1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công ty apatit việt nam trong thời kì đổi mới 1986 – 2015 (2017)

137 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, khó khăn, thách thức sẽ cònrất lớn, việc khai thác, chế biến hợp lý; sử dụng tổng hợp, tiết kiệm tàinguyên khoáng sản, hình thành công nghệ ít

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ

======

VƯƠNG THỊ HUYỀN TRANG

CÔNG TY APATIT VIỆT NAM TRONG

THỜI KÌ ĐỔI MỚI 1986 – 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS BÙI NGỌC THẠCH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cô chú cán bộ làm việc tại Phòngban của Công ty Apatit Việt Nam, đã giúp đỡ em tìm tài liệu trong thời giannghiên cứu.

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, các thầy côgiáo trong khoa Lịch Sử, và tập thể lớp K39A – Sư phạm Lịch Sử đã độngviên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Do thời gian có hạn cũng như sự hạn chế của bản thân, khóa luận khôngtránh khỏi những thiếu sót Kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến

Hà Nội, ngày tháng năm

Tác giả

Vương Thị Huyền Trang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em dưới sựhướng dẫn của thầy giáo, Tiến sĩ Bùi Ngọc Thạch

Em xin cam đoan những kết quả nghiên cứu của khóa luận chưa từng được công bố ở bất kỳ một khóa luận nào Nếu sai em xin hoàn toàn chịutrách nhiệm

Hà Nội, Ngày tháng năm

Tác giả

Vương Thị Huyền Trang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: SỰ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY APATIT VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1986 7

1.1 Quá trình thành lập Công ty Apatit Việt Nam trước năm 1986 7

1.1.1 Điều kiện hình thành khu vực mỏ Apatit tại Lào Cai 7

1.1.2 Quá trình phát hiện Mỏ Apatit Lào Cai năm 1924 15

1.2 Hoạt động của Công ty Apatit Việt Nam trước năm 1986 18

1.2.1 Thời kì trước năm 1975 18

1.2.2 Thời kì từ năm 1976 đến năm 1986 28

Chương 2: HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY APATIT VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 – 2015) 33

2.1 Hoạt động đổi mới về quy mô, phát triển sản xuất của Công ty Apatit Việt Nam 33

2.1.1 Mở rộng diện tích của công ty 33

2.1.2 Tuyển dụng, xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân 35

2.2 Hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của Công ty Apatit Việt Nam37 2.2.1 Xây dựng đường giao thông, đường vận chuyển 37

2.2.2 Xây dựng hệ thống điện, nước 39

2.3 Hoạt động trang bị kĩ thuật, máy móc, công nghệ mới vào sản xuất của Công ty Apatit Việt Nam 41

2.3.1 Trang bị máy móc, thiết bị hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ 41

2.3.2 Xây dựng và nâng cấp các công trình phúc lợi 43

2.4 Thành tựu và hạn chế của Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổi mới (1986 – 2015) 46

2.4.1 Những thành tựu 46

2.4.2 Những hạn chế 49

Trang 5

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY APATIT VIỆT NAMTRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 - 2015) 543.1 Đặc điểm của Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổi mới (1986 –2015) 543.1.1 Công ty Apatit Việt Nam ra đời sớm, vận hành theo cơ chế thị trường một cách hiệu quả, đảm bảo đầy đủ nguồn quặng cho các nhà máy 5563.1.2 Sản phẩm của Công ty Apatit Việt Nam có giá trị đặc biệt, cung cấpcho ngành công nghiệp hóa chất để chế biến phân bón ở Việt Nam 5863.1.3 Công ty Apatit Việt Nam là đơn vị tiêu biểu về đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, chăm lo đời sống cán bộ, công nhân viên 5483.2 Vai trò của Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổi mới (1986 – 2015) 6113.2.1 Cung cấp nguyên vật liệu cho ngành công nghiệp hóa chất 6113.2.2 Giải quyết việc làm cho hàng nghìn người lao động địa phương 633.2.3 Thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho địa phương nói

riêng và đất nước nói chung 65KẾT LUẬN 70TÀI LIỆU THAM KHẢO 73PHỤ LỤC

Trang 6

Trong thời kì đổi mới, cùng hội nhập vào quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, Công ty ApatitViệt Nam cũng có nhiều chính sách phát triển đúng đắn, phù hợp với bối cảnh

xã hội Công ty Apatit Việt Nam đồng thời phải thực hiện 2 phần việc quantrọng là khai thác quặng và triển khai xây dựng Nhà máy Tuyển Apatit Trongviệc xây dựng lại Nhà máy Tuyển apatit, Ban Quản lý Công trình Mỏ đã gặprất nhiều khó khăn do thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiết bị không đồng bộ,v.v Nhất là từ khi Liên Xô (cũ) tan rã, chuyên gia Liên Xô về nước, quátrình xây dựng Nhà máy Tuyển Apatit tưởng như phải dừng lại dang dở giữa

Trang 7

chừng Tuy nhiên, với quyết tâm rất cao và được sự hỗ trợ rất mạnh mẽ củaChính phủ và Tổng cục Hóa chất, Công ty Apatit Lào Cai đã xây dựng thànhcông và đưa Dây chuyền số 1 của Nhà máy Tuyển Apatit, công suất 400nghìn tấn/ năm, vào hoạt động tại Tằng Loỏng (Lào Cai) vào ngày28/12/1994 Nhà máy Tuyển Apatit đi vào hoạt động đã sử dụng lượng dư

32%) phục vụ sản xuất phân supephotphat Liên tục từ năm 2000 đến nay,Công ty đã có nhiều cố gắng đáp ứng đủ nhu cầu quặng apatit làm nguyênliệu cho sản xuất phân bón, đảm bảo có tăng trưởng và lợi nhuận, đa dạng hóasản phẩm và đảm bảo đời sống con người

Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, khó khăn, thách thức sẽ cònrất lớn, việc khai thác, chế biến hợp lý; sử dụng tổng hợp, tiết kiệm tàinguyên khoáng sản, hình thành công nghệ ít hoặc không phế thải nhằm bảo vệtài nguyên, môi trường và con người, nhằm hướng tới sự phát triển bền vữngkinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai nói riêng và Việt Nam nói chung là những vấn

đề cấp thiết cần phải tập trung đầu tư đối với Công ty Apatit Việt Nam Việcnghiên cứu về Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổi mới (1986 – 2015)

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc:

- Về lý luận, làm sáng tỏ đường lối về công nghiệp hóa, hiện đại hóa,mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, nền kinh tế thị trường hiênnay

- Về thực tiễn, nêu rõ sự ra đời, hình thành và phát triển của Công tyApatit, đặc biệt là trình bày được hoạt động của Công ty trong thời kỳ đổimới

Mỏ Apatit Lào Cai cũng như Công ty Apatit Việt Nam đã thu hútđược nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Nhiều công trình khoa học đãđược công bố, tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên

Trang 8

cứu một cách đầy đủ có hệ thống về “Công ty Apatit Việt Nam trong thời kìđổi mới 1986 - 2015”.

Chính vì vậy, em quyết định lựa chọn “Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổi mới 1986 – 2015” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối với đề tài “Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổi mới 1986 –

2015”, các cơ quan nghiên cứu phần lớn về công nghiệp hóa chất và phân

bón, về quặng Apatit có đề cập hoạt động chủ yếu của Công ty Theo hướngnày, chiếm nhiều nhất là các bản Báo cáo của Công ty, công trình đi sâunghiên cứu Apatit của các tác giả như Bùi Văn Việt, Đinh Xuân Lâm, Lê VănYên, Đàm Văn Thọ Trong các công trình đó, hoạt động của Công ty ApatitViệt Nam chỉ được nêu một cách sơ giản, không được giải thích gì thêm

Các bản Báo cáo về hoạt động của Công ty qua các năm, Văn kiện đại

hội của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1987 cũng đã đưa số liệu, sự kiện quan

trọng của Công ty Apatit Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Trong cuốn Hồ Chí

Minh toàn tập, tập 9, 12 xuất bản năm 1996 có đề cập đến Công ty Apatit

Việt Nam, trong đó cho thấy chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việcphát triển ngành công nghiệp hóa chất, phát triển khai thác và sản xuất quặngApatit

