1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết đi tìm nhân vật của tạ duy anh luận văn thạc sỹ ngữ văn

101 895 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh
Tác giả Lê Thị Huế
Người hướng dẫn GS. TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 623 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Lê thị huế

đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết đi

tìm nhân vật của tạ duy anh

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sau năm 1975, hoà bình lập lại, đất nước đổi mới trên nhiềuphương diện, nhất là về kinh tế, văn hoá Đặc biệt trong văn học đã có nhiềuthay đổi không chỉ ở phương diện nội dung đề tài mà còn có sự đổi mới trongcách hành văn của các nhà văn hiện đại, trong số đó phải kể đến Tạ Duy Anh.Ông được xem là một hiện tượng nổi bật, một cây bút thu hút được nhiều sựquan tâm của bạn đọc cũng như của giới phê bình, đặc biệt là về thể loại tiểuthuyết Với Tạ Duy Anh, mỗi tiểu thuyết là một sự nỗ lực, phá cách thật sự

Tiểu thuyết Đi tìm nhân vật là minh chứng xác thực nhất.

1.2 Mỗi nhà văn có một lối viết, cách thể hiện nhân vật riêng Tạ DuyAnh đã chọn lối viết mới thể hiện qua cách tổ chức truyện, cách xây dựngnhân vật, các tình tiết nối kết câu chuyện Đặc biệt câu văn của ông có sự đổimới so với những nhà văn cùng thời: nhiều kết cấu đặc biệt, bỏ lửng, chứanghĩa hàm ẩn Việc tìm hiểu đặc điểm câu văn của Tạ Duy Anh sẽ giúp chúng

ta hiểu đầy đủ hơn về phong cách viết của nhà văn đa tài này Cũng qua việcnghiên cứu này, chúng ta sẽ có thêm cơ sở khoa học và thực tiễn để đưa ranhững kết luận về đặc điểm câu văn của một trong số các nhà văn mới sau

1975 Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết

Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh”.

2 Lịch sử vấn đề

Tạ Duy Anh là nhà văn được dư luận quan tâm Tác phẩm của ông ẩnchứa những giá trị nghệ thuật gây xôn xao dư luận, tạo ra nhiều sự tranh cãi,khen - chê Đi sâu tìm hiểu các tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, chúng tôi thấy nóđặt ra vấn đề nghiêm túc về cuộc sống, chứa đựng sự dồi dào của một cây búttrẻ Chính vì vậy, Tạ Duy Anh đã dành được rất nhiều sự quan tâm của độcgiả và giới phê bình

Trang 3

Cho đến nay, những bài viết, những công trình nghiên cứu Tạ Duy Anh có

thể kể đến một số bài viết sau đây: Tạ Duy Anh - người đi tìm nhân vật của Thụy Khuê Trong bài báo này, Thụy Khuê chủ yếu viết về tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh Bài báo đánh giá cao những nỗ lực cách tân của Tạ

Duy Anh trong việc tìm đến một hình thức nghệ thuật tiểu thuyết mới, đặc

biệt là tính đa âm trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh Ông viết: “Đi tìm nhân vật đã biến chuyển nhiều để tạo ra một hịên thực mới mà

ký ức, hồi ức không còn thụ động, không còn bất động trong mỗi lần trở về.Những nghi vấn đầu tiên này đã là một bước ngoặt đặt ra cho tiểu thuyết: đi

từ xác định đến hoài nghi, đẩy người đọc vào tình trạng: không thể có một sựđọc mà có nhiều sự đọc” [25]

Còn bài viết Tạ Duy Anh - Đi tìm nhân vật của Dương Thuấn lại đánh

giá: “Tạ Duy Anh đã thoát khỏi hoàn toàn lối viết truyền thống quen thuộc làhiện thực bị che phủ bởi nhiều lớp mùng màn, miêu tả dầm dề, hành độngchậm chạp, ngôn ngữ sạch bóng trơn tru Anh đã chọn phương pháp tiếp cậnhiện thực đa diện, đa chiều và gần nhất” [46]

Đoàn Ánh Dương trong Chung tay lan tỏa trí thức, ngày 2/7/2008,

nhận xét: “Qua những hướng khác nhau trong bút pháp cũng như trong cách

biến thiên nhân vật, Trò đùa của số phận đã đạt được lối viết đa âm trong tiểu

thuyết Tạ Duy Anh luôn lồng ghép “mô hình đa chiều” của nhiều tiểu thuyết,nhiều “tác giả” trong một tác giả, nhiều nhân vật trong một nhân vật và tự tìmcho mình một giọng điệu rất hay, giọng điệu của một nhà văn như tìm đến sự

tự do, tìm đến chân lý bằng cách chọc thủng bóng tối để tìm ra ánh sáng sựthật” [12]

Còn Lê Thiếu Nhơn - mục Nhân vật trong tuần của Người lao động,

24/ 3/ 2008 thì đánh giá: “Bút pháp của Tạ Duy Anh đâu chỉ ở mức độ quyếtliệt trong ngôn từ mà là khả năng xoáy sâu vào tâm can người khác lời cật vấn

về điều mà chúng ta muốn họ quan tâm” Luận văn Nông thôn trong sáng tác

Trang 4

của Tạ Duy Anh được Nguyễn Thị Mai Loan (ĐHSP HN, 2004) nghiên cứu

những đổi mới của Tạ Duy Anh về mặt tư tưởng và nghệ thuật tiểu thuyết ở

đề tài nông thôn Luận văn Đặc điểm tiểu thuyết Tạ Duy Anh của Nguyễn

Thanh Xuân (ĐHV, 2008) lại tập trung vào nội dung và thi pháp thể loại Võ

Thị Thanh Hà (ĐHV, 2006) trong luận văn Nhân vật tiểu thuyết Tạ Duy Anh

lại làm bật lên cách tân về quan niệm con người và thế giới nhân vật, nghệthuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh Việt Hoài thì ghinhận Tạ Duy Anh đã bắt kịp với lối viết của các nhà văn trên thế giới: “Sự laođộng nghiêm túc của nhà văn thể hiện một nỗ lực tìm tòi đổi mới kỹ thuật viếtcủa mình Nhà văn đã dùng những kỹ thuật viết hiện đại của thế giới, nhữngphá cách về mặt cấu trúc đa thanh, phúc điệu, điểm nhìn mới từ một bào thaitrong bụng mẹ và lăng kính nhận thức đa chiều, việt hoá các môtíp trong vănhọc thế giới, cách viết ẩn dụ, ngụ ngôn, hiện thực huyền ảo” [55]

Thụy Khuê lại có cái nhìn thật sâu sắc đối với Tạ Duy Anh qua sự nhậnxét: “Mối quan tâm lớn nhất của Tạ Duy Anh là cái vong bản, đánh mất mìnhcủa con người, dưới sự giằng dật xiêu dạt của lịch sử Tiểu thuyết Tạ DuyAnh đặt ra bí ẩn của sự tồn tại cùng câu hỏi về thân phận của thế hệ tương laitrên bờ vực của cái ác, chứa đựng những ẩn số lớn về con người và nhân thế”.[24]

Nhìn chung, các bài viết và các công trình nghiên cứu đều thống nhất ởmột điểm: Ghi nhận những nỗ lực của Tạ Duy Anh trong việc đổi mới vănhọc cả về nội dung và nghệ thuật Riêng đối với tiểu thuyết, đa phần đều chorằng Tạ Duy Anh đã “làm mới” những cái nhìn quen thuộc của cuộc sống.Ông đã tạo ra cho tiểu thuyết của mình đặc điểm riêng

Sự thực, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu đặc

điểm câu văn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh Đó chính là

lý do chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh”

Trang 5

3 Đối tượng nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của

Tạ Duy Anh làm đối tượng nghiên cứu Tiểu thuyết này thuộc tập Trò đùa của số phận, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, năm 2008.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hướng đến các nhiệm vụ sau:

- Thống kê, phân loại các câu văn về cấu tạo và mục đích nói trong tiểu

thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh

- Miêu tả, phân tích đặc điểm câu văn về cấu tạo và mục đích nói trong

tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh

- Rút ra một số nhận xét về đặc điểm phong cách ngôn ngữ của nhà văn

Tạ Duy Anh qua khảo sát, mô tả đặc điểm câu văn từ tiểu thuyết Đi tìm nhân vật.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi đã thống kê được 4.868

câu văn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, lấy đó làm cơ sở

phân loại câu theo cấu trúc và theo mục đích giao tiếp

- Phương pháp miêu tả: Trên cơ sở tư liệu thống kê, chúng tôi đi sâu

vào miêu tả đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy

Anh

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Chúng tôi đi sâu phân tích đặc

trưng ngữ nghĩa của các kiểu câu văn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ

Duy Anh

6 Cái mới của đề tài

Có thể xem đây là đề tài đầu tiên đi vào tìm hiểu đặc điểm câu văn của

Tạ Duy Anh xét về cấu trúc và mục đích phát ngôn

Trang 6

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn sẽ được triển khai thành 3

chương

Chương 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài

Chương 2: Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ

Duy Anh xét về mặt cấu tạo

Chương 3: Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ

Duy Anh xét về mục đích phát ngôn

Trang 7

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI

1.1 Xung quanh vấn đề câu

1.1.1 Vấn đề định nghĩa câu

Trong việc nghiên cứu ngôn ngữ, câu là một hiện tượng đa dạng vàphức tạp Từ những góc nhìn khác nhau có thể đưa ra những định nghĩa câukhác nhau Tuy nhiên câu là một hiện tượng có thực, cho nên người ta vẫn cốgắng đưa ra một định nghĩa chung nhất Sau đây chúng tôi điểm qua vài địnhnghĩa tiêu biểu

Định nghĩa về câu của V.V Vinnôprađốp (1954) được tác giả Nguyễn

Kim Thản lựa chọn: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành

về mặt ngữ pháp theo các quy luật của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu hiện và truyền đạt tư tưởng Trong câu, không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực” [51, tr 147]

Trong định nghĩa vừa nêu có 4 yếu tố:

- Xác định vị trí của câu trong ngôn ngữ học: câu là đơn vị thuộc lờinói

- Xác định câu là đơn vị có tổ chức hình thức: mặt cấu tạo ngữ pháp

- Nêu chức năng của câu: làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểuthị và truyền đạt tư tưởng

- Nêu mặt nội dung của câu: nội dung hiện thực và quan hệ người nóivới hiện thực

Tập thể tác giả của Ngữ pháp tiếng Việt không trực tiếp định nghĩa câu

mà chỉ nêu lên các đặc trưng của câu, có chú ý đến đặc điểm loại hình củatiếng Việt Có thể tóm tắt các đặc trưng ấy như sau:

Trang 8

- Câu là một đơn vị của ngôn ngữ biểu thị một tư tưởng tương đối trọnvẹn.

