1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phòng vệ chính đáng trong luật hành hình sự việt nam

71 552 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 917,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa của đề tài Nghiên cứu vấn đề phòng vệ chính đáng có ý nghĩa đặc biệt lớn trong công tác đấu tranh, phòng ngừa những hành vi xâm phạm những lợi ích hợp pháp bị pháp luật cấm, bên

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS Phạm Văn Beo Cao Văn Nở

Mssv: 5095356

Lớp: Luật Tư pháp 2 Khóa 35

Cần Thơ, 11/2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song trình độ còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu này không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, người viết mong nhận được sự chỉ bảo góp ý của thầy cô để người viết có thể hoàn thành tốt hơn

Trước tiên, người viết xin được nói lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến tất cả các thầy cô Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ Cảm ơn thầy cô đã tận tình truyền đạt cho người viết những kiến thức cần thiết về chuyên môn lẫn kinh nghiệm sống, giúp người viết có được một số kiến thức căn bản để hoàn thành đề tài luận văn này Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Phạm Văn Beo đã nhiệt tình hướng dẫn người viết về nội dung lẫn hình thức trình bày trong suốt quá trình làm luận văn

Cuối cùng người viết xin kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe, thành công trong công tác giảng dạy, nghiên cứu./

Ngày 27 tháng 11 năm 2012 Sinh viên thực hiện

Cao Văn Nở

Trang 3

……… 

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

……… 

NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2

4 Ý nghĩa của đề tài 2

5 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1 4

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÕNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 4

1.1 KHÁI NIỆM VỀ PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 4

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỊNH PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 4

1.3 LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỊNH PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 6

1.3.1 Trước năm 1945 6

1.3.2 Từ năm 1945 đến năm 1985 8

1.3.3 Từ năm 1985 đến năm 1999 10

1.3.4 Từ năm 1999 đến nay 12

CHƯƠNG 2 13

PHÕNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 13

2.1 CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 13

2.1.1 Cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng 13

2.1.2 Nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng 17

2.2 VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 25

Trang 7

2.2.1 Hai trường hợp của vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong phần các tội phạm hình sự 26 2.2.2 Phân biệt các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 31 2.3 SO SÁNH GIỮA PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG VỚI TÌNH THẾ CẤP THIẾT 34

CHƯƠNG 3 42 NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÕNG VỆ

CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 42

3.1 TÌNH HÌNH ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 42 3.2 NHỮNG BẤT CẬP CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 44 3.2.1 Khi xét về hành vi chống trả của người phòng vệ chưa nêu được căn cứ để xác định thế nào là cần thiết 44 3.2.2 Quy định chế định phòng vệ chính đáng nằm trong phần “tội phạm” chưa đảm bảo đúng bản chất của một hành vi chính đáng được Nhà nước cho phép 46 3.2.3 Trách nhiệm hình sự đối với trường hợp “làm chết nhiều người” và cố ý gây thương tích tổng tỷ lệ thương tật trên 31% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chưa được quy định rõ ràng trong khoản 2 Điều 106 BLHS hiện hành 46 3.2.4 Chưa thể hiện được hết quyền phòng vệ của con người 47 3.2.5 Quy định tình tiết giảm nhẹ với yếu tố giảm nhẹ “vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng” là không cần thiết 48 3.2.6 Trường hợp phòng vệ chính đáng có thể nhầm với phạm tội do tinh thần bị kích động mạnh 50 3.2.7 Quy định về phòng vệ từ xa (hay là phòng vệ quá sớm) chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận 51

Trang 8

3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH PHÒNG VỆ

CHÍNH ĐÁNG 52 3.3.1 Nên có thêm văn bản hướng dẫn dưới dạng Nghị định hay Thông tư nêu căn cứ xác định hành vi chống trả của người phòng vệ được coi là cần thiết 52 3.3.2 Nên quy định chế định phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 15 BLHS hiện hành thành một phần riêng, tách biệt ra với phần quy định trong Chương tội phạm 55 3.3.3 Cần thêm quy định “làm chết nhiều người” vào khoản 2 Điều 106 BLHS hiện hành 55 3.3.4 Nên có thêm hướng dẫn rõ ràng hơn về vấn đề phương tiện và phương pháp của người phòng vệ và người xâm hại 56 3.3.5 Nên bỏ đi tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 46 BLHS 56 3.3.6 Cần có văn bản hướng dẫn cụ thể dưới dạng Nghị định hay Thông tư quy định các căn cứ để tránh trường hợp nhầm lẫn giữa phòng vệ chính đáng với phạm tội do tinh thần bị kích động 57 3.3.7 Quy định thêm khái niệm phòng vệ từ xa (phòng vệ quá sớm) và tình tiết giảm nhẹ cho trường hợp này 58

