1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cần lao nhân vị cách mạng đảng trong chính thể đệ nhất việt nam cộng hòa

111 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện, Ngô Đình Diệm cho tập hợp các tổ chức, lực lượng Công giáo di cư và các thành phần chống Cộng khác thành một tổ chức chính trị đối đầu với các thế lực còn lại của Pháp ở mi

Trang 1

SVTH: Chế Thị Kim Hằng MSSV: 1321402180002 Lớp: D13LSVN

Bình Dương, Tháng 4 năm 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp Đại học đối với tôi rất đặc biệt Trong suốt thời gian này, tôi đã học được rất nhiều điều bổ ích cho đam mê nghiên cứu khoa học của mình Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình từ phía gia đình, bạn bè

- Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Lịch sử, trường Đại học Thủ Dầu Một đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập cũng như quá trình tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp

- Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Th.s Bùi Anh Thư – giáo viên hướng dẫn khóa luận này – người đã hướng dẫn tận tình, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận

- Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học đã xét duyệt và cho những nhận xét quý báu để bài khóa luận được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời chúc sức khỏe tới quý thầy cô khoa Lịch sử và mong Khoa ngày càng phát triển hơn nữa!

Dù đã cố gắng hết sức, nhưng khóa luận vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý từ phía thầy cô, bạn bè

Xin chân thành cảm ơn!

Tp Thủ Dầu Một, tháng 4 năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện cùng với sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của tác giả khác Các dữ liệu, thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

Sinh viên

(Ký và ghi rõ họ tên)

Chế Thị Kim Hằng

Trang 4

Mỹ đã lựa chọn Ngô Đình Diệm làm tay sai đắc lực nhằm phục vụ âm mưu xâm lược của mình Được sự hậu thuẫn của Mỹ, ngày 23/10/1955, Diệm tiến hành tổ chức cuộc Trưng cầu Dân ý Kết quả là Bảo Đại bị phế truất, Diệm đắc cử Thủ tướng Khi chính quyền Việt Nam Cộng do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống được dựng lên, Mỹ trực tiếp viện trợ và là lãnh đạo mới của chính thể này, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, phòng tuyến chống phá cách mạng Xã hội Chủ nghĩa miền Bắc Việt Nam

Để củng cố và phát triển thế lực tại miền Nam Việt Nam, Ngô Đình Diệm từ lâu ấp ủ ý định thành lập một đảng chính trị mới Để thực hiện, Ngô Đình Diệm cho tập hợp các tổ chức, lực lượng Công giáo di cư và các thành phần chống Cộng khác thành một tổ chức chính trị đối đầu với các thế lực còn lại của Pháp ở miền Nam Việt Nam, nhằm đối phó với Đảng Lao động Việt Nam Với mong muốn hậu thuẫn cho chính quyền của anh mình là Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu đã có những toan tính thành lập một Đảng chính trị ngay từ đầu thập niên 1950, Ngô Đình Nhu đã xây dựng cốt cán của một đảng chính trị mới, với nhóm người chạy khỏi Hà Nội vào khu tự trị Bùi Phát sau ngày 19/12/1946, mà sau này mới xuất hiện công khai với tên gọi Đảng Cần lao Nhân vị, nhưng thường chỉ gọi vắn tắt là “Cần Lao” Sự ra đời của Đảng Cần Lao mang ý nghĩa nhằm thiết lập một chính quyền vững mạnh để tránh sự nguy hại cho Việt Nam Cộng hòa từ các thế lực khác

Tìm hiểu về Lịch sử Việt Nam hiện đại, tác giả nhận thấy rằng nghiên cứu về chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa - mà cụ thể là về Đảng Cần lao nhân vị là một việc làm có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn

Trang 5

Về mặt khoa học

Thứ nhất, dưới thời kì của chế độ Việt Nam Cộng hòa, được xem là thời kì đầy biến động của đất nước trên nhiều phương diện Một thời kì đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, đặt biệt là giới khoa học lịch sử Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn những khoảng trống chưa khai thác triệt để về giai đoạn này cần được nghiên cứu

và đánh giá lại Chính vì vậy, đây vẫn còn là một vấn đề nghiên cứu khá mới mẻ và mang tính khoa học cao

Thứ hai, trong thời gian 9 năm lãnh đạo của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1963, cùng với sự sụp đổ của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, Đảng Cần Lao cũng tan rã Như vậy, vai trò của Đảng đối với chính quyền ra sao, và có những tác động như thế nào khi cùng với hệ thống các chính sách của Mỹ và chính quyền tay sai đã gây ra những tác động đa chiều với kinh tế - xã hội Việt Nam trên khắp các vùng ở miền Nam nước ta

Thứ ba, trong quá trình tồn tại ngoài sự hậu thuẫn của Hoa kì, để trụ vững ở miền Nam, chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa đã tạo ra cho mình những trụ cột về mặt chính trị cũng như là xã hội Đảng Cần lao nhân vị là một trong những chỗ dựa cho chính quyền Vậy Đảng được tổ chức và vận hành trên những nguyên tắc nào? Chịu ảnh hưởng của những nhân tố gì? Đó là những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu

Vậy nên, việc nghiên cứu về chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa và Đảng Cần Lao Nhân vị, sẽ góp phần làm rõ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc,

và việc đưa vào nghiên cứu là một điều thiết yếu

Về mặt thực tiễn

Thứ nhất, nghiên cứu về Đảng Cần lao nhân vị dưới thời của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa không chỉ góp phần vào công tác nghiên cứu lịch sử miền Nam nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung mà còn làm sinh động bức tranh kinh tế

- xã hội của nước ta trong giai đoạn này Từ đó, giúp chúng ta có thể thấy được rõ hơn những hạn chế trong việc vận hành và điều tiết các chính sách cũng như là xây dựng lực lượng chính trị của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Thứ hai, ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề xây dựng Đảng vững mạnh là cấp thiết Qua việc nghiên cứu về Đảng

Trang 6

Cần Lao nhân vị dưới chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và hoàn thiện việc xây dựng Đảng, các tổ chức và những nền tảng chính trị, xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ thành quả cách mạng mà ông cha ta

Ngay sau khi nhà họ Ngô bị lật đổ, Đoàn Thêm có điều kiện được chứng kiến những sự kiện lịch sử của chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Những sự kiện đó được ghi lại thuần túy theo lối biên niên sử, cung cấp nhiều dữ liệu gốc khá hiếm

hoi trong tác phẩm Những ngày chưa quên (1954 – 1963) xuất bản năm 1969

Nông Huyền Sơn, Cái chết của anh em nhà họ Ngô, Nxb CAND, 2009 Đặt

vấn đề từ cái chết của anh em Ngô Đình Diệm, tác giả đi vào miêu tả những nhân vật của gia đình họ Ngô và đặt họ trong chính sách của Mỹ Từ đó nêu lên bản chất tay sai phục vụ cho chủ nghĩa thực dân mới Hoa Kỳ của chế độ Đệ nhất Cộng hòa

Nguyễn Khắc Viện (2008), Miền Nam Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ (Diệu

Bình dịch), Nxb Trí Thức Qua góc nhìn của một nhà báo, tác giả đã khắc họa bối cảnh của miền Nam Việt Nam kể từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến năm 1963 dưới chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ, miêu tả chân dung chế độ Đệ nhất Cộng hòa qua hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội, hoạt động đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam, những hành động vụ lợi của chính quyền Ngô Đình Diệm và những cố gắng của nhân dân Việt Nam để thi hành Hiệp định Geneve được trích dẫn từ nguồn báo chí xuất bản tại Pháp Nhiều vấn đề được tác giả trình bày mang tính thời sự, với nguồn tư liệu chủ yếu từ các báo, tạp chí xuất bản ở Pháp và một số nước

Trang 7

Cuốn sách Từ Bạch Ốc đến Dinh Độc lập của tác giả Nguyễn Tiến Hưng,

Jerrold L.Schecter (Nxb Trẻ, 1990) Với hai tập sách đã thể hiện mối quan hệ của Việt Nam Cộng hòa với Nicxon, cũng như là “buổi hoàng hôn” của nền cộng hòa tại miền Nam Việt Nam Tác giả đã khắc họa lại giai đoạn cuối cũng của chế độ Việt Nam Cộng hòa và những nhận định của mình Qua đó, tác giả cũng khẳng định rằng chính sự phản bội của Hoa Kỳ đã dẫn tới kết cục bi thảm của Việt Nam Cộng hòa trong biến cố năm 1975

Cuốn Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 của Lê Cung, (Nxb

Thuận Hóa, Huế, 2003) đã cho thấy chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo miền Nam Việt Nam và cuộc đấu tranh của Phật giáo trước năm

1963, Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 được tác giả khắc họa rõ nét tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của phong trào, góp phần đưa đến sự sụp đổ của chính quyền Đệ nhất Việt Nam cộng hòa vào năm 1963

Thời gian gần đây, tác phẩm Liên minh sai lầm Mỹ -Ngô Đình Diệm của tác

giả Edward Miller, Nxb Chính trị Quốc gia (2016), với cách nhìn ở một góc độ khác, tác giả đã phác hoạ hình ảnh Ngô Đình Diệm và cách giải thích về mối quan

hệ giữa Ngô Đình Diệm với Hoa Kỳ Với hơn 500 trang sách, tác giả đã viết về bước khởi đầu của Ngô Đình Diệm cũng như là quá trình đi đến sự sụp đổ, trong đó tác giả đã dành một phần để giới thiệu về Ngô Đình Nhu, tư tưởng Nhân vị và nguồn gốc của Đảng Cần Lao Những luận giải, đánh giá về một số sự kiện, nhân vật, về chủ nghĩa cộng sản, cách mạng miền Nam, phong trào Đồng khởi, nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của chính quyền Sài Gòn, để từ đó tác giả đã đưa ra những nhận định về sự tan rã của một liên minh

Trần Lệ Xuân – thăng trầm quyền tình của tác giả Lý Nhân (2015), NXB

Công an Nhân dân, đây là quyển sách được viết khá đầy đủ về Trần Lệ Xuân từ quá trình là “bà cố” Nhu trở thành “Đệ nhất phu nhân” cùng với những ảnh hưởng của

bà đối với chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, với những chi tiết thú vị, có ích cho những cá nhân quan tâm đến thời kì đầy biến động với nhiều sự kiện, nhiều nhân vật có ý nghĩa về mặt nhân văn và chính trị ở miền Nam Việt Nam những năm cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 của thế kỉ XX Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đề

Trang 8

cập đến các chính sách gia đình trị và các vụ đảo chính đối với chính quyền Ngô Đình Diệm

Tác phẩm Madam Nhu Trần Lệ Xuân – Quyền lực bà rồng của tác giả

Moniqur Brinson Demery (2016), cũng đã được xuất bản Đây là một tác phẩm viết

về cuộc đời, sự nghiệp bà Nhu nói riêng và chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa nói chung Với ngòi bút của một tác giả nước ngoài muốn khai thác về bà Nhu Dù vậy, chỉ với hơn 300 trang sách, tác giả đã khắc họa chế độ Việt Nam Cộng hòa từ những ngày đầu gặp khó khăn như thế nào để đi đến thời kì vàng son và cuối cùng

là sự sụp đổ, cùng với đó là những tổ chức chính trị và Đảng Cần lao Nhân vị của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Tuy chưa được khai thác sâu về các tổ chức chính trị - xã hội và Đảng Cần Lao Nhân vị, nhưng qua đó tác giả đã cho người đọc thấy được sự “độc tài” của chế độ gia đình trị của gia đình họ Ngô thông qua các tổ chức chính trị và bộ máy Đảng, nhà nước

Nhân vị chủ nghĩa của Phạm Xuân Cầu (1958), tác phẩm viết về thuyết Nhân

vị, trong đó tác giả làm rõ khái niệm, tôn chỉ và mục đích của chủ nghĩa nhân vị Đồng thời, tác giả lí giải tại sao nhân vị lại có những khả năng siêu việt đã làm cho loài người linh thiêng hơn muôn loài vật khác

Một số tác phẩm hồi ký của các cựu nhân viên, tướng tá chế độ Sài Gòn viết trước và sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975 ít nhiều có giá trị:

Hồi ký Hoàng Linh Đỗ Mậu (2001), Tâm sự tướng lưu vong (Việt Nam máu

lửa quên hương tôi), Nxb CAND, Hà Nội Tuy tác phẩm được viết xuất phát từ lập trường chống Cộng, nhưng do đã từng làm Giám đốc An ninh Quân đội của chế độ Diệm nên Đỗ Mậu có đủ điều kiện để hiểu rộng, biết sâu về chế độ này, có điều kiện suy ngẫm kỹ hơn, nhìn nhận moi sự việc tương đối sát thực tiễn để lý giải nguyên nhân thất bại của chế độ Diệm Với tư cách một người trong cuộc, tác giả đã

kể lại những chính sách độc tài, những buổi đầu cũng như những thất bại của chế độ Ngô Đình Diệm, và tác giả cũng đã dành một chương để viết về sự hình thành và tan rã của Đảng Cần Lao Nhân vị Qua đó thấy được sự biến chất của các Đảng viên

và sự câm phẫn của nhân dân đối với Đảng, với chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Trang 9