- Câu không chỉ phản ánh hiện thực mà chứa đựng sự đánh giá hiệnthực từ phía người nói

- Câu có những đặc trưng bên ngoài là các tiểu từ tình thái dứt câu vàchỗ ngắt câu

- Câu có đặc trưng bên trong là cấu trúc của nó

Năm 1980, trong Ngữ pháp tiếng Việt - Câu, tác giả Hoàng Trọng Phiến định nghĩa về câu như sau: “Với tư cách một đơn vị bậc cao của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là ngữ tuyến được hình thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và

về thái độ của người nói đối với hiện thực” [42, tr 19]

Tác giả Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt có cách định nghĩa

về câu: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [3, tr 101]

Định nghĩa về câu của tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong Bài tập ngữ pháp tiếng Việt, năm 2000, được trình bày: “Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với một ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập,

có ngữ điệu kết thúc” [30, tr 326]

Tác giả Nguyễn Thị Thìn trong Câu tiếng Việt và nội dung dạy học câu tiếng Việt, năm 2003, lại có cách định nghĩa về câu như sau: “Câu là đơn vị ngôn từ nhỏ nhất có chức năng thông báo, được dùng vào việc giao tiếp hàng ngày” [53, tr 9]

Trang 9

Từ các định nghĩa trên, chúng tôi có thể rút ra kết luận khi định nghĩa

về câu cần chú ý đến bốn đặc điểm sau:

- Câu là đơn vị dùng từ cấu tạo nên nhằm thực hiện chức năng thôngbáo hay bộc lộ thái độ, cảm xúc

- Câu có cấu tạo theo một quy tắc nhất định, thường là C - V (hoặc cókết cấu đặc biệt)

- Câu có ngữ điệu kết thúc

- Câu gắn với một ngữ cảnh nhất định

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chọn định nghĩa của GS DiệpQuang Ban làm cơ sở lý thuyết để từ đó đi vào phân loại các kiểu câu trong

tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh.

1.1.2 Vấn đề phân loại câu

Câu là đơn vị có nhiều mặt cho nên việc phân loại câu cũng có nhiềucách Cho đến nay, trong việc nghiên cứu ngôn ngữ thường gặp hai cách phânloại sau:

- Phân loại câu dựa vào cấu trúc

- Phân loại câu dựa vào mục đích giao tiếp

1.1.2.1 Phân loại câu theo cấu trúc

Phân loại câu dựa vào cấu tạo ngữ pháp là kết quả việc tìm hiểu cách tổchức bề mặt của câu Muốn đi đến kết quả ấy không thể bỏ qua việc phânđịnh các thành phần ngữ pháp tạo nên câu Phân định các thành phần là xemxét các từ ngữ trong câu liên lạc với nhau như thế nào và mỗi từ ngữ như vậygiữ chức vụ gì trong câu

Trong Việt ngữ học ngày nay, xu hướng chung là phân định câu quabậc cụm từ, không phân tích trực tiếp từ câu xuống từng từ như trong ngữpháp học trước kia Theo xu hướng đó, trong việc phân định các thành phầncâu và phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, chúng ta không thể tránh đượcnhững vấn đề như:

Trang 10

- Cơ sở phân định thành phần câu.

- Việc phân định 2 thành phần chính C - V trong câu

- Việc phân biệt thành phần phụ của câu và thành phần phụ của từ

- Việc phân định ranh giới câu đơn và câu ghép

1.1.2.2 Phân loại câu theo mục đích nói

Phân loại câu theo mục đích nói là dựa vào mục đích của người giaotiếp thông qua dấu hiệu hình thức để phân loại câu Mục đích đó có thể làmiêu tả, kể, khẳng định, nhận xét, hỏi, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo, ra lệnh,thể hiện cảm xúc, thái độ… ứng với mỗi mục đích giao tiếp có một kiểu câuriêng

- Phân loại câu dựa vào mục đích nói, ta có 4 kiểu câu (câu trần thuật,câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán)

Câu trần thuật thường dùng để kể lại, xác nhận, mô tả một vật với cácđặc trưng của nó hoặc một sự kiện với những chi tiết nào đó

Câu nghi vấn được dùng để nêu lên điều chưa biết hoặc còn hoài nghi

và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu nghi vấn ấy

Câu cầu khiến có mục đích bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc ngườinghe thực hiện điều nêu lên trong câu

Câu cảm thán thường được dùng khi thể hiện những tình cảm khácnhau, thái độ đánh giá của người nói đối với một vật hay một sự kiện nào đó

1.2 Phân biệt đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết và ngôn ngữ truyện ngắn

1.2.1 Đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết

1.2.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tiểu thuyết (tiếng Pháp: roman, tiếng

Anh: novel, fiction) là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thựcđời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh

Trang 11

số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu

tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [37]

Cũng theo Từ điển thuật ngữ văn học, ở châu Âu, tiểu thuyết xuất hiện

vào thời kỳ xã hội cổ đại tan rã và văn học cổ đại suy tàn Cá nhân con ngườikhông còn cảm thấy lợi ích và nguyện vọng của mình gắn liền với cộng đồng

xã hội cổ đại, nhiều vấn đề của đời sống riêng tư đặt ra gay gắt Giai đoạnphát triển mới của tiểu thuyết Châu Âu bắt đầu từ thời Phục Hưng (thế kỉ XIVđến thế kỉ XVI) và đến thế kỉ thứ XIX với sự xuất hiện của các nghệ sĩ bậcthầy như: Xtăng Đan, Banzăc, Thac-cơ-răy, Đích-Kenx, Gôgôn, L.Tônxtôi,thể loại này đã đạt đến sự hoàn chỉnh

Mầm mống tiểu thuyết ở Trung Quốc cũng xuất hiện sớm vào thờiNgụy - Tần (thế kỉ IIII - IV) dưới dạng truyện ghi chép những sự việc ngoàigiới hạn kinh sử

Tiểu thuyết ở Việt Nam phát triển muộn, mãi tới đầu thế kỉ XVIII, với

sự xuất hiện của Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô Gia Văn Phái), nước ta mới có tác phẩm có

quy mô tiểu thuyết Nhưng phải sang đầu thế kỉ XX, nhất là với dòng văn họclãng mạn và hiện thực phê phán, ở Việt Nam mới có tiểu thuyết hiện đại

Trong quá trình vận động và phát triển, diện mạo của tiểu thuyết khôngngừng thay đổi Tuy vậy, giới nghiên cứu đã rút ra một số đặc điểm của thểloại tiểu thuyết khác với các thể loại khác như sau:

Thứ nhất, khác với ngụ ngôn, sử thi, tiểu thuyết có cái nhìn cuộc sống

từ góc độ đời tư Tùy theo từng thời kỳ phát triển, cái nhìn đời tư có thể sâusắc tới mức thể hiện được hoặc kết hợp được với các chủ đề thế sự hoặc lịch

sử dân tộc Những yếu tố đời tư càng phát triển thì tính chất tiểu thuyết càngtăng, ngược lại yếu tố lịch sử dân tộc càng phát triển thì chất sử thi càng đậmđà

Trang 12

Thứ hai, khác với truyện thơ, trường ca, thơ trường thiên và anh hùng

ca, tiểu thuyết có chất văn xuôi, tức là một sự tái hiện cuộc sống, không thi vị,lãng mạn hóa, lí tưởng hóa Tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tốngổn ngang bề bộn của cuộc đời

Thứ ba, khác với các nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyệntrung cổ, nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải”, tư duy chịu khổ đau,dằn vặt của cuộc đời, trong khi các nhân vật kia thường là nhân vật hànhđộng Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như con người đang biến đổi trong hoàncảnh, con người đang trưởng thành do cuộc đời dạy bảo

Thứ tư, thành phần chính chủ yếu của tiểu thuyết không phải chỉ là cốttruyện và tính cách nhân vật như ở truyện và truyện ngắn trung cổ Ngoài hệthống sự kiện, biến cố và những chi tiết tính cách, tiểu thuyết miêu tả suy tưcủa nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tìnhcảm, trình bày tường tận tiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về mối quan hệgiữa người với người

Thứ năm, tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách về giá trị giữa người trầnthuật và nội dung trần thuật của anh hùng ca, để miêu tả hiện thực như cáihiện tại đương thời của người trần thuật Chính đặc điểm này làm cho tiểuthuyết trở thành một thể loại dân chủ, cho phép người trần thuật có thể có thái