Năm 1987, tác giả Lê Thanh Sơn (Đại học mỏ địa chất) cũng đã đề cập

đến sự hình thành Mỏ Apatit Lào Cai trong đề tài nghiên cứu Đặc điểm điều

kiện địa chất thành tạo mỏ Apatit Lào Cai, đánh giá triển vọng, phương hướng tìm kiếm thăm dò, trong đó yếu tố điều kiện hình thành Mỏ Apatit

được trình bày rõ ràng, chi tiết

Năm 2000, tác giả Nguyễn Văn Long, nguyên Giám đốc Mỏ Apatit

Lào Cai, đã viết cuốn Hồi ký của đồng chí Nguyễn Văn Long, ông đã tường

thuật lại quá trình hoạt động của Mỏ Apatit Lào Cai dưới thời Pháp thuộc

Trang 9

Năm 2010, các tác giả Đinh Xuân Lâm, Lê Văn Yên, Đàm Văn Thọ,

đã nghiên cứu và cho ra đời tác phẩm Apatit Việt Nam 55 năm xây dựng và

phát triển (1955 - 2010), nhà xuất bản Công Thương, Hà Nội Các tác giả đã

mô tả một cách xuyên suốt, chân thực quá trình phát hiện Mỏ Apatit, thànhlập Mỏ và phát triển thành Công ty Apatit Việt Nam lớn mạnh như ngày hômnay Đồng thời, tác giả trình bày cụ thể hoạt động, số liệu chính xác, thànhtựu và hạn chế của Công ty Apatit Việt Nam trong tác phẩm trong thời kỳ đổimới (1986 – 2015)

Nam 2012, tác giả Nguyễn Thị Kim Huệ đã nghiên cứu đề tài Đánh

giá hiện trạng môi trường từ hoạt động khai thác và vận chuyển quặng của nhà máy Tuyển Tằng Loỏng (Luận án địa lý - địa chất) Nội dung của đề tài

này đề cập đến điều kiện hình thành của Mỏ Apatit Lào Cai và cấu tạo quặngApatit Lào Cai

Nhìn chung, tất cả các công trình nói trên đã quan tâm, nghiên cứu vềCông ty Apatit Việt Nam, đề cập đến nhiều lĩnh vực Tuy vậy, cho đến nayvẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về “Công ty Apatit Việt Namtrong thời kì đổi mới 1986 – 2015” Do đó việc nghiên cứu về “Công tyApatit Việt Nam trong thời kì đổi mới 1986 – 2015” là rất cần thiết

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Công ty Apatit Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Toàn bộ địa bàn khu vực Công ty ApatitViệt Nam ở tỉnh Lào Cai

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 1986 – 2015

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

Làm rõ hoạt động, thành tựu hạn chế và rút ra đặc điểm của Công tyApatit Việt Nam trong thời kì đổi mới (1986 – 2015).

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày quá trình hình thành, hoạt động của Công ty Apatit ViệtNam trong thời kì đổi mới (1986 – 2015)

- Nêu rõ hoạt động của Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổi mới(1986 – 2015)

- Rút ra đặc điểm và vai trò của Công ty Apatit Việt Nam trong thời kìđổi mới (1986 – 2015)

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

- Nguồn tài liệu văn kiện Đảng và Hồ Chí Minh

- Nguồn tài liệu thông sử: Lịch sử Việt Nam

- Nguồn tài liệu lịch sử địa phương: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lào Cai

- Nguồn tài liệu của ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam

- Nguồn tài liệu do Công ty Apatit Việt Nam cung cấp: Các Báo cáocủa Công ty Apatit Việt Nam phản ánh về mọi mặt hoạt động của Công ty

- Nguồn tài liệu chuyên sâu: Các công trình đã công bố, các luạn ántiến sĩ của một số tác giả

- Nguồn tài liệu Hồi kí của nguyên lãnh đạo Công ty Apatit Việt Nam

- Nguồn tài liệu Internet

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh

- Kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic, trong đóphương pháp lịch sử là chủ yếu

Trang 11

- Đề tài nghiên cứu khoa học dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp thuthập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp.

- Sử dụng phương pháp điều tra thực địa trong chừng mực và khảo sátdiền dã trong khả năng cho phép

7 Bố cục của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu khoa học gồm 03chương:

Chương 1: Sự thành lập và hoạt động của Công ty Apatit Việt Nam trước năm1986

Chương 2: Hoạt động của Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổi mới(1986 – 2015)

Chương 3: Đặc điểm và vai trò của Công ty Apatit Việt Nam trong thời kì đổimới (1986 – 2015)

Trang 12

Chương 1

SỰ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY APATIT

VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 1986

1.1 Quá trình thành lập Công ty Apatit Việt Nam trước năm 1986

1.1.1 Điều kiện hình thành khu vực Mỏ Apatit tại Lào Cai

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Mỏ Apatit Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai, mỏ nằm giữa hữu ngạn sôngHồng, ở phía Tây Bắc nước ta, cách Hà Nội 300 km Khoáng sản Apatit có độdài hơn 100 km kéo dài từ Lũng Pô - Bát Xát đến Bảo Hà - Bảo Yên, chiềurộng thay đổi từ 1÷4 km Khoáng sản Apatit là tập hợp các lộ đá Apatit đãbiến chất của điệp Cốc San, phân bố hầu như liên tục dọc theo bờ hữu ngạnsông Hồng

Khoáng sản Apatit được chia làm 3 khu vực:

- Khu trung tâm: Bát Xát- Ngò Bo, hiện đang khai thác

- Khu Ngò Bo- Bảo Hà

- Khu Bát Xát- Lũng Pô

Khu trung tâm là nơi tập trung khai thác chính trong suốt thời gian qua

và sắp tới Khoáng sản Apatit là khoáng sản điển hình về tính phân cách theođiều kiện khai thác Mỏ Apatit nằm ở khu vực chia cắt bởi nhiều con suối, cónhiều núi và thung lũng Độ cao dao động từ 100 – 600m [19,tr.10]

b Địa hình, địa chất

Địa hình khu mỏ khá phức tạp, gồm những dải đồi núi liên tiếp kéodài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, thấp dần về phía Tây Nam Khu tậptrung có địa hình nhô cao và thấp dần về phía hai đầu, chia làm 3 khu vực địahình:

Trang 13

- Khu vực núi cao trên 450m Núi có sườn dốc từ 40 – 600, đỉnh hơinhọn, giữa các dãy núi là các hẻm sâu, bờ gần dốc đứng, chia cắt mạnh, địahình hiểm trở.

- Khu vực trung bình từ 200 - 450m Kéo dài theo vùng trung tâm mỏ

Giữa các dãy núi là thung lũng, tạo nên các cánh ruộng

Vỉa quặng nằm song song với sông Hồng và có nhiều suối cắt quaphân bổ tương đối đều Các suối lớn như Đum, Đường, Đông Hồ…phần lớnbắt nguồn từ dãy Phan Xi Păng chảy qua thân khoáng sàng ra sông Hồngtheo hướng Đông Bắc Với đặc điểm địa hình chia cắt như trên sẽ gây nhiềukhó khăn cho việc mở đường giao thông và bố trí các công trình trên bề mặt

+ Quặng 1: Là quặng chứa các Apatit đơn khoáng và Apatit chứa

trên mức phong hóa

+ Quặng 2: Là quặng Apatit domolit thạch anh canxit, quặng cứng có

+ Quặng 3: Là quặng Apatit thạch anh mutcovit, quặng mềm hoặc nửacứng có màu xám, nâu hay nâu nhạt Quặng 3 nằm trên mức phong hóa, tầng

+ Quặng 4: Là quặng Apatit domolit thạch anh và Apatit thạch anhmutcovit Quặng nửa cứng hoặc bở rời, màu xám nâu, nâu nhạt hoặc vàng nhạt

Điệp Kốc San gồm các đá cacbonat, thạch anh biến chất ở các mức độ

Trang 14

Phong hóa hóa học: Nguyên nhân chủ yếu tạo ra ranh giới các loại quặng vàphân bố quặng Quá trình rửa lũa cơ học do nước thẩm thấu, gió, rễ thực vật các đá gần mặt đất bị phong hóa, chiều sâu chủ yếu từ 50 - 80m, sâu nhất là110m Tùy theo điều kiện địa hình, những nơi có địa hình cao và bị chia cắtthì lớp phong hóa dày và ngược lại.