Từ việc đánh giá về tình hình nghiên cứu vấn đề, tác giả nhận thấy các công trình trên chỉ nghiên cứu về chính thể Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa một cách rời rạc,

lẻ tẻ, ở những khía cạnh khác nhau Trong sự hiểu biết của tác giả, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về Đảng Cần Lao Nhân vị Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu và tài liệu đã được công bố nói trên đã góp phần giúp tác giả nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng trong Chính thể Đệ

nhất Việt Nam Cộng hòa”, mục đích nghiên cứu của tác giả nhằm:

- Góp phần vào công tác nghiên cứu lịch sử Miền Nam nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, đồng thời lí giải một số vấn đề của lịch sử dân tộc thời kì này

- Góp phần bổ sung và làm phong phú thêm nguồn tài liệu, phục vụ cho công tác nghiên cứu của những cá nhân quan tâm đến đề tài này

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Khái quát về quá trình hình thành, các chính sách cai trị độc tài và quá trình khủng hoảng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa vào năm

1963

- Nghiên cứu về quá trình thành lập, cơ cấu tổ chức, hoạt động và vai trò của

Đảng Cần lao Nhân vị đối với chính thể Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

- Đánh giá chung về vai trò Đảng Cần lao đối với sự tồn vong của chính quyền

Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, trên cơ sở đó đúc rút bài học lịch sử đối với công tác

xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tổng thể là dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam về vấn đề chiến tranh và cách mạng, về vấn đề dân tộc và giai cấp

Phương pháp nghiên cứu cụ thể là kết hợp hai phương pháp cơ bản của sử học mácxit là Phương pháp lịch sử và phương pháp Logic, kết hợp phân tích, tổng hợp

Trang 10

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để tái hiện lịch sử, xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự kiện, vấn đề theo một trình tự liên tục về thời gian để làm rõ sự hình thành, khủng hoảng và sụp đổ chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Đồng thời trình bày các vấn đề nhiều mặt, biểu hiện, ảnh hưởng của Đảng Cần Lao đối với chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, để làm sáng tỏ các mối quan hệ,

đa dạng, phức tạp đó

- Phương pháp logic, kết hợp, xâu chuỗi các sự kiện một cách linh hoạt để có thể trình bày vấn đề một cách tương đối đầy đủ, hệ thống Đồng thời, qua đó xác định độ tin cậy và giá trị của các sự kiện

- Phương pháp phân tích, tổng hợp sử dụng khi chúng tôi tổng hợp các thông tin có trong các nguồn tài liệu để trình bày vấn đề theo hệ thống Phương pháp này còn được chúng tôi vận dụng khi lựa chọn, phân tích giá trị của các sự kiện liên quan đến đề tài

Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng những phương pháp cụ thể khác trong khoa học

xã hội nhân văn hiện nay, nhất là thống kê, so sánh, đối chiếu, để xác định các cứ liệu lịch sử và các vấn đề kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, giáo dục, pháp lý và các phương pháp liên ngành của chính trị học, xã hội học để có thể đưa ra cái nhìn toàn diện, khoa học

6 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

6.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Với đề tài “Cần lao Nhân vị Cách Mạng Đảng trong chính thể Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa”, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là Đảng Cần lao Nhân vị của chính thể Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1955 đến 1963 cụ thể là về quá trình thành lập, tổ chức, hoạt động và vai trò của Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng

6.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Đề tài sẽ nghiên cứu Đảng Cần lao Nhân vị trong chính thể

Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa trên không gian “lãnh thổ” Việt Nam Cộng hòa

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1955 đến năm

1963

Trang 11

Tác giả chọn mốc bắt đầu là năm 1955, từ sự kiện ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm giành thắng lợi từ cuộc trưng cầu dân ý giả hiệu, xóa bỏ chế độ Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại, lập ra chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Tác giả chọn mốc kết thúc là năm 1963 là khi Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa bị lật đổ bởi cuộc đảo chính vào tháng 11/1963

- Các bài viết liên quan đến nội dung đề tài đăng trên các báo, tạp chí…

- Hồi ký của các chính trị gia, tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ

- Hồi ký của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội đã trực tiếp chiến đấu trên chiến trường hoặc tham gia vào các cuộc đàm phán về hòa bình Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Chương 2: Tác giả nghiên cứu Đảng Cần lao Nhân vị về quá trình hình thành, thuyết Nhân vị, cương lĩnh, cơ cấu tổ chức và quá trình hoạt động của Đảng Cần lao Làm rõ quá trình Đảng Cần lao từng bước dấn sâu vào hoạt động lũng đoạn chế độ, trở thành một “siêu chính quyền” bên trong của chế độ Việt Nam

Trang 12

Cộng hòa, trực tiếp tham gia hoạch định các quốc sách của chế độ Việt Nam Cộng hòa Từ đó, tác giả đưa ra những nhận định về vai trò của Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng đối với chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Chương 3: Tác giả đánh giá chung về vai trò của Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng đối với sự tồn vong của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Đảng Cần lao đã có những tác động tích cực đối với chính quyền trong việc trở thành lực lượng chính bảo vệ cho sự tồn tại của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Bên cạnh đó, Đảng Cần lao đã thể hiện rõ là một công cụ phục vụ cho chính quyền chuyên chế, độc tài, đi ngược lại với nguyện vọng của nhân dân Kết quả, Đảng Cần lao đã không cứu vãn được chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa trên bờ vực sụp đổ Cuộc đảo chính năm 1963 đã chấm dứt sự lãnh đạo của chính quyền Ngô Đình Diệm và sự tồn tại của Đảng Cần Lao Nhân vị Từ đó, tác giả đưa ra những bài học lịch sử về công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

Trang 13

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA 1.1 Quá trình hình thành chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

1.1.1 Quá trình hình thành

Từ cuối năm 1949, trước khả năng bại trận của Pháp, Mỹ đã tăng cường giúp

đỡ để kéo dài cuộc chiến tranh ở Đông Dương, đồng thời cũng áp đặt những quan điểm của mình Mỹ chê trách chính phủ thực dân lỗi thời của Pháp, ngoan cố không chịu trao quyền cho những nhà quốc gia chân chính, mà chỉ muốn sử dụng những tên bù nhìn Mỹ cho rằng để đẩy mạnh cuộc chiến tranh phải tạo lập được một quân đội “Quốc gia”, một chính phủ “Quốc gia”, để đánh bại kháng chiến Việt Nam phải dùng người Việt Nam [72, 25] Ngày 7/5/1954, Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ, chiến cuộc Đông Dương chấm dứt, hiệp định Giơnevơ được kí kết Đại diện Mỹ và Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam khước từ không ký vào bản Hiệp định Theo Hiệp định này, “một giới tuyến quân sự tạm thời sẽ được quy định rõ, để lực lượng của hai bên khi rút lui, sẽ tập hợp ở bên này và bên kia giới tuyến ấy: lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía Bắc giới tuyến, lực lượng quân đội Liên Hiệp Pháp ở phía Nam giới tuyến.” [47, 706] Lúc bấy giờ, Mỹ tăng cường lực lượng thế chân Pháp ở Đông Dương và đã lựa chọn Ngô Đình Diệm để làm tay sai cho mình, Richarrd F Newcomb cho biết: “Đối với người Mỹ, Diệm là rất thích hợp Ông là người Việt Nam thực sự, 54 tuổi chống Pháp, chống Cộng Với một vài kinh nghiệm trong thời kỳ làm quan thuộc địa, và là một người Thiên Chúa giáo (không bao giờ chú ý đến Việt Nam có 85% dân số là Phật giáo)” [ 37, 29] Bằng những đặc điểm trên, Ngô Đình Diệm đã đáp ứng được những yêu cầu mà Mỹ đặt

ra cho người đứng đầu một chính quyền thân Mỹ tại miền Nam, với âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa thực dân kiểu mới

Sau khi quân Pháp rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng Pháp tan biến dần để thay thế bởi ảnh hưởng Mỹ Bởi vì, ngay từ khi mở Hội nghị các ngoại trưởng Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ ở Bec-lin, bàn thảo việc thành lập Hội nghị Giơnevơ giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, Mỹ đă ngầm vận động thúc đẩy Quốc trưởng Bảo Đại mời Ngô Đình Diệm lúc này đang ở Mỹ về làm Thủ Tướng, thay thế Thủ tướng Bửu Lộc được coi là thân Pháp Mỹ cho rằng, Pháp đã

Trang 14

không thực hiện được chính sách ngăn chặn cộng sản, mà sau Hiệp định Giơnevơ phía Bắc Việt Nam đã thuộc về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và theo hiệp định thì đến năm 1956, miền Nam sẽ tiếp tục rơi vào tay cộng sản Chính vì vậy, Mỹ đã quyết định loại bỏ Pháp, thiết lập một miền Nam Việt Nam thân Mỹ, thông qua bộ máy tay sai Ngô Đình Diệm, bằng thủ đoạn này, Mỹ đã nhảy vào miền Nam Việt Nam một cách hợp pháp

Sau hiệp định Giơnevơ, cách mạng miền Nam từ chỗ có chính quyền, có quân đội, có vùng giải phóng trở thành không có chính quyền, không có quân đội, vùng giải phòng thuộc cai quản của quân đội Liên Hiệp Pháp và hai năm sau sẽ tổ chức tuyển cử Tuy nhiên, Mỹ đã ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam làm Thủ tướng thay cho Bửu Lộc, chuẩn bị cho Mỹ thay Pháp tại miền Nam Việt Nam [34] Ngày 16/6/1954, Bảo Đại với tư cách là Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam, kí sắc lệnh số 37 – QT, giải tán chính phủ Bửu Lộc và Sắc lệnh số 38-QT bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm thủ tướng Việt Nam Quốc gia [18] Tiếp đó, ngày 19/6, Bảo Đại kí dụ số 15 trao cho Diệm toàn quyền cả về dân sự lẫn quân sự [57, 77] Ngày 25/6/1954, Ngô Đình Diệm từ Pháp về phi trường Tân Sơn Nhất (Sài Gòn), được sự tiếp đón nồng nhiệt theo nghi lễ ngoại giao của một số nhân viên đại diện các Bộ trong Chính phủ Bửu Lộc, một số sĩ quan cấp tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc phòng

và bộ Tổng Tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam (TTM/QĐQGVN), cùng một

số người thân thuộc dòng họ Ngô Đình và Nhân sĩ thân hữu của gia đình Ngô Đình Diệm Sau khi trở về nước, Ngô Đình Diệm tiếp xúc với các nhân sĩ, từng bước thực hiện các biện pháp để thành lập chính phủ Ngô Đình Diệm thực hiện một số chủ trương của Mỹ như: “Từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, từ chối việc tái lập quan hệ giữa hai miền Nam – Bắc; tổ chức tuyển cử riêng rẽ, bầu cử Quốc hội Lập hiến, ban hành hiến Pháp (26/10/1956), lập Đảng Cần Lao Nhân vị, Phong trào Cách mạng Quốc gia, Thanh niên Cộng hoà, Phụ nữ liên đới…” [37, 30]

Ngày 30/6/1954, Ngô Đình Diệm ra Hà Nội để quan sát tình hình miền Bắc và thăm dò nhân sự nhằm thành lập nội các mới Tuy nhiên, quân Pháp ở các nơi đã bị lực lượng Việt Minh đánh bại và lực lượng tay sai người Việt thì rơi vào tình trạng hỗn loạn Trước tình cảnh khó khăn như vậy, trở về Sài Gòn, tình hình miền Nam đối với Ngô Đình Diệm vẫn không được thuận lợi Hiệp định Giơnevơ được kí kết,

Trang 15

quy định một cuộc tổng tuyển cử vào hai năm sau đó, để tiến hành thống nhất đất nước Việt Nam Điều này đã làm cho Ngô Đình Diệm lo lắng, vì nếu cuộc tổng tuyển cử diễn ra Diệm sẽ không có cơ may dành thắng lợi Ngay từ khi vấn đề chấm dứt chiến tranh Việt Nam và Đông Dương còn đang được đàm phán ở Giơnevơ, giới cầm quyền Washington đã dự báo sẽ có sự chia đôi tạm thời nước Việt Nam trong một thời gian nhất định, và sau đó sẽ có cuộc tổng tuyển cử để đi đến thống nhất đất nước Aixenhao đã nhận định rằng “nếu bầu cử xảy ra theo như hiệp định Giơnevơ đã tiên liệu, thì 80% dân chúng miền Nam sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh” [67, 119] Mỹ không thể chấp nhận một sự đảo ngược cán cân như vậy Để điều này không diễn ra, Tổng thống Mỹ, Aixenhao đã tính đến kế hoạch di cư của đồng bào miền Bắc vào Nam Khi Hiệp định Giơnevơ còn chưa kết thúc, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm bắt tay ngay vào việc thực thi kế hoạch này Chính vì vậy, bên cạnh việc không thừa nhận Hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã viện trợ và thực hiện chính sách cưỡng ép gần một triệu người dân từ Bắc vào Nam tạo ra cuộc di cư lớn chưa từng

có trong lịch sử Việt Nam, để tạo cơ sở xã hội - chính trị cho Ngô Đình Diệm Trong thời gian 300 ngày sau ngày hiệp định bắt đầu, cuối thời hạn mở này, hơn 810.000 người dân đã tận dụng cơ hội di cừ từ Bắc vào Nam [28]