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây tình hình xã hội càng phát triển về công nghệ khoa học kỹ thuật lẫn cả về nhận thức con người cũng tiến bộ, cuộc sống vật chất, mức sống con người ngày càng tăng cao hơn so với trước kia Với việc đặt con người vào

vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua

Pháp luật Việt Nam đặc biệt quan tâm đến quyền bất khả xâm phạm của công dân

Bộ luật hình sự Việt Nam bảo vệ con người – trước hết là bảo vệ tính mạng sức khỏe, nhân phẩm danh dự và tự do của họ bằng những quy phạm pháp luật trực tiếp bảo vệ con người với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ xã hội Điều 71 Hiến pháp 1992

quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ

về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”, mỗi người đều có những quyền bất

khả xâm phạm tính mạng, sức khỏe,…họ được phép bảo vệ họ chống lại sự tấn công của người khác, đôi khi hành động bảo vệ đó có thể là trái pháp luật, nhưng những hành vi đó được pháp luật hình sự thừa nhận và được loại trừ tính chất nguy hiểm Những hành vi loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội phổ biến hiện nay được pháp luật thừa nhận và không xem là tội phạm trong đó có phòng vệ chính đáng Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì muốn bảo vệ những lợi ích hợp pháp có thể của mình hoặc của cá nhân, tổ chức khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang

có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Và phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

Chính vì vậy để phòng và chống lại những hành vi xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm của con người nói chung, xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người được thể hiện qua hành vi phòng vệ chính đáng nói riêng là việc cấp bách luôn được Đảng

và Nhà nước ta quan tâm, đề cao và chú trọng Xuất phát từ những vấn đề nói trên nên

người viết quyết định chọn đề tài “Phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt

Nam” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp nhằm đóng góp một phần công sức nhỏ của

mình vào việc xây dựng pháp luật về mặt Luật hình sự nói chung và vấn đề xác định phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự nói riêng

Trang 10

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu của đề tài là tập trung nghiên cứu bản chất, tính chất và mức độ của phòng vệ chính đáng, hành vi vượt quá giới hạn cho phép trong phòng vệ chính đáng,

từ đó xác định hành vi nào được luật cho phép và hành vi nào vượt quá sự cho phép

đó và phải chịu trách nhiệm hình sự Việc nghiên cứu hành vi loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội nói chung, phòng vệ chính đáng nói riêng về mặt lý luận và thực tiễn

có những ý nghĩa sau đây:

Về lý luận, nghiên cứu chế định phòng vệ chính đáng giúp chúng ta xác định cơ sở pháp lý của hành vi phòng vệ thế nào là hợp pháp, tạo điều kiện nhằm nâng cao được quyền con người và bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người Từ việc nghiên cứu chế định phòng vệ chính đáng phản ánh được nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự Việt Nam

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến hành động phòng

vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt Nam, đồng thời nghiên cứu thực tiễn xét xử những vụ án liên quan đến phòng vệ chính đáng, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Từ đó, đánh giá về tính chất nguy hiểm cho xã hội được loại trừ nói chung, phòng vệ chính đáng nói riêng trong giai đoạn hiện nay, đưa ra kiến nghị, đề xuất góp phần hoàn thiện chế định phòng vệ chính đáng của Bộ luật hình sự trong tương lai

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm Bên cạnh việc

sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật, đề tài còn sử dụng các phương pháp

so sánh, lôgic, phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn

và một số phương pháp khác mà người viết đã vận dụng để nghiên cứu đề tài này

4 Ý nghĩa của đề tài

Nghiên cứu vấn đề phòng vệ chính đáng có ý nghĩa đặc biệt lớn trong công tác đấu tranh, phòng ngừa những hành vi xâm phạm những lợi ích hợp pháp bị pháp luật cấm, bên cạnh đó còn giúp Tòa án xác định chính xác hơn những hành vi nào bị coi là tội phạm, hành vi nào được Luật hình sự cho phép, từ đó Tòa án có thể xét xử đúng người đúng tội và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm

Trang 11

5 Kết cấu của đề tài

Xuất phát từ nội dung, yêu cầu của đề tài, ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được kết cấu bởi ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt Nam

