1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nam đàn trong thời kì đổi mới 1986 2005

66 265 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nam Đàn Trong Thời Kỳ Đổi Mới 1986 - 2005
Trường học Trường Đại Học Vinh
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2005
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 252 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những khó khăn yếu kém đó ngày càng lớn, làm cho đất n- ớc lâm vào tình trạng khủng hoảng gay gắt, nh sản xuất đình trệ, thất nghiệp giatăng… Đứng trớc tình hình đó, để khắc phục khó khă

Trang 2

3.1 Nh÷ng gi¶i ph¸p chñ yÕu nh»m ph¸t triÓn kinh tÕ -x· héi

Nam §µn trong giai ®o¹n hiÖn nay

Trang 3

-Trong giai đoạn mới, từ sau đại thắng mùa xuân 1975, bên cạnh thuận lợi

và một số thành tựu bớc đầu đã giành đợc, nớc ta đang đứng trớc nhiều khókhăn, thách thức mới T tởng chủ quan, say sa với thắng lợi, nôn nóng muốntiến nhanh lên CNXH trong một thời gian ngắn, bố trí sai cơ cấu kinh tế, cộngvới những khuyết điểm mô hình kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp bộc

lộ ngày càng rõ, làm cho tình hình kinh tế - xã hội lâm vào trì trệ, khủng hoảng.Ngoài ra đất nớc lại bị các thế lực bao vây, cấm vận, chiến tranh biên giới TâyNam và biên giới phía Bắc xảy ra

Cuối những năm 70 - đầu những năm 80 của thế kỷ XX Nớc ta đã và đangdiễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Trải qua 2 nhiệm kỳ, Đại hộiIV(12/1976) và Đại hội V(3/1982), Đảng và nhân dân vừa tìm tòi thử nghiệmcon đờng đi lên CNXH Trong quá trình đó cách mạng XHCN đã đạt đợc nhữngthành tựu cơ bản trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhng cũng gặp không ítkhó khăn, yếu kém Những khó khăn yếu kém đó ngày càng lớn, làm cho đất n-

ớc lâm vào tình trạng khủng hoảng gay gắt, nh sản xuất đình trệ, thất nghiệp giatăng…

Đứng trớc tình hình đó, để khắc phục khó khăn, đa đất nớc vợt qua cuộckhủng hoảng và đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng XHCN tiến lên, đòi hỏi đất nớc

ta phải tiến hành đổi mới, đồng thời đây là vấn đề phù hợp với xu thế của thời

đại, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng cộng sản ViệtNam là mốc quan trọng đánh dấu bớc chuyển mình của đất nớc sang một thời

kỳ mới, trải qua những năm thực hiện đờng lối đổi mới của đất nớc (1986-2005)nền kinh tế - xã hội nớc ta đã thoát khỏi khủng hoảng, công cuộc đổi mới đất n-

ớc đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng

Trong bối cảnh chung của đất nớc, Nam Đàn đã thực hiện công cuộc đổimới Từ một huyện rơi vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế, hàng năm phảinhận sự hỗ trợ của nhà nớc về lơng thực, đời sống nhân dân gặp nhiều khókhăn, tệ nạn xã hội gia tăng… Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng vànhà nớc, Nam Đàn đã trở thành huyện phát triển sản xuất không chỉ đủ tiêudùng mà còn xuất khẩu, bộ mặt kinh tế-xã hội của huyện chuyển biến sâu sắc,

Trang 4

đời sống nhân dân đợc nâng cao, Quốc phòng an ninh đợc giữ vững, tạo sựchuyển biến và phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xãhội

Để có những thành tựu nổi bật đó, trong nhiều năm qua, Nam Đàn đã tiếpnhận và thực hiện một cách có hiệu quả những chủ trơng chính sách theo quan

điểm đờng lối đổi mới của Đảng, vận dụng những chủ trơng của Đảng vào tìnhhình của huyện, tận dụng khai thác tối đa các tiềm năng lợi thế của huyện, tạonên một sức mạnh tổng hợp giữa ý Đảng lòng dân, đa Nam Đàn vững bớc đi lêncùng cả nớc tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Những thành tựu và tiến bộ mà Nam Đàn thực hiện trong đổi mới là rất cơbản, tuy nhiên đó chỉ là bớc đầu, trong quá trình đó nhiều mặt yếu kém, khuyết

điểm vẫn còn tồn tại, hoặc vừa nảy sinh cha đợc giải quyết, đòi hỏi cán bộ nhândân Nam Đàn phải có biện pháp khắc phục Đờng lối đổi mới của Đảng cầnphải đợc đúc kết, bổ sung và phát triển để tiếp tục đa sự nghiệp đổi mới tiếnlên

Để góp phần khẳng định sự đúng đắn và sáng tạo của đờng lối đổi mới đợc

Đảng đề ra từ Đại hội VI (12/1986), cũng nh tổng kết những thành tựu mà nhândân Nam Đàn thực hiện trong quá trình đổi mới Từ đó rút ra một số bài họckinh nghiệm và đa ra một số giải pháp cơ bản trong quá trình đổi mới của huyệnNam Đàn Nhằm góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu đờng lối đổi mớicủa Đảng trong giai đoạn hiện nay Tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nam Đàn trong

thời kỳ đổi mới 1986-2005” làm luận văn tốt nghiệp nhằm đóng góp một phần

vào việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá những thành tựu của công cuộc đổi mới

đất nớc

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề :

Nghiên cứu quá trình đổi mới nói chung và Nam Đàn trong thời kỳ đổi mớinói riêng (1986-2005) Hiện đang là đề tài mới mẻ, mang tính thời sự vì các sựkiện đang trong quá trình diễn biến do đó việc đánh giá tổng kết gặp nhiều khókhăn, hơn nữa đây là vấn đề khó, hàm chứa trong đó cả những vấn đề lý luận vàthực tiễn Trên phạm vi cả nớc cho đến hiện nay có một số tài liệu mang tính

Trang 5

chuyên khảo, nghiên cứu đờng lối đổi mới của Đảng hoặc đề cập đến một sốkhía cạnh của vấn đề.

+ Cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay - những vấn đề lý luận và thựctiễn của CNXH ở Việt Nam ” do Trần Bá Đệ biên soạn - Nhà xuất bản Đại họcQuốc Gia Hà Nội 1998 đã nêu lên những thành tựu tiến bộ và những hạn chếyếu kém, khuyết điểm của Đất Nớc từ khi thực hiện đờng lối đổi mới của ĐấtNớc đến năm 1996

+ Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam tại

đại hội VI -VII - VIII - IX đã tổng kết những thành tựu đạt đợc, đồng thời vạch

ra những yếu kém, tồn tại, khuyết điểm của việc thực hiện những nhiệm vụ,mục tiêu mà các nghị quyết của Đại hội đó đề ra

ở phạm vi địa phơng đây là vấn đề mới mẻ, cha thu hút sự quan tâmnghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trong một số tài liệu đã đề cập đến một sốkhía cạnh của vấn đề

+ Cuốn “ Kinh Tế - Xã Hội - Văn Hoá của tỉnh Nghệ An trong tiến trình

đổi mới”, do Sở Khoa Học - Công Nghệ và môi trờng Nghệ An biên soạn, Vinh

1994 đã đánh giá thực trạng Kinh tế - xã hội và văn hoá, khẳng định nhữngthành tựu những mặt mạnh, đồng thời nêu rõ những hạn chế, thiếu sót của tỉnhNghệ An trong bớc đầu thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng (1986-1993).+ Cuốn “Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam Huyện Nam Đàn, sơthảo tập I và tập II (1930-2000), mới chỉ nói đến mảnh đất đã sinh ra Hồ ChủTịch, cùng với lịch sử đấu tranh vẻ vang của Đảng bộ Đảng Cộng Sản Nam

Đàn Nhất là Đảng Bộ Nam Đàn đã lãnh đạo nhân dân thực hiện đờng lối đổimới của Đảng, mặc dù có những thành tựu, tuy nhiên mới chỉ dừng đến năm

2000

+ Cuốn “ Nam Đàn xa và nay” do Nhà Xuất Bản Văn Hoá -Thông Tin

2000, đã khái quát lịch sử Nam Đàn một cách khá đầy đủ, cũng nh một sốthành tựu mà Nam Đàn đạt đợc trong thời kỳ đổi mới Tuy nhiên các tác giảmới dừng đến năm 2000

Trang 6

+ Cuốn “ Nam Đàn quê hơng Chủ Tịch Hồ Chí Minh” do Ninh Viết Giao (chủ biên) - Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 2005 đã khái quát

đầy đủ đặc điểm, vị trí Nam Đàn cùng với các phong trào đấu tranh của nhândân Nam Đàn từ xa đến nay, đồng thời cũng nêu lên những thành tựu trongnghệ thuật điêu khắc ở Nam Đàn, và việc Đảng và nhân dân Nam Đàn thực hiện

đờng lối do Đảng đề ra trong thời kì đổi mới

Ngoài ra một số báo cáo của Ban chấp hành Đảng Bộ huyện Nam Đàn từkhoá XIX (1986) đến khoá XXIV (2005) và các báo cáo của hội đồng nhân dânhuyện lu tại huyện uỷ và uỷ ban nhân dân đã tổng kết đánh giá sơ bộ nhữngthành tựu của Nam Đàn trong quá trình thực hiện đờng lối đổi mới Nhng báocáo chỉ nặng về thành tích mang tính nhiệm kỳ, cha tổng kết đúc rút đợc cả quátrình đổi mới

Nhìn chung các công trình và tài liệu nói trên mới chỉ khái quát một cáchchung chung, cha đề cập đến những vấn đề cụ thể Vì vậy để có một công trình

cụ thể viết về Nam Đàn trong thời kỳ thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng1986-2005, cần đợc đầu t nhiều thời gian và công sức

3 Phạm vi đề tài và đối tợng nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Nam Đàn trong thời kỳ đổi mới 1986-2005”, mục

đích của tôi nhằm đánh giá tổng kết những thành tựu, hạn chế, thiếu sót màNam Đàn đạt đợc trong thời gian qua trên các mặt của đời sống xã hội, đồngthời nêu lên một số giải pháp và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện

đờng lối đổi mới (1986-2005), trên địa bàn huyện Nam Đàn Với mục đích đó,trớc hết tôi đề cập đến những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử xã hội củahuyện Nam Đàn Những nhân tố ảnh hởng đến công cuộc đổi mới Trọng tâmnghiên cứu của luận văn, là những thành tựu đã đạt đợc và những hạn chế trongquá trình thực hiện đờng lối đổi mới, qua đó khẳng định tính đúng đắn và sángtạo của đờng lối đổi mới do Đảng vạch ra từ Đại hội VI (12/1986) và Nam Đàn

đã thực hiện đờng lối đó với những biện pháp cụ thể và sáng tạo phù hợp vớithực tế lịch sử ở địa phơng Để tạo nên những chuyển biến tích cực trên tất cảcác lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội ở Nam Đàn Trên cơ sở đó Tôi mạnh

Trang 7

dạn nêu lên một số giải pháp cụ thể, nhằm phát triển kinh tế - xã hội Nam Đàntrong giai đoạn hiện nay, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm hy vọnggóp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đổi mới của Nam Đàn.