c Khí tượng, thủy văn

Vùng mỏ có khí hậu lục địa, gió mùa chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa khôhanh và mùa mưa Mùa khô hanh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Mùa mưa

từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm

Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng và trong ngày khá lớn, mùađông thường rất lạnh, từ 8- 20°C, có khi xuống đến 1°C hoặc 2°C Mùa mưachịu ảnh hưởng khắc nghiệt của thời tiết Lượng mưa và tốc độ gió đặc biệtảnh hưởng đến quá trình phục hồi môi trường do có liên quan đến mức độ xóimòn và rửa trôi của lớp đất trên bề mặt

Vùng mỏ ít có gió bão, thỉnh thoảng có gió lốc xoáy tốc độ khá lớn cóthể làm đổ cây, tốc mái nhà cấp 4 Gió có hướng Đông Bắc - Tây Nam Tốc

độ gió lớn nhất trong năm 20m/s “Độ ẩm không khí trung bình năm dao động

từ 82 - 89%, ở các vùng núi có nhiều cây rừng, mưa nhiều thì độ ẩm cao hơn

Độ ẩm cao nhất tại trạm TP Lào Cai đạt gần 85 % Tổng lượng bốc hơi nướctrung bình nhiều năm 1980 - 2010 dao động trong khoảng 500 - 900mm (lượng bốc hơi lớn nhất vào tháng V, VI và nhỏ nhất vào tháng I, II)”[19,tr.13]

Số giờ nắng trung bình nhiều năm ở tỉnh Lào Cai đạt khoảng 1500giờ Thời kì có số giờ nắng nhiều nhất thường tập trung vào tháng V đếntháng IX Tháng có số giờ nắng lớn nhất quang trắc được là tháng VIII, tạitrạm Lào Cai là 165,5 giờ

Trang 15

Nước cung cấp cho vùng mỏ chủ yếu là ngòi Đường, ngòi Bo, ngòiĐông Hồ cùng bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc huyện Sa Pa, chảy qua huyệnBát Xát và thành phố Lào Cai rồi đổ ra sông Hồng Ngòi Đường rộng từ 10 -50m, sâu từ 0,5 - 2m, lưu lượng lớn nhất thường xuất hiện vào mùa mưa vàsau những cơn mưa lưu lượng tổng cộng 0,33 m³/s [19, tr.16].

d Hệ thống giao thông vận tải

Lào Cai có hệ thống giao thông tương đối phát triển về cả đường bộ,đường sắt và đường thủy Trên địa bàn có 5 tuyến quốc lộ đi qua với tổngchiều dài hơn 400km Vùng mỏ có hệ thống giao thông vận tải chủ yếu làđường ô tô, mạng lưới đường ô tô nội bộ trong mỏ nối với các khai trường vớithành phố và nhà máy tuyển, ga quặng

Đường sắt quốc gia khổ 1000mm dài gần 100km, có từ hơn 100 nămnay Tuyến đường sắt được kéo dài từ Hà Nội đến Lào Cai dài gần 300km

“Vùng mỏ có tuyến đường sắt công nghệ dài gần 50km chuyên chở quặng từ

ga 2, ga 3 và ga Mỏ Cóc đi nhà máy tuyển Tằng Loỏng” [17, tr.26]

Đường thủy có sông Hồng, sông Chảy nhưng chủ yếu là vận chuyểnlâm sản do có nhiều thác ghềnh Nhưng đó là tiềm năng lớn cho sau này nếu

mỏ Apatit có nhu cầu tăng vận tải

1.1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội

a Kinh tế

Sản xuất công nghiệp phát triển bước đầu khai thác có hiệu quả nhữngtiềm năng, lợi thế về khai thác chế biến khoáng sản, đầu tư phát triển thủyđiện, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản; đã tạo được cơ sởquan trọng cho bước phát triển đột phá trong giai đoạn tiếp theo Nhiều dự ánkhai thác và chế biến sâu khoáng sản đã đi vào hoạt động như: phân bón, hóachất, apatit, đồng “Tiềm năng về thủy điện được quan tâm đầu tư khai thác,một số dự án đã đi vào hoạt động với công suất trên 100MW Sản xuất công

Trang 16

nghiệp và tiểu - thủ công nghiệp đang đà phát triển mạnh, giá trị sản xuất đạt2.020 tỷ đồng, bình quân hàng năm tăng 25,7%, cao hơn giai đoạn trước11,8% và tăng 3 lần so với năm 2005” [2, tr.51].

Giá trị sản xuất một số ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, có tốc

độ phát triển cao so với giai đoạn trước gồm: công nghiệp khai thác chế biếnkhoáng sản tăng 1,7 lần, chiếm 50,8% tổng giá trị toàn ngành; công nghiệpchế biến nông lâm sản tăng 1,6 lần, chiếm 17,9%; công nghiệp sản xuất vậtliệu xây dựng tăng 3,1 lần, chiếm 13,7%; đặc biệt là ngành cơ khí, điện nướctăng 16 lần, chiếm 14,7% [10, tr.12-13]

Cơ sở sản xuất tiểu - thủ công nghiệp trên địa bàn tăng mạnh Quy môsản xuất và chủng loại sản phẩm, chất lượng được cải thiện, một số sản phẩm

đã xây dựng được thương hiệu và đứng vững trên thị trường Ngoài các sảnphẩm truyền thống tiêu biểu như: thổ cẩm, rượu đặc sản, đồ rèn đúc đã cóthêm nhiều sản phẩm mới; chạm khắc bạc, tranh đá quý, đồ sừng, gỗ mỹnghệ đã tạo ra việc làm cho trên 18.500 lao động

Vốn đầu tư nhà nước được tập trung cho công trình, dự án trọng điểm,chương trình mục tiêu quốc gia, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt làkết cấu hạ tầng vùng cao, vùng nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn: Đã phốihợp chặt chẽ với bộ, ngành trung ương hoàn thành nâng cấp quốc lộ 70, quốc

lộ 4D, quốc lộ 4 nối Hà Giang - Lào Cai, triển khai xây dựng đường cao tốcNội Bài - Lào Cai, lập quy hoạch sân bay Lào Cai

+ Ngành nông nghiệp có bước phát triển theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa, chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sảnxuất vào đời sống Cây nông nghiệp chủ yếu là lúa, ngô, sắn Diện tích lúa29.678 ha với sản lượng 126.366 tấn/ năm Diện tích cây lương thực có hạt60.767 ha - sản lượng 228.000 tấn

Trang 17

Ngoài các cây lương thực, địa phương còn chú trọng đến việc đẩymạnh phát triển trồng cây công nghiệp hàng năm như: Bông, đay, mía,thuốc lá với tổng diện tích 7.562 ha; và cây công nghiệp lâu năm như:Chè, cà phê, cao su, hồ tiêu

Chăn nuôi đại gia súc phát triển theo hướng hàng hóa, đàn trâu bìnhquân hàng năm tăng 5,57 %, đàn bò 6,18 %, đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật trongchăn nuôi và bước đầu hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, theo hìnhthức trang trại, phương thức công nghiệp, sử dụng giống tốt, đảm bảo an toàndịch bệnh, do vậy kết quả chăn nuôi tăng khá Giá trị sản xuất bình quân trên

11 % / năm [10, tr.30]

+ Ngành lâm nghiệp: đã chuyển hướng mạnh từ lâm nghiệp nhà nước

thuần túy sang lâm nghiệp xã hội có sự tham gia của nhiều thành phần kinhtế; trồng rừng phòng hộ và rừng kinh tế được tích cực triển khai và đạt nhiềukết quả: “Tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh trồng mới 4.774 ha rừng phòng

hộ, đạt 119,4% so với kế hoạch; trồng 24.330 ha rừng kinh tế, đạt 152% Độche phủ rừng tăng từ 45% năm 2005 lên 49,5% năm 2010, vượt 1,5% so với

kế hoạch; giá trị sản xuất trên một ha rừng năm 2010 ước đạt trên 18 triệuđồng, gấp 1,5 lần so với năm 2005” [10, tr.33]

+ Ngành thủy sản: phát triển mạnh, đã bước đầu khai thác có hiệu quả

những ưu thế về mặt nước, khí hậu để nuôi trồng đa dạng; chú trọng ứng dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là trong khâu sản xuất giống nên bước đầu chủđộng cung cấp giống tốt cho nuôi trồng thủy sản trong tỉnh; nhiều mô hìnhgiống mới hiệu quả cao như cá nước lạnh; diện tích nuôi thâm canh quy môngày càng lớn, sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng nhanh Giá trị sản xuấtbình quân trên 1 ha nuôi trồng thủy sản từ 18,1 triệu/ha năm 2005, lên 53,3triệu/ha

Trang 18

Thương mại phát triển mạnh đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của nhândân trên địa bàn; đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa Đã thu hút nhiều thànhphần kinh tế đầu tư kinh doanh với hơn 8.600 cửa hàng kinh doanh thươngmại dịch vụ Hệ thống chợ, cửa hàng thương nghiệp, vật tư nông nghiệp đượcquan tâm phát triển điến các trung tâm cụm xã, các khu vực vùng sâu, vùngxa đã góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất hàng hóa, đáp ứng các nhu cầuphân phối hàng hóa thiết yếu, và tiêu thụ nông sản cho nông dân “Tổng mứcluân chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ đạt trên 5.500 tỷ, tăng gấp3,6 lần so với năm 2005, vượt 83% mục tiêu so với kế hoạch; tốc độ bìnhquân tăng 29,6%/năm, cao hơn giai đoạn trước 6,5%” [17, tr.20].