Chương 3: Những bất cập và hướng hoàn thiện chế định phòng vệ chính đáng trong Luật hình sự Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÕNG VỆ CHÍNH

ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM VỀ PHÕNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

Thể hiện nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và pháp Luật hình sự nói riêng trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, bằng một loạt các quy định trong phần chung BLHS hiện hành, các nhà làm luật nước ta đã điều chỉnh về mặt lập pháp ở các mức độ khác nhau một số trường hợp mà việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong các trường hợp đó không bị coi là tội phạm và trách nhiệm hình sự của chủ thể của hành vi được loại trừ

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi được Luật hình sự quy định là tội phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trường hợp có hành

vi gây thiệt hại cho xã hội mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự gọi là loại trừ trách nhiệm hình sự Loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, nhưng theo pháp luật họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.1

Như vậy, xuất phát từ khái niệm này, đồng thời nghiên cứu các quy định của BLHS Việt Nam thì có hai trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, một trong hai trường hợp đó có trường hợp nếu một người có hành vi xâm hại đến lợi ích chính đáng của công dân, nhưng được coi là không có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý thì

họ không phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 15 BLHS hiện

hành “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước,

của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác,

mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHẾ ĐỊNH PHÕNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

Cơ sở lý luận của chế định phòng vệ chính đáng được quy định tại khoản 1 Điều

15 BLHS hiện hành: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của

Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi

1 Đinh Văn Quế: Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị

Trang 13

ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm” Đây là căn cứ chung mà

dựa vào đó Nhà nước, thông qua các cơ quan đại diện có thể xem xét hành vi của một người nào đó có phải là phòng vệ chính đáng hay là một hành vi phạm tội

Thông thường, một hành vi khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì hành

vi đó bị coi là tội phạm và bị đe dọa áp dụng hình phạt Tuy nhiên, Luật hình sự lại quy định một số hành vi trên thực tế có đầy đủ các điều kiện hình thức của một tội phạm, nhưng không phải là tội phạm, trong đó có phòng vệ chính đáng Về mặt khách quan, phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại cho các cơ quan xã hội được Luật hình sự bảo vệ một cách cố ý, nhưng vẫn được Nhà nước khuyến khích thực hiện Có một số quan điểm lý giải cho quy định này, chẳng hạn như, thuyết cưỡng

bách tinh thần cho rằng, “trong trường hợp phòng vệ chính đáng, hành vi phòng vệ

vẫn là một tội phạm nhưng người phòng vệ được miễn tội vì đã hành động trong điều kiện bị cưỡng bách tinh thần Vì bị tấn công trái phép và bất ngờ nên bắt buộc phải

Quan điểm thứ hai xuất phát từ yếu tố khách quan cho rằng: “người phòng vệ

mặc dù gây thiệt hại cho kẻ tấn công nhưng đã sử dụng một quyền, hơn nữa đã thi hành một bổn phận đối với xã hội Trước một hành động tấn công xâm hại hay đe dọa trực tiếp lợi ích của xã hội, người phòng vệ không nên và không thể chờ vào sự can thiệp của chính quyền mà cần phải phản ứng kịp thời mới bảo vệ được trật tự của xã hội, bảo vệ được tính mạng của bản thân mình hoặc của người khác Người phòng vệ, nhân danh xã hội thi hành bổn phận, sử dụng một quyền, đó là phòng vệ cho nên học

Các luật gia xã hội chủ nghĩa tán đồng học thuyết quyền phòng vệ và mở rộng nội dung của nó Trong một số điều kiện và giới hạn nhất định, xã hội xã hội chủ nghĩa tán thành và khuyến khích mọi người tích cực bảo vệ lợi ích của Nhà nước và

xã hội 4 Người chống trả trong trường hợp của phòng vệ chính đáng thực hiện hành

vi chống trả phù hợp với quy luật tự nhiên và xã hội Trong thế giới tự nhiên, theo quy định, bất kì một sự vật hiện tượng nào khi bị tác động theo hướng bị phá vỡ sự tồn tại của chúng, chúng sẽ tác động ngược trở lại một lực bằng với lực mà chúng chịu tác