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Để tập trung tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nam Đàn trong thời kỳ đổi

mới 1986 - 2005” Tôi đã khai thác và sử dụng các nguồn tài liệu sau:

Các tài liệu thành văn: Trớc hết là các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốccủa Đảng từ Đại hôi VI, VII, VIII, IX , các giáo trình lịch sử Việt Nam hiện đại,lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, các tác phẩm viết về Nam Đàn, các công trìnhnghiên cứu về lịch sử - xã hội - văn hoá ở Nam Đàn đợc lu từ trớc tới nay, đặcbiệt tôi tập trung khai thác các báo cáo của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyệnNam Đàn qua các nhiệm kỳ từ 1986 -2005

Ngoài ra, tôi còn sử dụng các tài liệu điền dã, trực tiếp trao đổi với cán bộhuyện hay qua quan sát thực tế những thành quả mà nhân dân Nam Đàn đã thựchiện và đạt đợc trong những năm đổi mới, kết hợp với các tài liệu thành văn để

xử lý thông tin các số liệu

Thực hiện đề tài này tôi sử dụng phơng pháp nghiên cứu nh phơng pháplịch sử, phơng pháp lôgic, phơng pháp thống kê đối chiếu, so sánh lấy phơngpháp luận sử học Macxit và quan điểm sử học của Đảng cộng sản Việt Nam làmcơ sở lý luận

Trang 8

B - Nội dungChơng 1 Khái quát điều kiện tự nhiên và lịch sử xã hội

của huyện Nam Đàn.

1.1 Điều kiện tự nhiên

Đờng vô xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ

Ai vô xứ Nghệ thì vô

Đã vô xứ Nghệ thì không ai không đến Nam Đàn, quê hơng của Chủ tịch

Hồ Chí Minh Có thể nói Tổ quốc đã giành riêng cho Nam Đàn một mảnh nonsông khá hùng vĩ Nơi đây những tên làng, tên xã, tên núi, sông cũng gần gũithân thơng Đứng giữa thị trấn Sa Nam, Nam Đàn tựa nh một thung lũng lớn,xung quanh Nam Đàn đều có núi non bao bọc, dòng sông Lam uốn khúc chảyqua, làng mạc sầm uất, đồng ruộng phì nhiêu

Nam Đàn gió thổi phi phongNúi non mây bá giăng mùng xung quanhLam giang một dải xanh xanhVòng qua Nhẫn, Đụn băng mình về xuôi

Qua câu hát trên đã phần nào cho ta thấy phong cảnh Nam Đàn, nơi đây cóthể gọi là “trùng lai danh thắng địa”

Nam Đàn ở hạ lu Sông Lam, nhng lại là huyện nửa đồng bằng, nửa đồi núi.Mảnh đất này nằm giữa hai dãy núi lớn là Đại Huệ ở phía Bắc và Thiên Nhẫn ởphía Nam, giữa có dòng sông Lam chảy qua theo hớng Tây Bắc - Đông Nam,

Trang 9

chia Nam Đàn thành hai vùng tả ngạn và hữu ngạn Huyện Nam Đàn nằm ở vịtrí có toạ độ địa lý:

Từ 180 30’ đến 180 47’ vĩ độ Bắc

Từ 1050 25’ đến 1050 31’ kinh độ Đông

Phía Đông giáp huyện Hng Nguyên và một phần huyện Nghi Lộc, phíaTây giáp huyện Thanh Chơng, phía Bắc giáp huyện Đô Lơng, một phần huyệnNghi Lộc, phía Nam giáp huyện Hơng Sơn và huyện Đức Thọ thuộc Hà Tĩnh;Huyện có diện tích đất tự nhiên là 29389 ha, dân số 152414 ngời (1999) [21;6].Sông Lam là con sông lớn nhất của tỉnh, bắt nguồn từ nớc Lào chảy quacác huyện phía Tây, đến cuối huyện Thanh Chơng nhận thêm nớc nhánh SôngRào Gang từ phía Tây Bắc ra, lách vào hai mỏm núi Đụn và Thiên Nhẫn, từ đó

mở rộng dòng theo hớng Tây - Đông uốn lợn trên 16 km ở phía Nam huyệnNam Đàn rồi đổ xuống hạ lu Ngoài Sông Lam huyện Nam Đàn còn có thêmSông Đào, dẫn nớc Sông Lam từ Bara thị trấn Sa Nam lên phía Bắc và Đông Bắchuyện, thông sang huyện Hng Nguyên

Sông Lam và đờng tỉnh lộ 49 Vinh - Đô Lơng là hai tuyến giao thông thuỷ

bộ huyết mạch của huyện Nam Đàn, hai tuyến giao thông này đã tạo cho Nam

Đàn mở rộng việc giao lu các huyện trong tỉnh, cả với thành phố Vinh, CảngBến Thuỷ và cả nớc Lào anh em Trên đất Nam Đàn còn có các đờng giao thônglớn chạy qua nh quốc lộ 46, quốc lộ 15A, đờng du lịch ven sông Lam

Núi sông đã tô điểm cho cảnh quan Nam Đàn thêm hùng vĩ Song, núisông cũng tạo cho Nam Đàn một địa hình hết sức phức tạp và đa dạng, vừa

đồng bằng , vừa bán sơn địa, núi liền đồng, đồng liền sông và có độ dốc lớn

Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, hàng vạn năm đất đã nuôi sống con

ng-ời Tổng diện tích đất của Nam Đàn là 29389 ha Trong đó nông nghiệp11521ha, đất lâm nghiệp 6471 ha, đất chuyên dùng 3200 ha, đất cha sử dụng

7463 ha [21;28] Nhìn chung đất của Nam Đàn có thể chia làm 2 loại: Thuỷthành và Địa thành

Nhóm đất thuỷ thành chiếm 40% bao gồm đất phù sa, đất nâu vàng, đất lúavùng đồi núi, thích hợp cho canh tác lúa mùa và lúa màu [21;29]

Trang 10

Nhóm đất Địa thành chiếm khoảng 60% diện tich đất của Nam Đàn, baogồm đất feralit đỏ vàng, đất sói mòn trơ sỏi, đất màu vàng trên núi, thích hợpcho việc trông cây ăn quả, cây chè, sắn [21;29].

Nam Đàn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm nhận đợc bức xạmặt trời khá phong phú Tổng bức xạ là 134,4 KCal/cm3/năm Số giờ nắng trungbình là 1637 giờ, nhiệt độ trung bình của huyện là 23,90C gồm hai mùa nóng vàmùa lạnh Mùa lạnh từ tháng 11 năm trớc đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ từ 18 -

200C Trong những tháng này Nam Đàn thờng có mây mù, sơng mù Mùa nóng

từ tháng 4 đến hết tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 25 - 280C, có khi đến 400C,mùa nóng thờng có hạn hán dẫn đến mất mùa đói kém ảnh hởng đến ngời và giasúc Mùa ma từ tháng 9 đến tháng 12, lợng ma năm cao nhất là 2600mm, nămthấp nhất là 1100mm, bình quân là 1900mm, độ ẩm trung bình là 86% Bão lụtthờng xuyên xảy ra vào tháng 9, tháng 10, mỗi khi có lũ nớc sông và nớc trongruộng đều dâng nhanh, rút chậm gây úng lan tràn

Rừng ở Nam Đàn có 6471 ha chiếm 20% đất tự nhiên, thuộc kiểu rừng lákim á nhiệt đới, rừng hỗn giao lá kim, lá rộng Rừng ở Thiên Nhẫn, Đại Huệ,

Đụn Sơn có nhiều loại gỗ quý nh lim, sến, táu… Các loại lâm sản nh tre, songmây, lá tro làm nón , cùng các dợc liệu quý Rừng ở Nam Đàn có thể làm rẫy,làm vờn trồng nhiều cây ăn quả, nh hồng, nhãn, cam …, cùng các loại thú lớn

nh hổ, báo

Nam Đàn không có mỏ lớn, nên không giàu về khoáng sản, Nam Đàn có

mỏ Măng gan ở núi Thiên Nhẫn mỏ cooc xít (Đại Hụê), mỏ đá ong ở khắp chân

đồi núi, cát, sỏi làm vật liệu xây dựng, đất sét làm gạch [21:30]

Có thể nói tất cả những dặc điểm trên đã ảnh hởng không nhỏ tới qua trìnhphát triển kinh tế - xã hội huyện Nam Đàn Trớc hết đây là huyện có vị trí địa lý

đặc biệt “Trùng lai danh thắng địa”, có các tuyến đờng giao thông thuận lợi choviệc giao lu với các huyện trong tỉnh và với nớc Lào anh em, mặt khác với điềukiện địa hình đa dạng, Nam Đàn có khả năng phát triển nhiều loại cây trồng, vậtnuôi, khai thác thuỷ, hải sản, làm các nghề thủ công, hơn nữa Nam Đàn cónhiều danh lam thắng cảnh, đây là một tiềm năng du lịch lớn Ngoài ra do có

Trang 11

điều kiện khí hậu khắc nghiệt, ruộng đất bị xói mòn, hạn hán, mặc dù có điềukiện thâm canh lớn nhng thờng xuyên bị ngập lụt.