độ thân mật, thậm chí suồng sã đối với nhân vật của mình

Cuối cùng, với các đặc điểm nêu trên, tiểu thuyết là thể loại văn học cókhả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại vănhọc khác Chính hiện tượng tổng hợp trên đã làm cho thể loại tiểu thuyết luônvận động

1.2.1.2 Một số đặc điểm chính về ngôn ngữ tiểu thuyết

Qua tìm hiểu ý kiến các nhà nghiên cứu tiểu thuyết đi trước, chúng tôirút ra kết luận, ngôn ngữ tiểu thuyết có những đặc điểm chính sau:

Trang 13

Thứ nhất, ngôn ngữ tiểu thuyết là ngôn ngữ có tính đa thanh Các lớpngôn ngữ soi sáng lẫn nhau, ngôn ngữ dân tộc, thổ ngữ, phương ngữ, từ nghềnghiệp… do đó mà có một mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thế giới hiện thực.M.Bakhtin thường so sánh tiểu thuyết với sử thi (sử thi thời gian và quá khứhoàn thành); trong tiểu thuyết, tọa độ thời gian là thời hiện tại giữa trần thuật

và đối tượng có khoảng cách rất gần, cho phép người trần thuật có thể hiểuđược nhân vật bằng chính kinh nghiệm sống của mình

Quan điểm của M Bakhtin có nhiều điểm tương đồng với M Kundera.Theo M Kundera, tiểu thuyết thể hiện trong mình “tinh thần phức tạp”, “hiềnminh của hoài nghi”, nó không đi tìm các câu trả lời mà đặt ra các câu hỏi, nónghiên cứu “không phải hiện thực mà hiện sinh”, nghiên cứu chính ngay bản

chất sự tồn tại của con người, cái ẩn mật của bản ngã, là cuộc chiêm nghiệm đời sống con người trong cái bẫy của thế giới này đang dần dà biến thành…

M Kundera không thể thoả mãn với quan niệm về tiểu thuyết như về sự phảnánh hiện thực, đối với ông đó trước hết là “sự tổng hợp trí tuệ lớn”, tự do thunhận vào mình những suy tư về bất kỳ đề tài nào Tiểu thuyết không chỉ làmột thể loại (trong các thể loại văn học) mà là một giai đoạn, một cấp độ mớitrong tư duy nghệ thuật của con người về thế giới

Như vậy, chỉ tiểu thuyết mới biết cách “xé rách tấm màn giả dối ngăncách con người với thế giới, phát hiện những điều mới mẻ và tra vấn conngười ở mọi khía cạnh sâu kín” Vì vậy, tiểu thuyết phản ánh cuộc sống conngười qua việc phủ định dòng thời gian vật lý, không gian địa lý và nguyêntắc luận lý nhân quả Hiện thực được nhìn thấy như một nguồn sự kiện mangtính đa tầng, đa phương, ẩn khuất, gián đoạn bất ngờ và phi lý, xảy ra trongthời gian tâm lý và không gian địa lý Nguồn sự kiện này đòi hỏi ngôn ngữvăn chương của tiểu thuyết phải mang tính đa nghĩa, phức tạp, biểu tượng và

ẩn dụ

Trang 14

Thứ hai, tiểu thuyết có hình thức lạ hoá ngôn ngữ Trong trò chơi cấu

trúc văn bản, nhà tiểu thuyết tìm kiếm một hình thức lạ hoá ngôn ngữ, lạ hoácách triển khai văn bản nhằm gây chú ý cho người đọc, thay đổi sự tập trunghoặc phi tập trung của việc đọc văn bản một cách thật biến hoá

Thứ ba, gia tăng lượng thông tin cho ngôn ngữ tiểu thuyết KritjanaGunnar khi xem xét quy mô và dung lượng tiểu thuyết đương đại, giải thíchrằng, một trong những yếu tố để tiểu thuyết tồn tại đó là gia tăng lượng thôngtin cho ngôn ngữ Bà đưa ra một khái quát: Chân lý luôn nằm bên ngoàichúng ta và thay vì lèn chặt đời mình bằng những ngôn từ, chúng ta có thể rútlại, nói ít đi, nhưng hãy làm sao gia tăng trọng lượng cho mỗi từ, hãy làm chomỗi từ chứa đầy sự bí ẩn và niềm kính sợ, ngôn ngữ xứng đáng được nhưvậy

Các tiểu thuyết đương đại, đặc biệt là các tiểu thuyết ngắn đã có độlược giản ngôn ngữ cần thiết, độ dồn nén súc tích của ý tưởng, sự khơi gợi,lan toả của suy tư và tưởng tượng Nó không hướng tới sự phản ánh theo cách

tả thuật mà hướng tới sự suy tưởng, nghiền ngẫm Nó không rơi vào tình

trạng lãng phí, thừa thãi ngôn từ, mà ngược lại, nó tiết kiệm, biết điều với ngôn từ, chăm sóc nghĩa của ngôn từ Viết ngắn thuộc kết quả của một tư duy

nghệ thuật, biểu hiện một phương diện tài năng trong việc dùng ngôn ngữ

1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn

1.2.2.1 Khái niệm truyện ngắn

Thuật ngữ “truyện ngắn” (tiếng Pháp: nouvelle, tiếng Anh: short story)hiện được dùng như một thói quen, ít khi người ta đưa ra bàn luận nhưng thực

tế vấn đề không đơn giản Bàn về truyện ngắn, có nhiều hướng ý kiến khácnhau Sau đây là những ý kiến được đông đảo mọi người thừa nhận

Giáo sư văn học người Pháp D Grônôpxki cho rằng: “Truyện ngắn làmột thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi khôn cùng Nó là một vật biến hóanhư một quả chanh của Lọ Lem Biến hóa về khuôn khổ: ba dòng hoặc ba

Trang 15

mươi trang Biến hóa về kiểu loại: tình cảm, trào phúng, kỳ ảo, hướng về biến

cố thật hay tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng túng Biến hóa về nội dung:thay đổi vô cùng tận Muốn có đủ chất liệu để kể, cần một cái gì đó xảy ra, dù

đó là một thay đổi chút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ Trong thếgiới của truyện ngắn cái gì cũng thành biến cố Thậm chí sự thiếu vắng tìnhtiết diễn biến cũng gây hiệu quả vì nó làm cho sự chờ bị hẫng hụt” [19, tr 9]

Trong sách Lý luận văn học (1986), các tác giả biên soạn cho rằng:

“Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự, khuôn khổ ngắn nhiều khi làm chotruyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ,truyện cười hoặc gần với những bài ký ngắn Nhưng thực ra không phải, nógần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đươngthời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể khác nhau: Đời tư, thế sự hay sử thinhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả cuộc đời, một

sự kiện hay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính củatruyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộcđời” [33, tr 397]

Trong Từ điển văn học, truyện ngắn được định nghĩa là “Hình thức tự

sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tậptrung miêu tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy

ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào

đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội.Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian và thời gianhạn chế Kết cấu của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phứctạp Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi khôngnghỉ nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật tưtưởng chủ đề, khắc họa nét tính cách nhân vật đòi hỏi nhà văn viết truyệnngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa và dồn nén Do đó,

Trang 16

trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiệnđược những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn” [43, tr 10]

Trong Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa truyện ngắn là “Tác phẩm tự sự cỡnhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện củađời sống: đời tư thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn” [37, tr.134]

Qua những định nghĩa và quan niệm trên, chúng ta có thể rút ra nhữngđặc điểm chính sau của thể loại truyện ngắn (so với tiểu thuyết):

- Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ “Nhỏ” ở đây được hiểu làngắn gọn, cô đúc, dung lượng vài trang đến vài chục trang, một câu chuyệnđược kể nghệ thuật nhưng lại không được phép kể dài dòng, câu chuyện có sự

ám ảnh, nghĩa là tạo ra một ấn tượng duy nhất mạnh mẽ đồng thời tạo liêntưởng ở người đọc, còn tiểu thuyết thì dung lượng lớn hơn

- Tính quy định về dung lượng và cốt truyện của truyện ngắn tập trungvào một vài biến cố, một mặt nào đó của đời sống, các sự kiện tập trung trongmột không gian, thời gian nhất định, còn tiểu thuyết thì không hạn chế

- Truyện ngắn không nhằm khắc họa một số tính cách điển hình, đầyđặn, trọn vẹn, nhiều mặt trong mối tương quan với hoàn cảnh Nhân vậttruyện ngắn thường được làm sáng tỏ, thể hiện một trạng thái tâm thế conngười thời đại, tiểu thuyết, trái lại, khá đa dạng

- Bút pháp truyện ngắn thường là chấm phá Cái quan trọng bậc nhấttrong truyện ngắn là sự chọn lựa Các chi tiết được lựa chọn phải là những chitiết mang ẩn ý lớn lao tạo thêm chiều sâu mà tác giả chưa nói hết

1.2.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn

Ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ nội tại, tức là ngôn ngữ mô tả vàđối thoại Có nhiều giọng điệu, phong cách khác nhau tồn tại trong ngôn ngữ

Trang 17

truyện ngắn và mỗi giọng điệu, mỗi phong cách thường không tồn tại riêng lẻ

mà hòa hợp, đan cài vào nhau

Trong truyện ngắn, mỗi từ, mỗi câu phải rất linh hoạt, phải giống nhưmột sinh thể sống, nghĩa là phải tự mình cựa quậy để mà tồn tại Đó là kiểungôn ngữ tự đối thoại, tự tranh luận hay nói cách khác đó là ngôn ngữ lựachọn khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyện của các khả năng

Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về ngôn ngữ của truyện ngắn đã phátbiểu: Truyện ngắn nào của Tsêkhôp cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta

vì chúng đánh thức dậy ở ta ý thức ham muốn “giác ngộ” về sự việc phânvân, đắn đo hoặc nói như các nhà hiền triết phương Đông - biết tìm cái cótrong cái không, cái không trong cái có

Với ngôn ngữ đối thoại, truyện ngắn được xem là hình thức nghệ thuật

có khả năng “mở” rất lớn Nhà văn Nga M.Gocrki khẳng định: Muốn học viếtphải bắt đầu từ truyện ngắn Bởi viết truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiếtkiệm từ ngữ, biết cách viết cô đọng Nhà văn Ma Văn Kháng đã từng bộcbạch: Câu chữ tiêu dùng cho truyện ngắn là cả một sự nỗ lực to lớn và nó như

là yếu tố quyết định cho sự thành bại của một truyện ngắn Truyện ngắn hay ởvăn, ai đó đã nói mà tôi nhận ra đúng vậy Bởi vì có những truyện ngắn, nộidung câu chuyện hình như không có gì là quá ư đặc sắc mà đọc xong cứ mê li

là thế Câu chữ đã thu hút hồn ta Nguyễn Đình Thi đã từng khẳng định: chữtrong văn xuôi cần có men Tôi thấy không có cách nào nói hay hơn Câu chữtrong truyện ngắn nói riêng là men, nó tỏa hương, nó quyến rũ ta, nó là cáihồn của câu chuyện

1.3 Tạ Duy Anh - Cuộc đời và sự nghiệp văn chương

1.3.1 Cuộc đời

Tạ Duy Anh tên thật là Tạ Viết Dũng, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1959tại làng Đồng Trưa (tên chữ là Cổ Hiền, sau đổi thành An Hiền), xã HoàngDiệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) Ngoài bút danh Tạ

Trang 18

Duy Anh, ông còn nhiều bút danh khác: Lão Tạ, Chu Quý, Quý Anh, BìnhTâm Tốt nghiệp khóa IV Trường viết văn Nguyễn Du và được giữ lại trườnggiảng dạy bộ môn sáng tác đến năm 2000 Ông đã từng làm cán bộ giám sátchất lượng bê tông tại Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, làm trung sĩ bộ binh ởLào và hiện ông là biên tập viên văn học, Nhà xuất bản Hội nhà văn ViệtNam.

Tạ Duy Anh là nhà văn có một thái độ nghiêm túc và đam mê với conđường chông gai nhiều rủi ro và thất bại đã chọn Trong các bài phỏng vấntrực tiếp hoặc gián tiếp, ông đã bày tỏ quan niệm về nghệ thuật và lao độngcủa nhà văn Điều đó cho thấy một thái độ thực sự nghiêm túc, cầu thị và mộtkhát vọng cách tân mãnh liệt đối với văn chương Theo Lão Tạ, nhà văn cứnên học cách im lặng Nghệ thuật không phải là một cuộc diễu hành, vì vănchương không phải đi trên con đường lớn, nói như Nguyễn Hưng Quốc: Xa lộ

là tử lộ Đức tính lớn nhất đối với một người cầm bút, chính là sự táo bạo.Không có sự táo bạo nào là không cần thiết Không táo bạo, không thể sángtạo Trong lĩnh vực văn học, người dám xông thẳng vào bụi rậm và gai góc đểlần mò một lối đi riêng bao giờ cũng có triển vọng đi xa hơn những kẻ khônngoan phóng mình theo những lối mòn có sẵn Ở đây người ta chỉ ghi nhậnthành tích của những người trèo lên những đỉnh núi cao, dẫu trèo một cáchchậm chạp, ì ạch, khổ sở, thậm chí, có khi thất bại” [ 44 ]

Chính vì tâm niệm: nhà văn chỉ nên một mình, anh chỉ có giá trị khi anh

đi, anh tạo ra con đường của riêng anh, tất cả cùng đi trên một con đường thì

vô nghĩa, nên hành trình sáng tạo của Tạ Duy Anh là hành trình luôn nỗ lựclàm mới để khẳng định “độc bản”

Đối với nhà văn, mỗi ngày sống là một ngày đi thực tế và trải cuộc đờimình ra để chiêm nghiệm Viết đối với ông chính là quá trình khai thác nhữngvỉa quặng cuộc sống đã kết tinh trong bản thân người cầm bút, tức khai thác

Trang 19

cái “lượng” sống phong phú đã chuyển hóa, đã cô đặc thành “chất” sống, là sự

“rút ruột”, “nhả tơ” cho tâm hồn

Lao động nhà văn, theo ông là một công việc đòi hỏi sự nghiêm túc, nơi

không bao giờ có chỗ cho sự cẩu thả Tạ Duy Anh viết “như đã lĩnh một sứ mệnh từ trên trời, từ khi mới sinh ra”, đứng trước trang giấy như một thứ pháp

trường trắng nghiệt ngã, mỗi trang đầy ắp suy nghĩ và bản lĩnh nghề nghiệp.Viết là cách mà Tạ Duy Anh chống lại nỗi đau tinh thần xuất phát từ hiện thựckhông ngừng vò xé Viết là cách tốt nhất để đối mặt và giải phẫu cuộc đời

1.3.2 Sự nghiệp văn chương

Tạ Duy Anh là tác giả của nhiều tác phẩm gây dư luận Các tác phẩm

đã xuất bản gồm:

Truyện ngắn: Bước qua lời nguyền (1990), Luân hồi (1994), Ánh sáng nàng (1997), Gã và nàng (2000), Những truyện không phải trong mơ (2002), Truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh (2003), Ba đào kí (2004), Bố cục hoàn hảo

Tản văn: Ngẫu hứng Sáng, Trưa, Chiều, Tối; Kẹo kéo.

Về các giải thưởng, Tạ Duy Anh đã được nhận: giải thưởng ngắn nông thôn (báo văn nghệ, nông nghiệp và Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức), giải truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội, Giải nhì cuộc thi viết “Tương lai vẫy gọi” Từ năm 2005, truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi đã được đưa

vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 6, tập 2

1.4 Tiểu kết chương 1

Từ kết quả trình bày ở chương 1, chúng tôi rút ra những kết luận chínhsau:

Trang 20

- Về vấn đề câu, chúng tôi đã điểm lại các hướng định nghĩa câu củanhững tác giả đi trước và chọn cho mình một định nghĩa làm cơ sở để từ đó

phân loại tư liệu về câu văn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy

Anh

- Về vấn đề khái niệm, chúng tôi đề cập đến hai khái niệm truyện ngắn

và tiểu thuyết, phân tích những đặc điểm của hai khái niệm này, từ đó làm cơ

sở để đề cập đến tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh với những đặc

điểm nổi bật của tiểu thuyết Tạ Duy Anh

- Về tác giả và tác phẩm, chúng tôi đã khái quát sơ lược cuộc đời nhàvăn cũng như các bước đường đi đến sự nghiệp văn chương của Tạ Duy Anh.Ông là người luôn có ý thức tìm tòi, đổi mới tiểu thuyết và đã có những thànhcông trong việc cách tân tiểu thuyết ở ngôn ngữ, giọng điệu, nghệ thuật, nhânvật

Trên đây là những nội dung mang tính lý thuyết tạo tiền đề lý luận đểchúng tôi áp dụng vào thực hiện phân loại và chỉ ra các đặc điểm câu văn

trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh.

Trang 21

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CÂU VĂN

TRONG TIỂU THUYẾT ĐI TÌM NHÂN VẬT

CỦA TẠ DUY ANH XÉT VỀ MẶT CẤU TẠO

2.1 Vấn đề phân loại câu về cấu trúc

Phân loại câu về cấu trúc tức là dựa vào các thành tố cấu tạo nên câu đểqua đó khảo sát các kiểu câu Việc phân loại câu theo cấu trúc, cho tới nay cóthể quy về ba hướng chính

Hướng 1: Chia câu thành hai nhóm: Câu đơn và câu ghép.

Theo hướng này có các tác giả: Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy

Khiêm Trong Việt Nam văn phạm (1940), Nguyễn Lân trong Ngữ pháp Việt Nam (1964).

a Câu đơn là câu chỉ có một kết cấu C - V làm thành phần nòng cốt

(1) Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau (Thơ Xuân Quỳnh, tr 29).

(2) Cây đa nghìn năm đã gắn liền với tuổi thơ ấu của chúng tôi.

(Tiếng Việt 2, tập hai, tr 93)

b Câu ghép là câu có từ hai kết cấu C - V trở lên, kể cả những kết cấu

C - V thuộc thành phần mở rộng (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổngữ)

- Mở rộng chủ ngữ

(3) Em nói vậy là không đúng.

(4) Bác đến là một niềm vinh dự đối với cháu.

Trang 22

(8) Khi bố khỏi bệnh, Chi cùng bố đến trường cảm ơn cô giáo.

(12) Ba người vào một cái tiệm giải khát ở bờ hồ.

(Nam Cao, Đời thừa, tr 126)

Hướng 2: Chia câu thành 3 nhóm: Câu đơn, câu phức, câu ghép.

