Tiểu thuyết vì vậy phản ảnh cuộc sống qua việc phủ định dòng thời gian vật lý, không gian địa lý và nguyên tắc luận lý nhân quả Hiện thực được nhìn thấy như một nguồn sự kiện mang tính đa tầng, đa phương, ẩn khuất, gián đoạn bất ngờ và phi lý, xảy ra trong thời gian tâm lý, và không gian phi địa lý Nguồn sự kiện này đòi hỏi ngôn ngữ văn chương phải mang tính đa nghĩa, phức
Trang 17tạp, biểu tượng và ẩn dụ Cả cuốn tiểu thuyết tồn tại như một ký hiệu biểu ý đa giác khiến người đọc mỗi lúc lại tiếp tục nhìn thấy một ý nghĩa khác, như thể nhìn vào một ống kính vạn hoa Mỗi lần đọc, chúng ta có thể nhìn thấy nó biến dạng: nó có thể như một triết lý, hay như một ẩn ý Nó từ chối mọi công thức diễn dịch, và chỉ cho phép chúng ta cảm nhận bằng chính kinh nghiệm đọc trực tiếp và toàn thể để nắm bắt những biểu tượng biến thiên năng động Cái nhìn mới
về tiểu thuyết do đó, chính là biểu hiện của nỗ lực kể cái không thể kể - những cái không xảy ra theo trình tự thời gian, không xảy ra trong không gian cụ thể, những cái hỗn mang nằm sâu trong tiềm thức và vô thức, những cái nằm ngoài lý luận của hiện thực tỉnh táo
1.1.2 Tính chất trò chơi trong tiểu thuyết
Hành vi sáng tạo văn học lâu nay được hiểu quá nghiêm trang, thậm chí bị thiêng liêng hóa quá mức Trong truyền thống, văn học Việt Nam từng gánh trên vai nó những trọng trách nặng nề : Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí Trong những năm kháng chiến, văn học là vũ khí chiến đấu, coi sáng tác như hình thức giáo huấn đạo đức, như phương tiện cải tạo phong hóa xã hội Tiểu thuyết phải bao quát những bức tranh hiện thực lớn lao, những hình tượng kỳ vĩ, những thăng trầm lịch sử
Các nhà tiểu thuyết đã tiến hành hóa giải tinh thần này bằng cách kết hợp giữa tính nghiêm túc vốn có và tính trò chơi mới được chú trọng khai thác của
tiểu thuyết Milan Kundera khi bàn về nghệ thuật tiểu thuyết có một ý rất độc
đáo: ở bên ngoài tiểu thuyết người ta sống trong thế giới của những điều khẳng định Mọi người đều tin chắc ở lời nói của mình Trong lãnh địa tiểu thuyết, người ta không khẳng định bởi đây là lãnh địa của “trò chơi” và những giả thuyết Một trong những tiếng gọi thôi thúc sự phiêu lưu của tiểu thuyết hiện đại chính là tiếng gọi của trò chơi Tiểu thuyết chính là một trò chơi, chỉ có điều nó
không phải là một trò chơi vô tăm tích mà là nỗ lực biểu đạt nghĩa đầy chủ động
của nhà văn, tức có dụng ý nghệ thuật và bộc lộ một quan niệm nhất định của tác
Trang 18giả về đời sống.
Tác phẩm văn học không còn là những bài học, bài triết lý lớn lao, những lời răn dạy, giáo huấn không còn mà chỉ còn những cuộc phản biện chất vấn, những câu hỏi và sự nghi hoặc Nghệ sỹ không phải gánh vác trên vai nhiệm vụ của nhà đạo đức hay người chiến sỹ, nói với người đọc bằng giọng xoa đầu vỗ
vai, mà gần như lui vào hậu trường, để mặc các sự kiện và nhân vật.
Trong trò chơi cấu trúc văn bản, nhà tiểu thuyết tìm kiếm sự một hình thức
lạ hóa ngôn từ, lạ hóa cách triển khai văn bản, nhằm gây chú ý cho người đọc, thay đổi sự tập trung hoặc phi tập trung của việc đọc văn bản một cách thật biến hóa Mỗi chương mỗi đoạn trong tác phẩm là những mảnh văn bản chứa đựng những mảnh đời sống vốn vô cùng đa dạng và phức tạp với tất cả các cấp độ, tính chất biến hóa của chúng mà nhà văn lựa chọn biểu hiện Nhìn toàn cục, đó là những mảnh văn bản được bố trí theo cách phi tuyến tính, phi nhân quả rời rạc
Lý do của hiện tượng này chính là nhằm phá hủy cốt truyện truyền thống, tiến hành biểu hiện và nhận thức thế giới theo tinh thần phân mảnh, và sự liên kết bề sâu của các phân mảnh đó tạo ra được một ý niệm nhất quán nào đó về thế giới
Tự nó mang nghĩa biểu đạt sự phân rã, đổ vỡ của hiện thực đời sống đương đại Chưa bao giờ, cuộc sinh tồn của loài người trên mặt đất này lại thiếu tính liên kết, lại rơi vào tình trạng rã đám, nhốn nháo, xô bồ, bất trắc đến như vậy Cách biểu đạt theo tinh thần phân mảnh là một cố gắng của kỹ nghệ tự sự nhằm thể hiện cho được hiện thực đời sống đầy lo âu ngày hôm nay
Tiểu thuyết - không phải là một thứ tôn giáo của tác giả, mà là sự nghiên cứu cuộc sống trong cái cạm bẫy do thế giới biến thành Trong tiểu thuyết - “thứ văn xuôi tổng hợp lớn dựa trên trò chơi với các nhân vật hư cấu” - tác giả, khi đưa ra những đòi hỏi, những quyết định có thể hay không thể của mình để thử thách các nhân vật đó, tỏ ra tự do và cởi mở hơn rất nhiều so với qua thư từ, nhật
ký, hồi ức “Trò chơi với các nhân vật hư cấu” không nhằm mục đích đạt đến sự giống như thật, nhưng cũng không mâu thuẫn với những sự tìm kiếm chân lý, ngược lại, nó kết hợp với những suy ngẫm tạo thành cơ sở của sự nghiên cứu
Trang 19tiểu thuyết đối với cuộc sống.