Nh vậy cơ bản là một huyện miền xuôi nhng ở Nam Đàn có tài nguyên đất,rừng, khoáng sản khá đa dạng và phong phú Nhng tài nguyên chủ yếu là conngời Con ngời Nam Đàn cần cù và thông minh, trong hàng ngàn năm lịch sử

đã đem trí tuệ và bàn tay của mình chế ngự thiên nhiên, khai thác thiên nhiên,làm cho mảnh đất Nam Đàn không những trù phú mà còn nổi danh với đất nớc

1.2 Lịch sử - xã hội.

Trong thành phần dân c Nam Đàn đa số là dân bản địa, khai thác Nam Đàn

từ thuở bình minh của lịch sử, họ làm chủ các thời kỳ văn hoá cổ xa Nhữngphát hiện của khảo cổ học nh di chỉ đồ đá mới ở Rú Trăn, Rú Đại, Rú Trác, dichỉ đồ đồng ở Xuân Hoà đã làm cho ta thấy cách đây hàng ngàn năm ngời Nam

Đàn đã chặt cây rừng, giết thú dữ, khai khẩn đất đai làm ruộng nớc, biết baolàng xã Nam Đàn đều liên quan đến sông nớc, hay trong tín ngỡng lễ bái chúng

ta cũng thấy liên quan đến vấn đề nớc Chính bằng lao động của mình ngời dânNam Đàn đã vật lộn với thiên nhiên và hình thành nên một vùng đất và cộng

đồng dân c từ thời xa xa

Huyện Nam Đàn nằm ở hạ lu sông Lam Thời Văn Lang-âu Lạc đây làtrung tâm của bộ Việt Thờng Trớc và sau thế kỷ I, là đất của huyện Cửu Đức.Thời Tam Quốc, huyện Cửu Đức bao gồm các huyện Hng Nguyên, Thanh Ch-

ơng, Nam Đàn Sau khi nhà Ngô định lại duyên cách địa lý hành chính và táchNam Đàn và Đô Lơng thành huyện Đô Giao, huyện lỵ đóng ở Nam Thanh, NamXuân ngày nay Thế kỷ VI, Cửu Đức đổi thành Đức Châu, Nam Đàn thuộchuyện Đức Châu Vào năm 722, Nam Đàn là đất của huyện Vạn An Vào thời

Lê 1490, Nam Đàn đợc gọi Nam Đờng và là một trong hai huyện của phủ Anh

Đô Huyện Nam Đờng thời Lê khá rộng bao gồm 8 tổng trong đó có 90 xã,thôn, phờng, trại, giáp, vạn, sách Năm Minh Mệnh thứ 3(1822), đổi phủ Anh

Đô làm Anh Sơn, phủ lỵ đặt tại Vân Diên bây giờ Năm Minh Mệnh thứ21(1840), đã cắt 4 tổng của huyện Nam Đờng do phủ Anh Sơn kiêm lỵ Năm

Đồng Khánh thứ nhất, đã đổi Nam Đờng thành Nam Đàn

Trang 12

Trớc cách mạng tháng 8/1945 Nam Đàn có 4 tổng và 77 xã, thôn Sau cáchmạng, nhà nớc bỏ cấp tổng, giữa năm 1946 nhập một số xã thôn, Nam Đàn có

19 xã Cuối 1947 - đầu 1948 Nam Đàn chỉ có 11 xã Sau khi hoà bình lập lại

1954, Nam Đàn có 33 xã và 1 thị trấn, trừ thị trấn Nam Đàn, các xã đều có chữNam đứng đầu Đến 1969 các đơn vị hành chính cơ sở có điều chỉnh, Nam Đàn

có 23 xã và 1 thị trấn

Cùng với cộng đồng dân c bản địa sinh sống, ở Nam Đàn còn có một sốkhác là ngời Tứ Chiêng.Trong số ngời Kinh ở Nam Đàn, thì còn có ngời ngoạitộc từ phía Nam, phía Bắc, phía Tây Có ngời từ phía Bắc Bộ, Thanh Hoá vàmiền biển lên, họ đến Nam Đàn với nguồn gốc, thời gian và động cơ khác nhau.Lâu rồi họ trở thành ngời Nam Đàn chung lng đấu cật với ngời bản địa, xâydựng mảnh đất Nam Đàn về mặt văn hóa vật chất, văn hoá tinh thần, làm choNam Đàn trở thành một huyện giàu đẹp

Những di tích mà ngành khảo cổ học khai quật ở núi Trăn, núi Đài chothấy văn minh lúa nớc ở Nam Đàn phát triển khá sớm, từ buổi đầu dựng nớc cdân Nam Đàn đã khai phá đất hoang, mở mang diên tích canh tác Lịch sử cònghi lại Lý Nhật Quang con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ khi làm Tri châu Nghệ An,

ông là ngời chiêu dân lập ấp, mở rộng quy mô khai hoang trên vùng đất NamKim, là ngời khởi công đắp đê ngăn lũ sông Lam Cùng với việc thâm canh câylúa, c dân Nam Đàn đã trồng các loại cây khác nh Hồng (Xuân Liễu) đã chiếmlĩnh thị trờng trong và ngoài huyện, chè xanh ở Thanh Thuỷ (Nam Thanh -Xuân Liễu)…Nông nghiệp phát triển đã thúc đẩy các nghề thủ công ra đời, nhnghề trồng bông dệt vải, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa, trồng mía ép mật,nấu đờng, nghề rèn đúc lỡi cày, làm gạch ngói…

Trong lao động, ngời dân Nam Đàn đã sáng tạo ra những công trinh vănhoá, nghệ thuật nổi tiếng tiêu biểu là Đình Hoành Sơn Sự phong phú của cácngành nghề đã tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho nhân dân Nam Đàn, thu hútmột lực lợng lao động, vừa giữ gìn các ngành nghề truyền thống

Do sự thuận lợi về giao thông cả về đờng thuỷ lẫn đờng bộ, việc buôn bán

ở Nam Đàn phát triển sớm Trên địa bàn huyện từ lâu đã xuất hiện các trung

Trang 13

tâm buôn bán lớn nh chợ Sa Nam, rồi chợ Đồn nơi mua bán trâu bò của nhândân trong và ngoài huyện Từ chợ Sa Nam các thứ hàng Nông - Lâm sản củaNam Đàn theo tuyến đờng thuỷ Sông Lam, đờng bộ 49 chuyển đi khắp các xãtrong huyện và nhiều nơi trong tỉnh.

Nam Đàn là đất văn vật, không chỉ nổi tiếng vì nhiều ngời dỗ đạt 36 ngời

đỗ đại khoa trong 7, 8 trăm năm thi cử Hiếu học, khổ học, thông minh, trí tuệtrong sáng, có nghĩa khí, trọng đạo lí làm ngời, gần gũi với quần chúng, yêu n-ớc… đó là tính cách của trí thức Nam Đàn [21;164]

Việc học hành thi cử ở huyện Nam Đàn từ lâu trở thành phong trào đấutranh trong tầng lớp nho sĩ, không riêng con nhà quyền quý mà nhiều nho sĩ bầnhàn cũng không chịu thua kém trên đờng cử nghiệp, mặc dù “sáng khoai, trakhoai, tối khoai, khoai ba bữa”, song vẫn “ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà”.Tuy vậy, việc học hành thi cử vẫn không phải là con đờng tiến thân và mục

đích duy nhất của nho sĩ Nam Đàn, có nhiều ngời thi đỗ nhng không ra làmquan mà ở nhà làm thuốc, dạy học Sự có mặt của tầng lớp tri thức này làm chovăn học dân gian của huyện Nam Đàn vốn đã phong phú lại càng phong phúhơn cả về hình thức lẫn nội dung

Truyền thống hiếu học, tôn s trọng đạo đã đợc giữ gìn và phát huy qua cácthời kỳ, tạo nên một nét đẹp trong truyền thống văn hoá của con ngời Nam Đàn.Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhân dân Nam Đàn đã gópphần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ dân tộc Sau thời đại dựng nớc và giữ nớc huy hoàng của các vua Hùng Năm 179TCN Triệu Đà chiếm đợc nớc âu Lạc của An Dơng Vơng, mở đầu cho thời kỳBắc thuộc kéo dài một nghìn năm trên đất nớc ta Trong thời kỳ Bắc thuộc cùngvới nhân dân trên cả nớc, Nam Đàn hiên ngang bất khuất, đứng dậy tham giacác cuộc khởi nghĩa chống lại ách thống trị của phong kiến Phơng Bắc Tiêubiểu là cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan vào năm 722 Năm 938 Ngô Quyềnvới chiến thắng Bạch Đằng, đã mở ra thời kỳ mới cho đất nớc ta: Thời kỳ xâydựng nền độc lập tự chủ Nhà Ngô - Đinh - Tiền Lê rồi đến nhà Lý - Trần xâydựng vùng Hoan Diễn Tình hình ở Nghệ Tĩnh từ thế kỷ X đến XV không

Trang 14

ngừng biến đổi nhng theo xu thế ổn định và xây dựng bảo vệ nền độc lập củadân tộc Nam Đàn đã đóng góp một phần đáng kể, vào việc giữ vững nền độclập dân tộc của nớc nhà.

Từ năm 982 - 1009, thời Tiền Lê, Nam Đàn là trung tâm, vị trí tiền đồntrong các cuộc chống kẻ thù ở phía Nam, Nam Đàn đã đóng góp sức ngời vàoviệc mở những con đờng chạy từ Hoan ái vào phía Nam[21:88] Đặc biệt vào

1003 khi Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy đào sông Đa Cái (kênh Đớc) ở phía ĐôngNam Đàn, thì không ít con em Nam Đàn đã tham gia mở đờng vận chuyển quânlơng

Trong những năm 1125, 1128, 1131, 1137, 1150, 1215 dới Triều Lý, nhândân Nam Đàn đã đóng góp một phần đáng kể vào việc đánh tan quân Chăm Pasang quấy nhiễu [21;88] Đến thời nhà Trần năm 1316 và 1317 quân Chăm Pa

và Chân Lạp vào cớp phá Nghệ Tĩnh Nam Đàn đã cùng quân dân Nghệ Tĩnh

đánh tan bọn chúng Không những là trung tâm của tiền đồn phía Nam, Nam

Đàn còn là một trong những trung tâm hậu phơng của cả nớc

Trớc nguy cơ bị đế quốc Mông Nguyên giày xéo Nhà Trần cho xây dựng

đắp đê, đào kênh, tích trữ lơng thực, tuyển mộ quân sĩ, những việc đó nhân dânNam Đàn đã đóng góp không nhỏ Năm 1400 nhà Hồ thay nhà Trần ở Nam

Đàn, Hồ Quý Ly điều động quân dân xây dựng thành Hồ Vơng trên núi ĐạiHuệ [21;90]

Thời thuộc Minh chế độ cai trị của nhà Minh hết sức tàn nhẫn Trớc tìnhhình đó Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng đã phất cờ khởi nghĩa Trong đó TrầnTrùng Quang đã hành dinh đặt tại đất Hoa Nam, huyện Chi La (Nam Kim -Nam Đàn) Trong cuộc khởi nghĩa đó Nam Đàn đã để lại cho lịch sử hai tấm g-

ơng bất khuất đó là Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị [21;92] Trong khởinghĩa Lam Sơn, Nam Đàn lại đợc đi vào lịch sử về một chứng tích chống quânMinh xâm lợc trên núi Thiên Nhẫn Tại Thiên Nhẫn, trên ngọn Kíp Lịp, Lê Lợidựng thành Lục Niên [21;94] Giờ đây đến Lục Niên, chúng ta sẽ thấy mộtthành cổ ghép đá núi chơ vơ giữa núi đồng hoang vắng, rêu phong, cỏ phủ, làm

Trang 15

chúng ta không khỏi nhớ lại những năm Lê Lợi cùng các tớng lĩnh tài giỏi dựngcăn cứ ở đây.