Theo hướng này có các tác giả: Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1992), Tiếng Việt 10 (Nxb Giáo dục, 1989), Hữu Quỳnh (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Trung tâm Từ điển Bách khoa Hà Nội, 1996), Hoàng

Trọng Phiến (gọi là câu trung gian)

- Câu đơn là câu chỉ có một kết cấu C - V làm thành phần nòng cốt

(13) Chiếc cầu bị ngắt làm đôi như một nhát rìu phăng rất ngọt.

(Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

- Câu ghép là câu có hai kết cấu C - V trở lên, trong đó các C - V tồn tạitách bạch nhau

(14) Cây con vừa trồi, lá đã xòa sát mặt đất.

(Thái Vân, Tiếng Việt 2, tr 51)

- Câu phức là câu có từ hai kết cấu C - V trở lên, trong đó C - V này bịbao hàm trong C - V kia

Trang 23

Hướng 3: Chia câu thành hai nhóm: Câu đơn và câu ghép.

Theo hướng này có các tác giả: Nguyễn Kim Thản, Lê Xuân Thại, ĐỗThị Kim Liên, UBKH xã hội…

- Câu đơn là câu chỉ có một kết cấu C - V làm thành phần nòng cốt câu,

có thể có hoặc không có các C - V khác làm thành phần câu

(15) Từ trong quả bầu, những con người nhỏ bé nhảy ra

(Tiếng Việt 2, tập 1, tr.16)

- Câu ghép là câu có hai nòng cốt C - V trở lên tồn tại tách bạch nhau(hay C - V này không bị bao hàm trong C - V kia) Nếu câu có C - V này baohàm trong C - V kia thì vẫn thuộc câu đơn

(16) Vì tên Dậu là thân nhân của hắn cho nên chúng con bắt phải nộp thay

(Ngô Tất Tố)Trong luận văn này, chúng tôi chọn phân loại câu theo hướng thứ 3 để

làm cơ sở khảo sát và phân loại câu trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ

Duy Anh

2.2.Thống kê định lượng và nhận xét tổng quát câu phân loại về

mặt cấu tạo trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh

2.2.1 Số liệu thống kê

Trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, chúng tôi thống kê

được 4.868 câu Chúng tôi chia 4.868 câu này thành hai loại: câu văn tác giả

và câu văn nhân vật, sau đó tìm hiểu cấu trúc của từng loại Câu văn tác giả làcâu văn do nhà văn thể hiện, câu văn nhân vật là câu văn thể hiện thông qualời thoại nhân vật Kết quả phân loại được trình bày trong bảng sau:

Bảng 2.1: Phân loại câu văn tác giả và câu văn nhân vật

Tổng số câu Câu văn tác giả Câu văn nhân vật

Trang 24

2.2.2 Nhận xét

Nhìn vào bảng 2.1, chúng tôi thấy trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của

Tạ Duy Anh, số lượng câu văn tác giả xuất hiện nhiều hơn câu văn nhân vật

Cụ thể như sau: Trong tổng 4.868 câu văn thì câu văn tác giả là 3.320 câu,chiếm 68%; câu văn nhân vật là 1.548 câu, chiếm 32%

2.2.2.1 Câu văn tác giả

Câu văn do tác giả thể hiện trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ

Duy Anh thường là câu kể và câu hỏi Về câu kể, Tạ Duy Anh sử dụng rấtphong phú Có câu kể rất ngắn gọn, số lượng từ trong câu kể phần lớn có kếtcấu 1 C - V Trong loại 1 kết cấu C - V có câu khá ngắn, từ 2 đến 5, 6 âm tiết:

Gã cười phá lên, Các cô tranh nhau nói, Cô tươi cười hỏi tôi, Tôi bảo gã, Cô quay ngoắt lại, Cô cầm tay tôi nũng nịu, Gã cười váng, Tôi cười váng, Gã hỏi, Tôi cười, Gã nghiêng tai, Gã cười ầm lên, Gã đảo mắt…

Có những câu kể có độ dài vừa, từ 7 đến 35 âm tiết Ví dụ:

(17) Một gã đàn ông thò mặt vào, bộ dạng hắn khiến người ta nghĩ hắn được đúc bằng thép và cũng liếc qua cũng có thể thấy ngay hắn có năng khiếu giết người bẩm sinh.

( tr 60)

(18) Tôi đi theo mụ qua vườn bầy các loại cây cảnh vào một phòng nhỏ, đầy ngập tiện nghi đắt tiền nhưng toát lên một khiếu thẩm mỹ hạng bét của chủ nhân.

(tr 59)

Có những câu đơn dài hơn, tới 45 âm tiết Ví dụ:

(19) Nhiều năm sau này, cảm giác ghê tởm xen lẫn nỗi nhục nhã vẫn bám chặt lấy tôi, phụ hoạ với những nguyên nhân khác, đã giáng xuống đầu tôi đòn trừng phạt tai ác, khiến tôi luôn luôn thấy ô nhục trước bạn gái

(tr 75)

Trang 25

Và có câu đơn dài 69 âm tiết:

(20) Nhiều năm sau này, khi câu chuyện về tiến sĩ N và tội ác do ông gây ra đã được nhiều người - ở nhiều ngành nghệ thuật - khai thác triệt để (trong đó có một nhà văn trở nên rất nổi tiếng, cuốn tiểu thuyết của anh ta được dịch ra nhiều ngoại ngữ) và khi tôi đã chuyển ngành, tình cờ một lần bới trong đống sách giấy cũ của bà buôn lông gà, lông vịt, tôi tìm thấy cuốn

sổ tay của tiến sĩ N

(tr 129)Lại có cả câu đơn dài đến 87 âm tiết:

(21) Trong cuộc sống, ông không thiếu những mẹo nhỏ để làm cấp trên vừa lòng; không thiếu sự khôn khéo đẩy trách nhiệm cho người khác; không thiếu khả năng giả bộ ngây ngô, đãng trí khi cần biết chi tiết một chuyện nào

đó liên quan đến lương bổng, nhà cửa, đi nước ngoài, làm đề tài khoa học, tránh trả lời thẳng cấp trên những gì đưa tới sự mạo hiểm, từ chối công việc không có lợi hoặc được cái này, mất cái khác…

(tr 112, 113)

2.2.2.2 Câu văn nhân vật

Câu văn do các nhân vật thể hiện trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của

Tạ Duy Anh chỉ có một dạng, đó là câu hội thoại có các dấu hiệu

a Câu hội thoại dùng dấu ngoặc kép sau động từ chỉ hoạt động nói của nhân vật.

Kiểu câu này được nhà văn viết liền, không xuống hàng, không gạchđầu dòng, được xen lẫn lời kể của tác giả và đó là những đoạn do nhân vật

“tôi” kể, nhân vật “tôi” hồi tưởng, tưởng tượng Ví dụ:

(22) Khi đuổi kịp tôi, thằng Mực - rõ ràng là khá lễ độ - bảo: “Bà chủ tôi đang có chuyện không vui, mong ông thứ lỗi”.

(tr 78)

Trang 26

(23) Nhưng lập tức tôi thấy sợ hãi: “Có phải cô ta dở người thật không?”

(tr 14)

(24) Thay vì lo sợ cho cha, cha lo sợ cho số phận tôi và vì thế lúc hấp hối ông còn cố hỏi mẹ: “Chả lẽ đến giờ vẫn không ai nghe thấy lời tôi?” Mẹ tôi phải nói dối: “Có chứ! Chỉ nay mai thôi!”

(tr 117)

(25) Nhiều năm sau này, tôi vẫn thường nghe thấy tiếng bước chân rất nhẹ, tiếng thở dài rất nhẹ như kiểu ai đó định giơ tay gõ cửa phòng tôi Có lúc tôi còn như nghe thấy lời thì thầm: “Em và con chim bồ câu chỉ là một Em dâng tặng anh cả xác, cả hồn Bây giờ thì em về trời đây”.

(tr 34)

Có khi hai câu nối tiếp nhau những vẫn tiếp tục cùng mạch kể về một

sự việc

(26) Còn lúc ấy, sau khi cha quay đi, tôi gào lên hỏi mẹ vì sao cha chịu

để người ta trói một cách dễ dàng rồi dắt đi như dắt trâu, liền bị mẹ bịt miệng lại: “Thôi nào, mẹ xin con Đó là bàn tay của số phận, không ai cưỡng được Con cần phải lớn lên như một đứa trẻ vô tội” “Chả lẽ con có tội?” - Sau này

có lần tôi hỏi thì mẹ vẫn chỉ lắc đầu: “Mẹ xin con!”

Trang 27

Điều đặc biệt là Tạ Duy Anh đã sử dụng nhiều nhất dạng câu ở dấu hiệunày Với Tạ Duy Anh, những câu chuyện tưởng như không đâu cũng thànhnhững đoạn hội thoại rất hấp dẫn, cuốn hút người đọc Ví dụ cụ thể như sau:

(27) Khi trở lại phố G tôi nhận ra ngay gã thanh niên nháy mắt với tôi sau khi khi tỉnh dậy bởi cú đấm trời giáng của gã bán thuốc rong Gã còn trẻ, đầu tóc nghiêm chỉnh, trông khá điển trai và đứng đắn.

- Ông bạn đây rồi - Gã reo lên và chạy lại phía tôi một cách suồng sã.

- Chào anh bạn - Tôi đáp lễ - anh bạn có vẻ như chờ ai ở đây.

- Đại loại thế - gã nháy mắt, tay dùng chiếc thước nhỏ đập đập vào giầy Còn ông?

- Đại loại cũng thế - Tôi đáp ỡm ờ.

- Hình như ông định hỏi tôi cái gì?