Với số dân di cư từ miền Bắc vào Nam, nhằm thăng bằng sự chênh lệch giữa dân số miền Bắc 12 triệu và dân số miền Nam 11 triệu, làm tăng hi vọng thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đối với Ngô Đình Diệm, tạo ra một cơ sở vững chắc cho chế

độ của Diệm Tờ báo Thế giới – 29.11.1954 có viết “ họ xem những người miền Bắc như là một khối dự trữ cho quân dội và cho những tổ chức chính trị của họ, trong khối dự trữ đó, họ mộ được những người tay chân cuồng tín” [71, 74] Số dân công giáo đã được Diệm tín nhiệm về mặt chính trị và là lực lượng để giúp Ngô Đình Diệm cầm quyền ở miền Nam Việt Nam, là nguồn nhân lực chủ yếu của bộ máy hành chính, chính trị quân sự của chính quyền Sài Gòn

Song song với việc thực hiện di cư, Mỹ nhanh chóng giúp Diệm xây dựng chính quyền ở miền Nam theo hướng thân Mỹ Nhưng đã gặp phải sự chống đối quyết liệt của các thế lực thân Pháp và các giáo phái tại miền Nam Đối với lực lượng thân Pháp, từ ngày Ngô Đình Diệm về nước làm thủ tướng, tướng Hinh đã bày tỏ những thái độ bất mãn với chính quyền Ngô Đình Diệm, tiến hành phối hợp

Trang 16

với lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn với âm mưu phá hoại chính phủ và cá nhân Ngô Đình Diệm Ngày 26/10/1954, thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh (quốc tịch Pháp), tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc gia, dự định tổ chức đảo chánh, lật đổ thủ tướng Ngô Đình Diệm Tuy nhiên, vào lúc Hinh sắp đảo chính Diệm thì quốc hội

Mỹ chính thức công bố lập trường của mình rằng nếu ông Diệm bị lật đổ thì Mỹ sẽ chấm dứt viện trợ cho Việt Nam và cũng chấm dứt quân viện cho quân đội Pháp

Kế hoạch đảo chính bị thất bại, thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh bỏ qua Pháp ngày 19/11/1954 Theo Hoàng Linh Đỗ Mậu, tướng Hinh ra đi, cả thể cờ của Pháp và Bảo Đại sụp đổ, vì tướng Hinh là đại diện cho sức mạnh chính trị của Pháp và Bảo Đại tại Việt Nam lúc bấy giờ Sau khi tướng Hinh ra đi, toàn bộ vùng Duyên hải miền Trung và Cao nguyên Trung phần trở thành hậu thuẫn vững chắc cho Ngô Đình Diệm tiến hành những vận động cuối cùng để quét sạch tàn dư của chế độ thực dân Pháp [57, 95-96]

Khi đã loại bỏ được tướng Hinh – tay chân của Pháp, Diệm đã thực hiện cải tổ chính phủ, đưa những người thân Diệm vào nắm giữ các vị trí trọng yếu trong chính quyền Chính quyền Ngô Đình Diệm đã đưa các tín đồ Công giáo di cư vào các chức vụ hoặc cho thành lập các tổ chức chính trị hậu thuẫn cho Diệm như: Trần Văn Lắm thành lập Tập đoàn công dân vụ cuối năm 1945, Bùi Văn Thinh thành lập Phong trào tranh thủ tự do, Bùi Văn Lương giữ chức Tổng ủy trưởng di cư tị nạn, Trần Chánh Thành thành lập phong trào Cách mạng quốc gia, Lâm Lễ Trinh giữ chức Đổng lí văn phòng Phủ Tổng thống, giám mục Phạm Ngọc Chi phụ trách Uỷ ban Hỗ trợ Định cư,

Sau khi đã diệt trừ các thế lực thân Pháp và thực hiện cải tổ chính phủ Cuối năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm chiến thắng lực lượng Bình Xuyên, những lực lượng chống đối Ngô Đình Diệm chỉ còn lại là những lực lượng phía Đạo Cao Đài và Hòa Hảo Tuy nhiên, những lực lượng này cũng bị dẹp yên, chấm dứt hoàn toàn mọi hoạt động đối lập với Ngô Đình Diệm ở miền Nam Về phía vua Bảo Đại, sau khi ổn định tình hình, chế độ khá vững vàng, Thủ tướng Diệm liền tìm cách chấm dứt vai trò Quốc trưởng của Bảo Đại, người đã tin tưởng Ngô Đình Diệm và

bổ nhiệm ông làm thủ tướng với toàn quyền dân sự và quân sự Ngô Đình Diệm đã dùng một biện pháp có hình thức dân chủ hơn, đó là tổ chức một cuộc trưng cầu dân

Trang 17

ý Để thực hiện âm mưu xâm lược của mình, việc phế truất Bảo Đại đã được Mỹ đặt

ra trong kế hoạch, ngày 23/10/1955 Diệm kêu gọi tổ chức cuộc trưng cầu dân ý phế truất Bảo Đại, “kết quả chính thức của cuộc Trưng cầu dân ý Ngô Đình Diệm giành 5.721.735 phiếu (đạt 98.2% số phiếu), Bảo Đại 63.018 (đạt1.1%) trong tổng số 5.828.907 người đi bầu [21] Số lượng phiếu bầu cho Ngô Đình Diệm gây ra sự nghi ngờ lớn trong dân chúng tuy nhiên điều đó đã được Mỹ đứng sau che đậy rất

kĩ Cuộc trưng cầu dân ý chẳng những truất phế quốc trưởng Bảo Đại, mà chấm dứt luôn những hoạt động chính trị của cựu hoàng Kết quả cuộc trưng cầu dân ý đã truất phế Bảo Đại và chấp thuận Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Việt Nam, với nhiệm vụ đặt nền móng dân chủ Sau cuộc trưng cầu dân ý, Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tuyên bố ngay việc thành lập nền Cộng hòa, và tự mình lên làm Tổng thống Ngày 26/10/1955, tân Quốc trưởng Ngô Đình Diệm đưa ra bản Tuyên cáo, công bố thành lập nền Cộng hòa

Như vậy, sau khi từng bước thực hiện và thúc đẩy việc thành lập chính phủ Việt Nam Cộng hòa và trở thành vị Tổng thống đầu tiên, Ngô Đình Diệm đã tiến hành xây dựng bộ máy chính quyền và thực hiện các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội Có tác động sâu sắc đến tình hình miền Nam Việt Nam, mở ra một trang sử mới cho lịch sử kháng chiến chống Mỹ của dân tộc nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung

1.1.2 Bộ máy chính quyền

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa

Ba ngày sau cuộc trưng cầu dân ý, ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm ký bản Hiến ước tạm thời số 1, tuyên bố: Quốc gia Việt Nam là một nước Cộng hòa, Quốc trưởng đồng thời là Thủ tướng Chính phủ lấy danh hiệu là Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa [20] Ngô Đình Diệm ngay sau khi làm Tổng thống, ông bắt đầu việc sơ thảo một Hiến pháp cho chính quyền mới (11/1955) Ngày 23/1/1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã kí Dụ số 8 để thiết lập Quốc hội và Dụ số 9 để ấn định thể thức thi hành Ngày 4/3/1956, dân chúng đã bỏ thăm theo lối phổ thông, đầu phiếu chọn lựa đại diện của mình trong 123 đơn vị bầu cử Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội lập hiến, Tổng thống gửi cho Quốc hội một bản thông điệp vạch các nguyên tắc lập hiến Ngày 2/7/1956, toàn thể Quốc hội chấp thuận dự án Hiến pháp, theo đó:

Trang 18

Đứng đầu ngành hành pháp là Tổng thống với nhiệm kỳ 5 năm Quốc hội do dân cử chỉ có một viện duy nhất với 123 dân biểu (nhiệm kỳ ba năm chọn theo từng đơn vị bầu cử) có thẩm quyền lập pháp Về tư pháp có Viện Bảo hiến để cân nhắc và xét duyệt những luật lệ ban hành cho phù hợp với Hiến pháp Đặc biệt, Pháp viện sẽ được tổ chức, có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án, Tòa phá án và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội Hỗ trợ ngành hành pháp là Nội các gồm 13 Bộ trưởng Quốc hội soạn xong và thông qua lần cuối bản Hiến pháp ngày 20/10/1956 Hiến phápViệt Nam Cộng hòa được ban hành ngày 26/10/1956, thiên cuối của Hiến pháp quyết định:

Quốc hội dân cử ngày 4/3/1956 là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa

Trong khóa họp thứ nhất của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, Tổng thống chỉ định phó Tổng thống đầu tiên Sự chỉ định này thành nhất định khi được Quốc hội chấp thuận

Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/10/1955 là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa Điều 96 của bản Hiến pháp này hợp thức hóa chức vụ của ông Diệm là vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa Theo đó, Tổng thống có các quyền:

 Ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế

 Bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc

 Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước

 Bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định

 Điều hòa sự liên lạc giữa các Bộ trưởng và kiểm soát sự thi hành các Đạo luật, Sắc lệnh

 Là tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự

 Ban các loại huy chương

 Có quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và miễn án

Trang 19

 Có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu

 Có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội

 Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ

 Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý

 Tổng thống có thể ký Sắc luật ngân sách cho tài khóa sau trong một số trường hợp nhất định

 Kí Sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các Sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó [51, 18-31]

Có thể thấy rằng, chế độ Việt Nam Cộng hòa là chế độ theo định chế “Tổng thống chế” 1 của Hiệp chủng quốc Hoa Kì Theo Hiến pháp Đệ nhất Cộng hòa, Tổng thống là danh xưng chức vụ của người đứng đầu và giữ vai trò Nguyên thủ Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1955-1963 và 1967-1975 Chức vị Tổng thống Việt Nam Cộng hòa là chức vị chính thức được thành lập bởi Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa, do dân chúng bầu trong qua cuộc bầu cử trực tiếp Mặc dù mang tính dân cử rất cao, nhưng trên thực tế, do điều kiện chiến tranh, hầu hết thời gian tồn tại của mình, hầu hết các vị Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đều ít nhiều bị chỉ trích về sự độc tài

Đảng Cần Lao Nhân vị

Để phục vụ cho chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, việc thành lập một

tổ chức chính trị là yêu cầu sống còn đặt ra cho Ngô Đình Diệm, để có thể tập hợp được các tổ chức, lực lượng giáo dân di cư, và các thành phần chống Cộng ở miền

Nam Việt Nam Dưới chính quyền của Ngô Đình Diệm, Đảng Cần Lao Nhân vị

được thành lập và được xem là lực lượng nòng cốt cho tổ chức chính trị của chế độ Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1954-1963 Đảng Cần Lao một lực lượng hoạt động ngầm bên trong và cả hoạt động công khai bên ngoài chính quyền Ngô Đình Diệm,

là một chính Đảng tồn tại và hoạt động tại Việt Nam Cộng hòa từ năm 1954-

1

Tổng thống chế là hệ thống chính phủ mà trong đó có một ngành hành pháp tồn tại và “ngự trị” tách biệt khỏi ngành lập pháp

Trang 20

1963 do hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu thành lập vào cuối năm 1954 tại Sài Gòn dựa trên chủ thuyết chính trị Nhân vị (Personalism) của triết gia người Pháp Emmanuel Mounier Ngày 2/9/1954, Nghị Định số 116-bNV/CT cho phép Đảng Cần lao Nhân Vị được hoạt động hợp pháp [14] Đảng Cần Lao Nhân vị được ví như “đoàn thủy thủ” trong bộ máy của chiếc tàu nhà nước của Ngô Đình Diệm Trong các đơn vị quân đội lớn, ở các bộ, Đảng Cần lao đều có

tổ chức “Đảng đoàn” của nó, không có cơ quan trọng yếu nào mà không có Đảng Cần lao làm tai mắt và là “nồng cốt” cho chế độ độc tài Ngô Đình Diệm