Kundera xác lập ba yêu cầu đối với các hình thức mới trong nghệ thuật, trong đó ông cho rằng : lối tiểu luận đặc thù của tiểu thuyết -"thay vì nêu lên những câu châm ngôn mang tính tất yếu, hãy nói những lời giả định, vui nhộn hoặc mỉa mai”[38] Theo ông, tiểu thuyết là thể loại có khả năng hoài nghi tất
cả, phức điệu và có bản chất tra vấn
Tiểu thuyết hiện đại giống như một trò chơi tự trình bày cách chơi của nó
Sự tương tác giữa người đọc và người viết được thể hiện qua sự mời gọi tham gia vào một cuộc chơi Cảm nhận của độc giả sẽ bị lầm lẫn vì những sự kiện có thực được kể bị nhiễu loạn Người viết đôi khi còn tự bước vào truyện như một nhân vật, nói chuyện trực tiếp với độc giả Người đọc sẽ tìm thấy một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết cũng như văn chương hậu hiện đại mà họ không thể thấy
ở lối kể chuyện truyền thống, đó là phương thức đa kết, phương thức chống lại
sự kết thúc bằng cách ban cho một cốt chuyện rất nhiều hệ quả có thể có được
"Nhà văn Pháp gốc Trung Hoa Á Căn Đình sáng tạo một cách viết tiểu
thuyết hết sức mới lạ Tác phẩm đồ sộ Rayuela (Nhảy cò cò, 1963) Chỉ về mặt
hình thức, cuốn tiểu thuyết cũng đủ làm chúng ta kinh ngạc Sách gồm 155 chương Trước khi vào tiểu thuyết là một "Bản Hướng Dẫn" cho độc giả Cuốn sách này chứa nhiều cuốn sách cùng lúc, nhưng hiển nhiên nhất là hai cuốn Độc giả được mời chọn một trong hai đề nghị sau đây: Cuốn thứ nhất có thể được đọc theo lối thông thường và chấm dứt ở cuối Chương 56 Độc giả có thể bỏ hẳn phần còn lại của cuốn sách mà không phải cảm thấy áy náy gì nữa Cuốn thứ hai nên được bắt đầu đọc từ Chương 73 và rồi theo trình tự được ghi chú ở cuối mỗi chương" [76]
Như thế, Rayuela là một tiểu thuyết chứa trong nó ít nhất là hai tiểu
thuyết: một cuốn dài 56 chương dành cho người ít kiên nhẫn và thích đọc kiểu tiểu thuyết cũ để giải trí; một cuốn dài 155 chương dành cho người nhiều kiên nhẫn, thích thí nghiệm cách đọc "nhảy cò cò', và xem tiểu thuyết như một nghệ thuật đầy thách đố Ngoài ra, người đọc sáng tạo dĩ nhiên có thể tự chọn lựa cho
Trang 20mình một thứ tự khác Như thế, với Rayuela, thế giới phải được liên tục định
nghĩa lại, và để làm được điều đó, độc giả và cả nhà văn phải liên tục khám phá những góc nhìn mới
Tính chất trò chơi của tiểu thuyết có nguồn gốc từ những hình thức trào tiếu dân gian và lễ hội giả trang, tức là Carnaval, gắn với cảm hứng giải thiêng Đặc điểm của những ngày lễ hội Carnaval chính là những ngày mà dân chúng
được sống một đời sống thứ nhì, dựa trên cái cười Đó là một ngày hội cười Tất
cả mọi người cùng cười Cái cười Carnaval có tính phổ quát, nó là cái cười chung, nó không châm biếm riêng ai, nó châm biếm tất cả, kể cả người tham dự: cười người mà cũng cười ta Cái cười Carnaval có giá trị đối nghịch: nó vừa vui
vẻ, hoan hỷ, lại vừa nhạo báng chua cay, nó vừa phủ định vừa xác định, nó vừa chôn cất vừa tái sinh Nguyên nhân của tính trò chơi trong tiểu thuyết bắt nguồn
từ quan niệm của nhà văn về cuộc sống, từ đặc điểm thể loại và đặc điểm của độc giả hiện đại Tiểu thuyết là nghệ thuật về sự bất định của cuộc đời, về sự phi chân lý độc tôn, về tính đa nguyên chân lý của thế giới Văn học đạt đến tư duy tiểu thuyết là khi nó nó từ bỏ niềm tin về tuyến tính nhân quả, về tính tất định của cuộc đời, và hiểu ra rằng ở đời có vô số chân lý cùng tồn tại đồng thời, chẳng cái nào "phải" hơn cái nào, chẳng cái nào là chính, là tuyệt đối, tối cao, độc tôn Nhận thức về sự bất trắc ở đời đã tiềm ẩn từ xa xưa trong nghệ thuật, nhưng trước đây nó chỉ được coi như những tai nạn ngoại lệ lẻ loi Còn bây giờ đấy là
"quy luật phổ biến" Bất định là phổ biến Tiểu thuyết, nói theo cách nào đó, chính là cuộc dò tìm mãi mãi cái bất định vô tận đó của số kiếp con người Có một thời kỳ văn học "dạy" cho con người những chân lý tuyệt đối, độc tôn Còn bây giờ, với tiểu thuyết, văn học nói với con người rằng chẳng hề có chân lý tuyệt đối nào cả, "cuộc đời là một mớ chân lý tương đối mà những con người chia lấy cho nhau" ( M Kundera) Trong xã hội bùng nổ thông tin, toàn cầu hoá, lượng tri thức tăng vọt, khiến mắt người không thế nhận thấy, phát hiện ra vạn vật với bao cách nhìn khác nhau đều có thể biện minh được Vì vậy tiểu thuyết hiện đại khước từ thiên chức và sứ mệnh đi tìm chân lý, lý luận không còn quyền
Trang 21uy để đưa ra những chuẩn mực Văn hóa đã thực sự đại chúng hóa không còn phân biệt cao nhã và thông tục Tính tương đồng tuyệt đối lại được xác lập Mọi vật đều ngang nghĩa và ngang giá trong thế giới của cái hỗn độn nơi mọi giá trị đều bị hạ bệ.
Tiểu thuyết hoàn toàn không tin vào uy tín của những định hướng trước
đó, dẫn đến cái gọi là văn học khủng hoảng niềm tin, khủng hoảng uy tín, bất tín
nhận thức Trò chơi như một phương thức tiêu biểu mà nhà tiểu thuyết muốn
dùng để chống chọi với tính thể chế trật tự giả dối của thế giới.
Xét từ khía cạnh độc giả, trong nền văn hoá tiêu dùng và giải trí lên ngôi như ngày nay, độc giả thường chỉ để ý đến một tác phẩm giúp cho họ được “giải trí” - được cởi bỏ những gánh nặng ra khỏi trí óc Chỉ ở phía sau tiếng cười, sau trò chơi, mới bắt đầu những sự bí ẩn mà tiểu thuyết cần đem đến
Trong trò chơi tiểu thuyết, nhà văn vừa viết truyện, vừa biểu hiện thái độ
tự phản tỉnh về cách viết truyện của mình Sự nghi ngờ trở thành bạn đồng hành của tác giả, vì vậy độc giả luôn luôn bị đánh động: Phải coi chừng, những điều tay ấy kể, có thể rất láo lếu Thái độ này khiến độc giả cứ liên tục bị đẩy ra khỏi tiến trình theo dõi câu chuyện để nhận thức rằng: đây chỉ là một tác phẩm nghệ thuật, chứ không phải là một sự phản ảnh hiện thực gì cả, và trong khi viết truyện này, người viết rất tỉnh táo và có thể tự phê bình bút pháp của mình Độc giả vừa đọc truyện, vừa được chứng kiến quá trình suy nghĩ và viết lách của tác giả Có khi nhà văn giăng bẫy để đánh lừa độc giả Người đọc sẽ liên tục rơi vào những ngõ ngách của một mê cung, không còn phân biệt được đâu là hiện thực đâu là phi thực Câu chuyện được kể trộn lẫn cái kinh hoàng và cái thần kỳ làm một; mỗi đoạn văn như một đồng tiền hai mặt, nhưng là một đồng tiền đang xoay tít: thực/ảo, ngây thơ/dã man, sự thực/sự phóng đại, hoà tan vào nhau, khiến độc giả vừa đọc vừa hoang mang giữa cảm giác sợ hãi và thích thú
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, đặc biệt là từ sau 1990 ngoài sự gia tăng mạnh mẽ các yếu tố huyền thoại, trào lộng, xu hướng ngắn gọn, dồn nén… cuộc thể nghiệm ở các tiểu thuyết triển khai từ quan niệm về tính “trò chơi” của văn
Trang 22chương Theo Nguyễn Thị Bình, nghệ thuật bao giờ chả có hư cấu, bịa đặt, nhưng hư cấu ở văn chương truyền thống là để thuyết phục người đọc tin vào
tính chất thật của câu chuyện được kể Còn ở “trò chơi tiểu thuyết” bây giờ, sự
hư cấu, bịa đặt lại cố cho lộ liễu để vừa gián cách người đọc với câu chuyện, vừa gây men ngờ vực trong họ Không đặt mục tiêu thuyết phục độc giả, nhà văn bày
ra một cuộc chơi, bước vào cuộc chơi ấy, độc giả có thể vừa thưởng thức, vừa
chứng nghiệm Thiên sứ mở đầu với lời ghi chú “cuốn sách này bắt đầu từ một
điển tích của nhà văn G.G và những chuyện khó tin của nhà văn F ” Các chương như sự lắp ghép ngẫu nhiên những “mạnh vụn” rời rạc của hiện thực, những chi tiết như “tiện đâu kể đấy” Cuộc “chơi kết cấu”, “chơi nhân vật” được
công khai ngay từ hình thức văn bản, từ cách đặt tên chương mục đến cách mô