Dịch vụ vận tải hành khách và hàng hóa tiếp tục phát triển, chất lượngdịch vụ vận tải được nâng lên, cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao lưu hànghóa va đi lại của nhân dân Bưu chính viến thông phát triển nhanh, mạng lướiđược mở rộng, chất lượng dịch vụ liên tục được cải thiện

Lào Cai sở hữu tài nguyên du lịch và các giá trị nhân văn quý giá bậcnhất của vùng Trung du miền núi phía bắc và cả nước Khu du lịch nghỉ mát

Sa Pa - một trong 21 trọng điểm du lịch của Việt Nam Dãy Hoàng Liên Sơnvới đỉnh núi Phan Xi Păng - nóc nhà của Việt Nam và khu bảo tồn thiên nhiênquốc gia Hoàng Liên rất hấp dẫn đối với cả các nhà nghiên cứu khoa học vàkhách du lịch Ngoài ra Lào Cai còn có nhiều địa danh lịch sử như đềnThượng, đền Bảo Hà, kiến trúc nhà Hoàng A Tưởng , hang động tự nhiên vàcác vùng sinh thái với các đặc sản nông, lâm sản như mận Bắc Hà, cá Hồi( Phần Lan), cá Tầm ( Nga) Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai cũng là một trongnhững lợi thế của tỉnh trong việc kết hợp phát triển du lịch với thương mại,tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế [1, tr.7]

b Xã hội

Trang 19

Tằng Loỏng là một thị trấn công nghiệp của huyện Bảo Thắng – tỉnhLào Cai “Theo số liệu thống kê năm 2010 toàn thị trấn có 4.932 nhân khẩuvới 1.328 hộ, qui mô hộ là 3,7 người/hộ Có 2 dân tộc anh em cùng chungsống trong đó có dân tộc Dao, dân tộc Kinh là chủ yếu chiếm 78,81% tổngdân số, có tổng diện tích tự nhiên 3.355,00ha chiếm 4,91% tổng diện tích tựnhiên của huyện” [19, tr.19] Phía Bắc giáp xã Xuân Giao, phía Đông giáp xãSơn Hà, xã Phú Nhuận, phía Nam giáp xã Phú Trấn có 16 tổ dân phố, thônbản, việc phân bố dân cư không đồng đều, phần lớn các khu đông dân cư nằmven đường tỉnh lộ 151 và đường giao thông liên thôn, liên xã Mật độ dân cưtập trung nhiều nhất tại khu vực trung tâm thị trấn (khu tổ dân phố 1, 2, 3, 4)đây là nơi điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xãhội, còn lại hình thái dân cư sinh sống nhỏ lẻ ở các thôn, bản.

Với các chương trình, dự án của nhà nước như dự án quy hoạch cụmcông nghiệp, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án định canh định cư…đãgắn việc sắp xếp bố trí ổn định dân cư với đất đai sản xuất và xây dựng cơ sở

hạ tầng cần thiết ở khu vực đô thị Thị trấn có 8 km đường tỉnh lộ 151 chạyqua và 30km đường liên thôn, liên xã và 3 cầu các loại, có hệ thống đường sắtphục vụ cho chuyên chở hàng hóa của cụm công nghiệp Hệ thống thủy lợitừng bước được kiên cố hóa với 6 công trình tưới tiêu cho 54,7ha diện tích đấtnông nghiệp [29]

Trong những năm gần đây được sự quan tâm của tỉnh, huyện đầu tưnâng cấp trường, lớp nên công tác giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực vàhoạt động ngày càng có hiệu quả, lớp học được đầu tư xây dựng, nâng cấp tusửa, tạo cảnh quan trường học và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực nhằmphục vụ tốt cho công tác dạy và học Trong năm 2010 – 2011 thị trấn đã huyđộng trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% Hiện tại thị trấn có phòng khám đa khoa ,

có 4 giường bệnh Số cán bộ y tế toàn thị trấn có 21 người, trong đó có 1 bác

Trang 20

sỹ, 1 y sỹ, 1 y tá,1 dược tá và 16 cán bộ y tế cơ sở Trong những năm tới cầnđầu tư nâng cấp, củng cố và xây dựng khang trang trung tâm y tế của thị trấn

và tiêu chuẩn hóa đội ngũ y tế, nhằm chăm sóc sức khỏe của người dântốt hơn [27]

Trong những năm tới cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thịhóa, việc phát triển kinh tế xã hội sẽ gây áp lực không nhỏ đến môi trườngnói chung, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề bức xúc trong việc sử dụng đất củathị trấn Tất cả các nghành kinh tế xã hội đều có nhu cầu về đất, đặc biệt việcxây dựng các nhà máy gây áp lực lớn về diện tích đất, cũng như về vị trí mộtcách gay gắt trong khi quỹ đất ngày càng hẹp Vì vậy, việc bố trí thích hợp cả

về quy mô và vị trí sao cho có hiệu quả cao cần được xem xét một cáchnghiêm túc, khoa học đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cảhiện tại và tương lai đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái, phát triểnbền vững

1.1.2 Quá trình phát hiện Mỏ Apatit Lào Cai năm 1924

Việc phát hiện mỏ Apatit Lào Cai là một sự kiện ngẫu nhiên, khôngphải do các kỹ sư địa chất, các cán bộ chuyên môn của chính quyền Phápthực hiện, mà do hai bố con ông Trần Văn Nỏ, người Tày ở làng Hẻo, xã Camđường phát hiện trong một chuyến đi rừng Ngay sau đó bọn tư bản Pháp đổ

xô lên thăm dò Ông Nỏ cùng dân bản lại phải bỏ công việc nương rẫy đi dẫnđường, khiêng cáng, đào mẫu cho chúng đem về nghiên cứu Chúng vội vãhợp pháp hóa quyền sở hữu của chúng đối với khu mỏ bằng hàng loạt thủtục, giấy tờ, như đăng kí xin dò tìm mỏ, rồi xin cấp nhượng địa khai mỏ, đểhơn một chục năm sau thì bắt đầu khai thác

Ngay sau khi phát hiện được mỏ Apatit, tư bản Pháp đã lao vàotìm kiếm, điều tra, khảo sát vùng Cam Đường trong suốt 3 năm (1931- 1934)

Trang 21

Chúng đã phái 11 đoàn thăm dò địa chất lùng sục khắp vùng, và năm 1934,bản đồ trữ

Trang 22

lượng Apatit Lào Cai đã được công bố Rồi năm 1939, những tấn quặng Apatitđầu tiên được khai thác.