“Nguy nga Thái Tổ xây thành đóGiết giặc công dày đá vẫn ghi”

[21;96]

Sau đại thắng quân Minh, Lê Lợi lên ngôi vua, mở ra vơng triều Hậu Lê đanớc ta vào giai đoạn phồn thịnh (1427 - 1497) Vào thế kỷ XVIII, trong khởinghĩa Tây Sơn, Nam Đàn nói riêng và Nghệ An nói chung, là nơi đứng chânquan trọng của Nguyễn Huệ, khi đa quân ra Bắc đánh tan 20 vạn quân Thanh.Cùng với nhân dân cả nuớc, nhân dân Nam Đàn đã tích cực tham giaphong trào chống thực dân Pháp ngay từ đầu chúng đặt chân lên đất nớc ta.Trong cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874), Đặng Nh Mai đã dựng cờ “Bình Tâysát Tả”, ra sức xây dựng phong trào chống Pháp [21;11] Ngoài ra còn có BùiDanh Thiềm, Bùi Danh Mận (Thanh Thuỷ), Hồ Duy Cơng, Nguyễn Sĩ (NamXuân), Lý Hoà (Nam Đông)… tham gia và giữ các chức vụ trong hàng ngũnghĩa quân

Trong phong trào Cần Vơng, nhiều sĩ phu Nam Đàn đã hởng ứng “Nghĩatiên thanh phù xã tắc” [21;113]… Tiêu biểu Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Quang

đã chiêu dụ nghĩa binh, dựng cờ khởi nghĩa tại Nam Hoa Tại Kim Liên, tú tàiVơng Thúc Mậu đợc Hàm Nghi ban ấn kiếm và phong là “Tiền Lâm Chung

đốc biện” [21;114], ông đã cắm cờ khởi nghĩa tại Rú Chung Những cuộc khởinghĩa Cần Vơng ở Nam Đàn trớc sau đều thất bại nhng đã thể hiện ý chí quyếttâm chống Pháp xâm lợc của nhân dân Nam Đàn

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi các phong trào cứu nớc nh Cần

V-ơng, Đề Thám thất bại, trong khi mọi ngời đang khao khát sớm có một vị cứutinh kế tiếp đứng ra dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh, giải phóng đất nớc thoát khỏi

ách nô lệ của thực dân Pháp ở Nam Đàn, cụ Phan Bội Châu, một nhà nho yêunớc, nổi tiếng hay chữ Sau khi đỗ giải nguyên (1900), không chịu ra làm quan,

mà đi khắp miền Nam Bắc, hô hào các sĩ phu và nhân dân cả nớc đứng lênchống Pháp cứu nớc, tổ chức Duy Tân hội, phong trào Đông Du, đa thanh niên

Trang 16

ra nớc ngoài học tập để về cứu nớc, chính vì vậy Nam Đàn có câu “Độn Sơnphân giới, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” [28;10], muốn ám chỉ cụPhan là bậc thánh nhân, sĩ phu và nhân dân cả nớc cần ủng hộ cụ, đi theo cụ đểcứu nớc Với những hoạt động của mình, Phan Bôi Châu là ngôi sao sáng trênbầu trời Việt Nam vào đầu thế kỷ XX [28;10] Nhng đến năm1925 ngôi saosáng Phan Bội Châu mờ dần, sau khi cụ bị đế quốc Pháp bắt cóc ở Thợng Hải(Trung Quốc), đem về giam lỏng ở Huế Và một ngôi sao sáng khác lại xuấthiện trên bầu trời Việt Nam kể từ năm 1930 trở đi, soi sáng đờng cho nhân dân

ta, hớng nhân dân ta đấu tranh giành độc lập Đó chính là Nguyễn ái Quốc - HồChí Minh

Nhắc đến Nam Đàn, chúng ta không thể không nói đến Nguyễn ái Quốc.Ngời đã tìm ra con đờng cứu nớc chân chính cho nhân dân Việt Nam Thật đáng

tự hào biết bao, khi Nam Đàn sinh ra một con ngời vĩ đại, ngời khai thông bếtắc cho cách mạng Việt Nam, Ngời đa đờng chỉ lối cho nhân dân ta vững bớctiến lên thời đại mới Thời đại cách mạng vô sản mà mở đầu là cách mạng thángMời Nga Nam Đàn là một trong những huyện đợc tiếp thu sớm nhất, đờng lối

và cách mạng Việt Nam, do đồng chí Nguyễn ái Quốc vạch ra, trên cơ sở vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê Nin

Ngày 3/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời tại Cửu Long (TrungQuốc), thì đến ngày 25/4/1930 tại làng Kim Liên, Đảng bộ Đảng cộng sản ViệtNam ở huyện Nam Đàn đợc thành lập Sự ra đời của Đảng bộ huyện đánh dấumột bớc ngoặt lớn đối với phong trào cách mạng Việt Nam ở Nam Đàn Từ đâyphong trào cách mạng của huyện đã hoà chung khí thế và đóng góp tích cực vàophong trào cách mạng của tỉnh Nghệ An và của cả nớc

Đảng bộ Nam Đàn vừa ra đời, ngày 1/5/1930, một cuộc biểu tình của côngnhân, nông dân Vinh - Bến Thuỷ, nổi dậy đòi tăng lơng, giảm giờ làm cùngngày đó một số làng xã ở Nam Đàn, các cơ sở Đảng đã cho rải truyền đơn, treo

cờ đỏ, tổ chức mít tinh để hởng ứng Ngày 16/6/1930 nông dân mấy xã thuộctổng Xuân Khoa, Xuân Liễu, Lâm Thịnh rầm rộ biểu tình [27;78], chính thứcbắt đầu phong trào đấu tranh của Đảng bộ và nhân dân Nam Đàn Hơn 600 ngời

Trang 17

kéo lên huyện lỵ, phản đối đế quốc Pháp khủng bố cuộc biểu tình của côngnhân Vinh - Bến Thuỷ và Hạnh Lâm [21;140].

Dới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với cả nớc, nhân dân Nam Đàn đã nổi dậycớp chính quyền làm nên cách mạng tháng 8/1945, khai sinh ra nớc Việt Namdân chủ cộng hoà, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên độc lập Tuynhiên nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời đã phải đơng đầu với muônvàn khó khăn trở ngại Là một địa phơng nhỏ bé, Nam Đàn không thể tách rờihoàn cảnh chung của cả nớc Song Nam Đàn có một niềm tự hào là quê hơngcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng bộ và nhân dân Nam Đàn đã cùng cả nớc vợtqua những thử thách phức tạp trong hoàn cảnh mất còn của Tổ quốc và đạt đợcnhiều thành tựu to lớn trong việc thực hiện các nhiệm vụ chống giặc đói, giặcdốt và giặc ngoại xâm Hoà bình lập lại cha đợc bao lâu thì thực dân pháp quaytrở lại xâm lợc nớc ta Trớc tình hình đó ngày 19/12/1946, Hồ Chí Minh kêu gọitoàn quốc kháng chiến Lệnh kháng chiến ban ra, quân dân Nam Đàn ai cũngcăm thù giặc, sẵn sàng hiến dâng của cải và xả thân vì Tổ quốc Nhân dân Nam

Đàn “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nớc, không chịu làm nô lệ”, nhiềucon em Nam Đàn nô nức lên đờng bảo vệ quê hơng, đất nớc tại các mặt trận Bắc

bộ, Nam bộ, Thợng Lào ngoài ra để có lơng thực cho bộ đội Nam Đàn tiếp tục

đẩy mạnh khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Pháp xâmlợc”

Trong 9 năm kháng chiến trờng kỳ gian khổ, nhân dân Nam đàn vô cùng tựhào khi thấy mình đã cùng cả Nghệ Tĩnh, cùng cả nớc góp phần xứng đáng vàocuộc chiến tranh, đánh thắng giặc Pháp xâm lợc Là những ngời đợc sống vàchiến đấu trên quê hơng Bác Hồ, nhân dân Nam Đàn đã dành đợc những thànhtích kỳ diệu trong 9 năm oanh liệt ấy Trong số 1175000 ngời đi dân công với

31 triệu ngày công Trong đó 9895 dân công xe đạp thồ của Nghệ Tĩnh đi phục

vụ các chiến dịch trong 2 năm 1953 - 1954 [21;430] Trong thời gian 1946-1954hơn 3000 thanh niên Nam Đàn đã vào bộ đội [21;430], nhiều ngời đã ngã xuống,nhiều ngời trởng thành trở thành cốt cán trong các đơn vị, các binh chủng chủ lựccủa quân đội nhân dân Việt Nam

Trang 18

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5/1954) Hiệp định Giơnevơ đợc ký kết,cách mạng nớc ta chuyển sang giai đoạn mới Miền Bắc làm cách mạng XHCN,miền Nam do âm mu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của Ngô Đình Diệm nênvẫn tiếp tục làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Tuy nhiệm vụ cách mạng

2 miền khác nhau nhng đều nhằm mục đích là hoàn thành cách mạng dân tộc,dân chủ, thực hiện thống nhất nớc nhà Cùng với cả nớc, Nam Đàn bớc và thựchiện nhiệm vụ mới của cách mạng Trong hoàn cảnh đã có hoà bình, nhân dânNam Đàn ra sức hàn gắn vết thơng chiến tranh, nhanh chóng khôi phục và pháttriển kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng CNXH, dốc sức chi viện cho miềnNam, ngời và của từ Nam Đàn, qua Nam Đàn hết đoàn này qua đoàn khác kéovào miền Nam Trong những đêm tối mù mịt, trên bầu trời máy bay Mỹ gầm rítghê sợ, 10 cô gái Truông Bồn (Nam Hng), đã mặc áo trắng, dũng cảm bớc ralàm cọc tiêu ở hai bên đờng cho các đoàn xe vận tải đi qua đoạn đờng xung yếutrên chiến lợc 30, đa vũ khí, lơng thực vào Nam [28;96] Quân dân Nam Đàn đãcùng với quân dân cả nớc mở cuộc Tổng tiến công giành thắng lợi vào mùaxuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn đất nớc, thống nhất đất nớc