Các đảng viên nắm các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan chính quyền, đặc biệt là các cơ quan an ninh và quân đội trong thời kỳ Ngô Đình Diệm nắm giữ chức

vụ Tổng thống, Ngô Đình Nhu đưa phần lớn đảng viên Đảng Cần lao Nhân vị tham gia hoạt động ngầm trong các tổ chức như Thanh niên Cộng hòa, Phong trào Phụ nữ Liên đới, Thanh nữ Cộng hòa, Sở nghiên cứu chính trị - xã hội Các tổ chức này tùy theo vị trí không chỉ trực tiếp tham gia vào guồng máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mà còn có nhiệm vụ theo dõi, giám sát hoạt động của các tổ chức chính trị và

xã hội khác

Phong trào Cách mạng Quốc gia

Bên cạnh Đảng Cần Lao Nhân vị, còn có các tổ chức chính trị - xã hội khác

như: tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia, được thành lập vào ngày ngày 02

tháng 10 năm 1955 theo nghị định 966/NV của Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa do Trần Chánh Thành – Bộ trưởng Thông tin là chủ tịch”[13] Phong trào Cách mạng Quốc gia nằm dưới sự chủ trương đường lối hoạt động của Đảng Cần lao Nhân vị, nhanh chóng thâm nhập sâu vào các tầng lớp xã hội như quân đội, công chức, trí thức, giới kinh doanh… tại miền Nam và trở thành tổ chức lớn nhất thời bấy giờ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cần lao Nhân vị Tất cả các Ban chấp hành các cấp của Phong trào Cách mạng Quốc gia đều diễn ra những cuộc họp thường xuyên nhằm kiểm thảo, báo cáo và đề nghị công tác lên cấp trên Tùy theo đơn vị mà Ban chấp hành các cấp quy định số lần họp trong tháng như: Ban chấp hành Xã mỗi tuần họp 1 lần; Ban chấp hành Huyện hai tuần họp 1 lần; Ban chấp hành Tỉnh một tháng họp 1 lần; Ban chấp hành Trung ương thì tùy theo công việc mà quy định số lần phiên họp nhiều hay ít, ít ra phải nữa tháng họp một lần Mỗi lần khai họp phải kèm

Trang 21

theo biên bản và tờ báo cáo lên cấp trên Phong trào Cách mạng Quốc gia có vai trò quan trọng trong bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mọi đường lối và chủ trương của phong trào đều nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cần lao Nhân vị Là lực lượng nòng cốt trong quốc hội (với số ghế cao nhất), tổ chức này là giữ vai trò quyết định trong việc thi hành nhiều chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

Ngoài ra bên phụ nữ thì có Phong trào Liên đới Phụ nữ do Trần Lệ Xuân lãnh đạo, mở lớp huấn luyện quân sự cho các thiếu nữ Tổ chức này hình thành năm

1961, làm các nhiệm vụ như kêu gọi hiến máu, giao thuốc men đến dân quê, thăm viếng bệnh nhân trong nhà thương, viết thư thăm hỏi binh lính tiền tuyến Tuy nhiên, thất bại lớn nhất của phong trào không phải chỉ vì tính chất lý thuyết thiếu

thực tế đó mà đặc biệt là người sáng lập ra nó “tuy là một người có quyền lực lớn

lao nhưng lại không có đủ đức độ và khả năng lãnh đạo để thúc đẩy phong trào hoạt động” [57, 225] Vì quan niệm sai lầm về việc xây dựng uy tín và quyền lực, vì

xem thường óc phê phán và truyền thống đạo đức Đông phương cho nên những việc làm của bà Nhu ngày càng làm cho bà bị quần chúng và chính giới căm thù

Có thể thấy rằng, dưới chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, quyền hành tập trung triệt để vào tay Tổng thống, theo Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm

1956, Quốc hội là cơ quan cao nhất do dân bầu cử Nhưng thực chất, Quốc hội chỉ

là một tổ chức để hợp pháp hóa việc ban hành luật lệ, chính sách do Tổng thống dự định trước Tổng thống Ngô Đình Diệm với danh vị Nguyên thủ Quốc gia, nắm giữ vai trò vừa là Tổng thống, Thủ Tướng, vừa là Quốc trưởng, tập trung cao độ quyền lực trong tay Sau khi thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Mỹ đã xây dựng miền Nam với nhãn mác “dân chủ” với đầy đủ các thiết chế của một Nhà nước, có Quốc hội, Tổng thống do dân bầu, song, quyền lực lại nằm vào tay Tổng thống Ngô Đình Diệm, từ đó dẫn đến sự lũng đoạn của gia đình cũng phe cánh họ Ngô, đưa chế độ Việt Nam Cộng hòa thành một chế độ độc tài, chuyên chế

Trang 22

1.2 Các chính sách của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

1.2.1 Về kinh tế

1.2.1.1 Chính sách cải cách điền địa

Ngay từ khi bắt đầu thực hiện âm mưu xâm lược vào miền Nam Việt Nam,

Mỹ đã chú ý đến giai cấp nông dân và nông thôn ở miền Nam, nhằm tranh thủ và lôi kéo nông dân và phía Ngô Đình Diệm, mở đường cho tư bản chủ nghĩa xâm nhập vào nông thôn và nông nghiệp, tạo ra tầng lớp tư sản mới trong đời sống nhân dân miền Nam, để làm chỗ dựa cho chính quyền Sài Gòn Công cuộc “cải cách điền địa” là bước đầu thực hiện âm mưu đó của Mỹ và chính quyền Sài Gòn Tuy nhiên, công cuộc cải cách điền địa đã không tạo ra tầng lớp tư sản mới, mà thực chất là khôi phục lại giai cấp địa chủ đã bị Cách mạng làm thiệt hại, đồng thời tạo ra lớp địa chủ mới trong thôn xã để làm lực lượng hậu thuận cho Ngô Đình Diệm Những đạo dụ “Cải cách điền địa” như Dụ số 2 ngày 8/1/1955, Dụ số 7 ngày 5/2/1955, Dụ

số 57 ngày 22/10/1956, thực chất cướp lại ruộng đất mà nông dân đã được cách mạng chia cấp trong thời kháng chiến, nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng trong dân chúng [73,197]

Bộ điền thổ và cải cách điền địa sớm được thành lập, cuộc cải cách điền địa được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất từ năm 1955 đến cuối năm 1956, thi hành “quy chế tá điền”, khuyến khích việc khẩn hoang đất bỏ hoang và cải thiện mối quan hệ giữa tá điền và chủ điền Tuy nhiên, đây không phải là nhằm cải thiện mối quan hệ địa chủ, tá điền mà nhằm cướp đoạt ruộng đất người dân vào tay của địa chủ Diệm muốn thủ tiêu những quyền lợi về ruộng đất của người dân miền Nam đã thu được từ cách mạng kháng chiến chống Pháp Giai đoạn 1 của cuộc cải cách điền địa được đánh dấu bằng dụ số 2 (8/1/1955) và dụ số 7 (5/2/1955) Dụ số 2 quy định mức thu tô (giá thuê đất) tối đa và lãi suất mà điền chủ được áp dụng: Mức

tô tối đa từ 10 đến 15% trên số lúa thu hoạch cho ruộng làm 1 mùa/năm, Mức tô tối

đa từ 15 đến 25% cho mùa gặt chính của ruộng 2 mùa/năm Dụ số 7 quy định việc thuê đất phải có khế ước (hợp đồng) tá điền, buộc chủ đất phải lập hợp đồng với nông dân Thời hạn khế ước là 5 năm, có tái ký Tá điền có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6 tháng Chủ đất muốn lấy đất lại phải báo trước tá điền 3 năm Khế ước được chia thành 3 loại: Loại A: đối với ruộng đang canh tác có chủ, loại B:

Trang 23

đối với ruộng hoang có chủ, loại C: đối với ruộng hoang vắng chủ Giai cấp địa chủ

ở thôn, xã dần ngóc đầu dậy từ khi chế độ Ngô Đình Diệm lên nắm quyền Dụ số 57 được ban hành vào ngày 22/10/1956, đưa công cuộc cải cách điền địa bước vào giai đoạn thứ 2, quy định việc truất hữu địa chủ Mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất và 15 ha ruộng hương hỏa Ruộng bị truất hữu sẽ được đem bán lại cho những người thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 5 ha, người mua sẽ trả tiền trong thời gian 6 năm Trong thời gian đó ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền Trong 10 năm kế tiếp, người được phát ruộng không được cho mướn hay đem bán lại Địa chủ sẽ được bồi thường 10% tiền mặt, số còn lại được trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi năm lời 3% [47, 846]

Như vậy, về thực chất dụ số 57 của chính quyền Ngô Đình Diệm đã xóa bỏ thành quả cách mạng mà người dân miền Nam đã nhận được trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, buộc người nông dân thừa nhận mặt pháp lí việc sở hữu ruộng đất của địa chủ thông qua việc lặp các “khế ước tá điền” Mặt khác, dụ số 57 cũng đã tạo điều kiện để phát triển giai cấp địa chủ ở nông thôn miền Nam, chế độ bồi thường đối với đất truất hữu –tiền bồi thường sẽ được trả 10% tiền mặt, số còn lại được trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi năm lời 5% Số ruộng truất hữu này

sẽ được bán cho nông dân thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 3 ha Đây thực chất là việc đảm bảo quyền lợi cho giai cấp địa chủ Cuộc cải cách điền địa của Ngô Đình Diệm không công nhận quyền sở hữu ruộng đất của nông dân được cấp trong thời kháng chiến chống Pháp, mưu tước đoạt ruộng đất mà chính phủ cách mạng đã chia cho người dân Bóc lột phong kiến và quyền sở hữu phong kiến vẫn tồn tại giữa địa chủ và tá điền

Bên cạnh đó, Diệm còn cho phép Tỉnh trưởng được tập trung nhân dân trong những công tác cứu tế xã hội đã góp phần biến số đông những Tỉnh trưởng, Quận trưởng, Xã trưởng thành mạng lưới quyền lực đầu tiên ở cấp địa phương Đây được xem là những mầm móng của tham nhũng, áp bức, bất công sau này Ngô Đình Diệm cho bãi bỏ những cuộc bầu cử thôn xã, các viên chức điều hành cấp xã sẽ do Tỉnh trưởng chỉ định chứ không phải Hội đồng do nhân dân trong làng bầu lên nữa [57,194] Từ lâu, chế độ tự trị ở làng xã vốn ăn sâu vào nếp sống của người dân Việt Nam, như câu “phép vua thua lệ làng”, tính tự trị và tính cộng đồng thể hiện rõ

Trang 24

trong làng xã Việt Nam Với chính sách trên, Ngô Đình Diệm đã tạo nên những bất đồng cũng như những mẫu thuẫn đối với nhân dân, khi đã phá vỡ những truyền thống lâu đời của người dân trong làng, xã

1.2.1.2 Chính sách khu dinh điền, khu trù mật

Bên cạnh việc thực hiện chính sách cải cách điền địa, tháng 4/1957, chính quyền Ngô Đình Diệm triển khai kế hoạch lập dinh điền, nhằm đưa dân miền Bắc di

cư và dân các tỉnh đồng bằng lên vùng rừng núi, dọc biên giới từ tỉnh Kon Tum đến miền Đông Nam Bộ Để lôi kéo quần chúng nhân dân vào các khu dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức các lớp học tập tìm hiểu về dinh điền và ra sức lừa gạt rằng, dinh điền là biện pháp làm tăng vốn và lợi ích quốc gia, tư hữu hóa nông dân vô sản, cải thiện dân dinh, Học tập xong nếu ai không tình nguyện đi sinh sống tại các khu dinh điền thì chính quyền sẽ chỉ định các gia đình buộc phải đi, nếu không chịu đi thì sẽ bị nghi là “Việt cộng”, “thân Cộng” Từ năm 1957 – 1960, chính quyền Sài Gòn đã đưa khoảng 20 vạn dân mà phần đông là đồng bào Thiên Chúa giáo ở miền Bắc di cư vào Nam và một phần dân các tỉnh miền Trung định cư khoảng 150 điểm ở Tây Nguyên, Phước Long, Kiến Phong, Kiến Tường, Mộc Hoá, Tân Uyên, [73, 198]

Giáo sư Trần Văn Giàu cho biết: “ Các địa điểm là những trung tâm trồng cây công nghiệp, một trong các chủ trương kinh tế của chính quyền Diệm là đa canh hóa Nói khác hơn, bằng cách dinh điền, Diệm muốn trồng một số loại cây công nghiệp như cao su, ki-nap, đay, gai mà Mỹ và chư hầu của Mỹ cần dùng, một số loại cây khác, giá trị cao như café, chè và hoa quả đặc sản” [47, 853] Tuy nhiên, chính sách Khu Dinh điền đã vấp phải sự phản đối của nhân dân, đặc biệt là những đồng bào được đưa đi đến khu dinh điền sinh sống Đến năm 1959 – 1960, cùng với chính sách cải cách điền địa, chính sách dinh điền bị phong trào Đồng Khởi của nhân dân ta làm cho phá sản Trước thất bại của chính sách Dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm nghĩ đến một chính sách mới có quy mô hơn, lâu dài hơn, có thể kết hợp được sự đàn áp bằng bạo lực với sự lừa phỉnh về xã hội và kinh tế, nhằm bình định nông thôn, khống chế nông dân, cô lập phong trào cách mạng ngay ở địa bàn cơ sở, chính vì vậy ngày 7/7/1959, Ngô Đình Diệm phát lệnh thành lập “khu trù mật”, dồn dân vào những nơi quy định