động Ví dụ: chúng ta đập tay vào tường, bức tường sẽ tác động trở lại tay chúng ta

làm cho tay chúng ta đau đớn

2 Nguyễn Ngọc Hòa: Mô tả Luật hình sự Việt Nam – phần chung, Nxb Công an nhân dân, 1991, trang 8

3 Nguyễn Ngọc Hòa: Tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 1992, trang 13

Trang 14

Về góc độ xã hội, trạng thái tồn tại ổn định, bền vững của các quan hệ xã hội là ý chí của giai cấp thống trị – Nhà nước Bất kì một sự xâm hại nào đến sự tồn tại ổn định đó đều bị phản ứng từ phía Nhà nước Trong những điều kiện nhất định, sự phản ứng của Nhà nước có thể có hiệu quả, riêng về trường hợp của phòng vệ chính đáng,

sự phản ứng của Nhà nước không mang lại hiệu quả vì sự xâm hại đang diễn ra mà Nhà nước không có mặt kịp thời Do đó, Nhà nước mới nhượng quyền lại cho cá nhân, là chủ thể đang trong trường hợp cũng có ý chí phản ứng như vậy

Thực ra, hành vi chống trả, gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của công dân là những việc làm có ích, phù hợp với lợi ích chung của toàn xã hội, đạo đức xã hội chủ nghĩa Do

đó, Luật hình sự Việt Nam và một số nước khẳng định hành vi phòng vệ chính đáng không thể bị coi là tội phạm Phòng vệ chính đáng là quyền của mỗi công dân nhưng không phải là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc (trừ những người có chức vụ, trách nhiệm được Nhà nước giao cho nhiệm vụ trong những trường hợp cụ thể phát sinh trách nhiệm) Mỗi cá nhân có thể sử dụng quyền này của mình trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau Tuy nhiên, chế định này không có nghĩa là cho phép mọi công dân đều có quyền trừng trị tội phạm mà quyền xử lý tội phạm thuộc về cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhân danh Nhà nước Do đó, hành vi phòng vệ chính đáng phải tuân theo những quy định nhất định trong Luật hình sự

1.3 LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỊNH PHÕNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

1.3.1 Trước năm 1945

Ở nước ta, trước khi có BLHS năm 1985, trong Luật hình sự chưa có khái niệm phòng vệ chính đáng chung cho mọi trường hợp mà chỉ có một số trường hợp cụ thể

của nó Ví dụ: bản tổng kết 452-HS2 ngày 10/6/1970 của Tòa án nhân dân Tối cao về

việc thực hiện xét xử các tội giết người, Chỉ thị 07 ngày 22/12/1983 về xét xử các hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc khi thi hành công vụ

Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng

vệ chính đáng không phải là tội phạm khi có đầy đủ các điều kiện sau:

– Hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể, hoặc lợi ích chính đáng của công dân phải có tính nguy hiểm cho xã hội với mức độ đáng kể, mặc dù không nhất thiết phải là một hành vi phạm tội

Trang 15

+ Nếu hành vi xâm hại chỉ có tính chất nhỏ nhặt, tức là tính nguy hiểm cho

xã hội không đáng kể, không phải là tội phạm (như trộm cắp vặt, xô đẩy, đấm đá nhẹ…) thì việc phòng vệ bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người xâm hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà là hành vi phạm tội theo các tội danh khác nhau tùy vào từng trường hợp cụ thể

+ Việc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội khi bị người khác bắt, giữ (tức là thực hiện hành vi có ích cho xã hội) đã chống trả lại, gây thiệt hại cho người bắt giữ không được coi là phòng vệ chính đáng, mà phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định chung của pháp luật

– Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là đã bắt đầu nếu nó đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người xâm hại thì không được coi là phòng vệ chính đáng

– Hành vi phòng vệ chính đáng thực hiện không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà có thể bằng cách tích cực, chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại và do đó chỉ có thể là cố ý Vì vậy, nếu một người dù có khả năng bỏ chạy hoặc kêu cứu mà vẫn gây thiệt hại cho người xâm hại để phòng vệ, thì hành động của họ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng

– Nếu trong khi phòng vệ mà gây thiệt hại, không phải cho người xâm hại, mà cho người thứ ba thì hành vi gây thiệt hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà tùy theo tình tiết của sự việc cấu thành tội giết người, tội cố ý gây thương tích nặng, gây tổn hại cho sức khỏe người khác…, theo quy định chung của pháp luật và có thể

– Hành vi phòng vệ phải tương xứng với tính chất xâm hại, tức là không chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại

Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây hoặc đã gây ra cho người phòng vệ Giữa hai thiệt hại đó có thể không có sự phù hợp về lượng