Công việc đầu tiên là tiến hành tuyển mộ phu từ miền xuôi lên Chủthầu Vũ Đức Sâm được cử về Hưng Yên làm mộ phu Gặp năm vỡ đê mấtmùa đói kém, những người nghèo khổ, mỗi người một cảnh từ nhiều tỉnhvùng đồng bằng như Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây lũlượt kéo về chen chúc nhau trong sở mộ phu chật hẹp trước ngày lên đường

đi Lào Cai Đến nơi rồi, lại phải vật vã chờ đợi mới được chia kíp, lĩnh thẻ,phân vào các lán trại ở, sau đó mới được đi lĩnh tiền, gạo ứng trước để sốngqua mấy ngày đầu Mà không chỉ mấy ngày đầu thôi, cuộc sống lao động cựcnhọc, vất vả, thiếu thốn trăm đường của họ dưới làn roi vọt của bọn cai xếp

sẽ kéo dài về sau, không một tia hy vọng dù cho hiu hắt theo lời hứa hẹn bịpbợm của bọn đi mộ phu Số lượng người tin vào những lời phỉnh phờ củabọn chủ mỏ ngày càng đông “Năm 1940 mới có 287 người lên mỏ làm phu,đến năm 1944 con số này đã tăng lên 7.346 người” [18, tr.22]

Thời kì này, bọn chủ mỏ bắt phu mỏ khai thác hầm lò, đi thẳng vàohầm đào quặng, dùng đường goòng để vận chuyển Sau khi chuyển quặng từtầng cao bằng các máng phễu hoặc bằng goòng hãm phanh tời, các goòngquặng được dồn thành đoàn trở đến kho chứa tại bến sông Làng Giàng bằngđầu máy hơi nước Các goòng quặng được chuyển qua sông sang ga LàngGiàng bằng người phu cực khổ để rồi về cảng Hải Phòng qua Pháp, Nhật “Từnăm 1940 đến năm

1944, bọn chúng đã khai thác được 196.717 tấn quặng, trong đó đã bán điđược

151.908 tấn” [18, tr.22] Để đạt được con số này, những người phu mỏ đã bịbóc lột rất giã man Họ phải làm việc từ sáng đến tối đêm, 12 – 14 giờ mỗingày Những người ốm nằm gục ở nhà đến giờ vẫn phải đi làm, nếu không

Trang 23

bọn cai xếp sẽ lùng sục, dùng mọi đòn roi để thúc ép Đau ốm, đói khát, nhiềungười đã chết gục trên các đống quặng, nhiều người chết vì sập hầm lò dochủ không chống gỗ

Trang 24

hầm lò Chế độ làm việc vô cùng cực khổ đối với người phu mỏ, nơi đây đóirách vẫn hoàn đói rách Hết một ngày làm việc, bọn cai xếp trả cho người làmlương gạo đủ ăn trong ngày Bởi vậy, nếu ai đó ốm, cố trốn nghỉ được thì cảnhà nhịn đói Nhiều gia đình lên rừng kiếm lá ăn cho qua cơn đói đã ăn phải

lá han, lá ngón mà chết

Để kiếm lời hơn, sau này, bọn chủ mỏ không phát gạo mà phát bông(các) để phu mỏ đem đến đong gạo của cửa hàng do vợ các cai xếp bán, để bịbóc lột thêm lần nữa Đói, rét, thú dữ, ruồi vàng, muỗi độc, sốt rét, ngãnước không thuốc thang cứu chữa đã cướp đi sinh mạng biết bao phu mỏ

Sự cơ cực của phu mỏ hoàn toàn không làm đông lòng chủ mỏ Trước mặtchúng, chỉ miễn sao khai thác được nhiều quặng, bán được thật nhiều tiền,thu được lợi nhuận lớn Ai oán, những người phu mỏ đã than trời:

“Ai đưa tôi đến chốn này

Bên kia Cốc Lếu, bên này Lào Cai ” [13, tr.23-24].

Lời ru của người công nhân nữ trong đêm khuya nơi núi rừng âm u lạnh buốt

đã phản ánh cuộc sống bi thảm của những phu Mỏ Apatit Lào Cai:

“ À ơi!

Tiếng đồn Mỏ Cóc thảnh thơi,

Lên đây chỉ những xơi roi cặc bò

Thằng Tây đầu nhỏ, bụng to,

Luôn mồm chửi “mẹc”, “xà lù”, “cu soong "

“Ai lên mỏ Cóc Cam Đường

Khi đi thời có, khi về thời không ”

“Ai lên mỏ Cóc Cam Đường

Thịt da để lại, nắm xương đem về” [18, tr.23-24].

Trang 25

Theo tiếng Pháp “merde” (đồ cứt đái); “salaud” (đồ tồi); cochon (đồ lợn) Đây

là các tiếng chửi rủa thô bỉ của bọn chủ Pháp đối với công nhân mỏ Cuộcsống này

Trang 26

nếu không có cách mạng tới thì nhất định sẽ kết thúc bằng cái chết vì bệnhtật, tai nạn lao động hay tù đầy, mong muốn được trở về quê hương dướimiền xuôi sau khi làm ăn khấm khá chỉ là một điều vô vọng.

1.2 Hoạt động của Công ty Apatit Việt Nam trước năm 1986

1.2.1 Thời kì trước năm 1975

1.2.1.1 Hoạt động của mỏ Apatit thời kì sơ khai 1924 – 1954

Giai đoạn đầu, bè lũ chủ mỏ cần số đông và cần gấp nên đã phải chongười xuống tuyển phu các tỉnh vùng đồng bằng Nhưng rồi chúng thấy tốnkém, phiền phức Đã vậy, chúng cũng sớm nhận ra rằng phu dưới đồng bằngkhông phải dễ dọa nạt, đè nén, họ cũng biết đấu tranh khi cần thiết cho cácquyền lợi thiết thân hàng ngày của họ Chúng bèn chủ trương tuyển mộ phungười sở tại mà chúng cho là hiền lành, dễ bảo hơn, chi phí cũng ít hơn trongviệc di chuyển, đi lại Để thực hiện được âm mưu này, chúng đã liên kết vớibọn chức dịch địa phương Chủ thầu Vũ Đức Sâm đã cùng lý trưởng xã CamĐường tuyển mộ thêm một số lớn phu mỏ ngay tại chỗ Nắm chắc người dânTày ở Cam Đường không thích đi phu vì đều có nhà cửa, ruộng đất, đồi cây,hơn nữa họ cũng không lạ gì những cảnh đói khổ, chết chóc diễn ra hàng ngày

ở khu mỏ, bọn chúng đã đã cho đắp một cái đập chắn không cho nước suốiCam Đường chảy vào ruộng của đồng bào Tày, lại cấm không cho vào phátrừng, làm rẫy, khai thác gỗ là những nguồn sinh sống hàng ngày của họ đểdồn họ vào cái thế phải đi phu cho chúng Nhưng âm mưu đen tối đó của bọnchủ thầu và chức dịch địa phương đã bị phu mỏ và dân làng Cam Đường kịpthời phối hợp đấu tranh ngăn chặn nên bị thất bại thảm hại Cuộc đấu tranhcủa người Tày xã Cam Đường phối hợp với cuộc bãi công của công nhân mỏkhẳng định tình đoàn kết của người dân miền cao với người dân miền xuôi,

sự bất lực của thực dân Pháp trong việc thực hiện chính sách chia rẽ dân tộccủa chúng [18, tr.25]

Trang 27

Do vị trí chiến lược quan trọng, từ giữa năm 1940, Lào Cai đã nằmtrong khu D gồm những tỉnh nằm dọc đường xe lửa từ Phúc Yên đến Lào Cainhằm đẩy mạnh phong trào cách mạng ở những nơi đó Ban cán sự khu D (Khu D được thành lập theo Chỉ thị của Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ gồmcác tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang và HàGiang) đã cử cán bộ về hoạt động gây cơ sở ở Lào Cai Cùng thời kỳ này, trêncon đường chiến lược Bắc Giang – Lào Cai, xuất hiện một nhóm cán bộ ViệtMinh hoạt động (Theo báo cáo của Sở mật thám Bắc Kỳ ngày 02/7/1940, tàiliệu kho lưu trữ Trung ương) Nhưng cũng chính thời kỳ này, tình hình Lào Cai

có nhiều khó khăn Thực dân Pháp tăng cường canh phòng, kiểm soát việc đilại của nhân dân rất khó khăn, cán bộ Đảng vì vậy khó hoạt động Các Đảngphái thân Nhật, thân Tưởng và nhất là bọn Việt Nam Quốc dân Đảng cũng rasức chống phá cách mạng Từ đầu tháng 10/1940, quân Nhật đã tới thị xã LàoCai, đóng quân ở Phố Mới, đặt cơ quan tình báo được ngụy trang dưới cái tên