hình hoá nhân vật Mỗi nhân vật giống cuộc thử nghiệm của một “cái tôi” nhỏ
bé, tính cách nhân vật không được nhà văn lý giải mà được người đọc quan sát
từ “cuộc chơi” của chúng Tạ Duy Anh xác nhận tính trò chơi trong Thiên thần
sám hối bằng lời tựa: “Câu chuyện khó tin này là của một đứa trẻ còn ở trong
bụng mẹ Nếu đọc xong quý vị vẫn không tin thì cũng không sao” Và người kể
chuyện xưng “tôi” sẽ chính là cái bào thai ấy Mười lẻ một đêm của nhà văn Hồ Anh Thái có một khế ước mà tác giả đã thảo ra trước bạn đọc: "Các anh nên đọc
hết cuốn sách này Đọc xong các anh có thể tin hoặc không, vì những chuyện tôi
kể có thể rất nghiêm túc hoặc có thể hết sức tầm phào” Nguyễn Bình Phương
tạo cho Thoạt kỳ thuỷ cấu trúc đứt gãy, nhảy cóc liên tục, đan cài vô thức với hữu
thức, tô đậm cái bất lực của ngôn từ “Trò chơi” của Châu Diên được công khai
ở tên truyện Người sông Mê Tác phẩm không chia chương mà chia khúc, vừa
theo trình tự kiếp luân hồi như quan niệm nhà phật, vừa ngẫu hứng, vu vơ như
lời hát Đồng dao: Kiếp ảo, Kiếp gốc, Kiếp thực, Gốc một - Nhất gốc, Gốc đôi -
Hai gốc,… lời giới thiệu nhân vật chính “thật thà” đến khó tin: “Khi thì cô này
nghĩ mình là Hoa, có khi chính cô lại cho mình là Hương Cô này có lúc lẫn lộn chuyện giữa hai người đàn bà, người tên Hoa và người tên Hương, chả rõ ai là
mẹ và ai là con” Các nhân vật khác cũng tương tự thế “người nào cũng nhớ nhớ
Trang 23quên quên” vì họ đều là “Người sông Mê ấy mà” Thậm chí có khi tác giả còn trực tiếp nhắc cho người đọc nhớ nhân vật chỉ là hư cấu, bịa đặt Tiểu thuyết
Phố Tàu của Thuận có một cấu trúc đặc biệt: Truyện lồng truyện, ghi lại tiểu
thuyết nhân vật chính đang viết: I’m yellow I’m yellow có nhân vật chính là một
người đàn ông xưng “tôi” Tác giả của nó hé mở “hậu trường văn học” bằng cách
nhấn mạnh đây hoàn toàn là kết quả của tưởng tượng: “Đầu tiên tôi muốn đó là
một phụ nữ Sau tôi do dự” Trong Phố Tàu, nhà văn có thể chui vào miền đất ảo
để sống với nhân vật do chính mình sáng tạo Nhân vật hư cấu lại có khả năng
đến được thế giới thực của tác giả Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Cơ hội
của Chúa của Nguyễn Việt Hà, đến Thoạt kỳ thuỷ của Nguyễn Bình Phương,… ở
đó bản thảo của một nhân vật được lồng trong tác phẩm chính Như trò soi gương, hai văn bản đó phản chiếu nhau để nhân lên bội lần ý nghĩa của chúng
Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình, những tiểu thuyết Việt Nam đương đại thử nghiệm trò chơi này có một số điểm đáng chú ý như sau:
1 Một hiện thực không đáng tin cậy: Đó là những bức tranh đầy tính ước
lệ, không theo lôgic nhân quả Thiên sứ, Người sông Mê, Thiên thần sám hối là
những bức hoạ bằng ngôn từ theo phong cách “lập thể”, không nhằm trình bày một hiện thực phổ biến, khả tín mà là những giấc mơ, những ám ảnh vô thức, những trò diễn của sân khấu múa rối hay của lễ hội hoá trang Hiện thực đó không để người ta tin, mà để người ta nghi ngờ và ngẫm nghĩ Quan hệ dân chủ giữa văn học với hiện thực được xác lập đồng thời với việc khước từ sự áp đặt chân lý lên người đọc
2 Những nhân vật dị biệt hoặc kỳ ảo: là những nhân vật được xây dựng như một sự đối thoại, hoặc chối từ quan niệm điển hình hoá của chủ nghĩa hiện
thực truyền thống Ở đây cái cá biệt, cái “phi sử thi” là đặc điểm chính
3 Điểm nhìn trần thuật chủ yếu được giao cho các nhân vật dị biệt đó Tính chủ quan của câu chuyện là một cách khẳng định kinh nghiệm cá nhân và làm tăng chất ngịch, chất hài cho tiểu thuyết
4 Sử dụng phổ biến bút pháp nhại, bút pháp huyền thoại trào lộng: đậm
Trang 24đặc nhất là ở Thiên sứ, Người sông mê, Giàn thiêu Nhại không chỉ là một cách
thức giải thiêng, làm mất giá đối tượng mà chính là quan niệm về bản chất dân chủ của thể loại [9]
Các tiểu thuyết giàu khát vọng cách tân trên đây chưa chắc đã thuyết phục người đọc bởi cái hay nhưng chúng đang mở ra cái gì đó chưa có trong truyền
thống Phía sau hình thức trò chơi này, những ảo tưởng về sức mạnh tuyệt đối
của văn học sẽ được gỡ bỏ, văn học được tự do hơn, tính dân chủ cao hơn Nhưng tính chất trò chơi không mâu thuẫn với sự lao động sáng tạo nghiêm túc trong văn học nghệ thuật Nó nhấn mạnh hơn đến khía cạnh tự do của nghệ thuật, nhất là tự do trong sáng tạo những hình thức nghệ thuật mới Tính chất trò chơi chính là biểu hiện của ý thức nghệ thuật chuyển từ quan niệm về văn học như hình thức giáo dục tuyên truyền sang quan niệm về văn học như hoạt động sáng tạo, nhận thức và tác động vào cuộc sống, mang lại sự thích thú cho con người
1.1.3 Một cách nhìn mới mẻ về nhân vật tiểu thuyết
Chúng ta đang chứng kiến sự biến mất của nhân vật điển hình Quan điểm hiện thực chủ nghĩa cho rằng nhà văn có quyền lọc lựa sự kiện để chọn sự thực điển hình Họ cho rằng cái điển hình có khả năng biểu hiện bản chất của một phạm trù tính cách, rằng sự lọc lựa sự kiện là nhằm gạt bỏ những cái không mang tính bản chất Nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống vừa phải duy nhất lại vừa phải được nâng lên tầm cao của một phạm trù, cần phải đủ nét đặc thù
để không bị thay thế, và đủ tính chung để trở thành phổ biến Vì thế nhân vật tạo thành những tuýp người điển hình, có thể khái quát, đại diện được điểm chung của nhiều nguyên mẫu và sinh động, đậm đặc hơn nguyên mẫu Nhưng phái tiểu thuyết mới lại thấy rằng vốn liếng của cái điển hình rất nghèo nàn; qua
kỹ nghệ điển hình hoá, thế giới phức tạp, phong phú và sống động vô hạn sẽ chỉ còn lại là một mớ những phạm trù tính cách chung chung, trong đó những tính cách độc đáo và cá biệt sẽ bị đổ đồng vào những dạng thức hàm hồ và thô thiển
và chỉ còn được thấy qua lăng kính giai cấp, văn hoá, lịch sử, chủng tộc và ý
Trang 25thức hệ Đó là lý do tại sao độc giả của tiểu thuyết hiện thực điển hình thường
“thấy hình ảnh mình trong đó” Thực ra, hình ảnh của “mình” mà độc giả tìm thấy chỉ là một hình ảnh giả, hay nói đúng hơn, chỉ là một cái bóng có những dạng thức tương tự với bóng mình, tất cả những biến thái khôn lường của tính cách cá nhân đều đã bị triệt tiêu Cuối cùng, tiểu thuyết hiện thực sẽ chỉ còn là diễn trình xây dựng và giải quyết những mâu thuẫn giữa những cái bóng của hiện thực Sự xói mòn niềm tin vào các “lịch sử lớn”, các “siêu truyện”, “đại tự
sự”, con người bị phân tán trở thành một chủ thể phi trung tâm, những mảnh,
mẩu, những hòn đảo nhỏ trong thế giới Nhân vật, trong dòng mới của tiểu
thuyết, không có tính cách tiêu biểu hoặc từ chối tính cách tiêu biểu cho một xã
hội, một thời đại, từ chối những mẫu mực có sẵn, họ thường không tên, hoặc nếu
có cũng ít được nhắc đến, họ là những kẻ vô danh trong đời sống hàng ngày Con người trở nên bé nhỏ và dị biệt đến nỗi nó chỉ là đại diện duy nhất của chính bản thân nó Con người phong phú đến mức mỗi cá nhân không ai có thể thay thế được nó Nhà văn không chú tâm xây dựng những điển hình Những khái niệm
về nhân vật có tên tuổi, có lí lịch, câu chuyện có tình tiết, kết cấu v.v không còn giá trị nữa Và chỗ mà tiểu thuyết hiện thực cổ điển dựa vào như sự độc đáo của tính nguời, hay tính anh hùng v.v trở thành phi lí, bởi thực chất không ai có thể làm kiểu mẫu cho một loại nguời lý tuởng nào đó trong xã hội mà mỗi nguời
là một truờng hợp riêng Nhân vật đuợc xác định bằng sự hiện diện, bằng tồn tại
của nó với những hành vi, những ứng xử truớc mọi hoàn cảnh.
Trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái,… không thấy bóng dáng của nhân vật điển hình mang tầm khái quát cho mọi tính cách lớn lao trong đời, mà thay vào là đủ mọi thứ hạng trong nhân gian, đại đa số là đám người u tối, dị nghịch cả về thể xác lẫn tinh thần và khá nhiều người điên
Đám nhân vật này không có “hoàn cảnh điển hình” nào để mà thể hiện, bởi những “hoàn cảnh” trong các tác phẩm của những nhà văn, không những chẳng có gì là điển hình, mà còn không xác định, luôn tuỳ tiện phân tán, nhiều
Trang 26lúc mất tăm vào giữa hai bờ ảo - thực Phạm Thị Hoài còn có hẳn một truyện ngắn chế nhạo tính ước lệ, khuôn sáo của văn học hiện thực cổ điển, cười nhạo
độc giả ngây thơ "Cuộc sống hoàn toàn không diễn ra theo kiểu đậm đặc, các
sự kiện của một đời người hiếm khi chồng chất, và nói chung, cuộc đời trôi đi vu
vơ, bình thản, tẻ nhạt hơn nhiều Làm gì có số phận nào được mở đầu, phát triển
và kết thúc chu đáo như trong văn chương, làm gì có tình thế điển hình, đẩy người
ta đến các quyết định vượt tầm nhân thế, làm gì có những trạng thái tâm lý mấp
mé bờ vực hay chót vót đỉnh cao, và nhất là làm gì có sự hội tụ đầy run rủi của các nhân vật, nhân vật nào cũng đại diện cho một cái gì như vậy Độc giả chân thành của chúng ta cứ thế mà chờ đợi” (Một truyện cổ điển ).
Cùng với việc từ chối nhân vật điển hình, những nguời viết tiểu thuyết mới
phủ nhận vai trò độc tôn của con nguời Mọi vật trong thế giới đều ngang giá Vì
thế, đối với họ, tương quan nguời - vật không còn là mối tương quan cũ: Con nguời ngày nay từ bỏ vị thế độc tôn trên vạn vật Nói khác đi, nguời cũng chỉ là một thực thể có vị trí tương đương như vạn vật Nguời ta thấy thế giới đồ vật của Alain Robbe Grillet, của Francis Ponge; nhất là Francis Ponge đã đứng hẳn về
phía sự vật như hòn sỏi, con ốc, để quan sát và mô tả con nguời [35] Trong Tấm
ván phóng dao, Con cá (máu và đôi mắt cá), tấm ván là những nhân vật biểu
tượng đặc sắc Hình ảnh con cú trong Thoạt kỳ thủy phải chăng là hiện thân cho
sự cảnh báo về những chết chóc không lường trước được ở con người…
Cũng theo Thụy Khuê, nếu nói tiểu thuyết chính là sự đi tìm ẩn mật của bản ngã, thì “đối với Nguyễn Bình Phuơng, lá chuối, cục đất, mặt đất, sấm, chớp, mưa, mây, ban mai, con mọt, con bò, con sâu, con rồng, con đom đóm, không khí, suơng mù, đôi giầy, cây nhãn, cây tùng, ánh sáng, thai nhi, cái chuông, cái chậu đều phát ngôn, đều "hành động” [35], tác dụng vào môi
truờng, có phản ứng như một thực thể tồn tại, không khác gì con nguời Nguyễn
Bình Phương đã đem “những hiện tuợng không giải thích đuợc” ấy vào tiểu thuyết, trình bầy như một quan niệm bao quát hơn về vũ trụ nhân sinh, kết hợp
cỏ cây, vật giới, hiện tuợng và âm dương Tất cả đều đi tìm bản thể của mình,
Trang 27như lời cây chuối: "Tại sao ta ở đây? Tại sao ta là chuối mà không là gì khác?”