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, qua các đợt tuyển quân, con em Nam

Đàn đã nhập ngũ, đợt nào cũng vợt chỉ tiêu về số lợng và chất lợng, chiến đấutrên khắp các chiến trờng, hàng trăm ngời đã đợc công nhận là “Dũng sỹ diệtMỹ”, một số ngời đợc nhà nớc phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lợng vũtrang”, nh Lê Văn Long, Nguyễn Văn Mạo (Vân Diên), Hố Sĩ T (Nam Xuân),Nguyễn Viết Sinh (Xuân Hoà)…[28;96]

Sau đại thắng mùa xuân 1975, “Mỹ cút nguỵ nhào” đất nơc sạch bóngquân thù, cả nớc thống nhất đi lên CNXH Nam Đàn quê hơng Bác Hồ vĩ đại,

“vị trí có một không hai trong cả nớc”, mang truyền thống hào hùng của lịch sử

4000 năm luôn đợc sự quan tâm, theo dõi, chăm sóc của Trung ơng Nhờ đónhân dân Nam Đàn đã phát huy truyền thống lịch sử của quê hơng, vững bớctiến vào thời kỳ lịch sử mới

Nhìn chung lịch sử - xã hội của huyện Nam Đàn có thể khái quát ở nhữngnét nh sau:

Trang 19

Về kinh tế: Nam Đàn là huyện có nền kinh tế đa dạng nhng vẫn còn nghèonàn, lạc hậu Nền kinh tế của huyện chủ yếu là nền kinh tế tự cung, tự cấp trongnội bộ gia đình, trong từng địa phơng và trong từng huyện Cha có kinh doanhlớn, sản xuất hàng hoá cha phát triển, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, giao lu bóhẹp, mặt khác đó là tính hẹp hòi, ít năng động trong sản xuất kinh doanh.

Về truyền thống: Nam Đàn đã trải qua thời kỳ dựng nớc và giữ nớc lâu dài,qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Nam Đàn đã góp phần xứng đánglàm nên truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam Có thể nóiNam Đàn là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, là nơi đã sản sinh ra những con ngời

vĩ đại nh Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh…đó là những con ngời đã đem lịch sửViệt Nam bớc sang trang mới Trong lịch sử dân tộc, Nam Đàn luôn giữ vị tríquan trọng của cả nớc, nơi hậu phơng xuất phát của các cuộc hành quân cứu n-

ớc, nên nơi đây đã để lại nhiều trang lịch sử vẻ vang, nhiều di tích quan trọng,nhiều nhân vật anh hùng

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ quê hơng Ngời dân Nam Đàn đã hìnhthành nên truyền thống yêu quê hơng đất nớc, kiên cờng bất khuất trong côngcuộc chống ngoại xâm, hình thành nên truyền thống đoàn kết nhân ái, một khíchất của “con ngời xứ Nghệ” Đó là những đức tính quý để Nam Đàn bớc vàothời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới, do Đại hội VI(12/1986) của Đảng cộngsản Việt Nam đề ra

Trang 20

Chơng 2 Nam Đàn trong thời kỳ thực hiện

công cuộc đổi mới 2.1 Tình hình kinh tế - xã hội Nam Đàn trớc những năm đổi mới.

Sau đại thắng mùa xuân 1975 - Trận thắng kết thúc cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nớc (1954 - 1975) Các thế lực đế quốc xâm lợc nớc ta đã bị quétsạnh, non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại đợc thu về một mối Cuộc chiếntranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dới sự lãnh đạo của

Đảng cộng sản Việt Nam, trong gần 3 thập kỷ từ sau cách mạng tháng 8/1945,

đã giành đợc thắng lợi vẻ vang, sự kiện đó đã đánh dấu mốc quan trọng tronglịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, mở đầu kỷ nguyên phát triển rực rỡ củacách mạng Việt Nam - Kỷ nguyên đất nớc độc lập, thống nhất đi lên Chủ nghĩaxã hội Cùng với mọi miền đất nớc, Nam Đàn phải tập trung mọi nỗ lực để khắcphục hậu quả hai lần chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để lại, đồng thời rasức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vữngchắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Trong 10 năm (1975 - 1985), cùng với nhân dân cả nớc bớc đầu xây dựng

đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, Nam Đàn đã thực hiện đợc nhữngnhiệm vụ đề ra, đó là hàn gắn vết thơng chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh

tế - văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng quê hơng của Chủ tịch HồChí Minh giàu đẹp

Chỉ sau một thời gian ngắn, Nam Đàn đã lấp gần hết những hố bom trênnhững thửa ruộng canh tác, nhanh chóng khôi phục và phần nào mở rộng thêmcác tuyến đờng giao thông, nhất là giao thông nông thôn, khôi phục lại BaraNam Đàn, sửa lại và bồi đắp thêm các đập nớc lớn nh đập Trang Đen (Nam H-ng), đập Rào Băng (Nam Thanh), đập Cửa Ông (Nam Nghĩa),…[28;97], sửa lạicác trờng học, nhà trẻ, trạm y tế…Năm 1976 Nam Đàn đợc mùa cả Đông Xuânlẫn Hè Thu, tổng sản lợng lơng thực quy thóc thu hoạch là 39.748 tấn [28;97].Mặc dù nông nghiệp là thế mạnh của huyện nhng do thiên về mở rộng diện tích,coi nhẹ thâm canh, do thiếu sót trong việc bố trí phơng hớng và cơ cấu sản

Trang 21

xuất…dẫn đến năm 1980, tổng sản lợng lơng thực bị giảm sút nghiêm trọng, chỉthu đợc 23.756 tấn [21;444] Sự giảm sút lơng thực đã kéo theo sự giảm sút củamột loạt các ngành nh chăn nuôi Mức sống của nhân dân trong vùng giảm sút.Trên cơ sở đó, Đại hội huyện Đảng bộ khoá 17 (1983) xác định: Nam Đàn có

đồng bằng và đồi núi, nên đây là huyện nông, lâm,công nghiệp, thủ côngnghiệp và giao thông vận tải, trong đó nông lâm nghiệp là chính.[21;445].Trong ngành Lâm nghiệp mặc dù đạt nhiều thành tựu nh căn bản làm xong việcgiao đất, giao rừng, nhiệm vụ bảo vệ rừng đợc đặt lên hàng đầu Huyện Nam

Đàn có đến 6471 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng tự nhiên là 4992 ha,trong số này cây xanh đã phủ kín đồi trọc là 2725 ha [21;448] Tuy nhiên rừngNam Đàn còn bị chặt phá nghiêm trọng, tốc độ thâm canh cây trồng cha tơngxứng với cơ sở vật chất kỹ thuật đợc xây dựng

Trong công nghiệp và thủ công nghiệp, Nam Đàn mới bắt đầu phát triển và

đã có một số ngành công nghiệp chế biến nh xí nghiệp chế biến nông sản thựcphẩm, xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc, xí nghiệp gạch ngói 26/3…[21:449].Ngoài ra có một số cơ sở sản xuất tiểu thủ côngnghiệp nh hợp tác xã may mặc

Đại Thắng, hợp tác xã cơ khí 19/5… Mặc dù có một số tiến bộ nhng nhìn chungsản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Nam Đàn vẫn còn thấp, chấtlợng và khối lợng mặt hàng cha tơng xứng với tiềm năng nông sản và lâm sảncủa huyện

Trong lu thông hàng hoá, mặc dù đạt đợc những thành tựu, tổng gía trịhàng hoá mua vào tăng 126%, tỷ suất hàng hoá từ 9% lên 18% [1;3], giá trịxuất khẩu năm 1985 đạt 8,6 triệu đồng tăng 61% Tuy nhiên lu thông phân phối, huyện vẫn chuyển biến chậm về cả nội, ngoại thơng, mua bán, lơng thực, xuấtkhẩu còn nghèo nàn, bình quân đầu ngời mới chỉ đạt 2,3 rúp-đôla [1;7], sảnphẩm xuất khẩu là hàng thô không qua chế biến Giao thông là một trong những

điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội Ngoài sông Lam đi qua Nam

Đàn là km, đờng ô tô tỉnh lộ trên đất Nam Đàn là 50 km, các con đờng thuộcNam Đàn quản lý nh đờng ô tô chạy đợc 125 km, đờng xe cải tiến kéo đợc 1000

km [21;450], tuy nhiên trong 10 năm qua (1975 - 1985), bộ mặt giao thông của

Trang 22

huyện vẫn cha có những thay đổi, tình trạng đờng sá xuống cấp, h hại làm ảnhhởng đến việc đi lại cuả nhân dân và ảnh hởng đến việc giao lu và phát triểnkinh tế - xã hội giữa các xã trong huyện và giữa các huyện khác gây nên sựchênh lệch về mức sống và điều kiện sinh hoạt của nhân dân giữa các vùng.Trong 10 năm qua, cùng với việc lãnh đạo và chỉ đạo sự nghiệp phát triểnkinh tế, Đảng bộ và chính quyền các cấp ở Nam Đàn, luôn luôn chăm lo và pháttriển sự nghiệp văn hoá - xã hội, xây dựng nền văn hoá mới và con ngời mớitrên quê hơng Bác Hồ.

Về giáo dục, Nam Đàn đã có một hệ thống giáo dục từ nhà trẻ, mẫu giáo,phổ thông, bổ túc văn hoá, với tỉ lệ 3 ngời dân có một ngời đi học Mẫu giáoNam Đàn có 25 trờng với 232 lớp học, thu hút 6520 cháu [21;451], phổ thôngcơ sở có 33 trờng với 819 lớp học, 29404 em trong đó 19871 học sinh cấp I, và

9533 em cấp II [21;451], phổ thông trung học có 4 trờng, 73 lớp học với 3996học sinh, phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” liên tục đợc đẩy mạnh trong cáctrờng học

Về y tế: Mạng lới y tế từ huyện đến cơ sở từng bớc đợc củng cố Nam Đàn

có 2 bệnh viện, 120 giờng bệnh, 14 bác sỹ, 71 y sỹ, y tá Xã nào cũng có mộttrạm y tế, một nhà hộ sinh[21;453] Ngoài ra Nam Đàn còn có đội vệ sinhphòng dịch chuyên lo phòng chống các bệnh sốt rét, dịch tả, sốt xuất huyết, th-

Trang 23

truyền thống, 3 nhà lu niệm, 8 di tích lịch sử đã đợc xếp hạng, 1 nhà bảo tàng[]21;454, đó là cơ sở vô giá để giáo dục truyền thống yêu nớc, nâng cao lòng tựhào dân tộc.