Tôi cười thầm: “Đừng tinh quái thế, anh bạn Tôi biết cái bẫy của anh bạn rồi!” Tôi đáp:

- Tôi định hỏi cái gì nhỉ? À, tôi định hỏi “có phải anh định hỏi tôi cái gì?”

Trang 28

- Ông vui tính lắm.

- Tôi vui tính à? Ngộ nhỡ tôi đang buồn thì sao?

- À, còn tôi thì đang buồn.

- Đại loại thế!

- Đại loại thế! Ông hỏi tôi câu gì đi.

- Anh bạn muốn tôi hỏi câu gì?

- Ông muốn tôi muốn ông hỏi câu gì?

Đoạn hội thoại trên giúp chúng ta hình dung đến một cuộc rượt đuổitrong đấu trường hình tròn của nhân vật “tôi” Nhân vật “tôi” tưởng nhưkhông thoát ra được đấu trường ấy, cứ quẩn quanh, vòng vo, càng muốn chạytrốn lại càng cứ phải bám lấy kẻ rượt đuổi mình

2.3 Thống kê, miêu tả câu đơn, câu ghép trong tiểu thuyết Đi tìm

nhân vật của Tạ Duy Anh.

2.3.1 Thống kê, định lượng tổng quát câu đơn, câu ghép

Chúng tôi đã khảo sát 3.320 câu văn tác giả và 1.548 câu văn nhân vật

trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh và phân loại như sau:

Bảng 2.2: Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp

Số liệu

Câu nhân vật 1.548 112 (2%) 1.436 (30%)

Nhìn vào bảng 2.2, chúng tôi thấy trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của

Tạ Duy Anh, câu đơn chiếm 90%, câu ghép chiếm 10% tổng số câu văn (ở cảcâu tác giả và câu nhân vật)

Trang 29

2.3.2 Phân loại và miêu tả câu đơn trong tiểu thuyết “Đi tìm nhân vật” của Tạ Duy Anh

Bảng 2.3: Phân loại câu đơn

Kiểu câu số câu Tổng

Câu đơn Câu đơn bình thường Câu đơn đặc biệt

Câu tác giả 2.944 2.924 (67%) 20 (1%)

Câu nhân vật 1.436 1.124 (25%) 312 (7%)

Chúng tôi đã khảo sát 4.380 câu đơn trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật

của Tạ Duy Anh và phân loại như bảng 2.3

2.3.2.1 Câu đơn bình thường

Câu đơn bình thường là loại câu có hai thành phần chủ ngữ và vị ngữgắn bó chặt chẽ với nhau thông qua mối quan hệ ngữ pháp C - V để tạo nênmột chỉnh thể thống nhất

Qua bảng thống kê 2.3, chúng ta thấy Tạ Duy Anh đã sử dụng câu đơnbình thường với số lượng rất lớn Loại câu này chúng tôi chia làm hai loạinhỏ:

Loại 1: Câu có một kết cấu C - V duy nhất làm nòng cốt

Loại 2: Câu có một kết cấu C - V và thành phần phụ mở rộng

Dưới đây là bảng thống kê phân loại kết quả câu đơn bình thường trong

tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh.

Bảng 2.4: Phân loại câu đơn theo kết cấu C - V

Trang 30

Theo kết quả ở bảng 2.4, chúng tôi thấy câu đơn một kết cấu C - V vàthành phần phụ mở rộng được Tạ Duy Anh sử dụng nhiều hơn câu đơn mộtkết cấu C - V Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày đặc điểm của các loại câu đơn.

a Câu đơn một kết cấu C - V duy nhất làm nòng cốt

a1 Câu đơn có một nòng cốt C - V

* Câu tác giả

Loại câu này xuất hiện trong truyện ngắn của ông rất nhiều Cụ thể:

(28) Ông như bừng ngộ một điều gì đó trước đấy vẫn mù mịt trong trí não

(tr 115)

(29) Tôi không biết cha tôi chọn cách nào.(tr 115)

(30) Đấy là cái chết được khoác danh nghĩa (tr 139)

(31) Người ấy với tôi là anh em sinh đôi (tr 132)

(32) Gã vừa có một bài luận văn khá hay (tr 283)

(33) Tôi quyết định tìm kiếm một cái chết ( tr 138)

(34) Tôi chạy bộ trên hè phố (tr 316)

(35) Mụ Cúc rất trọng nể nàng (tr 231)

(36) Tôi dập ống nghe xuống (tr 316)

Xét về vị trí, những câu như thế này có khi nằm ở phần đầu của mộtđoạn nào đó của ngôn ngữ người dẫn chuyện, có khi lại nằm ở giữa đoạn củangười dẫn chuyện Chẳng hạn:

(37) Đây là lần thứ hai tôi rơi vào tâm trạng này Lần đầu tiên chính

là khi tôi thử lội ngược về quá khứ để cố lần ra đầu mối của tấn bi kịch trong

đó cụ nội, ông nội, bố tôi - và cứ theo lôgic ấy - sẽ bao gồm cả tôi bị đẩy ra sân khấu Tôi lờ mờ cảm thấy có một sự trục trặc gì đó từ phía lịch sử khiến chúng tôi bị cuốn vào một cuộc chơi tàn khốc, trong đó tất cả biến thành những kẻ bị săn đuổi Nhưng hồi đó, thay vì tìm được bằng chứng lịch sử, tôi

Trang 31

thấy mình bị tước hết vũ khí để chống lại nỗi cô đơn Tôi, giống như kẻ bị chọc mù, càng đi càng lạc sâu vào khu rừng rậm huyền bí.

(tr 114)

(38) Cô gái và tôi ngồi chung một chiếc ghế Rất tự nhiên cô nép đầu

vào ngực tôi khiến tôi phải chuồi ra Lần thứ ba thì chính cô chủ động ngồi dịch ra, mắt lơ đễnh nhìn tách cà phê.

(tr 20)

(39) Cho đến nay, trừ những người bị thời gian và thời cuộc chôn vùi, may ra (tôi nói may ra bởi nếu ông ta còn sống) chỉ còn một người biết rõ tôi

là ai Người ấy với tôi là anh em sinh đôi Nhưng ông ta, cứ cho là còn sống,

không còn bất cứ cơ hội nào làm cho người khác tin vào điều mình nói Nghĩa

là ông ta bị tước mất tư cách nhân chứng.

(tr 132) (40) Thực ra tôi chưa bao giờ tìm hiểu xem công việc chính của nàng ở quán bar cảm giác thiên đường là gì Chỉ biết ban ngày nàng thường ngồi ở

phòng khách, không có một nét nào của gái gọi Mụ Cúc rất trọng nể nàng.

Cách đối xử của mụ với nàng đượm tình mẫu tử hơn là giữa một bà chủ với người làm thuê.

(tr 222)Qua khảo sát tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, chúng tôi thấy phần lớn câuđơn tác giả nằm ở đầu hoặc giữa đoạn văn Ở mỗi vị trí đó, loại câu đơn mộtnòng cốt C - V này đều là dụng ý của nhà văn Với câu ngắn xuất hiện ở đầumỗi đoạn văn đều có tác dụng như lời dẫn của người kể chuyện hoặc một ýkhái quát, ý chủ đề của đoạn văn đó

Ví dụ (37), Đây là lần thứ hai tôi rơi vào tâm trạng này là lời dẫn của

người kể chuyện Những câu tiếp theo nhân vật “tôi” nhắc lại tâm trạng lầnthứ nhất, đó là khi nhân vật “tôi” cố tìm về quá khứ để lần ra đầu mối của tấn

bi kịch gia đình khiến tất cả những người trong gia đình biến thành những kẻ

Trang 32

bị săn đuổi Ông cảm thấy mình “giống như kẻ bị chọc mù, càng đi càng lạcsâu vào khu rừng rậm huyền bí” Lần thứ hai là băn khoăn của ông khi biết tintiến sĩ N - một con người theo ông là rất hoàn hảo, rất khó có thể tìm ra mộtđiểm gì để có thể chê trách ông - đã tự sát sau khi giết chết người vợ trẻ kémanh hơn chục tuổi Như vậy cả hai lần đều cho ông tâm trạng “mọi việc đều cóchiều hướng rơi vào ngõ cụt, tựa như một cảm giác đi vào con đường hầm màmỗi khoảng tối vừa là sự mở ra, vừa là sự khép lại” Như vậy ở ví dụ (37), câungắn đứng ở đầu đoạn văn có dụng ý như lời dẫn của người kể chuyện.

Ở ví dụ (38) cũng là câu đơn một nòng cốt C - V đứng ở đầu đoạn và đócũng là câu dẫn để tác giả nói những ý tiếp theo về hành động của cô gái nhàhàng

Với câu ngắn xuất hiện ở giữa đoạn như ví dụ (39), (40) đều để dẫn chonhững ý tiếp theo, những câu chuyện tiếp theo mà nhà văn cần đưa ra trongtiểu thuyết của mình

Kiểu câu đơn tác giả (có một nòng cốt C - V) của Tạ Duy Anh có nộidung rất phong phú Có khi trong một đoạn văn ngắn nhưng lại có rất nhiềucâu nằm kề nhau với các nội dung thông tin khác nhau Có lẽ đây chính là sứcthu hút mạnh mẽ của ngôn ngữ Tạ Duy Anh Chính nó làm cho người đọcluôn phải suy nghĩ, trăn trở Chẳng hạn:

(41) Tôi dập ống nghe xuống Lần này chiếc khoá đã chịu chui vào lỗ bấm Tôi chạy bộ trên hè phố Thật may là tôi đã dự phòng số thời gian gấp đôi Chợt một người đàn ông ăn mặc lịch sự, trông rất quen đang đi về phía tôi Tôi không sao nhớ ra ông ta là ai Ông ta khẽ nghiêng người tránh tôi…

(42) Nhưng khi đặt chân vào tiệm cà phê tôi bỗng thấy mình không định đến đây Tôi đâu có nghiện cái thứ nước đen kịt chỉ tổ làm cho đầu óc tỉnh ra Tôi đang cần ngủ một giấc thật dài Tôi muốn quên đi nhiều thứ trong

đó có vẻ nham nhở đầy nhạo báng của Mặt Đen Gã luôn luôn đứng ở một xó tối nào đó rình rập tôi Khỉ thật! Gã vừa có một bài luận văn khá hay Nó hơn

Trang 33

đứt những công trình đầy nghiêm túc của tiến sĩ N… ồ không, mình thật báng

bổ Sự dịu dàng chuyên nghiệp của cô gái nhà hàng khiến tôi muốn hét lên.