Cư dân của Người đi vắng là những hồn ma, những kẻ sống dở chết dở, những
dòng sông, giọt sương, tiếng chuông…Việc xây dựng những nhân vật hay loài vật không chỉ mở rộng phạm vi nhân vật mà quan trọng hơn nó thể hiện quan niệm của tác giả về một thế giới dân chủ bình đẳng, trong đó các giá trị được cào bằng
Nhân vật tiểu thuyết không được tái hiện như một số phận tròn trịa, trọn vẹn mà hiện lên chỉ là những mẩu, mảnh, những kí hoạ, có khi chỉ còn "những mảng ý nghĩ, mảng đối thoại, những câu nói" Con người chỉ là những mảnh vỡ
dị biệt như những mảnh puzzle trải dài trong tác phẩm, chỗ chìm, chỗ nổi Điều này được Kundera giải thích như sau: "Chúng ta không thể nào nhìn thấy được trạng thái toàn thể của sự vật, và nhãn quan của chúng ta được nhận biết bởi chính bản chất phân mảnh của thời gian Tính toàn thể là một ý niệm và nó chỉ
có thể biểu hiện thông qua những mảnh vỡ mà thôi Chúng ta biết rằng mình đang ở giữa một cái gì đó rất rộng lớn, nhưng ở từng thời khắc ta lại chỉ có thể thấy được cái ở ngay trước chúng ta Tính toàn thể là một cái gì đó mà chúng ta
tự tái thiết cho chính mình thông qua tất cả những mảnh vỡ này, vì những mảnh
vỡ này là những cái đem lại sự hữu hình Giống như mắt của loài ruồi, chúng ta chỉ nhìn thấy từng phần, mỗi phần chỉ vừa đủ để gói gọn ý niệm mà nó phải chuyên chở Chỉ sau này khi tất cả những mảnh vỡ đó hợp nhất lại, bức tranh lớn mới lộ diện"[39]
Ngoài ra còn có thể kể đến những cách tân trong việc xây dựng nhân vật chính hầu hết đều nằm ở bên kia giới tuyến, sự phá huỷ những kiểu nhân vật truyền thống, buộc người đọc phải nhận thức lại những mô típ quen thuộc trong truyền thống, nhân vật như những cảnh báo với con người hiện đại về khả năng
bị sơ đồ hoá, bị bào mòn cá tính bởi chiếc giẻ lau cuộc sống và nguy cơ đáng sợ
về tình trạng “người không mặt” Nhưng trong khuôn khổ luận văn chúng tôi không đi sâu phân tích những đặc điểm này
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết hiện nay hầu hết khác lạ so với truyền
Trang 28thống, chúng giống như những “xác tín” bị nghi ngờ Qua đó, có thể nhận ra một
ý thức thẩm mĩ mới của nhà văn
1.2 Những nỗ lực cách tân của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
1.2.1 Hành trình đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 đến nay
Văn học Việt Nam sau 1975 có sự đổi mới rõ rệt Người ta đọc lời ai điếu
cho một giai đoạn văn học minh họa và yêu cầu văn nghệ phải được cởi trói,
phải đổi gác Hành trình đổi mới của tiểu thuyết gắn với tiến trình vận động của
văn học dân tộc
Theo các nhà nghiên cứu, văn học Việt Nam ba mươi năm qua đã đi qua
ba chặng đường, có sự tiếp nối không đứt đoạn: Từ 1975 đến 1985 là thời kỳ chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang văn học thời hậu chiến; từ
1986 đến đầu thập kỷ 90 là thời kỳ văn học đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ, gắn liền với chặng đầu của công cuộc đổi mới đất nước; từ 1993 đến nay, văn học trở lại với những quy luật bình thường và hướng sự quan tâm nhiều hơn vào những cách tân nghệ thuật
Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng trước nhu cầu “đổi mới tư duy tiểu thuyết” Tiểu thuyết những năm tiền đổi mới (1975-1985) vẫn theo đà quay “quán tính” nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng, cảm hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể trong tư duy nghệ thuật của nhà
văn: Họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu),
Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thuỵ), Đồng bạc trắng hoa xoè (Ma Văng
Kháng) Chỉ khi bước vào thời kỳ đổi mới, trong không khí dân chủ của đời sống văn học, tiểu thuyết mới thực sự đổi mới ở tư duy nghệ thuật Mặc dù đã
có nhiều chuyên luận, diễn đàn bày tỏ sự ái ngại về chất lượng tiểu thuyết hiện
nay như : Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu, hay Tại sao tiểu thuyết Việt Nam
chưa có đỉnh cao, nhưng phải ghi nhận rằng tiểu thuyết đã có một số thành tựu
đáng kể nhìn từ thi pháp thể loại Từ sau 1975 và nhất là sau 1986, đã có sự khởi
Trang 29sắc của văn xuôi, trong đó tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo, bộc lộ ưu thế của mình trong cách “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người trong vận động và phát triển, đáp ứng sự đòi hỏi bức xúc của công chúng đương
đại : Thời xa vắng (Lê Lựu), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Mưa mùa hạ, Mùa lá
rụng trong vườn, Ngược dòng nước lũ ( Ma Văn Kháng), Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Một cõi nhân gian bé tí (Nguyễn Khải), Đất trắng (Nguyễn
Trọng Oánh), Cù Lao Tràm, Đứng trước biển vắng, Phố, Cuộc đời dài lắm (Chu Lai), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), Cơ hội
của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Đời thường (Phùng Khắc Bắc), Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn ( Nguyễn Bình Phương), Một ngày và một đời, Cơn giông (Lê Văn
Thảo), Người Sông Mê (Châu Diên), Giàn Thiêu (Võ Thị Hảo), Cõi người rung
chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Trùng tu ký ức (Thái Bá Lợi), Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh)
Từ năm 1975 đến 1985 là chặng đường chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của thời kỳ hậu chiến Tính chất chuyển tiếp này thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phương thức nghệ thuật và
cả quy luật vận động của văn học Ở nửa cuối thập kỷ 70, những năm liền ngay sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nền văn học về
cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật và với những cảm hứng chủ đạo trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước Khuynh hướng sử thi vẫn được tiếp tục nhưng mờ nhạt dần với một loại tiểu thuyết, kí sự, hồi ký về chiến
tranh Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu: Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Đất miền Đông (Nam Hà),
Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Đất Trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Miền Cháy (Nguyễn Minh Châu) Cố nhiên, văn xuôi sử thi ra đời sau 1975 cũng có
những khác biệt nhất định so với loại hình ấy ở giai đoạn trước Bên cạnh nhu cầu tái hiện lịch sử, nhà văn có điều kiện tập trung vào xây dựng tính cách nhân vật, phân tích và lí giải về các sự kiện, biến cố lịch sử Từ đỉnh cao của chiến
Trang 30thắng trọn vẹn, nhìn lại và tái hiện những khó khăn, tổn thất thậm chí cả những thất bại tạm thời của ta trong cuộc chiến tranh cũng chính là một cách khẳng định những giá trị lớn lao của sự hy sinh và ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng Bên cạnh đó, một số cây bút đã đề cập kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong buổi giao thời từ chiến tranh sang hoà bình, mà cuộc sống ở mọi nơi hiện ra không chỉ
có niềm vui của hoà bình, chiến thắng, đoàn tụ mà còn với bao phức tạp, khó
khăn và cả những mâu thuẫn mới nảy sinh (tiểu thuyết Những khoảng cách còn
lại của Nguyễn Mạnh Tuấn, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu) Bước vào
những năm đầu thập kỷ tám mươi, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn chồng chất và rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng Nền văn học cũng chững lại và không ít người viết lâm vào tình trạng bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác Ý thức nghệ thuật của số đông người viết và công chúng chưa chuyển biến kịp với thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kỳ trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc Đây là khoảng thời gian mà Nguyên Ngọc gọi là "khoảng chân không" trong văn học Nhưng cũng chính trong những năm này đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu của đời sống văn học, với những trăn trở vật vã, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở một số nhà văn có mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống và có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình Những tìm tòi bước đầu ấy đã mở ra cho văn học những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là cái hiện thực đời thường với những vấn đề đạo đức - thế sự đang tồn tại nổi cộm, đòi hỏi văn học phải nhận thức, khám phá