Mặc dù văn hoá xã hội có tiến bộ song Nam Đàn cha làm chuyển biến cơbản chiến lợc xây dựng con ngời mới, cha phát huy truyền thống tốt đẹp qua cácthế hệ, do đó chất lợng các hoạt động văn hoá cha cao, đội ngũ giáo viên và cán

bộ văn hoá còn yếu kém về trình độ, truyền thống hiếu học bị giảm sút, trong y

tế công tác quản lý bệnh viện và trạm xá còn cha tốt

Về quốc phòng và an ninh: Nam Đàn đợc quan tâm lãnh đạo đúng mức,giao quân năm 1985 đạt 104%, phong trào xây dựng cơ sở 3 an toàn đã trởthành phong trào quần chúng [9;161] Công tác hộ tịch, hộ khẩu, thanh tra, tpháp, giải quyết khiếu nại tố cáo đợc chỉ đạo kịp thời và sâu sát Lực lợng dânquân tự vệ, công an đã phối hợp hành động, phấn đấu làm trong sạch nội bộ,

đảm bảo giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện.Tuy nhiên ý thức cảnh giác, kiên trì chống chiến tranh phá hoại còn thấp

Nhìn chung trong 10 năm qua(1975-1985), Nam Đàn lâm vào tình trạngkhủng hoảng kinh tế - xã hội, văn hoá xã hội xuất hiện nhiều hiện tợng tiêu cực,quốc phòng - an ninh cha đợc giữ vững điều đó làm ảnh hởng mạnh mẽ đếnniềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nớc Nguyên nhân củatình trạng trên, trớc hết do điều kiện khách quan chi phối, những khó khăn vềthời tiết, về đất đai, ngoài ra còn có nắm và vận dụng đờng lối cha đúng, t duychậm đổi mới, tính năng động sáng tạo còn hạn chế, việc ứng dụng thành tựusinh học vào sản xuất cha nhanh, thiếu tin tởng vào cái mới, cha mạnh dạn tạo

ra cái mới, đội ngũ làm cán bộ từ huyện đến cơ sở còn thiếu kiến thức và nănglực Có thể nói trong thời kỳ 1975 - 1985 là thời kỳ đầy cam go và thử thách củahuyện nói riêng và của tỉnh nói chung Từ thực trạng của 10 năm đó, đòi hỏi

Đảng bộ và chính quyền các cấp ở Nam Đàn phải nhìn thẳng vào sự thật, để

đánh giá đúng những thành tựu và hạn chế của mình, từ đó rút ra những bài họckinh nghiệm và định ra những chính sách kinh tế hợp lý, phù hợp với tiềm năng

và điều kiện trong những giai đoạn tiếp theo

Trang 24

2.2 Giai đoạn 1986 - 1990.

2.2.1 Chủ trơng của Đảng.

Đứng trớc những thay đổi to lớn, toàn diện của tình hình thế giới, cũng nhthay đổi trong quan hệ giữa các nớc do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật, nhất là đứng trớc cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng ởLiên Xô và các nớc chủ nghĩa xã hội khác Do chậm thích nghi với các cuộccách mạng khoa học kỹ thuật, do áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội có khuyếttật ngay từ đầu chậm đợc khắc phục, đòi hỏi Đảng và Nhà nớc ta phải đổi mới.Ngoài ra để khắc phục sai lầm, khuyết điểm, đa đất nớc vợt qua cuộc khủnghoảng đòi hỏi Đảng và Nhà nớc ta phải đổi mới Nh vậy đổi mới là vấn đề có ýnghĩa sống còn đối với nớc ta, đồng thời là vấn đề hợp với xu thế chung của thời

đại Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng cộng sản ViệtNam là cái mốc quan trọng đánh dấu bớc chuyển đất nớc sang thời kỳ mới

Đổi mới đất nớc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, “không phải làthay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mà là làm cho mục tiêu ấy thực hiện có hiệuquả, bằng những quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức, bớc

đi và biện pháp thích hợp” [20;94] Nhằm kế thừa và phát huy những thành quả,những giá trị mà chủ nghĩa xã hội đạt đợc, thay đổi, uốn nắn những quan điểm,nhận thức cũ về chủ nghĩa xã hội, cha đợc xác định đúng đắn, hoặc hiện naykhông còn phù hợp với tình hình mới Nhằm sửa chữa những sai lầm, khuyết

điểm, đồng thời xây dựng những chính sách đổi mới, những giải pháp đúng, để

đa chủ nghĩa xã hội phát triển lên một giai đoạn mới “ Đổi mới toàn diện đồng

bộ từ kinh tế, chính trị đến t tởng, văn hoá Đổi mới kinh tế không thể không đi

đôi với đổi mới chính trị, nhng trọng tâm là đổi mới kinh tế Đổi mới chính trịphải tích cực, nhng vững chắc mang lại kết quả thực tế, không gây mất ổn định

về chính trị, không làm phơng hại đến toàn bộ công cuộc đổi mới” [20;95] Đại hội xác định “nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát” trong 5 năm tr-

ớc mắt (1986-1990), cần tập trung sức ngời, sức của thực hiện bằng đợc nhiệm

vụ, mục tiêu của ba chơng trình kinh tế lớn: Lơng thực-thực phẩm hàng tiêudùng và hàng xuất khẩu [19;48]

Trang 25

Đại hội VI (12/1986) khẳng định: Nớc ta đang ở chặng đờng đầu tiên củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cần ổn định mọi mặt tình hình kinh tế-xãhội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết, cho việc đẩy mạnh công nghiệphoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đờng tiếp theo, thực hiện khẩu hiệu “dân biết,dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Trên cơ sở vận dụng quan điểm của Trung ơng, tỉnh uỷ vào điều kiện cụthể của địa phơng Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nam Đàn lần thứ XIX(9/1986) đã xác định phơng hớng: giải quyết vững chắc vấn đề lơng thực, pháttriển nhanh chóng hàng xuất khẩu, gắn chặt nông, lâm, công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp, gắn chặt sản xuất với chế biến lu thông Phát triển đồng thời cả 3thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, hộ gia đình Đa nông nghiệp tiến theohớng sản xuất chủ nghĩa xã hội Củng cố quốc phòng an ninh vững mạnh, làmtròn sứ mệnh của hệ thống chính trị trong công cuộc đổi mới đất nớc [9;166]

Đảng bộ Nam Đàn đã đề ra các chơng trình phát triển Kinh tế - Xã hội từ 1990

1986 Chơng trình lơng thực 1986 thực phẩm: Phấn đấu đến năm 1990 đạt 4,8 vạntấn lơng thực, tốc độ tăng trởng 6%, bình quân lơng thực trên đầu ngời 340kg/ngời/năm [1;15]

- Chơng trình phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, phấn đấu đếnnăm 1990 đạt giá trị tổng sản lợng 43,2 triệu đồng, tốc độ tăng 12,4 %[1;16]

- Chơng trình xuất khẩu, phấn đấu đến năm 1990 đạt giá trị 7

Rúp-Đôla/ngời [1;17]

- Trong lu thông phân phối, phấn đấu đến năm 1990, doanh số mua vào là166,86 triệu đồng, bán ra 192,4 triệu đồng, mua hàng địa phơng chiếm 52%[1;17]

- Chơng trình tạo vốn tự có và xây dựng huyện: chỉ tiêu tổng thu ngân sáchnăm 1990 là 1145 triệu đồng [1;19]

- Về phát triển dân số, phấn đấu đến năm 1990, hạ tỉ lệ phát triển dân sốxuống còn 1,7% [1;19]

Trang 26

Đồng thời huyện cũng xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, sảnxuất lơng thực là trọng tâm số một nhng sáu nhiệm vụ kinh tế trên là nhiệm vụlãnh đạo chủ yếu của Đảng bộ huyện đến năm 1990 trên tinh thần quán triệtchủ trơng của Đảng bộ tỉnh và quan điểm đổi mới của Đại hội VI.

2.2.2 Những thành tựu và hạn chế trong thời kỳ đầu thực hiện công cuộc đổi mới

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sảnViệt Nam, đã khơi dậy tinh thần, sức mạnh, đồng thời tiếp thêm khí thế cáchmạng cho huyện thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội XIX (9/1986) và Đạihội XX (01/1989) của Đảng bộ huyện

Sau 5 năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, Nam Đàn đã đạt đợcnhiều thành tựu có ý nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thúc đẩy

sự chuyển biến mạnh mẽ, từng bớc đem lại hạnh phúc cho nhân dân

2.2.2.1 Kinh tế.

Trong 5 năm bớc đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986-1990) Nam

Đàn đã vận dụng sáng tạo chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc Cùng vớinhững kinh nghiệm đã tích luỹ đợc, việc áp dụng khoa học công nghệ và những

đổi mới về cơ chế quản lý, đã tạo ra sự chuyển biến toàn diện, trong qúa trìnhphát triển kinh tế nông lâm, nhất là chơng trình lơng thực - thực phẩm Với ph-

ơng châm lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, gắn nông nghiệp với lâmnghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Nam Đàn đã xác định mũi nhọntập trung đầu t vào thủy lợi, phân bón và các loại giống mới thay đổi cơ cấumùa vụ cải tạo đất trồng tuỳ theo từng loại đất, tiếp tục đầu t xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật, đa vụ Hè - Thu lên 4500 ha đạt năng suất 27 tạ/ha, thâm canh vụ

Đông - Xuân đạt 34 tạ/ha[2;1] ứng dụng cách mạng sinh học vào sản xuất vàcác biện pháp hợp lý, đa tổng sản lợng lơng thực năm 1988 đạt 4 vạn tấn, năm

1990 đạt 4,8 vạn tấn, bình quân lơng thực trên đầu ngời 340kg/ngời [2;1] Câycông nghiệp ngắn ngày tăng cả về diện tích, năng suất, sản lợng Bình quân hainăm 1987 - 1988 tăng 53% so với 1984 - 1986 [2;2]