Trang 25

Về mặt lý thuyết, khu trù mật được xem như những đơn vị hành chánh nông nghiệp, nhằm quy tụ nông nhân thành từng khu bảo vệ yểm trợ và phát triển Trên mặt xã hội, khu trù mật là gạch nối giữa thành thị và nông thôn, qua đó, các sinh hoạt và phát triển tiến bộ của đô thị sẽ đổ về nông thôn Đỗ Mậu cho biết rằng chương trình Khu trì mật đã không nghiên cứu kĩ càng để đi sát với thực tế, chuộng hình thức nặng nề về lượng hơn là sản phầm, các cán bộ chỉ đạo lo hối hả trồng cây hôm nay, để ngày mai Tổng thống đi kinh lý khen thưởng hơn là thực sự phát triển chậm mà chắc Những lời la thán và các đơn khiếu nại của nhân dân ngày một nhiều, người dân bị đe dọa nên phải rời khỏi nhà, thiếu thốn về mọi mặt, thay vì được trợ cấp những người công phu bị biển thủ, kinh phí phóng đại, tài sản bị xâm phạm Mặt khác, những hoạt động canh tác, nề nếp sống cũng như những sinh hoạt nhân văn của người dân như: hội hè, đình đám, cưới hỏi đều bị xáo trộn, gây ra những bất bình trong nhân dân Chương trình Khu trù mật đã làm tốn không biết bao nhiêu công quỹ và làm khổ sở nhân dân [57, 266 - 267] Giáo sư Trần Văn Giàu cũng cho biết: Mỗi gia đình đến khu trù mật buộc phải bỏ ruộng vườn, nhà cửa, mồ

mã ông bà để ở quê nhà, những ai không chịu dời đi, chính quyền Ngô Đình Diệm dùng bạo lực đàn áp và dồn dân vào những nơi quy định, dùng quân đội, đàn áp, cưỡng bách bắt xâu, đuổi nhà, gom dân, phá ruộng vườn và phá nhà cửa của dân Những gia đình bị dời đến Khu trù mật phải lĩnh mấy công đất đã được định đoạt trước Sau khi gặt lúa xong, người dân không được đem thẳng về nhà, mà phải đem đến sân chung để khấu trừ các loại thuế sau đó mới được đem về nhà [47, 939]

Quả thật, khu trù mật đã làm xáo trộn đời sống của nhân dân, chính quyền Ngô Đình Diệm đặt nhân dân vào một hệ thống kìm kẹp cực kỳ khắc nghiệt mà không lường trước sự thất bạn của chính sách tập trung dân, gây thêm những bất bình, mâu thuẫn của nhân dân đối với chính quyền Sự thất bại của Diệm về cải cách điền địa và chính sách Khu trù mật đã được thể hiện khi Diệm không lôi kéo được lực lượng nông dân đi theo chính quyền, không tách được quần chúng nhân dân khỏi ảnh hưởng của Đảng Cách mạng Từ đó, cho thấy sự mâu thuẫn giữa nông dân với chính quyền, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chế độ

Trang 26

1.2.2 Về chính trị

1.2.2.1 Chính sách tố Cộng, diệt Cộng

Chống Cộng là quốc sách của cả Mỹ và Diệm, nhằm chống lại những người kháng chiến cũ Chính sách “tố Cộng, diệt Cộng” là chính sách của Ngô Đình Diệm khi còn là Thủ tướng, được thi hành từ năm 1954, và kéo dài trong nhiều năm sau khi Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Theo Hiệp định Giơnevơ, quy định cấm trả thù những người kháng chiến, nhưng Ngô Đình Diệm là người có tinh thần chống Cộng, truy tìm và tiêu diệt những người tham gia hoặc có liên quan đến Việt Minh trong thời kháng chiến Ngô Đình Diệm coi tất cả những người chiến sĩ và du kích Việt Minh trước năm 1945, dù họ có là Đảng viên hay không, những người làm nghề tự do ít nhiều đã tham gia vào trong kháng chiến đều là Cộng sản “Trong những năm từ 1956 – 1957, cuộc khủng bố của chính quyền Diệm đã trở thành những hành động đại quy mô, có hệ thống, đạt mức độ dã man xưa nay chưa từng thấy ở Việt Nam Từ đây, Diệm công khai trước dư luận về các chiến dịch tố cộng hay chiến dịch diệt Cộng” [47, 807]

Từ tháng 5/1955 đến tháng 5/1956, chính quyền Ngô Đình Diệm phát động

“chiến dịch tố Cộng giai đoạn I” trên quy mô toàn miền Nam Tháng 3/1955, Ngô Đình Diệm đã cho thành lập một hệ thống các cơ quan có trách nhiệm thực hiện chính sách chống Cộng sản ở miền Nam, như “Phủ Đặc ủy công dân vụ”, “Hội đồng chỉ đạo tố cộng”, ngoài ra còn có các cơ quan như Nha chiến tranh tâm lí, Bộ Thông tin, Tổng cục chiến tranh chính trị được thành lập ngày 9/2/1957, để làm cố vấn trong chiến dịch “tố Cộng” Ngô Đình Diệm đã ra Dụ số 6 (11/1/1956), lập các trại để giam giữ những người bị coi là “nguy hại cho quốc phòng và an ninh” Địch chia nhân dân làm ba loại: loại cán bộ và Đảng viên Cộng sản, loại gia đình có người đi tập kết, loại nhân dân nói chung Tùy theo từng đối tượng mà địch cho tổ chức học tập “tố Cộng” theo những mức độ khác nhau Sau khi học tập xong, địch bắt từng gia đình phải kê khai những người Cách mạng, bắt mọi người phải tố giác Cộng sản Chính điều này, đã gây ra những hoang mang, nghi ngờ giữa quần chúng

và cán bộ Từ tháng 7/1957 trở đi, địch mở “Chiến dịch tố Cộng gia đoạn II” Vào giai đoạn này, địch điều tra và phân chia gia đình các hộ gia đình theo từng loại: Gia đình loại A là gia đình những người kháng chiến cũ, gia đình có người đi tập kết

Trang 27

Địch coi đây là loại gia đình bất hợp pháp Gia đình loại B là gia đình có bà con, họ hàng thân thuộc với gia đình loại A, đây cũng là loại gia đình bất hợp pháp Gia đình loại C, là những gia đình hậu thuẫn cho chính quyền Ngô Đình Diệm, được hưởng những ưu đãi quyền lợi về kinh tế, chính trị Những gia đình thuộc loại A, B phải đi học tập “tố Cộng” và nói xấu cách mạng, thực hiện tố giác đồng chí, người thân của mình [42, 254- 255]

Tháng 4/1959, với sự tàn ác của mình, quyết tâm nhổ cỏ tận gốc Cộng sản,

“Quốc hội” của Diệm thông qua luật số 91 Luật ấy được ban hành ngày 6/5/1959 mang tên “Luật 10-59” về thành lập các “Tòa án Quân sự Đặc biệt” với lý do “xét

xử các tội ác chiến tranh chống lại Việt Nam Cộng Hòa”, mục đích nhằm tiến hành thanh trừ những người cộng sản ở miền Nam Việt Nam Với những luật lệ khắc nghiệt và các tổ chức chống Cộng, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành khủng bố tràn lan đối với nhân dân, đặc biệt là những gia đình kháng chiến cũ hoặc những gia đình có thân nhân tập kết ngoài miền Bắc Việt Nam Theo ông Hoàng Linh Đỗ Mậu, thay vì tố Cộng, bộ máy Cần lao Công giáo đã tố chính những thành phần dân tộc quốc gia Chiến dịch tố Cộng đã bắt giam vào trại cải tạo từ 50.000 đến 100.000

tù nhân, nhưng đa số tù nhân này không phải là Cộng sản [57, 197-198] Chỉ trong vòng 4 năm, từ năm 1955 đến năm 1958, chính sách khủng bố của Ngô Đình Diệm

đã làm cho cả miền Nam tổn thất gần 9 phần 10 cán bộ Đảng viên Ở Nam Bộ, khoảng 7 vạn cán bộ, đảng viên bị giết, gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt, tù đày, gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn tật, [33, 310]

Có thể nói rằng, quốc sách “tố Cộng” đã gây ra biết bao đau khổ cho người dân Với những luật lệ hà khắc và các tổ chức chống Cộng quy mô, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến hành bắt bớ, chém giết biết bao người dân yêu nước Dưới chiêu bài “chống Cộng”, chính quyền Ngô Đình Diệm đã chống lại tất cả những người yêu nước, những người dân chủ và tiến bộ ở miền Nam Việt Nam Chính vì vậy, quốc sách “tố Cộng” đã trở thành một trong những nguyên nhân gây mâu thuẫn trong lực lượng nhân dân Với chính sách dã man, tàn độc đã khiến nhân dân miền Nam đứng lên kiên quyết đấu tranh, chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm

Chính sách xây dựng các khu trù mật, khu dinh điền, với âm mưu ngăn chặn lực lượng Cách mạng thâm nhập vào vùng dân cư đông đúc Để đánh lừa dư luận,

Trang 28

Ngô Đình Diệm tuyên bố rằng, thành lập các khu trù mật trước hết nhằm vào mục đích kinh tế, xã hội, “là xây dựng một xã hội mới để thực hiện công bằng, bác ái, đồng tiến xã hội trong hoàn cảnh một nước kém mở mang” [47, 935] Tuy nhiên, những âm mưu đăng sau những lời tuyên bố tốt đẹp đó lại đi ngược với lợi ích, nguyện vọng của nhân dân Báo Lẽ Sống được đăng tải ngày 15/3/1960 đã viết:

“Những vùng hoang vu, hẻo lánh thường là sào huyệt của Việt cộng nằm vùng và phiến loạn, quân đội đến tảo thanh thì chúng lẩn trốn, rút đi thì chúng trở lại Bởi vậy, khu trù mật thiết lập ngay tại những vị trí xung yếu để cắt đứt giao thông liên lạc của địch, cô lập chúng, đồng thời kiểm soát mọi sự xâm nhập phá hoại” Báo Cách mạng Quốc gia Sài Gòn số 18/2/1960 tiết lộ mục đích đen tối của “khu trù

mật” là: “tách quần chúng ra khỏi những phần tử cảm tình với cộng sản, lùa cộng

sản vào rừng để chúng bị cô độc, thiếu thốn, đói khát rồi bị diệt trừ” [47, 936] Khu

trù mật có 4 tiểu khu, khu hành chính, tiểu khu công thương, tiểu khu dân sự và tiểu khu dành riêng cho các gia đình “thân Cộng”, tức là những gia đình có người thân tập kết ra Bắc hoặc bị tình nghi là cộng sản, tiểu khu này bị bao vay chằng chịt bởi các hàng rào thép gai và tháp canh Chính quyền Ngô Đình Diệm đã đặt nhân dân vào một hệ thống kìm kẹp khắc nghiệt Mỗi khu có một ban đại diện Dưới ban đại diện là Ban đại diện ấp Các ban đại diện khu, ấp là những tên tay sai đắc lực Dưới

ấp, các gia đình được ghép lại thành ngũ gia liên bảo, có một Liên gia trưởng và một Liên gia phó do cấp trên chỉ định Chúng xếp các gia đình thành các loại A,B,C,D Gia đình loại D ở vòng ngoài, đến loại C,B và ở giữa là gia đình loại A Các gia đình loại C,D kiểm soát các gia đình loại A, B Mỗi gia đình phải có tờ khai ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp và dán ảnh từng người Người dân đi đâu, làm gì đều phải báo lên Liên gia trưởng, ấp trưởng [47, 939]

Qua đó, có thể thấy rằng, thành lập “khu trù mật” là nhằm bình định, khống chế dân, cô lập phong trào cách mạng ngay ở địa bàn cơ sở, nhằm tách cộng sản ra khỏi nhân dân, xây dựng được khu trù mật, chính quyền Ngô Đình Diệm hi vọng sẽ ngăn chặn được ảnh hưởng của cộng sản đối với nhân dân, các gia đình kháng chiến

và bị tình nghi sẽ bị bao vây chặt chẽ, những cán bộ cách mạng sẽ không còn cơ sở liên lạc Chính quyền Ngô Đình Diệm đã dùng bạo lực chứ không phải dùng các biện pháp chính trị, giáo dục để xây dựng niềm tin và sự ủng hộ trong quần chúng

Trang 29

nhân dân Những chính sách độc tài đã trở thành nguyên nhân gây ra những mâu thuẫn, bất mãn với chính quyền Ngô Đình Diệm

1.2.2.2 Chính sách kiểm soát báo chí

Bên cạnh các chính sách độc tài khác, Ngô Đình Diệm còn thực hiện chính sách kiểm soát và khống chế báo chí, những chính sách kiểm duyệt gắt gao, thậm chí đập phá, khủng bố các tòa soạn khi cho xuất bản các tờ báo có khuynh hướng đối lập với chính quyền Dưới thời của chính quyền Ngô Đình Diệm, báo chí không được tự do ngôn luận, không thể hiện được tính dân chủ Mọi hoạt động của báo chí đều bị kiểm soát gắt gao và hạn chế Việc xuất bản báo chí ở miền Nam chỉ được ưu tiên giành cho những tờ báo thân Mỹ – Ngụy, phục vụ cho mục đích tuyên truyền