Từ 1986 đến đầu những năm chín mươi là giai đoạn văn học đổi mới, tập trung vào mô tả hiện thực với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”.Văn học phát triển mạnh khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh
mẽ trên tinh thần nhân bản Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lượng, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời, trở thành
vật cản trên bước đường phát triển của xã hội Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê
Trang 31Lựu được coi là tác phẩm khơi dòng cho khuynh hướng này và đã trở thành sự kiện văn học nổi bật của những năm 1986 - 1987 Tiếp đó là hàng loạt tiểu thuyết và truyện ngắn xuất hiện trong những năm cuối thập kỷ 80 và 90 như:
Bến không chồng của Dương Hướng, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma
Văn Kháng, Những thiên đường mù của Dương Thu Hương, Bước qua lời
nguyền của Tạ Duy Anh Chiến tranh cũng được nhận thức lại từ sự tác động
ghê gớm của nó đến tính cách và số phận con người, với bao nỗi éo le, bi kịch,
xót xa, nỗi buồn dai dẳng (Cỏ Lau và Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn
Minh Châu), còn Bảo Ninh thì thể hiện thấm thía nỗi buồn chiến tranh với những
thế hệ phải trải qua cuộc chiến ấy trong Thân phận của tình yêu Nguyễn Huy
Thiệp lại phơi bày sự khủng hoảng của xã hội qua việc thay đổi các giá trị và lối
sống (Tướng về hưu, Không có vua) Còn Bến không chồng của Dương Hướng,
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng lại là những bức tranh hiện thực với nhiều mảng
tối trước đây thường bị khuất lấp, nay đã hiện ra trên trang sách với bao điều xót
xa và cả sự nhức nhối mà các tác giả muốn thức tỉnh trong mỗi người đọc cũng như toàn xã hội để có thể dứt khoát vượt qua cái "thời xa vắng" vốn chưa xa là mấy Tiếp tục hướng tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự - đời tư đã được mở
ra ở nửa đầu những năm 80, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện mọi khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phồn tạp
So với những tác phẩm văn học trước đây, nhiệt tình phê phán của văn học giai đoạn này dữ đội hơn rất nhiều Đặc điểm nổi lên trong văn học là khuynh hướng đấu tranh phê phán xã hội, duyệt lại những sai lầm quá khứ, cái mà người
ta gọi là khuynh hướng văn học phơi bày và tố cáo Cố nhiên, cảm hứng phê phán cũng có lúc đẩy tới cực đoan, lệch lạc và người viết bộc lộ một cái nhìn ảm đạm, hoài nghi, thiên lệch
Quả thật, sự xuất hiện cảm hứng sự thật là một tất yếu nhưng cũng là điều tất yếu mà văn học phải vượt qua để tìm đến những chiều sâu mới Sự phơi bày
Trang 32kể lể không còn đủ nữa, đã đến lúc người đọc đòi hỏi một điều khác hơn: người
ta chờ nhà văn, qua những vận động xã hội phức tạp đó, đưa đến cho người ta những tổng kết nhân văn sâu sắc và lâu dài
Từ cuối những năm 90 đến nay, trong xu thế đi tới sự ổn định của xã hội, văn học về cơ bản cũng trở lại với những quy luật mang tính bình thường, nhưng không xa rời định hướng đổi mới đã hình thành từ giữa những năm 80 Nếu như trước đó, động lực thúc đẩy văn học đổi mới là nhu cầu đổi mới xã hội và khát vọng dân chủ - đó cũng chính là nội dung cốt lõi của văn học trong chặng đầu đổi mới - thì khoảng 10 năm trở lại đây, văn học quan tâm nhiều hơn đến sự đổi mới của chính nó, mặc dù vẫn không đi ra khỏi xu hướng dân chủ hoá Đây là lúc văn học trở về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, đồng thời có ý thức và nhu cầu tự đổi mới về hình thức nghệ thuật, phương thức thể hiện hơn bao giờ hết
Trong thơ, những cách tân theo hướng hiện đại chủ nghĩa đã thu hút được
nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau: Lê Đạt (Bóng chữ), Trần Dần (Cổng
tỉnh, Mùa sạch), Dương Tường (36 bài tình), Hoàng Hưng (Ngựa biển, Người đi tìm mặt), Nguyễn Quang Thiều (Những người đàn bà gánh nước sông, Sự mất ngủ của lửa) Một số cây bút trẻ gần đây đã gây được sự chú ý bằng những tìm
tòi mới, có khi táo bạo trong hướng đi sâu vào bản thể con người với khát vọng thành thực phơi trải tất cả mọi điều trên trang viết (Đồng Đức Bốn, Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh) Những thể nghiệm mạnh bạo để cách tân tiểu thuyết cũng được các tác giả thực hiện trong hàng loạt tiểu thuyết
xuất hiện gần đây: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh),
Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Những đứa trẻ chết già ( Nguyễn Bình Phương), Người Sông Mê (Châu Diên), Giàn Thiêu (Võ Thị Hảo), Cõi người rung chuông tận thế
(Hồ Anh Thái), Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Phố Tàu (Thuận), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tường), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)
Trang 33Sự chuyển biến của tiểu thuyết là xóa bỏ đi sự ám ảnh của chủ nghĩa đề tài Hiện thực chỉ là cái nền cho sự diễn biến những cuộc đời, những số phận,
những trạng thái tinh thần Tiểu thuyết đi sâu khám phá con người, truy tìm cái
ẩn mật của bản ngã
Tiểu thuyết đang ngày càng khẳng định vị thế “cột sống của nền văn học”,
có vai trò “quyết định căn cốt một diện mạo văn học” của mình, bởi nói như nhà văn Nguyên Ngọc, "tiểu thuyết không chỉ là một thể loại văn học Hơn thế rất nhiều, đó là một bước phát triển quan trọng và cơ bản trong tư duy của con người về thế giới, là một thời đại mới trong tư duy của con người Có thể kể những đặc điểm của tư duy ấy là tính không tất định của cuộc sống, phi tuyến tính, thoát ra khỏi tư duy cơ giới vốn coi những điều hợp lý như một cỗ máy, biết nguyên nhân thì rõ hậu quả, cái trước cái sau"[39]
1.2.2 Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - những tìm tòi đổi mới
Có thể thấy tư tưởng “sáng tạo nghệ thuật trước hết là sáng tạo hình thức” hiện đang được coi trọng hơn trước nhiều "Mới" như một tiêu chí để định giá tác phẩm văn học Tiểu thuyết Việt Nam đương đại là những nỗ lực thể nghiệm
có khi còn dang dở, hoặc lạ lẫm, khó đọc… nhưng đặc điểm rõ nhất là chúng đang nỗ lực khước từ truyền thống trên nhiều phương diện
1.2.2.1 Cách tân về qui mô, dung lượng
Với tiểu thuyết theo quan niệm truyền thống, người ta kỳ vọng hơi nhiều vào những gì “nặng ký” được rút ra từ đó như bức tranh đời sống, những thăng trầm lịch sử, các vấn đề thời đại , phải lớn về dung lượng trang, nhiều về nhân vật, dồi dào khả năng bao quát hiện thực đời sống cả bề rộng lẫn bề sâu…Tiểu thuyết thường nhiều về số trang là điều dễ hiểu, bởi chỉ có ở trong thân xác to lớn, nó mới mang chứa được nhiều vấn đề, "phủ sóng" được một diện rộng lớn của đời sống Nhưng trên thế giới những năm gần đây thực sự đã xuất hiện một khuynh hướng viết những tiểu thuyết ngắn với mục đích, một mặt chống lại một
xu hướng chính từng ngự trị trong truyền thống: viết những bộ sử thi, tùng thư
Trang 34dài trang được xem như một giá trị, còn viết ngắn đồng nghĩa với sự non yếu, thất bại; mặt khác minh chứng cho một quan niệm mới mẻ rằng: tính toàn thể của thế giới chỉ có thể được biểu hiện và nhận ra trong từng phân mảnh của thực tại, rằng tham vọng miêu tả toàn bộ hoặc phần lớn thế giới trong một tác phẩm tiểu thuyết là siêu hình và trên thực tế là không thể đạt được [22]
Trừ Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác đồ sộ và bề thế, một số tiểu