Trang 27

Ngành chăn nuôi: Nam Đàn đã có mức chuyển biến mạnh Tổng đàn trâu

bò tăng 7,6%, tỉ lệ lợn lai kinh tế chiếm 59% [2;2], áp dụng phơng pháp thụ tinhnhân tạo để từng bớc Móng Cái hoá đàn lợn

Trong lâm nghiệp: là huyện đồng bằng Nam Đàn có 6471 ha đất lâmnghiệp, trong đó đất rừng tự nhiên 4992 ha còn lại đất rừng trồng Nam Đàn đãhoàn thành việc giao đất, giao rừng ở 16 hợp tác xã có đồi núi với tổng số diệntích 5895 ha [21;448], phơng thức trồng, trên đỉnh đồi trồng thông, bãi đồi làcác vờn chè, cà phê, chanh Xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để tạo ra nhiềusản phẩm từ kinh tế, vờn đồi

Trong kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải cũng đợc

Đảng bộ huyện quan tâm đúng mức, tổng sản lợng công nghiệp tăng 28,6% (1990)

so với 1986, thủ công nghiệp t nhân tăng 10% [2;5] Đến 1990 Nam Đàn đã có các

xí nghiệp chế biến sản xuất đờng, rợu, bánh kẹo, gạch ngói,… phục vụ sản xuất nôngnghiệp và đời sống nhân dân Năm 1990, công suất điện trên địa bàn huyện là 1 vạn

về cơ sở

Ngành thơng nghiệp: Bớc đầu thích nghi với cơ chế mới, hàng hoá ngàycàng phong phú, việc mua bán thuận lợi hơn trớc, góp phần cải thiện đời sốngvật chất cho nhân dân

Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới, dới sự lãnh đạo của Đảng bộhuyện Nam Đàn, đã giải quyết cơ bản vấn đề lơng thực, đời sống nhân dân nhìnchung đợc cải thiện Nền kinh tế Nông - Lâm - Công nghiệp ngày càng pháttriển Mặc dù đạt đợc nhiều thành tựu nhng nhìn chung Nam Đàn còn nhiều yếukém

Trang 28

Trong bố trí cơ cấu kinh tế ý thức về sản xuất hàng hoá chuyển không

đều, trì trệ trong cơ cấu mùa vụ Phơng thức canh tác và trình độ thâm canh câytrồng còn thấp, một số chỉ tiêu đề ra còn quá cao, chủ quan, nóng vội , tiếp thu

và đổi mới cơ chế khoán chậm chạp, không nhạy bén trong công tác quản lý tài

vụ, vật t, tiền vốn thiếu chặt chẽ

Trong công nghiệp, thủ công nghiệp, cha tạo đợc tính đồng bộ về trangthiết bị, về đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân cótay nghề, trình độ quản lý công nghiệp yếu, năng lực sản xuất, công suất thiết bịkhông đợc khai thác hết, chất lợng sản phẩm thấp, giá thành cao Thiếu năng

động trong việc mở rộng các ngành nghề ở gia đình, t nhân, các chính sách đốivới cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn gò bó cứng nhắc, chakích thích sản xuất phát triển

Thơng nghiệp quốc doanh và tập thể hoạt động yếu, các ngành hàng ít đisát quá trình sản xuất và ngời sản xuất để nắm hàng, chủ yếu là trông chờ vàokết quả sản xuất để ký kết mua, hoạt động dịch vụ cho sản xuất còn hạn chế

Tóm lại qua 5 năm (1986-1990) kinh tế của huyện Nam Đàn tăng tởngcha cao, cha đồng đều, khoảng cách các hộ giàu nghèo còn lớn, sản lợng lơngthực tăng chậm trong khi dân số tăng nhanh Nhìn chung kinh tế còn gặp khókhăn

Đảng viên tham gia phê bình và tự phê bình đạt 90,4%, có 95,8% Đảng viên đủ

t cách [9;181] Qua bầu cử hội đồng nhân dân chất lợng đội ngũ cán bộ dân c

đ-ợc nâng cao hơn, các đoàn thể quần chúng tổ chức sâu rộng đợt sinh hoạt chínhtrị học tập, quán triệt nghị quyết 8B của Ban chấp hành Trung ơng Đảng, thoái

Trang 29

hoá biến chất đợc xử lý nghiêm minh Tuy nhiên t tởng bảo thủ, trì trệ, chủquan sớm thoả mãn theo kiểu sản xuất tự túc, tự cấp chậm đợc khắc phục, ý thứcsản xuất hàng hoá cha đợc khắc phục mạnh mẽ Một bộ phận Đảng viên giảm súttinh thần trách nhiệm, ý thức kỹ thuật lỏng lẻo, xa rời quần chúng, vi phạm nguyêntắc tập trung dân chủ Trong công tác cán bộ còn giản đơn, thiếu cân nhắc nên bốtrí không đúng vị trí Tuy nhiên đại đa số Đảng viên đã trởng thành về mọi mặt,tiếp thu nhanh đờng lối của Đảng, hoàn thành nhiệm vụ đợc nhân dân tin yêu.

Trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng đã giành đợc những thắng lợi quantrọng, cơ bản quản lý và làm chủ đợc địa bàn, gắn chống tiêu cực xã hội với làmtrong sạch nội bộ, an ninh chính trị đợc giữ vững Phong trào quần chúng bảo vệ

an ninh Tổ quốc có sự chuyển biến mạnh mẽ, đã góp phần tích cực trong pháthiện xử lý những hành vi, vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng củacông dân

Song tình hình trật tự an ninh, vẫn là mối quan tâm lo lắng hàng đầu của

Đảng bộ và nhân dân Nam Đàn Hành động gây rối, tranh chấp đất đai, chốngngời thi hành công vụ vẫn còn nhiều Các cơ quan hành pháp còn có nhiềukhuyết điểm, một số tên tội phạm vẫn sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật Cáccơ quan nhà nớc còn vơ vét tiền để làm giàu, gây bất bình trong nhân dân.Ngoài ra ý thức sẵn sàng chiến đấu còn thấp, công tác tổ chức xây dựng lực l-ợng công an, dân quân ở cơ sở cha chặt chẽ

2.2.2.3 Văn hoá, giáo dục, y tế.

Cùng với việc phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng Đảng bộ và chínhquyền các cấp ở Nam Đàn luôn luôn chăm lo phát triển sự nghiệp văn hoá - xãhội, xây dựng nền văn hoá mới, con ngời mới trên quê hơng Bác Hồ

Phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” đợc đẩy mạnh trong các trờng học,nhiều xã đạt danh hiệu “xã giáo dục Cẩm Bình”, nhiều tổ giáo viên nh tổ giáoviên trờng cấp I Nam Phúc, cấp I, II Kim Liên,…đạt danh hiệu tổ lao động xãhội chủ nghĩa [21;452], nhiều thầy cô giáo đạt danh hiệu “giáo viên dạy giỏi”.Những con em Nam Đàn đợc đào tạo tại các trờng phổ thông, bổ túc văn hoá đã

Trang 30

trở thành những công dân tốt, hăng hái tham gia lao động và chiến đấu, gópphần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Việc chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân cũng đợc quantâm, chú ý và đầu t của huyện Bệnh viện huyện và hệ thống trạm xá, các cơ sở

y tế từng bớc đợc nâng cấp về cơ sở vật chất và trang thiết bị Một số chơng trìnhquốc gia nh chơng trình “Dân số - kế hoạch hoá gia đình”, tiêm chủng đã đợc triểnkhai đến tận cơ sở Ngành đợc mở rộng thêm nhiều dịch vụ giải quyết tốt nhu cầuthuốc men cho nhân dân kể cả vùng sâu vùng xa

Công tác văn hoá - văn nghệ đạt đợc nhiều thành tựu, Nam Đàn có 1 rạpchiếu bóng với 500 chỗ ngồi, 2 đội chiếu bóng luân phiên nhau chiếu tại 20 bãi[21;454] Các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục, thể thao đã gắn đợc với cácngày lễ lớn, tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ, sáng tạo và hởng thụ đời sốngvăn hoá tinh thần Phong trào còn phát triển đến vùng sâu, vùng xa, giúp chonhân dân ở vùng này có điều kiện hoà mình vào phong trào chung của toànhuyện

Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, văn hoá, giáo dục, y tế ở Nam Đànvẫn còn nhiều yếu kém, chất lợng văn hoá còn yếu, cơ sở vật chất còn nghèonàn, kém hiệu quả, những điều kiện cơ bản xoay quanh chiến lợc xây dựng conngời mới chậm đợc tạo lập, tỉ lệ phát triển dân số còn quá cao, nhiều cơ sở tỉ lệtăng dân số lên 2,8% [2;7], những tập tục lạc hậu nh mê tín dị đoan, ma chay, c-

ới hỏi, rợu chè, cờ bạc có xu hớng trỗi dậy trong một số vùng, đời sống văn hoácủa nhân dân còn thấp, các đối tợng chính sách xã hội còn gặp khó khăn

2.3 Giai đoạn 1991 - 1995.

2.3.1 Tình hình và nhiệm vụ

Sau 5 năm tiến hành công cuộc đổi mới (1986 - 1990), Nam Đàn cùng cảnớc đã và đang trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trờng, dới sự quản lý và

điều hành của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, Nam Đàn đã tập trung

đẩy mạnh sản xuất công - nông nghiệp, thủ công nghiệp, đồng thời đẩy mạnhcác hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, công tác xây dựng

Đảng càng đợc chú trọng Vì vậy đã tạo ra đợc sự ổn định về kinh tế văn hoá

Trang 31

-xã hội Đời sống nhân dân ngày đợc nâng cao Tuy nhiên tốc độ tăng trởng kinh

tế còn chậm, cha tơng xứng với tiềm năng của vùng Trong tình hình công cuộc

đổi mới ở nớc ta đang tiến triển theo chiều hớng tích cực, thì tình hình thế giớidiễn ra nhiều sự kiện phức tạp Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa lâm vàotình trạng khủng hoảng điều đó đã tác động đến tình hình nớc ta Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII (24-27/6/1991) đã đánh giá việc thực hiện đờng lối

đổi mới của Đại hội VI, đề ra chủ trơng, nhiệm vụ, nhằm kế thừa phát huynhững thành tựu đã đạt đợc, khắc phục những khó khăn hạn chế, ngăn ngừa lệchlạc phát sinh trong quá trình đổi mới Đại hội thông qua “cơng lĩnh xây dựng

đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “chiến lợc ổn định và pháttriển kinh tế - xã hội đến năm 2000” Đại hội khẳng định “kiên trì đa đất nớctiến lên chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đa đất nớc ra khỏikhủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến lên trên con đờng dân giàu, nớc mạnh, xã hộicông bằng, văn minh Đại hội đã đề ra nhiệm vụ, mục tiêu tổng quát của kếhoạch 5 năm (1991 - 1995) là vợt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triểnkinh tế - xã hội, tăng cờng ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xãhội , đa nớc ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay [19;267]

Từ ngày 16 - 17/10/1991 Đại hội đại biểu huỵên Nam Đàn lần thứ XXI

đợc tiến hành Đại hội khẳng định tiếp tục xác định rõ vị trí hàng đầu của mặttrận nông nghiệp, ứng dụng những thành tựu của cách mạng sinh học và khoahọc công nghệ, tập trung giải quyết vững chắc nhu cầu lơng thực, đáp ứng đủnhu cầu hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân, mở rộng lu thông sản phẩmhàng hoá, thúc đẩy nhiều thành phần kinh tế phát triển theo định hớng xã hộichủ nghĩa, mở mang hoạt động thủ công nghiệp Trong nông nghiệp bằng nhiềubiện pháp, hình thức tại hộ gia đình, tổ hợp liên gia đình, tập hợp theo hớng sảnxuất hàng hoá, đẩy mạnh hoạt động văn hoá xã hội, ổn định đời sống nhân dân,tạo việc làm, gắn tăng trởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữ vững an ninh chínhtrị, phát huy dân chủ, xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh Đại hội đề ramục tiêu đến năm 1995, tổng sản lợng lơng thực là 5,2 vạn tấn, bình quân lơngthực đầu ngời là 350kg/ngời, hạ tỉ lệ tăng dân số xuống 1,7% [9;183] Cơ cấu

Trang 32

đầu t cho sản xuất vật chất 50%, văn hoá xã hội 30%, lĩnh vực khác 20% tổngthu ngân sách: 1180 triệu đồng [9;184] Nam Đàn phấn đấu vợt qua khó khănkhủng hoảng kinh tế - xã hội và những diễn biến bất lợi của thiên tai, ổn định và

có bớc tăng trởng đáng kể về kinh tế và tiến bộ xã hội, giữ vững và ổn định anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đẩy lùi tiêu cực, phát huy dân chủ xã hộichủ nghĩa, đổi mới phơng thức, nội dung hoạt động của các tổ chức trong hệthống chính trị, xây dựng Đảng bộ quê hơng Bác vững mạnh, đa phong trào chunghuyện tiến lên vững chắc

Tích cực thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII, nghị quyết Đạihội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứXXI Vợt lên trên những khó khăn, Nam Đàn đã thu đợc những thắng lợi lớnqua 5 năm tiếp tục thực hiện đờng lối đổi mới

2.3.2 Những thành tựu và hạn chế.

Trong thời gian qua mặc dù thế giới có nhiều biến động phức tạp, nhanhchóng Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã gâynên tâm trạng lo lắng, tuy nhiên thế giới cũng xuất hiện nhiều nhân tố thuận lợi,

xu thế hợp tác kinh tế đợc mở rộng, những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổimới đem lại là động lực cổ vũ lớn lao để toàn Đảng, toàn dân ta tin tởng để tiếnlên phía trớc Mặt khác thời tiết những năm qua cơ bản thuận lợi cho phát triểnsản xuất nông nghiệp, quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội XXI chúng ta luôn

đợc sự quan tâm lãnh đạo giúp đỡ về nhiều mặt của tỉnh và Trung ơng, hệ thốngcơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng đợc tăng cờng, Đảng bộ và nhân dân toànhuyện nỗ lực cao, liên tục phấn đấu để dành đợc những thắng lợi to lớn làm cho

bộ mặt quê hơng Bác thay đổi đáng kể và ngày càng khởi sắc đi lên

2.3.2.1 Kinh tế.

Tạo sự tăng trởng đáng kể nhịp độ phát triển kinh tế Nông - Lâm -Tiểuthủ công nghiệp - Dịch vụ - Xây dựng kết cấu vật chất cơ sở hạ tầng Trong 5năm qua đã có một bớc phát triển trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất, bớc đầuchuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần nghị

Trang 33

quyết Trung ơng 5, đa ngành nông nghiệp phát triển tơng đối toàn diện cả vềtrồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và kinh tế hộ gia đình.

Trong trồng trọt bộ mặt đất đai khai thác có hiệu quả Tổng diện tích gieotrồng năm 1995 đạt 23,121 ha tăng 9,7% so với năm 1991 [4;1] Trong 5 năm

1991 - 1995 tổng sản phẩm xã hội hàng năm của huyện Nam Đàn tăng 8,6%[9;201] Tập trung giải quyết nguồn nớc tới cho 90,6 diện tích cây lúa, kết hợpchặt chẽ các yếu tố trong đầu t thâm canh, nhất là bố trí lịch gieo trồng thíchhợp nhờ vậy năng suất đạt 50,4 tạ/ha, tăng 4,2% so với 1991 [4;2] Cây côngnghiệp ngắn ngày tăng khá, nổi bật là ngô lai trồng cả 3 vụ(vụ Xuân, Hè Thu,

vụ Đông), với diện tích tăng gấp 3 lần so với 1991, năng suất bình quân là 30tạ/ha [4;2], sản lợng lạc vỏ từ 2251 tấn năm 1991 lên 3243 tấn năm 1995, câydâu tằm đợc mở rộng nhanh chóng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đa sản lợngkén tằm xuất khẩu từ 5 tấn (1991) lên 60 tấn (1995) [4;2] Năm 1995 tổng sản l-ợng lơng thực đạt 60.000 tấn tăng 30% so với 1991, bình quân lơng thực theo

đầu ngời 382kg/ ngời tăng 28% so với 1991 [4;2]

Ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển cả về số lợng và chất lợng, đa dạnghoá các loại con nuôi, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã đợc ứng dụng trong chăn nuôi,

nh giống lợn lai, Bò lai Sin, tằm trắng(Trung Quốc) Tổng đàn bò tăng 25%, đànlợn tăng 21%, đàn dê tăng 4 lần [4;3], đa tổng giá trị ngành chăn nuôi lên19,6% trong tổng giá trị nông nghiệp

Trong lâm nghiệp, thực hiện nghị quyết XXI của Đảng bộ huyện, đã có

sự tiến bộ rõ nét, trong 5 năm đã trồng mới 2170 ha rừng và 6 triệu cây phân tán[9;201], công tác bảo vệ, chăm sóc phòng chống cháy rừng đợc quan tâm thờngxuyên, nhất là sau khi thực hiện công tác giao đất, giao rừng cho hộ quản lý Đếnnay đã tiến hành giao 200 ha rừng cho 2174 hộ quản lý chăm sóc [4;3]

Kinh tế vờn đang trở thành mũi nhọn trong phát triển kinh tế hộ, trên6.000 vờn tạp đợc cải tạo để trồng tập đoàn cây ăn quả Toàn huyện đã trồng 1,8vạn gốc hồng, 1,5 vạn gốc cam, 100 gốc vải [4;3], các sờn đồi, sờn núi ở ĐạiHuệ, Thiên Nhẫn, Đụn Sơn…giờ đây trở thành các vờn chè xanh, vờn cây ănquả Bình quân mỗi năm thu nhập từ kinh tế vờn đất 20 tỷ đồng [21;459]

Ngày đăng: 20/12/2013, 22:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8] Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nam Đàn, Lịch sử Đảng bộ huyện NamĐàn tập 1, 1930 -1954 Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Nam"Đàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
[9] Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nam Đàn: Lịch sử Đảng bộ huyện NamĐàn tập 2, 1954-2000, Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Nam"Đàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
[10] Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh: Lịch sử Nghệ Tĩnh (Tập 1), Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nhàxuất bản Nghệ Tĩnh 1984
[12] Ban nghiên cứu lịch sử Đảng (1982), Những ngời cộng sản trên quê hơng Nghệ Tĩnh, Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngời cộng sản trên quêhơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh
Năm: 1982
[13] Ban nghiên cứu lịch sử Đảng (1977), Bác Hồ với quê hơng Nghệ Tĩnh, Nhà xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với quê hơng NghệTĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng
Năm: 1977
[14] Cục thuế Nghệ An, Tình hình kinh tế-xã hội Nghệ An trong giaiđoạn 1991-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế-xã hội Nghệ An trong giai
[15] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI
Nhà XB: NXB Sự thật 1987
[16] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Nhà XB: NXB Sự thật 1991
[17] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia 1996
[18] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia 2001
[19] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đai hội Đảng thời kỳ đổi mới(1986-2005), NXB Chính trị Quốc gia 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đai hội Đảng thời kỳ đổimới(1986-2005)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia 2005
[20] Trần Bá Đệ (1998), Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: NXB ĐHQGHà Nội
Năm: 1998
[21] Ninh Viết Giao, Nam Đàn quê hơng chủ tịch Hồ Chí Minh (2005), NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn quê hơng chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ninh Viết Giao, Nam Đàn quê hơng chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Tổng hợp TPHCM
Năm: 2005
[22] Lê Mộng Hán(Chủ biên) (1999), Đại Cơng lịch sử Việt Nam (T3) NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đại Cơng lịch sử Việt Nam
Tác giả: Lê Mộng Hán(Chủ biên)
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
Năm: 1999
[23] Bùi Dơng Lịch (1993), Nghệ An ký, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An ký
Tác giả: Bùi Dơng Lịch
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1993
[24] Lê Văn Lý (1999), Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của đời sông xã hội nớc ta, NXB CTQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vựctrọng yếu của đời sông xã hội nớc ta
Tác giả: Lê Văn Lý
Nhà XB: NXB CTQGHN
Năm: 1999
[25] Lịch sử Đảng bộ Nghệ An Tập 1 1930-1954. NXB CTQGHN, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An
Nhà XB: NXB CTQGHN
[26] Lịch sử Đảng bộ Nghệ An Tập2. NXB Nghệ An, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
[27] Phạm Xuân Nam, Mấy nét tổng quan về quá trình đổi mới dới sự lãnh đạo của Đảng CS VN (1986-1996). Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 1/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét tổng quan về quá trình đổi mới dới sựlãnh đạo của Đảng CS VN (1986-1996)
[28] Nhiều tác giả: Nam Đàn xa và nay. NXB VHTT 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn xa và nay
Nhà XB: NXB VHTT 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w