“tâm lý chiến” còn tự do báo chí có thể khẳng định rằng không hề có Những nhà báo chống đối chính quyền, trước sau cũng bị đóng cửa; những người chủ nhiệm, quản lí của các tờ báo bị đưa đi bí mật ban đêm; nếu không thế thì cũng bị ghép vào tội gá bạc, tống tiền hay đi lừa đảo, đưa ra toà, gia sản bị tịch biên, có bao nhiêu vốn liếng đi tiêu hết Theo Đỗ Mậu, “việc trắng trợn và khủng khiếp hơn là những biện pháp công an trị và cảnh sát trị bằng cách cho tay sai đến đập phá các tòa báo, khủng bố và truy tố ra tòa các chủ nhiệm của những tạp chí có khuynh hướng đối lập” [57, 200] Một cơ quan do tay sai của chế độ chặn đứng các tờ báo mà họ gọi là phản động, và cán bộ Cần Lao được đặt vào hàng ngũ báo chí làm mật vụ để theo dõi, chỉ điểm các nhà văn, nhà báo yêu chuộng tự do và dân chủ thật sự Ngày 20/3/1956, Ngô Đình Diệm đã ban hành Dụ số 13, với nội dung khống chế quyền ngôn luận của nhân dân Với những biện pháp bắt bớ, khủng bố kí giả, truy tố chủ nhiệm ra tòa, tình trạng báo chí dưới thời Ngô Đình Diệm ít ỏi về số lượng và cả chất lượng Diệm đã tước bỏ tất cả mọi quyền hạn dù là nhỏ nhất của người dân miền Nam, bất cứ ai cũng có thể bị bắt bớ, bỏ tù, giết hại nếu bị lính của Diệm nghi ngờ rằng đó là Cộng sản, đang che dấu Cộng sản hoặc có liên quan đến Cộng sản Việc đi lại, học tập, viết lách là điều vô cùng xa xỉ đối với nhân dân miền Nam

Tháng 3/1958, Nghiêm Xuân Thiện – chủ nhiệm tờ báo Thư gửi ông Nghị của tôi bị

tòa phạt 10 tháng tù treo và 100.000 đồng, bị rút giấy phép xuất bản, vì tội “ có mục đích xúc phạm chính quyền”, “nội dung bài viết chỉ đòi hỏi các ông Dân biểu hành

xử đúng đắn nhiệm vụ đại diện cho dân, đừng làm nghị gật, đừng làm Dân biểu gia

Trang 30

nô” [57, 200] Ông Nghiêm Xuân Thiện vốn là một người chống cộng từ năm 1945,

và tờ báo Thời Luận của ông cũng từng bị thực dân Pháp khủng bố vì những luận chống thực dân Ông Thiện di cư vào Nam trong cuộc di dân từ miền Bắc vào Nam năm 1954 và tiếp tục với sự nghiệp làm chủ nhiệm báo Thời Luận Tuy nhiên, khi còn kháng chiến chống Pháp, vì đòi hỏi tự do mà báo Thời Luận bị Pháp đập phá, đến khi vào Nam, một lần nữa cũng vì đòi hỏi tự do mà ông Thiện bị đưa ra tòa vì

đòi hỏi dân chủ tự do Sau sự kiện tờ báo Thời Luận, Tờ báo Tự Do của các ông

Nguyễn Hoạt, Lưu Đức Sinh, Lê Văn Tiến, Tam Lang, lúc đầu là diễn đàn chống Cộng sâu sắc và hiệu quả nhất nhưng cuối cùng cũng không thể hợp tác được với

chế độ Ngô Đình Diệm Số Xuân Tự Do năm Canh Tý (1960), vì in hình bìa của

họa sĩ Phạm Tăng vẽ sáu con chuột, vừa tượng trưng cho tuổi Tý của ông Diệm vừa tiêu biểu cho anh em Ngô Đình và bà Nhu đang gậm nhắm đục khoét trái dưa hấu (tượng trưng cho miền Nam) nên báo bị đóng cửa và các ký giả thì đi tù

Như vậy, nếu không có tự do báo chí thì chế độ đó chắc chắn độc tài, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tự cô lập chính quyền với khối đại đoàn kết dân tộc Với những biện pháp bắt bớ và kiểm soát báo chí như vậy, đã không ít các nhà văn, nhà báo bất mãn với chế độ “Rất nhiều nhà báo đã từng can đảm khôn ngoan tồn tại được qua chế độ kiểm duyệt của thực dân Pháp, nhưng dưới thời ông Diệm cũng đành tự ý đình bẩn những đứa con tinh thần và tạm chấm dứt đệ tứ quyền của mình hoặc vì không muốn bẻ cong ngoài bút để làm một thứ bồi bút tán tận lương tâm,

hoặc vì không chịu nổi áp lực của các cơ quan mật vụ Công an” [57, 205]

Với những nhà văn, nghệ sĩ chân chính bị chèn ép dưới chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa, với khát khao đấu tranh để đòi công bằng xã hội, tranh đấu cho đồng bào có cơm no áo ấm, để trở lại với quyền tự do ngôn luận và xuất bản những

“đứa con tinh thần” của những người làm báo, viết báo, để viết lên những sự thật lịch sử, đã làm mâu thuẫn giữa chính quyền và nhân dân ngày càng sâu sắc Qua đó,

có thể thấy rằng, chính quyền Ngô Đình Diệm đã không còn nhận được sự hậu thuẫn, niềm tin từ nhân dân Để rồi, ngày 1/11/1963, Ngô Đình Diệm bị quân đội giết chết trong cuộc đảo chính, mở ra thời kỳ khủng hoảng chính trị kéo dài với các chính phủ được lập lên và sụp xuống liên tục

Trang 31

gì mà vẫn điều khiển các trường tư thục, được tổ chức những áp phe vơ vét tiền bạc Hai linh mục đã được cử làm viện trưởng của hai trong ba trường Đại học của toàn miền Nam, trong đó có Đại học Đà Lạt Dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, các tổ chức Công giáo tha hồ xuất bản báo chí, kinh sách, tiếng nói Công giáo trên các đài truyền thanh, trong khi đó sách kinh của Phật giáo lại bị kiểm duyệt gắt gao, ngay

cả việc dùng đài phát thanh cũng không được chấp nhận [57, 398] Một cựu tướng lãnh của quân đội Sài Gòn cho biết thêm:

“Trong Quốc hội thì Chủ tịch luôn luôn là người Công giáo, đa số dân biểu đều là người Công giáo Cho đến năm 1963, trừ thị trưởng Đà Lạt là người theo

Trang 32

Phật Giáo, tất cả các tỉnh, thị trường tại miền Trung và Cao Nguyên đều là tín đồ Thiên Chúa giáo Tỉnh trưởng nhiều tỉnh ở Nam phần như: Gia Định, Bình Tuy, Long Khánh, Phước Thành, Phước Long, Định Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Long đều là người Công giáo” [67; 131]

Như vậy, trong quá trình tiến hành di cư và định cư, chính quyền Ngô Đình Diệm đã đưa những người Công giáo vào chiếm giữ các vị trí trong hệ thống chính quyền, tính chất kì thị theo thời gian cứ tăng dần, gây bất mãn sâu rộng trong nhân dân, nhất là đối với tín đồ Phật giáo Ngày 9/1/1956, chính quyền Ngô Đình Diệm

ra dụ số 4 hủy bỏ ngày lễ Phật Đản trong danh sách cho các học đường, công chức

và binh sĩ, điều này đã tạo nên sự câm phẫn trong xã hội miền Nam nói chung và giới Phật giáo nới riêng Tình trạng kỳ thị Phật giáo tiêu biểu và trắng trợn đã xảy ra

ở miền Nam lúc bấy giờ Lễ Phật Đảng không được ghi trong danh sách ngày nghĩ quốc gia trong khi lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo thì lại được xem như Quốc lễ Mãi cho đến năm 1957, Hội chủ Phật giáo phải làm đơn “xin”, Chính phủ mới “cho” nghỉ ngày Phật Đảng Nhưng quan trọng hơn cả là chính quyền Ngô

Đình Diệm vẫn duy trì Dụ số 10 để khống chế Phật giáo trong quy chế của một Hội

bình thường, trong khi Công giáo thì không bị ràng buộc, muốn tự do điều hành và sinh hoạt sao cũng được Đạo dụ số 10 được xem như là sản phẩm độc ác và thâm độc của thực dân Pháp trong chính sách tiêu diệt các tôn giáo Việt Nam, trong việc làm tê liệt các sinh hoạt tín ngưỡng của quần chúng, mặt khác thông qua đạo số 10, Pháp độc quyền hành đạo Dụ này không xem Phật giáo như một tôn giáo mà chỉ như một hiệp hội, ngang hàng với các hiệp hội từ thiện, mỹ nghệ, tiêu khiển, thể thao Riêng Thiên Chúa giáo không nằm trong Dụ số 10

Đạo Dụ số 10 được ban hành ngày 6/8/1950 dưới thời Bảo Đại làm Quốc trưởng Ngô Đình Diệm được Bảo Đại cử giữ chức Thủ tướng năm 1954 thay nội các Bửu Lộc, chỉ sau một năm (ngày 23/10/1955) đã lật đổ Bảo Đại bằng một cuộc trưng cầu ý dân có sắp đặt, ba ngày sau tuyên bố thành lập cái gọi là nền Đệ nhất Cộng hòa do chính ông làm Tổng thống lâm thời, xóa bỏ tất cả các văn kiện pháp quy nhưng tuyệt nhiên vẫn giữ lại Dụ số 10 Với việc duy trì đạo dụ số 10 đầy tính chất kì thị tôn giáo tại miền NamViệt Nam, đã nói lên âm mưu Công giáo hóa miền Nam của chính quyền Ngô Đình Diệm Năm 1963, xảy ra biến cố Phật giáo là thể

Trang 33

hiện đỉnh điểm của chính sách kì thị tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm Vào tháng 5/1963, chính sách kỳ thị Phật giáo của chế độ Diệm lên đến cao điểm với lệnh cấm treo Phật kỳ trong lễ Phật Đảng tại Huế và sau đó nổ súng giết 8 Phật tử tại Đài Phát thanh Đây là giọt nước làm tràn sự bất công của chính sách tiêu diệt Phật giáo một cách có hệ thống để Công giáo hóa miền Nam vốn bắt đầu từ năm

1956, khi lần đầu tiên Hoà thượng Trí Thủ gửi văn thư chính thức phản đối Linh mục Vàng, giảng sư của Trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long, đòi cắm cây thánh giá lên núi Ngũ Hành Sơn, nơi có chùa Non Nước ở Đà Nẵng.Kể từ năm 1956 đó cho đến suốt 7 năm còn lại, Phật giáo đã bị đối xử phân biệt, áp lực đổi đạo, đày đọa đi các vùng dinh điền trên cao nguyên, bị chụp mũ là Cộng sản, chùa chiền bị các cha xứ lấn chiếm tranh dành, công chức quân nhân Phật tử bị trù dập Biến cố ở Huế sau đó trở thành cuộc đấu tranh cho nguyện vọng 5 điểm đòi bình đẳng tôn giáo Trước sự ngoan cố của chính phủ Diệm, ngày 11/6/1963, Hoà thương Thích Quảng Đức tự

thiêu để phản đối chính sách bình đẳng tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm,

khiến cuộc đấu tranh của Phật giáo lan rộng ra với sự hiện diện mạnh mẽ và đông đão của sinh viên, học sinh và Đảng phái Ngày 7/7/1963, văn hào Nhất Linh tự tử

để phản đối chính sách độc tài, đàn áp Phật Giáo của Ngô Đình Diệm Trước tình hình đó, ngày 20/8, ông Nhu ra lệnh cho Cảnh sát dã chiến và Lực lượng Đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung phát động chiến dịch “Nước Lũ” ào ạt tấn công chùa Xá Lợi, Giác Minh, Ấn Quang, Từ Quang, Therevada ở Sài Gòn và chùa chiền khắp toàn quốc, bắt Tăng Ni và Phật tử giam giữ, phản bội Thông cáo Chung và vu khống cho Phật giáo là tay sai của Việt cộng Hệ quả tức thời của chiến dịch Nước

Lũ là toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo bị triệt tiêu, phong trào đấu tranh của Phật giáo gần như bị tê liệt, nhưng chính vì vậy mà phong trào đã trở thành tiền đề văn hóa và sức bật chính trị cho ngày 1/11/1963 của Quân đội ba tháng sau đó Cuộc vận động của Phật Giáo 1963 bắt đầu ở Huế với cái chết của tám Phật tử đêm 8/5/1963 tại đài phát thanh, rồi cuộc tự thiêu của Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 tại Sài Gòn và chiến dịch “nước lũ” tổng tấn công chùa chiền toàn quốc đêm 20 rạng ngày 21/ 8/1963 Ba biến cố lịch sử quan trọng của phong trào Phật Giáo tranh đấu này dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng kéo dài nửa năm

và kết thúc bằng cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền của Tổng thống Ngô Đình

Trang 34

Diệm Ngày 1/11/1963, quân đội phát động cuộc binh biến lần thứ ba để lật đổ chế

độ độc tài Ngô Đình Diệm Như vậy, với những chính sách độc tài, Ngô Đình Diệm

đã làm cho mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền ngày càng trở nên sâu sắc, đưa đến những cuộc đấu tranh, biểu tình chống chế độ bùng nổ khắp miền Nam, mở

ra thời kỳ khủng hoảng sâu sắc của chế độ Việt Nam Cộng hòa

1.3 Khủng hoảng chính trị và sự sụp đổ của Chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

1.3.1 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối phó với mâu thuẫn nội bộ