Chúng tôi thấy loại câu chỉ có một chủ ngữ và một vị ngữ này, xét vềmặt cấu tạo thì chủ ngữ thường do các danh từ đảm nhận và vị ngữ thường docác động từ (cụm động từ) hoặc tính từ (cụm tính từ) đảm nhiệm Loại câunày có lượng từ không nhiều nhưng đã khái quát được nhiều nội dung thôngtin về hành động, trạng thái, tâm trạng của nhân vật, sự việc mà tác giả ngầmgửi vào đó Do vậy, kiểu câu này được coi là dụng ý nghệ thuật của Tạ DuyAnh, cho độc giả thấy những trăn trở, gập nghềnh trong cuộc sống của nhânvật cũng như người dẫn chuyện và đó cũng chính là thái độ của nhà văn trướccuộc sống đời thường

* Câu nhân vật

Tổng số câu đơn nhân vật trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy

Anh có 1.105 câu (chiếm 91% tổng số câu đơn tác giả có 1 kết cấu C - V) (43) Đúng lúc đó một thằng bé đánh giầy chui qua háng một ma - nơ -canh, giật giật gấu quần tôi

- Chú đánh giầy chứ ạ? (tr 53) (44) - Tôi đang đi tìm hung thủ! (tr 197)

(45) - Anh nói thế là chúng em bị lỗi đấy (tr 19)

(46) - Cô hay bi kịch hoá vấn đề quá đấy (tr 89)

(47) - Em thật phát ghen với bà chị tốt số của em ( tr 52)

(48) - Tôi lại thèm nói phét? (tr 23)

(49) - Con đừng sợ! (tr 51)

(50) - Cô có đến tận nơi không? (tr 90)

Qua khảo sát, chúng tôi thấy những câu này phần lớn tồn tại dưới dạnghội thoại dùng dấu gạch ngang, đó là những đoạn hội thoại nối tiếp nhau củanhiều câu chuyện tưởng như chẳng liên quan đến nhau

Trang 34

Ở ví dụ (43), Chú đánh giầy chứ ạ? là lời mời chào của một đứa bé đánh giầy tại phố G Nhân vật chú bé đánh giầy ở đây không phải là nhân vật

chính nhưng cũng rất quan trọng, chú bé xuất hiện bất ngờ trở thành đề tài dẫndắt câu chuyện giữa người bán hàng với nhân vật xưng tôi Và điều quantrọng hơn là nhận xét, đánh giá, thái độ của nhà văn qua lời bình phẩm củanhững nhân vật xuất hiện ở phố G: “Quân đầu đường xó chợ Sao đói kém,bệnh tật, tai nạn, ruồi muỗi, chuột bọ nhiều thế mà chúng chẳng vơi bớt đi làmấy” Có thể nhiều người đọc đến đây sẽ lên án hay trách móc nhà văn quá ác

ý, bi quan hay nhẫn tâm với số phận con người trong xã hội này Tuy vậy, mọiđiều trong xã hội này vẫn đang tồn tại và giá trị của một con người được đưa

ra đong đếm bằng sức mạnh của đồng tiền Họ đáng sống không phải vì họ tốtđẹp mà vì họ có nhiều tiền, họ có quyền lực và ảnh hưởng Trong thâm tâmcủa những con người này, thằng bé đánh giầy chỉ như một thứ dịch bệnh màngười ta cần tránh xa Cuộc đời này thật nghiệt ngã, cái chết của người này lại

là niềm vui và hạnh phúc của kẻ khác

Ví dụ (44), (45) cũng vẫn là các câu chuyện trên hành trình đi tìm

nguyên nhân về cái chết của thằng bé đánh giầy của nhân vật “tôi” Tôi đang

đi tìm hung thủ! là lời của nhân vật “tôi” trong cuộc thoại với cô chủ cửa hiệu

“Hơn cả sự gợi cảm” trên phố G Anh nói thế là chúng em bị lỗi đấy là lời của

các cô gái ở quán Bar liên quan đến câu chuyện của nhân vật “tôi” trong hànhtrình tìm hiểu về cái chết của thằng bé đánh giầy

Chúng tôi thấy loại câu đơn nhân vật chỉ có một chủ ngữ và một vị ngữnày, xét về mặt cấu tạo thì chủ ngữ thường do các danh từ đảm nhận và vị ngữthường do các động từ (cụm động từ) hoặc tính từ (cụm tính từ) đảm nhiệm.Câu đơn có một chủ ngữ và một vị ngữ do các nhân vật thể hiện chủ yếu trongcác đoạn đối thoại giữa các nhân vật với nhau

Trang 35

a2 Câu đơn có nhiều vị ngữ

Câu đơn có nhiều vị ngữ có một kết cấu C - V làm nòng cốt và có nhiều

vị ngữ Tác giả thường sử dụng câu này để diễn tả sự đa dạng, phong phú củacác hành động, trạng thái, tính chất của chủ thể

* Câu tác giả

Loại câu này là lời tác giả thể hiện trong tác phẩm

(51) Tôi không nghiện ngập, không ham thích cái gì quá đáng, không phiêu lưu trong quan hệ với đàn bà

cô đơn, đau đớn, không gia đình ở một cuộc đời thực và có những hành độngkhông thể lý giải được nguyên nhân để rồi “tự thú” một mình

Ví dụ (52) là lời tự thú của tiến sĩ N Sau khi buộc phải mượn hồ sơ giả

để chối bỏ gốc gác của mình, đến khi công thành danh toại lại không dámnhận người anh em sinh đôi của mình, cuối cùng đẩy em đến cái chết Sau đó,

Trang 36

ông tình nguyện vào Nam chiến đấu và nội dung trong ví dụ (52) là công việchằng ngày của ông.

Ví dụ (53) vẫn nằm trong lời tự thú của tiến sĩ N khi Chu Quý “tình cờmột lần bới trong đống sách giấy cũ của bà buôn lông gà lông vịt” và tìm racuốn sổ tay của tiến sĩ N Trong đó ghi rất rõ về việc sau khi đẩy người emsinh đôi của mình đến cái chết, ông nộp đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu

để tìm kiếm một cái chết khoác danh nghĩa Tôi không đủ kiên nhẫn ngồi nhìn cậu ta làm trò ngớ ngẩn, bỏ đi ngủ là chuyện xảy ra ở chiến trường miền

Nam khi tiến sĩ N tham gia nhập ngũ Ông đã tiếp xúc và chứng kiến vớinhững chàng trai thư sinh từ chiến trường trở ra với tâm trạng hoảng loạn

“dường như thể phách cậu ta vẫn chia lìa, xác ở đây nhưng hồn còn thất lạcđâu đó trong những khu rừng chết chóc” Cậu ấy làm những việc mà ông cho

là ngớ ngẩn và kết thúc những việc đó là hành động tự sát

Nhìn chung, ở câu văn tác giả, hàng loạt sự việc, sự kiện được liệt kêgiúp ta nhận ra cuộc sống phức tạp, ngột ngạt Cuộc đời nhân vật trong tiểuthuyết của Tạ Duy Anh thật là những vỡ kịch bi hài lẫn lộn

* Câu nhân vật

Câu nhân vật cũng mang những đặc điểm giống câu tác giả, có nhiều vịngữ thể hiện chuỗi các hành động của nhân vật

(55) Hôm nay tôi bận, xin được hẹn cô dịp khác (tr 23)

(56) Quý anh không sợ mua phải của rởm, không sợ bị thách giá, chẹt giá như các hàng khác đâu ạ

(tr 14)

(57) Cậu cứ ngồi chờ tôi ở đây nhé, muốn gì cứ việc ấn vào cái chuông kia (tr 68)

b Câu đơn một C - V có các thành phần phụ của câu

Kiểu câu này gồm có 5 thành phần phụ: phần trạng ngữ, phần giảithích, phần tình thái, phần chuyển tiếp, phần đề ngữ Qua khảo sát tiểu thuyết

Trang 37

Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, chúng tôi thấy xuất hiện câu đơn có ba

thành phần phụ sau:

b1 Câu đơn có thành phần phụ trạng ngữ

Loại câu đơn có thành phần phụ trạng ngữ được Tạ Duy Anh sử dụngvới tần số cao (ở câu tác giả chiếm 51%, ở câu nhân vật chiếm 9%) trong tổng

số các câu đơn có thành phần phụ Thành phần trạng ngữ được Tạ Duy Anh

sử dụng trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật là trạng ngữ chỉ thời gian, trạng ngữ

chỉ địa điểm, trạng ngữ chỉ cách thức Trong số đó, thành phần trạng ngữ chỉthời gian được nhà văn sử dụng nhiều nhất

* Câu tác giả

(58) Trước khi đi ngủ bao giờ tôi cũng tin chắc khi mở mắt ra tôi đã

ở vào thời tiền sử.