“Công ty Chiên Hòa” Thực dân Pháp đã phải khuất phục nhượng bộ Nhật vềmọi mặt, nhất là về kinh tế, trong đó có nguồn lợi lớn của mỏ Apatit “Nhưngmặc dù tham vọng có thừa, tư bản Nhật vẫn chưa thể thẳng tay hất Pháp

để độc chiếm khu mỏ, mà phải dựa vào chủ Pháp và mạng xếp, cai, ký ngườiViệt để khai thác cầm chừng Mặc dù vậy, chúng đã bắt đầu bắt công nhânphải làm thêm giờ dưới roi, gậy, mà lại trả lương hạ hay quỵt lương, bắt giamnhiều người, thậm chí có người bị đánh chết Tình hình đó buộc công nhânphải vùng lên đấu tranh, kiên trì bãi công biểu tình, công nhân Mỏ đã nhậnđược sự ủng hộ tích cực của đồng bào Tày ở Cam Đường cả về tinh thần lẫnvật chất” [18, tr 26-28]

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương TạiLào Cai, Nhật hoàn toàn thay thế Pháp, Nhật độc chiếm Mỏ Apatit để tiếptheo Pháp khai thác quặng Tên chủ mới tỏ ra độc ác, tàn bạo hơn chủ cũ

Trang 28

Nhưng bọn Nhật chưa khai thác được bao lâu thì máy bay Mĩ đã kéo đếnném bom phá sập cầu

Trang 29

đường, dây cáp treo để chuyển quặng qua sông Hồng Từ đó, mỏ Apatit CamĐường bị tê liệt hoàn toàn Hơn 3.000 phu mỏ bị bỏ rơi, không có công ănviệc làm, sống vất vưởng không nơi nương tựa, không một bát gạo, đồngtiền Hàng trăm người phải đi làm phu xây sân bay cho Nhật ở Trái Hút, CốcLếu Những người không đủ sức đi làm phu thì lên Lào Cai, xuống Phố Lugánh thuê, gánh mướn, hay là vào làng của đồng bào Tày làm thuê kiếm sốngqua ngày Có khi phải vào rừng đào củ, hái củ, hái rau dại về ăn Bệnh tật pháttriển làm cho nhiều người chết Mỏ đã “vỡ” trên sự tan tác, đau thương, chếtchóc của cả một đội ngũ công nhân đông tới mấy ngàn người.

Ngày 25/8/1945, bọn Nhật ở Mỏ Apatit Cam Đường kéo về tập trung

ở thị xã chờ lệnh rút về xuôi Tranh thủ thời cơ, các nhóm yêu nước ở các nơi

đã vận động lính dõng nộp súng, vận động nhân dân phá kho thóc, kho dầucủa Nhật để chia cho dân Nhân dân Lào Cai hồ hởi chờ ngày giải phóng.Nhưng tình hình ngày càng diễn biến phức tạp, thời cơ đã tới mà lực lượngcách mạng tại chỗ lại thiếu chủ động, nên bọn phản động ở địa phương đãnắm lấy chính quyền cấp tỉnh, gây thêm nhiều khó khăn cho cách mạng vềsau Ban Cán sự Đảng tỉnh Lào Cai được thành lập đầu tháng 9/1946 ngaytrên đường quân ta tiến lên Lào Cai dẹp trừ bọn phản động, giải phóng LàoCai đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng của lịch sử đảng bộ và phong tràocách mạng, tăng niềm tin tưởng của quần chúng nhân dân trong tỉnh vàocách mạng, vào Đảng “Ngày

12/11/1946, tỉnh Lào Cai đã được giải phóng hoàn toàn Mỏ Apatit CamĐường cũng được giải phóng sau một thời kỳ ngừng hoạt động Công nhân vôcùng phấn khởi chờ Chính phủ có lệnh khai thác lại mỏ để đi làm” [21, tr.56]

Nhưng kẻ thù không để cho nhân dân Lào Cai được sống trong hòabình, hạnh phúc Thực dân Pháp bị Nhật đánh bật sang vùng Nam Trung Quốc

từ đêm ngày 09/3/1945 vẫn nuôi giã tâm quay trở lại Tại Côn Minh (Vân

Trang 30

Nam- Trung Quốc), tổ chức tình báo, gián điệp “Phái đoàn 5” của Pháp ráoriết hoạt động.

Trang 31

Trưởng phái đoàn Xanhtơni (Sainteny) đã rất quan tâm đến vị trí chiếnlược quan trọng và giá trị kinh tế của Lào Cai, trong đó có Mỏ Apatit với trữlượng lớn, đang được giới tư bản Pháp hết sức thèm muốn Khôngnhững vậy, Xanhtơni cũng rất biết rằng “Công ty khai khoáng” của Nhật Bản,

và “Công ty Phơlorít” của Mỹ cũng đang có âm mưu chiếm đoạt kho tàinguyên quý này (Mãi đến năm 1955, sau Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc nước

ta được hoàn toàn giải phóng, tư bản Nhật đã có thư gửi Chủ tịch Hồ ChíMinh xin được vào khai thác mỏ Apatit Lào Cai, kèm theo có cả một bản kếhoạch khai thác của Yawata Aso Nhưng phía ta không chấp nhận) Nhưng mọi

âm mưu đen tối của thực dân Pháp trước sau đều không thực hiện được, vìngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện thì Tổng khởi(19/8/1945) đã bùng nổ và nhanh chóng thắng lợi trong toàn quốc, chúngđịnh bám theo chân quân Tưởng để vào Việt Nam cũng thất bại các toán biệtkích do chúng tổ chức tìm cách đột nhập Lào Cai cũng bị chặn đánh, phải rútchạy với nhiều tổn thất về người và vũ khí

Dưới ánh sáng của các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Đảng bộLào Cai xác định nhiệm vụ trọng tâm của địa phương là đẩy mạnh công tácvùng địch tạm chiếm; đồng thời tăng cường công tác củng cố vùng tự do, huyđộng nhân tài, vật lực phục vụ kháng chiến, từng bước xây dựng chế độ mới.Đến tháng 11/1948, Hội nghị cán bộ địch hậu quyết định phát động quầnchúng đấu tranh vũ trang, lập khu căn cứ du kích bên hữu ngạn sông Hồngthuộc ven huyện Bảo Thắng gồm ba xã Cam Đường, Gia Phú, Xuân Giao.Cam Đường với truyền thống đấu tranh kiên cường của đội ngũ công nhân

Mỏ Apatit đã được chọn làm nơi mở đầu phong trào đấu tranh vũ trang đểthúc đẩy các nơi khác Công tác phát triển Đảng ở huyện Bảo Thắng nóichung, ở Cam Đường nói riêng được chú trọng để đào tạo đội ngũ cán bộtrung kiên, nòng cốt cho phong trào Chính quyền bí mật của ta ở khu Cam

Trang 32

Đường, Gia Phú, Xuân Giao cũng được thành lập để phụ trách mọi mặt côngtác.

Trang 33

1.2.1.2 Hoạt động của Mỏ Apatit từ năm 1954 đến năm 1975

Kỳ họp lần thứ 4 của Quốc hội khóa I họp từ ngày 20 đến ngày 26 tháng

3 năm 1955 đã khẳng định nhiệm vụ củng cố miền Bắc Cùng với việc tiếpthu, tiếp quản vùng mới giải phóng, hoàn thành cải cách ruộng đất, là việckhôi phục kinh tế Trong chủ trương khôi phục công nghiệp, cùng với hàngchục nhà máy và xí nghiệp khác, Mỏ Apatit Lào Cai cũng là một trọng điểm

Lào Cai bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, bên cạnh những thuận lợi

về mặt tinh thần của quần chúng nhân dân hết sức hồ hởi, phấn khởi saungày giải phóng, cũng gặp muôn vàn khó khăn: nền kinh tế tiểu nông phântán, làm ăn riêng lẻ Chiến tranh phá hoại tòa bộ đường sắt, đường ôtô Các

mỏ, nhà máy điện, nước đều đóng cửa Pháp và Mỹ đã có âm mưu từ sớmcài cắm thổ phỉ để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Một trongnhững thủ đoạn thâm độc và nham hiểm của chúng là điều tra tình hình, lấytin tức kho tàng để phá hoại Cùng với quá trình tập trung khôi phục nôngnghiệp, các kế hoạch mở đường giao thông về xuôi để thực hiện giao lưuhàng hóa, đặc biệt là việc khôi phục đường sắt Hà Nội – Lào Cai cũng đượcđồng thời triển khai Việc khởi công phục hồi đường sắt Hà Nội – Lào Cai gópphần quan trọng cho việc phục hồi phát triển Mỏ Apatit Lào Cai