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam được sự giúp đỡ của

Mỹ đến năm 1957 cơ bản được xây dựng hoàn bị Cộng thêm các thành tích do chương trình Cải cách Điền địa và các cuộc càn quét, triệt phá các cơ sở cách mạng, tiêu diệt lực lượng yêu nước đã khiến Mỹ và Ngô Đình Diệm tin rằng, năm 1957 là thời kì vàng son của nền Đệ nhất Cộng hòa Chính trường miền Nam Việt Nam hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của anh em Ngô Đình Diệm Nhưng, sự thật đằng sau những lời tuyên bố lạc quan của chính giới Mỹ, những mâu thuẫn trong lòng chế độ Ngô Đình Diệm nhanh chóng phơi bày “Trong lúc anh em ông Diệm

tự hào tự mãn vì những lời ca ngợi của một số chính khách tướng lãnh Mỹ, và lạc quan vì những buổi đón tiếp đông đảo của dân chúng mỗi lần ông đi kinh lý, thì tình hình an ninh Việt Nam đã thật sự đến hồi lo ngại” [57, 287] Từ nửa cuối năm 1957, tình hình miền Nam Việt Nam bắt đầu chuyển động và càng trở nên ảm đạm đối với Ngô Đình Diệm sau những năm thực hiện chính sách mị dân, kết hợp sử dụng công

cụ bạo lực để tiêu diệt cách mạng, kìm kẹp quần chúng, thanh trừng đối lập Đến năm 1959, phong trào cách mạng miền Nam thực sự chuyển mình, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang tuyên truyền phát triển thành khởi nghĩa giành chính quyền, đẩy chế độ Ngô Đình Diệm tới bờ vực suy thoái Phong đấu tranh của nhân Việt Nam chống Mỹ - Diệm đã làm bùng nổ mâu thuẫn giữa các phe phái trong chế độ Việt Nam Cộng hòa Cái chính mà chế độ Ngô Đình Diệm có được là

sự căm phẫn, sự đấu tranh phản kháng của quần chúng yêu nước và cách mạng miền Nam đã làm cho nội bộ Việt Nam Cộng hòa lục đục Sự phục hồi và phát triển của lực lượng cách mạng làm cho mâu thuẫn nội bộ chế độ Ngô Đình Diệm tăng cao Nhằm củng cố quyền lực, Ngô Đình Diệm ra tay thanh trừng nội bộ, ngày càng

Trang 35

nhiều phần từ vốn trung thành với Ngô Đình Diệm trước đây bị tước đoạt quyền lợi quay lưng với chế độ và ra mặt chống đối, lên tiếng tố cáo chính sách độc tài, gia đình trị của anh em Ngô Đình Diệm Người Mỹ bắt đầu nghĩ tới việc thay thế những người trong gia đình Ngô Đình Diệm Ngược lại, để củng cố vị trí và quyền lực, ngăn ngừa đảo chính, Ngô Đình Diệm thanh trừng bộ máy chính quyền và quân đội Bên cạnh đó, vì anh em Diệm xem việc thưởng phạt sĩ quan như đặc quyền của

cá nhân, danh dự và kỉ luật trong quân đội không còn, đã tạo ra những bất công và ganh ghét trong hàng ngũ quân đội Chính vì vậy mà tướng Dương Văn Minh đã tỏ

ra bất mãn từ những năm 1960 – 1961, khi được giao chức chủ tịch Hội đồng Thăng thưởng, mà đối với Dương Văn Minh thì Hội đồng như một trò hề [57, 287-288] Ngày 26/4/1960, 18 chính khách trong Uỷ ban tiến bộ và tự do họp tại khách

sạn Caravelle ra một bản phê phán gay gắt và có phạm vi rộng nhằm vào các chính

sách của chế độ Ngô Đình Diệm Bản tuyên cáo của nhóm Caravelle đã vạch trần bản chất thối nát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, bản tuyên cáo được công bố trước báo giới, phơi bày sự thật về chế độ Việt Nam Cộng hòa: “ Chính trị độc tài, dân chủ trò hề nhà lao ngập tràn không chứa người bị bắt,kinh tế suy thoái, thất nghiệp tràn lan, nông sản ế ẩm, nạn đầu cơ độc quyền hoành hành, hàng vạn dân lao động bị bắt đi làm khổ sai ở các khu trù mật, quân sự tàn bạo, bất công, chỉ huy thăng chức tước không phải vì tài năng mà vì biết nịnh bợ quân đội chỉ là công cụ đàn áp của phe cản Diệm, của gia đình Diệm, hành chính nặng nề, tê liệt, lạm quyền, tham nhũng” [71, 159] Bản tuyên ngôn Caravalle như những lời tiên tri báo trước sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm và có tiếng vang ở quốc ngoại và trong quân đội Một chuỗi biến cố liên tiếp xảy ra sau đó: Cuối tháng 10/1960, Tổng thống Diệm cải tổ nội các vì có bất đồng nội bộ, bốn bộ trưởng ra đi: Nội vụ (Lâm

Lễ Trinh), Quốc phòng (Trần Trung Dung), Thông tin (Trần Chánh Thành) và Tư pháp (Nguyễn Văn Sĩ) sau một thủ tục điều tra do các bộ này khởi xướng về những lạm quyền của đảng Cần lao Hai tuần sau, ngày 11/11/1960, xảy ra cuộc đảo chính dưới sự chỉ huy của Đại tá Nguyễn Chánh Thi, lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù biệt khu thủ đô của Quân lực Việt Nam Cộng hòa Cuộc đảo chính bất thành vào tháng 11/1960 được coi là một diễn biến có tính bước ngoặc trong lịch sử nền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa Đánh dấu nguy cơ bị lật đổ của ông Diệm bởi các lực lượng vũ

Trang 36

trang Qua những cuộc binh biến đó, cho thấy những mâu thuẫn từ nội bộ chính quyền, và sự nổi dậy của chính tay chân ông Diệm Việc quyền hành nhà nước bị chi phối quá nhiều trong tay những người trong gia đình tổng thống Diệm, cộng với

sự lộng quyền của một số Đảng viên Cần lao và chính sách đàn áp của Chính phủ gây bất mãn trong quần chúng Ngay chính trong những người đồng chí thuở ban đầu của Diệm cũng cảm thấy bị phản bội và chuyển dần sang thế đối lập với người

mà họ đã ủng hộ Họ liên tục công kích chính sách độc tài chính trị của Tổng thống Mùa thu năm 1960, thái độ bất bình trong hàng ngũ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa trở nên gay gắt Bên cạnh đó, sự oán giận của các tướng Trần Văn Đôn,

Lê Văn Kim và Dương Văn Minh đối với anh em nhà họ Ngô đã bắt đầu nhen nhóm từ năm 1960, khi họ bị thẩm vấn từ sau vụ việc đảo chính hụt Riêng Trần Văn Đôn, từ 1962, bị bãi chức Tư lệnh Quân đoàn I, và được bổ nhiệm vào vị trí Tư lệnh quân đội Việt Nam Cộng hòa – một chức vụ mới được tạo ra [43, 378] Nội bộ chính giới miền Nam thêm sâu sắc, căng thẳng lên đến đỉnh điểm vào ngày 27/2/1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom Dinh Độc Lập, cho thấy sự bất lực của Diệm đối với tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam Sự căng thẳng ở miền Nam Việt Nam khiến chính sách của Mỹ rơi vào khủng hoảng, lực lượng cách mạng ở miền Nam không những không bị đè bẹp, mà chính trong nội bộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã có những mâu thuẫn không thể cứu vãn

Quả thật, với chủ trương độc tài và gia đình trị, chính phủ Ngô Đình Diệm ngày càng bị phản đối, chính quyền lâm vào khủng hoảng chính trị sâu sắc Chỉ sau

5 năm thiết lập nền Cộng hòa, giữa Mỹ và Diệm đã nổi lên những mâu thuẫn lớn

Mỹ hoàn toàn không đồng ý đến cách lãnh đạo độc tài - gia đình trị của dòng họ Ngô, bên cạnh cặp đôi quyền lực bậc nhất “Diệm - Nhu” còn có thêm những bậc cận thân như Ngô Đình Cẩn, Trần Lệ Xuân cũng thường xuyên can dự vào các vấn

đề Chính trị Mỹ thấy rõ sự chi phối của vợ chồng “ông cố vấn” là quá lớn và đã nhiều lần muốn gạt cặp đôi này ra khỏi chính trường nhưng mỗi lần như vậy đều vấp phải sự phản đối mãnh liệt của dòng họ Ngô, đặc biệt những phát biểu của bà Trần Lệ Xuân làm mất lòng và mất thể diện của người Mỹ, khiến cho Mỹ muốn tìm phương kế khác để thoát khỏi bế tắc

Trang 37

1.3.2 Chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ

Trong những năm 1959 - 1960, dưới ách đô hộ, kìm kẹp của chính quyền Ngô Đình Diệm, phong trào Đồng Khởi của nhân dân miền Nam phát triển mạnh mẽ, làm chủ nhiều thôn, xã, mở ra cục diện mới cho cách mạng miền Nam Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đưa cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn Đồng nghĩa với việc, chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa phải đối mặt với những thất bại

Những thất bại tiêu biểu của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Trên mặt quân sự: Khi Kennedy lên cầm quyền ở Mỹ, ông ta tin rằng bằng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” với kế hoạch nổi dậy, miền Nam Việt Nam sẽ trở lại thời kỳ ổn định, sự căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Diệm tạm lắng xuống Nhưng đến năm 1962, mọi cố gắng của Mỹ - Diệm vẫn không ngăn được sự phát triển ngày càng lớn mạnh của lực lượng cách mạng, không hãm được đà xuống dốc của Việt Nam Cộng hòa Đặc biệt, tháng 01/1963, quân dân miền Nam đã giành chiến thắng vang dội ở Ấp Bắc – Mĩ Tho Chiến thắng Ấp Bắc chứng tỏ quân dân miền Nam có khả năng đánh bại hoàn toàn chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến thuật “thiết xa vận”, “trực thăng vận” của Mĩ – Ngụy và làm bùng lên phong trào “thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công ” trên khắp miền Nam Sự kiện Ấp Bắc làm chính giới Mỹ bàng hoàng, lần đầu tiên Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đánh bại chiến lược “trực thăng vận”, “thiết xạ vận” của Mỹ - Diệm, mở ra khả năng đánh bại hoàn toàn chiến thuật chiến tranh được coi là hiện đại của Mỹ thời điểm này Sau chiến thắng Ấp Bắc, hàng loạt các chiến dịch hành quân càn quét quy mô lớn, nhỏ của quân đội Sài Gòn lần lượt bị thất bại, với số thương vong cao Năm 1962, quân giải phóng cùng với nhân dân đã liên tiếp đánh bại nhiều cuộc hành quân càn quét của Ngụy vào chiến khu Đ, Tây Ninh, phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn

Những thất bại trên chiến trường của quân đội Việt Nam Cộng hòa cho thấy khả năng tác chiến của quân đội Sài Gòn còn rất hạn chế dù có cố vấn và trang bị hiện đại của Mỹ Thực tế trong năm 1963, để tăng cường khả năng quân sự và lấy lại tinh thần quân đội tiếp tục kế hoạch Staley – Taylor, lực lượng “quân đội Việt Nam Cộng hòa đã được gia tăng từ 210 000 lên 220 020 người … thành lập những đơn vị mới trong phạm vi quân số được gia tăng” [9] Với lực lượng hùng hậu được

Trang 38

tăng cường, phối hợp với Hải – Lục – Không quân, song “quân đội Sài Gòn đã phải gánh chịu những tổn thất nặng nề: nhân mạng 5611 tử thương; 11820 bị thương; mất tích 3762”[9]

Trên mặt chính trị: Cùng với các thất bại về quân sự, quốc sách ấp chiến lược của Mỹ - Diệm cũng gặp thất bại nặng nề Cuộc đấu tranh giữa ta và địch trong việc lập và phá “ấp chiến lược” diễn ra gay go và quyết liệt Đến cuối năm 1962, gần

8000 ấp chiến lược với 70% nông dân toàn miền Nam vẫn còn do cách mạng kiểm soát Nhân dân đã phá hoàn toàn 2.895 “ấp chiến lược” trong số 6.164 ấp do địch lập ra, số còn lại đã bị phá đi phá lại 5.950 lần ấp Nhân dân cũng đã phá được thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở 12.000 thôn trong tổng số 17.000 thôn toàn miền Nam, giải phóng hơn 5 triệu dân trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam Hơn 1,5 triệu ha trên tổng số 3,5 triệu ha ruộng đất đã về tay nông dân; hơn 23.000 thanh niên đã tòng quân Hàng nghìn “ấp chiến lược” đã biến thành làng chiến đấu [73, 497]