(tr 22)

(59) Buổi chiều, khi trở về, tôi lại gặp cô gái dở người đứng chờ sẵn ở

cửa.

(tr 24)

(60) Trong đêm tôi nằm khoanh tròn nghe tiếng dịch chuyển của một

thế giới vô cùng huyền bí.

( tr 46)

(61) Sau đó gã bỏ đi biệt xứ (tr 56)

(62) Hồi đó gã lọt lưới vì không tìm được bằng chứng (tr 56)

* Câu nhân vật

(63) Tối hôm qua em nằm mơ thấy anh (tr 22)

(64) Trước đây chưa lâu cô còn dạy tôi cơ mà (tr 33)

(65) Lúc nãy tôi nổi cáu vô lý với cô, xin được thứ lỗi (tr 83)

(66) Ngay bây giờ em đến toà soạn! (tr 180)

(67) Hồi bé, nỗi sợ hãi đã không cho tôi nghĩ được bất cứ điều gì

ngoài ý định chạy trốn (tr 171)

Trang 38

b2 Câu đơn có thành phần phụ giải thích

Giải thích ngữ là thành phần phụ của câu Nó thường do cụm từ hoặcmột kết cấu C - V chen vào giữa nòng cốt câu, tách nòng cốt câu đó bằng ngữđiệu (một quãng ngắt) nhằm làm sáng tỏ thêm về một tình huống, một đốitượng hay một hoàn cảnh Hầu hết thành phần phụ này được đưa từ bên ngoàivào (lời của tác giả hoặc lời của người kể chuyện) giống như một lời bình,giải thích, chú giải về tình cảm, thái độ, xuất xứ, nguồn gốc cho cả câu hoặc

từ đi trước Thành phần giải thích ngữ mang tính độc lập, tách ra bằng cácphương tiện như: dấu phẩy, dấu ngoặc đơn, dấu gạch ngang Trong tiểu thuyết

đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, loại câu này được sử dụng khá nhiều, chiếm22% tổng số câu đơn có một kết cấu C - V và thành phần phụ mở rộng, saucâu đơn có thành phần trạng ngữ

* Câu tác giả

(68) Hồi đó ông ta - tức em tôi - đang sống trong một gia đình khá giả

ở Thái Bình

(tr 133)

(69) Những ước muốn giản dị của nàng - trừ một đứa con chung với

tôi - dường như đều toại nguyện

( tr 131)

(70) Tôi là người thích sống lánh mình - có thể do mặc cảm cô đơn

thời niên thiếu - nên rất ngại những cuộc tụ họp

(tr 118)

(71) Tôi, giống như kẻ bị chọc mù, càng đi càng lạc sâu vào khu rừng

rậm huyền bí.

(tr 114)

(72) Tôi bèn xin bà chủ đem về trong sự ngạc nhiên của bà (có lẽ do

bà thấy mặt tôi tái đi) (tr 129)

Trang 39

(73) Tôi - hình ảnh chân xác nhất - giống như một bãi chiến trường.

(tr 21)

(74) Nhưng chỉ ít tháng sau, như một kẻ tâm thần (dưới mắt mọi

người thì tôi đích thị là một kẻ tâm thần hoặc mắc chứng hoang tưởng) tôi

nộp đơn tình nguyện vào nam chiến đấu.

(tr 138)

(75) Chính lúc ấy tôi nhìn thấy vật gì - như bàn tay người - đập đập

ngoài cửa kính.

(tr 28)Loại giải thích này thường giải thích cho một từ đi trước (ví dụ 68, 71,73) hoặc bình chú rõ thêm về một phương diện nào đó cho cả câu (ví dụ 69,

70, 72, 74, 75)

* Câu nhân vật

(76) Ai ở đây không có tội? - Tôi có cảm giác nghe thấy câu hỏi vẳng

xuống từ bầu trời đen thẫm

(tr 27)

(77) Bà đừng tự ái - Hắn ngắt lời mẹ - Anh hùng phải biết tạo ra thời

thế hoặc bắt thời thế chiều theo ý mình

(tr 48)

(78) Cô cười gì? - Tôi quát lên (tr 35)

(79) Cô lại định giở trò gì với tôi? - tôi nhìn cô bằng cái nhìn cảnh

Trang 40

(82) Cuối cùng thì ông đã toại nguyện rồi chứ? - Mẹ hỏi bằng giọng

vừa lo sợ vừa khinh bỉ.

(tr 47)

(83) Chú là nhà báo à? - Mắt chị sáng rực (tr 96)

Thành phần phụ này được Tạ Duy Anh sử dụng khá nhiều, tách ra chủyếu bằng dấu gạch ngang Chúng thường chú giải về một kiểu hành động củachủ thể hoặc ở vào một trạng thái hành động nào đó (ví dụ 80, 81, 82)

b3 Câu đơn có thành phần phụ chuyển tiếp

Tác giả sử dụng thành phần phụ chuyển tiếp trong câu nhằm mục đíchnối kết câu chứa nó với câu phía trước Bởi vậy muốn hiểu trọn vẹn ý nghĩacủa câu, chúng ta buộc phải đặt nó trong quan hệ với câu trước đó Thành

phần phụ chuyển tiếp trong câu tác giả ở tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ

Duy Anh thường do quan hệ từ hoặc tổ hợp từ mang nghĩa chuyển tiếp đảmnhiệm Loại câu có thành phần phụ này chiếm 12% trong tổng số câu đơn cóthành phần phụ

* Câu tác giả

Câu đơn chuyển tiếp do tác giả thể hiện của Tạ Duy Anh chủ yếu đứng

ở đầu câu và thường do các quan hệ từ đảm nhiệm: nhưng, nhưng nhờ thế, bởi

vì, rồi, và… cụ thể ở các ví dụ (85), (86) (87), (89), (90); các ví dụ (84), (89)

có thành phần chuyển tiếp là quán ngữ

(84) Tóm lại, với vẻ bề ngoài, ông là đại diện mẫu mực cho tầng lớp

của ông

(tr 113)

(85) Trong thời gian luyện tập, tôi luôn hỏi viên đại đội trưởng: “Bao giờ thì được đánh nhau” Tâm trạng này y hệt như kẻ tử tù chờ ngày ra pháp trường Y rất muốn biết ngày giờ vì hy vọng nó còn xa hoặc, nhờ một biến cố

nào đó, nó không có trong kế hoạch Nhưng mọi người lại cảm nhận từ tinh

thần hăng hái của tôi theo một nghĩa khác (tr 140).

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (2008), Trò đùa của số phận, Nxb Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò đùa của số phận
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2008
2. Lại Nguyên Ân (biên soạn 2003), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
3. Diệp Quang Ban (2000), Ngữ pháp tiếng việt, tập 1,2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
4. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu), Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
7. Nguyễn Thị Bình, Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây, Tạp chí Nghiên cứu văn học tháng 11- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây, "Tạp chí "Nghiên cứu văn học
8. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, Lênin grat, 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, Lênin grat
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Năm: 1996
9. Phan Mậu Cảnh, Câu đơn trong tiếng Việt, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đơn trong tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
10. Hồng Dân (1989), Trở lại vấn đề "Câu đơn đặc biệt"trong tiếng Việt trong "Những vấn đề ngôn ngữ học phương Đông", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đơn đặc biệt"trong tiếng Việt trong "Những vấn đề ngôn ngữ học phương Đông
Tác giả: Hồng Dân
Năm: 1989
11. Nguyễn Văn Dân (Khảo luận và tuyển chọn giới thiệu tư liệu), (2004) Văn học phi lý, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận và tuyển chọn giới thiệu tư liệu"), (2004) "Văn học phi lý
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
12. Đoàn Ánh Dương (2008), “Chung tay lan tỏa trí thức”, http:// www. vannghe quan doi.com.vn/thứ2.16.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chung tay lan tỏa trí thức
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2008
13. Đặng Anh Đào (1994), “Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1994
14. Phan Cư Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cư Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
15. Phan Cư Đệ (chủ biên 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Đinh Văn Đức, Ngữ pháp tiếng Việt từ loại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt từ loại
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
17. Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà (2007), Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2007
18. Võ Thị Thanh Hà (2006), Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Tác giả: Võ Thị Thanh Hà
Năm: 2006
19. Lê Sao Chi (2011), Ngôn ngữ độc thoại trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ độc thoại trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Lê Sao Chi
Năm: 2011
20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
21. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 1992
22. Hoàng Ngọc Hiến (2006), Những ngả đường vào văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngả đường vào văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp - Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết đi tìm nhân vật của tạ duy anh luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.2 Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp (Trang 28)
Bảng 2.3: Phân loại câu đơn - Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết đi tìm nhân vật của tạ duy anh luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.3 Phân loại câu đơn (Trang 29)
Bảng 2.5: Phân loại câu đặc biệt - Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết đi tìm nhân vật của tạ duy anh luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2.5 Phân loại câu đặc biệt (Trang 44)
Bảng 2. 6: Phân loại câu ghép - Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết đi tìm nhân vật của tạ duy anh luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2. 6: Phân loại câu ghép (Trang 52)
Bảng 3.1: Phân loại câu theo mục đích giao tiếp - Đặc điểm câu văn trong tiểu thuyết đi tìm nhân vật của tạ duy anh luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 3.1 Phân loại câu theo mục đích giao tiếp (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w