Việc phục hồi Mỏ Apatit Lào Cai là một trọng tâm công tác nằm trongchủ trương khôi phục kinh tế của Đảng và Nhà nước ta ngay sau ngày hòabình được lập lại ở miền Bắc Tháng 10 năm 1954, đồng chí Trần Ngọc Lạt đãcùng tổ công tác lên nghiên cứu (Đồng chí Trần Ngọc Lạt, nguyên là kĩ sư côngtác tại quân giới Nam Bộ, sau khi tập kết ra Bắc, đồng chí được Trung ươngđiều về công tác ở Bộ Công Thương, giữ chức vụ Tổ trưởng Tổ khôi phục vàphát triển kinh tế miền Bắc, trực tiếp phụ trách các đội công trình do Bộ Côngthương quản lý từ Phú Thọ lên Lào Cai như: Nhà máy Supe phốt phát Lâm

Trang 34

Thao, Mỏ Apatit Lào Cai, Nhà máy điện Phố Mới Đồng chí Trần Ngọc Lạt

đã được Chủ tịch

Trang 35

nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh), phát triển Mỏ Apatit Lào Cai Tháng 5năm 1955, Mỏ Apatit Lào Cai được Chính phủ, Bộ Công Thương chính thứccho khảo sát thăm dò, thiết kế Cũng trong thời gian này, Chính phủ Việt Namdân chủ cộng hòa và Chính phủ Liên Xô đã kí kết Hiệp định “Theo đó, Chínhphủ Liên Xô sẽ cử một đoàn chuyên gia có nhiều kinh nghiệm sang giúp ViệtNam phục hồi và khai thác Mỏ Apatit Lào Cai với công suất 500.000 tấn quặng

Những ngày đầu tiên đối với đoàn thăm dò, khảo sát Mỏ Apatit Lào Cai

là vô cùng gian nan, vất vả Họ phải mất 4 – 5 ngày ròng rã trèo đèo, lội suối,vừa bằng phương tiện cơ giới, vừa đi bộ, để đến Lào Cai, nơi đang nằmsâu trong lòng đất có một mỏ Apatit, cần được con người khai thác để phục

vụ cho công cuộc xây dựng đất nước Sau một thời gian ổn định nơi ăn chốn

ở, các chuyên gia Liên Xô và các cán bộ Việt Nam đã tiến hành thăm dò cáckhu Mỏ Cóc, Làng Cóc, Cam Đường, Làng Cáng, Làng Mô thuộc Mỏ Apatit LàoCai Ngoài ra, họ còn nghiên cứu địa chất các vùng kế cận Bắc Hà đến LaiChâu “Cũng trong thời gian này, ngày 22/9/1955, đồng chí Lê Thanh Nghị đãchính thức phân công đồng chí Nguyễn Văn Lang làm trưởng đoàn thiết kế,phục hồi và mở rộng sản xuất Mỏ Apatit Lào Cai (về phía Việt Nam) Cùng vớiviệc thăm dò các khu Mỏ và nghiên cứu địa chất, lực lượng công nhân trựctiếp lao động sản xuất ở Mỏ lúc này chủ yếu làm nhiệm vụ khai thác và vậntải” [3, tr.11] Thực chất của công việc khai thác trong những ngày đầu là mởrộng từ tầng 11 lên tầng 12 ở Mỏ Cóc, chuẩn bị cho nhiệm vụ khai thác ở giaiđoạn tiếp theo Đội vận tải, gồm các chiến sĩ lái xe từ quân đội chuyển sang,nhưng lúc này chưa có ôtô, nên nhiệm vụ chủ yếu của đội là chuẩn bị bãichứa quặng Họ đã tận dụng sắt thép, gạch đá ở các công trình hư hỏng đểxây dựng các bãi chứa

Trang 36

Lực lượng đưa lên Mỏ thời kì đầu không thuần nhất, số đông là thanh niên, bộ đội chuyển ngành, cán bộ miền Nam tập kết Lực lượng này chủ yếu

Trang 37

làm nghề lái xe và kĩ thuật sửa chữa Đội ngũ công nhân không thuần nhấtnày cũng là một trong những khó khăn trong những ngày đầu của Mỏ Nhớ lạinhững năm tháng đầu tiên lên Mỏ, không ai có thể quên những vất vả giannan tưởng chừng không thể vượt qua Trong 3 năm đầu khôi phục Mỏ, thiênnhiên còn thử lòng người bằng những trận lũ quét, cuốn trôi và sạt lở baocông trường, đường ôtô, xe lửa, bãi thải, kho quặng gây tổn thất lớn cho

Mỏ Trong thời kì 3 năm đầu khôi phục và chuẩn bị sản xuất, còn một số khókhăn mà các công nhân Mỏ phải ứng phó, đó là âm mưu phá hoại của bọnphản động tay sai Chúng tìm mọi cách kích động, chia rẽ đồng bào dân tộctrong vùng với công nhân Mỏ

Từ cuối năm 1955 đến hết quý III năm 1956, công việc ở Mỏ Apatit LàoCai chủ yếu vẫn là khảo sát địa chất, nghiên cứu, thăm dò đường hầm, từngbước chuẩn bị xây dựng cơ sở hạ tầng của Mỏ Trong quá trình tổ chức sảnxuất, Mỏ Apatit Lào Cai đã chú trọng tăng cường tổ chức bộ máy quản lý xínghiệp và vai trò của các tổ chức quần chúng Từ tháng 9/1956 đến tháng12/1958 Mỏ Apatit Lào Cai bước vào giai đoạn khai thác Mỏ Apatit Lào Caitràn đầy khí thế lao động sản xuất Mỏ tiếp tục nhận thêm nhiều lực lượng bổsung, trong đó có cả đoàn học sinh miền Nam đi học đại học Mỏ ở Liên Xô vềnước Họ vừa là thợ, vừa là những người thầy đầu tiên hướng dẫn đào tạođội ngũ công nhân lái máy xúc ở mỏ Trong đội ngũ lên mỏ tham gia lao độngsản xuất lần này, có cả đoàn bộ đội lái xe đầu tiên của Đoàn 175, Tổng cụcHậu cần Lực lượng có mặt ở Mỏ đến cuối năm 1956 và đầu 1957 xấp xỉ 1.000người Về mặt tổ chức, cùng với Ban Giám đốc chịu trách nhiệm điều hành,quản lý chung, Mỏ vẫn tồn tại bộ phận tổ chức sản xuất “Bộ phận này gồm:Phân xưởng Khai thác, Phân xưởng Cơ khí, Phân xưởng Vận chuyển bờ sông,Đội Vận tải cơ giới, Đội Mộc làng Giàng, đội công trình làm đường , bộ phận

tổ chức các phòng ban gồm: Phòng nhân sự (Hành chính, Quản trị, Tuyên

Trang 38

huấn), Phòng kĩ thuật (Khai thác, Cơ điện, Trắc địa), Phòng Thí nghiệm, PhòngThống kê – Kế hoạch, Phòng Kế toán – Tài

Trang 39

chính – Giao tế, Ban Kiến thiết cơ bản, Ban Tiếp liệu, Trạm y tế Những khâucông việc về tổ chức căn bản hoàn thành trong quý IV năm 1956” [24].