Đi đôi với cuộc đấu tranh về quân sự, phá “ấp chiến lược” là những cuộc đấu tranh chính trị rộng lớn, mãnh liệt, thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia Trong năm 1963, toàn miền Nam có 34 triệu lượt người tham gia đấu tranh Chính trị Trong khi liên tiếp thất bại trên chiến trường, tháng 5/1963 tình hình các đô thị miền Nam trở nên rất nóng bỏng Do tác động của đấu tranh vũ trang và phong trào phá “ấp chiến lược” ở các vùng nông thôn, phong trào đấu tranh chính trị của công nhân, nhân dân lao động, học sinh, sinh viên, tín đồ Phật giáo ở đô thị phát triển rộng khắp Mỹ-Diệm lún sâu vào thế bị động, lúng túng, mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn càng thêm sâu sắc Nổi bật trong phong trào đô thị thời gian này là cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo Chế độ Ngô Đình Diệm đối đầu với phong trào đấu tranh của Phật giáo – sự kiện mở đầu cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân ở hầu hết các đô thị miền Nam Điển hình là cuộc đấu tranh ở Huế ngày 8/5/1963, 2 vạn tăng ni, Phật tử ở Huế biểu tình phản đối chính quyền Diệm cấm treo cờ phật Diệm đàn áp làm cho phong trào lan rộng khắp cả nước Ngày 11/6/1963, tại Sài Gòn, hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối Diệm đàn áp Phật giáo, gây xúc động lớn trong mọi tầng lớp nhân dân, tác động đến

cả ngụy quân, ngụy quyền Đỉnh cao của phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị

Trang 39

miền Nam là cuộc xuống đường đấu tranh của 70 vạn nhân dân Sài Gòn ngày 16/6/1963, và cuộc tổng bãi khoá của học sinh, sinh viên Sài Gòn tháng 8/1963 Dư luận thế giới, đặc biệt là dư luận Mỹ có những phản ứng gay gắt Họ đả kích Diệm

và chỉ trích chính sách Mỹ ủng hộ Diệm Ngày 16/1963, 70 vạn quần chúng Sài Gòn biểu tình làm cho chế độ Mĩ Diệm lay chuyển

Cuộc “khủng hoảng Phật giáo” giáng thêm một đòn mạnh vào chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đứng trước nguy cơ thất bại, Kennedy đã phải nghĩ tới việc thay thế Diệm Tháng 1/8/1963, Kennedy bổ nhiệm Henry Cabot Lodge làm đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa, ngày 22/8/1963 ông ta có mặt ở Sài Gòn Tiếp ngay sau đó CIA Hoa Kỳ được tung vào kích động các phe phái, các nhóm đối lập đả kích anh em Ngô Đình Diệm Các dân biểu, chính trị gia, tướng lĩnh quân đội Sài Gòn đưa kiến nghị, kêu gọi thống thiết trước dư luận thúc bách Diệm phải cải tổ chính quyền Phong trào đấu tranh của Phật tử và đồng bào các đô thị miền Nam trong năm 1963 là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước đã đầy Mở đường cho phong trào đấu tranh chính trị công khai hợp pháp ở miền Nam

Như vậy, đến cuối năm 1963, phong trào đấu tranh của nhân dân đã làm phá sản kế hoạch Stalay – Taylo nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, Quốc sách “ấp chiến lược” của địch, các chiến thuật “ trực thăng vận”, “thiết xa vận” bị đánh bại Cuộc đấu tranh của quần chúng ở các đô thị miền Nam trở thành cái cớ trực tiếp cho Mỹ công khai biện pháp “thay ngựa giữa đường”

Cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963

Sau một năm rưỡi thực hiện kế hoạch Xtaley-Taylor vẫn không cứu vãn được tình thế nguy ngập của ngụy quân, ngụy quyền, những thất bại của chính quyền Ngô Đình Diệm trên nhiều lĩnh vực từ cuối năm 1960 và nhất là trong năm 1963 khiến cho nhiều chính khách Mỹ đặt lại vấn đề đòi thay đổi Diệm Đặc biệt, sau khi phong trào đấu tranh của Phật tử và đồng bào các đô thị nổ ra, dư luận thế giới và dư luận nhân dân Mỹ phê phán chính phủ Mỹ đã ủng hộ chế độc tài gia đình trị, chà đạp lên

tự do dân chủ Mỹ cho rằng nguyên nhân chính của tình hình đó là do bọn tay sai Ngô Đình Diệm bất tài, bất lực Mâu thuẫn giữa Mỹ và tay sai trở nên gay gắt Trong nội bộ ngụy quyền, ngụy quân, mâu thuẫn cũng không thể dàn xếp được Năm 1963 do các tướng lĩnh Việt nam Cộng hòa bất mãn trước cách cai trị của

Trang 40

chính quyền Ngô Đình Diệm, muốn thực hiện đảo chính để chấm dứt cuộc khủng hoảng Phật giáo Cuộc đảo chính được Mỹ ủng hộ do chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm không thực hiện những thay đổi chính trị theo khuyến cáo của Mỹ dẫn đến mâu thuẫn với chính phủ Mỹ do đó Mỹ bật đèn xanh cho các tướng lĩnh đảo chính Một lý do khác được quy kết nữa là vì chính phủ của ông chủ trương độc lập với người Mỹ, trong khi người Mỹ muốn kiểm soát chính phủ Việt Nam Cộng hòa Ngày 5/10/ 1963, Kennedy phê duyệt gói cắt giảm chương trình viện trợ kinh

tế cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa Những cắt giảm này là hành động thực thi

cụ thể đầu tiên trong chương chiến lược „gây sức ép và thuyết phục‟của Kennedy Sức ép của Mỹ đối với chính quyền Ngô Đình Diệm được gia tăng, viện trở kinh tế

bị cắt giảm Chính quyền Diệm buộc phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”, giảm 30% lương công chức và binh lính Ở Sài Gòn, tướng lĩnh quân đội Việt Nam Cộng hòa lên kế hoạch đảo chính Ngày 5/10/1963, đặc vụ CIA Conein sau khi gặp Trần Văn Đôn, đến gặp Dương Văn Minh để nắm tình hình Ngày 28/10/1963, Trần Văn Đôn xác nhận hoàn tất kế hoạch đảo chính với Conein tại Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn

Đối phó với tình hình, Diệm – Nhu một mặt tìm kiếm sự ủng hộ của chính phủ

Mỹ thống qua đại sứ Lodge Mặt khác Ngô Đình Nhu vạch ra kế hoạch đảo chính giả nhằm nhận diện và tiêu diệt lực lượng đảo chính Theo kế hoạch, Ngô Đình Nhu cho các lực lượng trung thành thực hiện cuộc đảo chính giả bằng việc tấn công một

số mục tiêu định sẵn, nhằm làm lộ diện lực lượng đảo chính thật Để sau đó tiêu diệt nhanh chóng bằng kế hoạch “phản đảo chính” Trưa ngày 1/11/1963, theo lời mời của Trần Thiện Khiêm quyền Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam Cộng hòa, toàn bộ tướng lĩnh quân đội Sài Gòn tập trung tại Bộ Tổng Tham mưu Dương Văn Minh cố vấn quân sự Phủ Tổng thống tuyên bố lực lượng quân đội tiến hành đảo chính, quân cảnh lập tức bao vây văn phòng Bộ Tổng tham mưu Tướng lĩnh quân đội Sài Gòn, gồm cả tay chân của Ngô Đình Nhu bị khống chế, kế hoạch đảo chính giả thất bại Vào 13 giờ 30 chiều 1/11/1963, lực lượng đảo chính nổ súng, trong khi Ngô Đình Nhu vẫn tỏ ra lạc quan và cho rằng kế hoạch đảo chính giả đang được thực hiện, lực lượng đảo chính đã nhanh chóng chiếm được các vị trí trọng yếu Đêm 1/11/1963, Diệm – Nhu trốn khỏi dinh Gia Long, về ẩn náu tại nhà thờ

Ngày đăng: 19/07/2021, 22:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thông tin Chiêu hồi, Khái quát về Việt Nam Cộng hòa, V.v 4060, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về Việt Nam Cộng hòa
3. Công văn số 3453 – TU/VP, Tổng ủy trưởng di cư tị nạn gửi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ngày 10-7-1956, PTT- ĐI CH-4423, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng ủy trưởng di cư tị nạn gửi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ngày 10-7-1956
4. Hiến pháp VNCH, Niên giám Quốc Hội lập pháp khóa II. V.v760, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Quốc Hội lập pháp khóa II
5. Hồ sơ 1088, Báo cáo hoạt động của Phủ Tổng ủy Di cư tị nạn trong năm chấp chánh thứ hai của Ngô Tổng thống, PTT-ĐI ,TTI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động của Phủ Tổng ủy Di cư tị nạn trong năm chấp chánh thứ hai của Ngô Tổng thống
6. Hồ sơ 1188, Công văn số 2403SV/HC/8 ngày 30-7-1956 của Sở hành chính Sự vụ Tòa Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 2403SV/HC/8 ngày 30-7-1956 của Sở hành chính Sự vụ Tòa Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt
8. Hồ sơ 129, Các nhóm giáo phái chống chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1956 – 1963, Phông HĐQNCM, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhóm giáo phái chống chính phủ Ngô Đình Diệm năm 1956 – 1963
9. Hồ sơ 14786, Báo cáo (mật) tổng kết hoạt động quân đội VNCH năm 1963 của Võ Phòng Phủ thủ tướng, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo (mật) tổng kết hoạt động quân đội VNCH năm 1963 của Võ Phòng Phủ thủ tướng
10. Hồ sơ 17871, Đề án cải tổ đoàn thể PTCMQG ngày 17/12/1962, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án cải tổ đoàn thể PTCMQG ngày 17/12/1962
11. Hồ sơ 2570, Báo cáo của Bộ Nội vụ về kết quả của cuộc của cuộc Bầu cử Tổng thống nhiệm kì 1961-1966, ngày 1/4/1961, PTT-ĐI ,TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Bộ Nội vụ về kết quả của cuộc của cuộc Bầu cử Tổng thống nhiệm kì 1961-1966, ngày 1/4/1961
12. Hồ sơ 29257, Điều lệ Phong trào Cách mạng Quốc gia, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Phong trào Cách mạng Quốc gia
13. Hồ sơ 29257, Tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức Phong trào Cách mạng Quốc gia
14. Hồ sơ 29361, Đảng cương Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cương Cần lao Nhân vị Cách mạng đảng
15. Hồ sơ 29361, Đường lối giải thích việc giải thích việc giải tán Đảng Cần Lao ngày 11/12/1963, PTTg, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lối giải thích việc giải thích việc giải tán Đảng Cần Lao ngày 11/12/1963
16. Hồ sơ 29362, Biên bản phiên họp của Phong trào Cách mạng Quốc gia ngày 03-10-1954, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản phiên họp của Phong trào Cách mạng Quốc gia ngày 03-10-1954
17. Hồ sơ 29362, Đề án cải tổ đoàn thể Phong trào Cách mạng Quốc gia ngày 17.12.1962, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án cải tổ đoàn thể Phong trào Cách mạng Quốc gia ngày 17.12.1962
19. Hồ sơ 5119, Công văn số 172/TTP/VP ngày 3/12/1957 của Tổng thống Phủ VNCH về những khóa huấn luyện Nhân vị năm 1958, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 172/TTP/VP ngày 3/12/1957 của Tổng thống Phủ VNCH về những khóa huấn luyện Nhân vị năm 1958
20. Hồ sơ 641, Hiến ước tạm thời của VNCH ngày 26/10/1955, PTT-ĐI, TTII 21. Hồ sơ 935, Tài liệuPT/TTM Bản tổng kết toàn thể quân số thuộc Hải-Lục-Không quân tính đến tháng 11-1956, PTT-ĐI, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến ước tạm thời của VNCH ngày 26/10/1955", PTT-ĐI, TTII 21. Hồ sơ 935, "Tài liệuPT/TTM Bản tổng kết toàn thể quân số thuộc Hải-Lục-"Không quân tính đến tháng 11-1956
22. Hồ sơ số 125, Tài liệu nghiên cứu của HĐQNCM về tờ trình của nhân viên tình báo gửi cố vấn Ngô Đình Nhu về các hoạt động gián điệp 1960 – 1963, Phông HĐQNCM, TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu của HĐQNCM về tờ trình của nhân viên tình báo gửi cố vấn Ngô Đình Nhu về các hoạt động gián điệp 1960 – 1963
23. Hồ sơ số 13099, Hồ sơ Trần Kim Tuyến – giám đốc sở Nghiên cứu Chính trị - xã hội, phông Thủ tướng VNCH (1954 – 1975), TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ Trần Kim Tuyến – giám đốc sở Nghiên cứu Chính trị - xã hội
24. Hồ sơ số 14685, Hồ sơ hoạt động, trợ cấp cho các lực lượng giáo phái và sáp nhập vào quân đội Quốc gia Việt Nam năm 1953- 1955, phông Thủ tướng VNCH (1954 – 1975), TTII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ hoạt động, trợ cấp cho các lực lượng giáo phái và sáp nhập vào quân đội Quốc gia Việt Nam năm 1953- 1955

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w