thuyết Việt Nam đương đại có dung lượng và qui mô nhỏ, đơn giản về cốt truyện, ít nhân vật, gây được tiếng vang đối với độc giả và giới nghiên cứu Đó
là tiểu thuyết chưa đầy 80 trang của Thiên sứ, 180 trang của Vào cõi, 127 trang
và 163 trang giấy khổ nhỏ của Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy; cũng thế với 120 trang của Thiên thần sám hối, và 203 trang của Tấm ván phóng dao Thực ra đây
không đơn thuần chỉ là sự đổi mới hình thức trên bề mặt, mà là kết quả của quan niệm cuộc sống như những mảnh vỡ Hơn nữa, sự thu gọn về dung lượng cũng bị qui định bởi thời đại thông tin hiện đại Do vậy đặc điểm lớn nhất phân biệt với truyện ngắn và truyện dài chính là ở "tính tiểu thuyết", tức khả năng truy tầm những giá trị bề sâu của con người trong cuộc sống hỗn độn này
1.2.2.2 Cấu trúc tiểu thuyết
1.2.2.2.1.Cấu trúc phân mảnh
Tiểu thuyết đương đại đập vỡ các mảng văn bản trần thuật thành những mảnh vụ rời rạc, xô lệch, không theo một trật tự nhân quả rõ rệt nào, và tương ứng với mỗi mảnh vụn ấy là mỗi mảnh của hiện thực đời sống được biểu hiện Nhìn vào bề mặt văn bản những tác phẩm này, có thể thấy một hiện tượng rất
khác so với truyền thống khi phân chương như Thiên sứ, Vào cõi; và phân đoạn
với những cách quãng được đánh dấu bằng hoa thị (*) Cả phân chương và phân đoạn của các tác phẩm này đều giống nhau một điểm: Phân chia văn bản truyện
ra thành những phần rất ngắn, và đặc biệt là không đều nhau Có chương 2 trang
và có chương 7 trang (Thiên sứ), cực đoan hơn - có chương 13 trang, có chương
Trang 353 dòng (Thiên thần sám hối) Các đoạn phân cách cũng cực đoan không kém: 13 trang và 2 dòng (Thoạt kỳ thủy)…Đây không chỉ là một trò chơi cấu trúc văn bản
nhằm lạ hóa nghệ thuật trần thuật, nhằm gây chú ý cho người đọc, thay đổi sự tập trung hoặc phi tập trung của việc đọc văn bản một cách thật biến hóa Nó tạo
ra trên bề mặt văn bản tiểu thuyết ngắn chứa nhiều khoảng trắng (vắng chữ) có tác dụng thư giãn thị giác, và nhất là tạo ra nhịp trần thuật linh hoạt, lúc mau lúc thưa, khi cà kê khi “cà cuống”, lúc để nghĩ ngợi, chiêm nghiệm, lúc bỏ qua, chuyển kênh, rượt đuổi các hình ảnh, ý tưởng khác Loại văn bản này có ý nghĩa năng động và biến hóa
Tuy nhiên, trong bề sâu của nó, cấu trúc phân mảnh được hiểu như một nỗ
lực biểu đạt nghĩa đầy chủ động của nhà văn Nhìn vào mỗi chương mỗi đoạn
như vậy ta thấy chúng là những mảnh văn bản chứa đựng những mảnh đời sống vốn vô cùng đa dạng và phức tạp với tất cả các cấp độ, tính chất biến hóa của chúng mà nhà văn lựa chọn biểu hiện Có khi thấy các đoạn liền kề nhau hầu như
ít có sự liên kết nào cả về mạch truyện, cả về ngữ pháp Nhìn toàn cục, đó là những mảnh văn bản được bố trí theo cách phi tuyến tính, phi nhân quả, rời rạc Theo ý kiến của nhà nghiên cứu Văn Giá, lý do của hiện tượng này chính là: "1) Nhằm phá hủy cốt truyện truyền thống, tiến hành biểu hiện và nhận thức thế giới theo tinh thần phân mảnh, và sự liên kết bề sâu của các phân mảnh đó tạo ra được một ý niệm nhất quán nào đó về thế giới; 2) Tự nó mang nghĩa biểu đạt sự phân rã, đổ vỡ của hiện thực đời sống đương đại Chưa bao giờ, cuộc sinh tồn của loài người trên mặt đất này lại thiếu tính liên kết, lại rơi vào tình trạng rã đám, nhốn nháo, xô bồ, bất trắc đến như vậy"[21]
1.2.2.2.2 Xu hướng lắp ghép liên văn bản
Tiểu thuyết đương đại hình thành bằng cách lắp ghép, tạo dựng các mảnh cốt truyện, các mảnh tâm trạng không theo trình tự thời gian mà ngổn ngang, đảo ngược theo ý đồ của tác giả tạo ra “truyện trong truyện” Những tình huống, cảnh
Trang 36ngộ, biến cố như không quan hệ, liên đới được xích lại gần nhau Thoạt kỳ thuỷ của Nguyễn Bình Phương có cấu trúc đứt gãy, nhảy cóc liên tục, đan cài vô thức với hữu thức, tô đậm cái bất lực của ngôn từ Người sông Mê của Châu Diên không chia chương mà chia khúc, vừa theo trình tự kiếp luân hồi như quan niệm nhà Phật, vừa ngẫu hứng, vu vơ như lời hát đồng dao: Kiếp ảo, Kiếp gốc, Kiếp
thực, Gốc một - Nhất gốc, Gốc đôi - Hai gốc,…Trong văn bản có sự liên hệ đến
những văn bản khác một cách có ý thức Có thể kể đến Phạm Thị Hoài với Thiên
Sứ khi chị tuyên bố ngay từ đầu “cuốn sách này bắt đầu từ một điển tích của nhà
văn G.G và những chuyện khó tin của nhà văn F” Các chương như sự lắp ghép ngẫu nhiên những “mạnh vụn” rời rạc của hiện thực, những chi tiết như “tiện đâu
kể đấy” Cuộc “chơi kết cấu” được công khai ngay từ hình thức văn bản, từ cách
đặt tên chương mục đến cách mô hình hoá nhân vật Các chương được sắp xếp sao cho có khả năng phá vỡ mạnh nhất tính cân xứng, hài hoà của tiểu thuyết truyền thống: chương 10 - không đề chỉ là mười dòng tự luận của người kể chuyện Chương 14 - ván bài mở ra với bảng phân vai và “tóm tắt lý lịch” nhân vật như một văn bản kịch Chương 18 - Nhật ký chị Hằng, chương 15 - Thơ
PH… Nhìn vào hình thức văn bản đã thấy ngay sự sắp đặt, pha trộn, lai ghép của
Chính cấu trúc lắp ghép này tạo cơ hội cho sự thâm nhập các thể loại khác vào tiểu thuyết : Nhật kí, chuyện kể, thơ, thư từ, huyền thoại, điển tích, cổ tích Những hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo thành những tiếng nói khác
nhau trong tiểu thuyết, nới rộng cấu trúc thể loại, mở rộng trường nhìn (Lời
nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ, Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương,
Trang 37Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, Cơn giông của Lê Văn Thảo, Người sông Mê của Châu Diên, ).
Liên văn bản mang nhiều chức năng khác nhau, vừa được hiểu như sự
“phi trung tâm hoá chủ thể”: chủ thể bị hoà tan, biến mất và thế giới được xem như văn bản, một văn bản bao gồm nhiều văn bản riêng lẻ không ngừng dẫn dựa vào nhau, vừa được coi như sự khắc phục thực tại nguỵ
1.2.2.2.3 Cấu trúc mở
Theo các nhà nghiên cứu, "Nói về một văn bản (nghệ thuật), chính là đã đang chỉ ra cấu trúc"[28] Một tác phẩm khép lại chính nó, cái kết thúc gặp gỡ cái mở đầu, cũng mới chỉ là một cách hiểu về kiểu đóng "Một truyện kể, được kết thúc bởi tác giả của nó, có một kết luận rõ ràng, thì cấu trúc của nó là đóng Mọi các tác phẩm nghệ thuật, ngay cả khi nó là một hình thức đã hoàn tất về tổ chức đã được định cỡ một cách chính xác, đều là mở, ít ra là trong những gì mà
nó có thể được diễn giải từ những cách khác nhau"[28] Tiểu thuyết truyền thống
có kết cấu khép kín và tĩnh tại Nhưng hầu hết tiểu thuyết đương đại thường có kiểu mở đầu đột ngột và kết thúc dở dang Thậm chí có những kiểu tác phẩm sự
mở rộng là không giới hạn tuỳ thuộc vào sự hưởng ứng của độc giả, khi đó được
mời gọi thành đồng tác giả (Trường hợp Nguyễn Viện với Em có gì bí mật hãy
mail cho anh).
Tác phẩm mở là một hệ thống những ký hiệu có thể được diễn dịch ra đến
vô tận Từ đó nội dung cuộc sống cũng được kể theo một kiểu khác: "Một cuốn tiểu thuyết trình bày một cốt truyện có đầu có cuối không phải thuộc về sáng tạo của thể loại Một số tiểu thuyết đương đại chẳng hề kể gì cả Tuy nhiên, tiểu thuyết thường xuyên phải mang lại - nếu không đã không phải là tiểu thuyết - một ý thức về thời lượng mà ở bên trong nó có vô vàn những biến cố để chiếm chỗ" (Pierre Louis Rey) Tiểu thuyết đương đại, vì vậy có vô vàn lớp nghĩa Lớp nghĩa thứ nhất được hình thành do cấu trúc nội tại của tác phẩm, còn lớp nghĩa thứ hai do người đọc khi tiếp xúc với tác phẩm làm nảy sinh Đồng thời lớp nghĩa này cũng lại làm nảy sinh vấn đề mới buộc người đọc phải đọc tiếp tác
Trang 38phẩm để tìm lời giải đáp: lớp nghĩa thứ ba ra đời Cứ như thế, ý nghĩa tác phẩm không ngừng vận động và phát triển Tác phẩm văn học, như vậy, là một tác phẩm mở và nó chỉ thực sự tồn tại trong và thông qua sự đọc Vì thế, vai trò của người đọc xuất hiện, chí ít, ngang với vai trò của nhà văn, kẻ đồng sáng tạo.