Quyết định 178/BCN – KB ngày 19 – 6 – 1956 của Bộ Công nghiệpquyết định thành lập Ban chuẩn bị sản xuất Mỏ Apatit Lào Cai Giai đoàn này,những công việc còn lại cho việc chuẩn bị sản xuất hết sức khẩn trương Cùngvới phân xưởng khai thác tổ chức 6 kíp sản xuất quặng bằng thủ công, một bộphận cơ giới được hình thành gồm có máy khoan, gạt, xúc Công việc đưa cácthiết bị này cùng ô tô qua sông Hồng trong mùa nước lũ bằng phà là vô cùngkhó khăn, phức tạp Nhưng bằng trí thông minh, sáng tạo của đội ngũ công

đó, được sự giúp đỡ của chuyên gia Tiệp Khắc, anh em công nhân lại lắptiếp máy xúc

một kỳ công

Bước sang năm 1957, bộ phận cơ giới làm việc hai ca bao gồm cácthiết bị trong dây chuyền sản xuất từ khoan nổ mìn để phá đá, đất, quặngđến xúc và cuối cùng vận chuyển bằng ô tô, tàu hỏa Nhìn chung, các thiết bịmáy móc thời kì này còn lạc hậu nhưng với sự nhiệt tình của những người thợ

Mỏ, những người chủ của đất nước, đội ngũ công nhân Mỏ đã lao động hăngsay, quên mình, luôn đạt và vượt kế hoạch, có những bước tiến rõ rệt Từnăm 1958, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ chung “ xây dựng miền Bắc tiếnlên chủ nghĩa xã hội và thực hiện đấu tranh thống nhất nước nhà”, Mỏ ApatitLào Cai bước vào một giai đoạn phát triển mới

Bốn năm (1955 – 1958) là thời gian khôi phục kinh tế của Mỏ, trong

đó hơn 2 năm đã đi vào sản xuất và đạt được những thành tích bước đầu.Tháng 1-

Trang 40

1959, Bác Hồ đã gửi tới công nhân và cán bộ Mỏ Apatit Lào Cai lời khen ngợi

“Bác vui lòng khen các cô các chú đã làm đúng lời hứa, đã thi đua hoàn thànhvượt mức kế hoạch 10%, mong các cô các chú tiếp tục cố gắng hơn nữa đểhoàn

Ngày đăng: 06/01/2020, 08:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phúc Anh, Công ty Apatit Việt Nam: Quản trị doanh nghiệp hiệu quả, (Tài liệu lưu trữ tại Thư viện quốc gia) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty Apatit Việt Nam: Quản trị doanh nghiệp hiệu quả
3. Công ty Apatit Việt Nam (1958), Báo cáo tình hình chuẩn bị, xây dựng và sản xuất ba năm khôi phục Mỏ Apatit Lào Cai ngày 24/1/1958 của Mỏ Apatit Lào Cai, (Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Công ty Apatit Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình chuẩn bị, xây dựng vàsản xuất ba năm khôi phục Mỏ Apatit Lào Cai ngày 24/1/1958 của Mỏ ApatitLào Cai
Tác giả: Công ty Apatit Việt Nam
Năm: 1958
4. Công ty Apatit Việt Nam (1967), Báo Cáo của Cục Khai khoáng - luyện kim, số 19 - KKLK, ngày 24/01/1967, (Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Công ty Apatit Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Cáo của Cục Khai khoáng - luyện kim
Tác giả: Công ty Apatit Việt Nam
Năm: 1967
5. Công ty Apatt Việt Nam (1982), Báo cáo kết quả kiểm tra công trình Apatit Lào Cai của đoàn kiểm tra ủy ban Kế hoạch Nhà nước (Bản sao của Tổng cục Hóa chất ngày 04/02/1982) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả kiểm tra công trìnhApatit Lào Cai của đoàn kiểm tra ủy ban Kế hoạch Nhà nước
Tác giả: Công ty Apatt Việt Nam
Năm: 1982
6. Công ty Apatit Việt Nam (1991), Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Khóa XV của Đảng ủy Xí nghiệp Liên hợp Apatit Lào Cai, số 17/BC-ĐU, ngày 10/2/1991, (Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Công ty Apatit Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Khóa XV củaĐảng ủy Xí nghiệp Liên hợp Apatit Lào Cai
Tác giả: Công ty Apatit Việt Nam
Năm: 1991
7. Công ty Apatit Việt Nam (1994), Báo cáo về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XVI Đảng bộ Công ty Apatit Việt Nam và nhiệm vụ tiếp theo, số 02/BC-ĐV, ngày 5/3/1994, (Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Công ty Apatit Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình thực hiện Nghịquyết Đại hội lần thứ XVI Đảng bộ Công ty Apatit Việt Nam và nhiệm vụ tiếptheo
Tác giả: Công ty Apatit Việt Nam
Năm: 1994
8. Công ty Apatit Việt Nam (1996), Báo cáo của Đảng ủy Công ty Apatit Việt Nam về tổng kết nhiệm kỳ XVI (1991 - 1995) và phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ XVII (1996 - 2000), số 35/BC-ĐU ngày 25/01/1996, ( Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Công ty Apatit Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Đảng ủy Công ty Apatit ViệtNam về tổng kết nhiệm kỳ XVI (1991 - 1995) và phương hướng, nhiệm vụnhiệm kỳ XVII (1996 - 2000)
Tác giả: Công ty Apatit Việt Nam
Năm: 1996
9. Công ty Apatit Việt Nam (2000), Lịch sử 45 năm xây dựng, phát triển mỏ Apatit Lào Cai 1955 - 2000, (Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Công ty Apatit Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 45 năm xây dựng, phát triển mỏApatit Lào Cai 1955 - 2000
Tác giả: Công ty Apatit Việt Nam
Năm: 2000
10. Công ty Apatit Việt Nam (2008), Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Apatit Việt Nam 2005 - 2008, (Tài liệu lưu trữ tại văn phòng Công ty Apatt Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhcủa công ty Apatit Việt Nam 2005 - 2008
Tác giả: Công ty Apatit Việt Nam
Năm: 2008
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
16. Hồi ký của đồng chí Nguyễn Văn Lang (2000), nguyên Giám đốc Mỏ Apatit Lào Cai (bản đánh máy) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký của đồng chí Nguyễn Văn Lang
Tác giả: Hồi ký của đồng chí Nguyễn Văn Lang
Năm: 2000
17. Nguyễn Thị Kim Huệ (2012), Đánh giá hiện trạng môi trường từ hoạt động khai thác và vận chuyển quặng của nhà máy Tuyển Tằng Lỏong, Luận án địa lý - địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng môi trường từ hoạtđộng khai thác và vận chuyển quặng của nhà máy Tuyển Tằng Lỏong
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Huệ
Năm: 2012
18. Đinh Xuân Lâm, Lê Văn Yên, Đàm Văn Thọ (2010), Apatt Việt Nam 55 năm xây dựng và phát triển (1955 - 2010), Nxb Công Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Apatt Việt Nam 55năm xây dựng và phát triển (1955 - 2010)
Tác giả: Đinh Xuân Lâm, Lê Văn Yên, Đàm Văn Thọ
Nhà XB: Nxb Công Thương
Năm: 2010
19. Lê Thanh Sơn (1987), Đặc điểm điều kiện địa chất thành tạo mỏ Apatit Lào Cai, đánh giá triển vọng, phương hướng tm kiếm thăm dò, Luận án địa lý - địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm điều kiện địa chất thành tạo mỏ ApatitLào Cai, đánh giá triển vọng, phương hướng tm kiếm thăm dò
Tác giả: Lê Thanh Sơn
Năm: 1987
20. Tờ trình Quy hoạch khôi phục và phát triển Mỏ Apatit Lào Cai năm 1971 - 1975 của Tổng cục Hóa chất (1970), (Tài liệu lưu tại Bộ Công nghiệp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình Quy hoạch khôi phục và phát triển Mỏ Apatit Lào Cai năm 1971- 1975 của Tổng cục Hóa chất
Tác giả: Tờ trình Quy hoạch khôi phục và phát triển Mỏ Apatit Lào Cai năm 1971 - 1975 của Tổng cục Hóa chất
Năm: 1970
21. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1991), Việt Nam 1975 - 1990 thành tựu và kinh nghiệm, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam 1975 - 1990 thành tựuvà kinh nghiệm
Tác giả: Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
22. Bùi Văn Việt (2004), Công ty Apatit Việt Nam với những thời cơ và thử thách, tạp chí giáo dục lý luận, tạp chí Giáo dục lý luận, số 11-2004, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty Apatit Việt Nam với những thời cơ và thửthách, tạp chí giáo dục lý luận
Tác giả: Bùi Văn Việt
Năm: 2004
23. “Tỉnh ủy Lào Cai tiếp xúc đối thoại với cán bộ công nhân Công ty Apatit Việt Nam”, Báo Lào Cai, 16/2/2015, 18h15p.Ht p: // www .b a o l a o c a i . vn / c hi n h - t r i /t i n h - u y - l a o -ca i - t i e p - x u c - do i - th o a i - v o i - ca Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉnh ủy Lào Cai tiếp xúc đối thoại với cán bộ công nhân Công ty ApatitViệt Nam”, Báo Lào Cai

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w