1.2.2.2.4 Kết cấu tiểu thuyết trong tiểu thuyết
Quan niệm tiểu thuyết như một trò chơi , đề cao tính dân chủ của tiểu
thuyết, các nhà văn thường hé lộ công việc sáng tác của mình bằng hình thức kết cấu tác phẩm theo kiểu truyện trong truyện, tiểu thuyết trong tiểu thuyết, ở đó bản thảo của một nhân vật được lồng trong tác phẩm chính Lối sáng tác hậu hiện đại "cắt dán" nhiều loại văn bản trong một cuốn sách, đan xen nhiều câu chuyện trong một câu chuyện, có tác dụng mở rộng không gian nghệ thuật của tác phẩm, nới rộng những chiều kích hiện thực đồng thời phản ánh quan niệm về một thế giới không dễ lý giải, đứt vỡ xáo trộn và vụn nát Đặc điểm này thể hiện
ở một số tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà),
Chân dung cát (Inrasara), Nỗi buồn chiến tranh( Bảo Ninh), Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phương),… , đặc biệt điển hình ở Phố Tàu (Thuận )
Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà là một tác phẩm cách tân trên nhiều
phương diện: nghệ thuật kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, nhân vật, cấu trúc tiểu thuyết Trên bề mặt những trang viết tưởng chừng chỉ đơn thuần tái tạo hiện thực đời sống hào nhoáng của những con người có nhan sắc, có tài năng và địa vị trong xã hội, Nguyễn Việt Hà hé lộ những khám phá về công việc sáng tạo của nhà văn thông qua mối quan hệ giữa người sáng tạo với nguyên mẫu: "Chúng tôi thỏa thuận sẽ không tách lời của nhau Tôi nghĩ thế nào tôi sẽ nói như vậy Và anh, viết những cái ấy thành như thế nào, là chuyện của anh Tôi chấp nhận sự hiện diện của tôi qua giọng kể của anh" Nội dung cuốn tiểu thuyết về Cẩm My
và câu chuyện đi tìm nhân vật của nhà văn lồng vào nhau, khiến cho người đọc khó lòng phân biệt ranh giới giữa hiện thực và tiểu thuyết Đây là một dấu hiệu của nghệ thuật cấu trúc truyện lồng trong truyện, hư cấu lồng vào hư cấu Điểm
Trang 39nhìn trần thuật của tác phẩm không cố định ở một nhân vật mà liên tục thay đổi
từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ 3
Khải huyền muộn là những câu chuyện trong nhiều câu chuyện của một
nhà tiểu thuyết trẻ, vật vã với ý tưởng và các nhân vật nửa thật - đang sống chung với mình và nửa không thật - ấy là các nhân vật của cuốn tiểu thuyết mà
nhà văn trẻ đang viết Vì thế trong Khải huyền muộn tồn tại hình thức nhà văn kể
về nhà văn và nhân vật, tiểu thuyết kể về việc viết tiểu thuyết, nhân vật kể về chính mình như là người đóng vai nhân vật và kể về nhà văn như là đối tượng của mình
Chân dung cát của Inrasara với từng mảnh nhỏ cắt rời, đứt vỡ nhưng đan
xen vào nhau trong một gương mặt tinh thần Chăm đương đại Câu chuyện khi thì do nhân vật "tôi" (J'Man) kể, khi thì được "cắt dán" bởi "hồ sơ bệnh án" (đồng thời là hồ sơ nhân thân, con người), những đoạn trích sổ ghi chép, lịch làm việc, một bài thơ ngẫu hứng hay những suy tưởng rời của các nhân vật Chính
từ cách kết cấu tiểu thuyết trong tiểu thuyết, soi chiếu tác giả trên góc nhìn của nhân vật, biến tác giả thành một nhân vật đã khắc hoạ được những nhân vật trí thức Chăm đầy những trăn trở suy tư về lẽ tồn vong của ngôn ngữ, văn hoá và cộng đồng trong chặng đường dài vươn mình huy hoàng và tàn lụi
Phố Tàu của Thuận chỉ dài hơn 200 trang nhưng lại dành tới gần 50 trang
để ghi lại tiểu thuyết nhân vật chính đang viết: I’m yellow Việc đó làm cho Phố
Tàu có một cấu trúc đặc biệt: nó bị cắt thành ba phần bởi hai trích đoạn của I’m yellow Mặt khác, sự tồn tại của I’m yellow trong Phố Tàu khiến cho vai trò của
các nhân vật chịu một sự thay đổi lớn Từ nhân vật chính của Phố Tàu, người đàn bà tha hương trở thành nhân vật phụ trong I’m yellow Từ “tôi” trong Phố
Tàu, cô chỉ còn là “chị ta” trong I’m yellow Từ người kể chuyện, cô thành người
bị kể Từ chủ thể sáng tạo, cô bị nhân vật của mình tra vấn
Trang 40Kết cấu tiểu thuyết trong tiểu thuyết một mặt thể hiện quan niệm dân chủ trong cách nhìn nhận về nhà văn và về nghệ thuật, mặt khác tạo ra được những điểm nhìn phong phú về con người và thế giới.
1.2.2.3 Những nét mới về nhân vật
Nhân vật là yếu tố hàng đầu của tác phẩm văn học Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của đời sống xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá số phận con người Tiểu thuyết hiện đại khám phá con người trong
chính bề sâu của nó, nói như Kundera là đi tìm ẩn mật của bản ngã bằng nhiều
hình thức khác nhau
1.2.2.3.1 Giễu nhại như một hình thức nhận thức lại về nhân vật
Tiểu thuyết đương đại khám phá con người như một thực thể phong phú
sống động, không thể biết trước, không thể biết hết, vì vậy mà nó luôn chối từ những cách nhìn sẵn có, tiên thiên nào đó về con người Vì vậy xuất hiện hình thức nhại lại để phá huỷ một số kiểu nhân vật của văn học thời trước
Có thể nói, toàn bộ thế giới nhân vật trong Thiên sứ đều khác lạ so với truyền
thống, nhại những nhân vật truyền thống để phủ định chúng Nhân vật tri thức với gương mặt méo mó, đang đứng trước nguy cơ bị tha hoá thành phản tri thức, thành lưu manh Tác giả còn dùng rất nhiều thuật ngữ của sân khấu, điện ảnh được dùng để nhại tất cả các lời nói có vẻ nghiêm túc, nhưng chứa đựng bên trong rất nhiều sự giả dối, phản tự nhiên của con người: “Anh ta đăm đăm nhìn tôi, tôi giữ chặt bó hồng đỏ, tay kia tấm bưu ảnh cũng hoa hồng đỏ” Lời tỏ tình của Quang y như khẩu hiệu chính trị: “Anh yêu Hoài Nhưng chúng ta không thể
để tình yêu lấn át lý trí Anh cần ra đi Nhiều nhiệm vụ cấp bách của cách mạng đang đòi hỏi”
Thời xa vắng của Lê Lựu là một tiểu thuyết giễu nhại độc đáo Nó không
cần sử dụng những thủ pháp lạ hóa quen thuộc như phóng đại, hay vật hóa hình ảnh con người để làm nổ ra tiếng cười Nó chỉ đơn giản thuật lại những chuyện