Trang 16

hoặc về chất, miễn là không có sự chênh lệch quá đáng sau khi cân nhắc tính chất quan trọng của lợi ích được bảo vệ bằng phòng vệ chính đáng, sức mạnh của sự xâm hại, khả năng và hoàn cảnh thực tế của người phòng vệ

Nếu hành vi phòng vệ không tương xứng, không phù hợp, có chênh lệch quá đáng so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, nghĩa là người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây thiệt hại quá đáng cho người xâm hại, mà tình chất mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó, thì người phòng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Hàng loạt các Sắc lệnh được ban hành, đáng chú ý là Sắc lệnh thiết lập Tòa án quân sự để xét xử những ai thực hiện một việc gì đó gây hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Ngoài những văn bản pháp Luật hình sự mới Chính phủ cho phép áp dụng một

số điều khoản của pháp Luật hình sự cũ nhằm duy trì ổn định trật tự xã hội, trong lúc chưa xây dựng kịp các văn bản mới

Trong thời kỳ này phải nhắc đến Sắc lệnh đại xá ngày 20-10-1945

– Pháp luật hình sự Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (từ 12/1946 - 5/1954)

Đến năm 1953 căn cứ tình hình và nhiệm vụ mới dựa trên cơ sở sơ kết rút kinh nghiệm đấu tranh với bọn phản cách mạng Nhà nước ra Sắc lệnh 113 ngày 20/1/1953 Đây là sắc lệnh tương đối hoàn chỉnh nó đề ra một số điểm mới thể hiện quan điểm đấu tranh có phân hóa của nhà nước ta

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 12-10-1954 nhân dịp giải phóng thủ đô,

Trang 17

Nhà nước đã quyết định đại xá đối với những người lầm đường lạc lối, tích cực sửa chữa Trong thời kỳ này để phục vụ yêu cầu Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Luật hình sự đã kịp thời quy định những biện pháp xử phạt phong phú nhằm trấn áp bọn phản cách mạng trong nước và ngoài nước, bảo vệ nền kinh tế, tài chính mới Hình thức văn bản rất phong phú đa dạng và về cơ bản là các Sắc lệnh, các Nghị định

và các văn bản khác của Chính phủ Đường lối xử lý hình sự thể hiện rõ quan điểm có phân hóa sâu sắc

– Pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn Cách mạng xã hội chủ nghĩa từ 1954 –

1975

Trong số văn bản pháp Luật hình sự được ban hành từ 1955 đến 1964 để trấn

áp, trừng trị những hành vi phản cách mạng văn bản có ý nghĩa quan trọng nhất là Sắc lệnh 267 ngày 15/6/1956 Sắc lệnh ban hành nhằm bảo vệ việc khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa, trừng trị những âm mưu hành động phá hoại làm thiệt hại đến tài sản Nhà nước, hợp tác xã và nhân dân

Đầu năm 1975 Quốc hội thông qua một số đạo luật về tự do báo chí, tự do lập hội, tự do hội họp Ngày 30/7/1967 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng Đó là sự kiện pháp lý chính trị quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta Nó là công cụ sắc bén để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường đối với kẻ thù của nhân dân ta, dân tộc ta Đây là một văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh thể chế hóa đầy đủ nhất tinh thần, nội dung Nghị quyết và

Chỉ thị của Đảng trong lĩnh vực đối ngoại – chính trị

Ngày 21/10/1970 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa Pháp lệnh này thể hiện một cách đầy đủ, toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với tội xâm phạm sở hữu trong giai đoạn đó Pháp lệnh quy định một cách cụ thể các tội phạm và hình phạt và chính sách xử lý đối với từng loại tội và thể hiện thái độ nghiêm khắc hơn của Đảng và Nhà nước ta đối với loại tội phạm này

– Pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn Cách mạng xã hội chủ nghĩa từ 1975 –

1985

Năm 1975, về hình thức Đất nước ta tạm thời tồn tại hai Nhà nước: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam Mỗi Nhà nước có pháp luật riêng Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành những chính sách, những văn bản pháp luật cần thiết để góp phần thực hiện một trong những nhiệm vụ

Trang 18

quan trọng Cấp bách là trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an ninh xã hội ở nửa Đất nước mới được giải phóng Song song với việc chính thức thành lập Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc lệnh 03 SL/76 ngày 15/3/1976 quy định các tội phạm và các hình phạt

Ngày 25/4/1976 nhân dân ta tiến hành tổng tuyển cử thống nhất trong cả nước Cuối tháng 6 đầu tháng 7/1976 Quốc hội họp kỳ đầu, đây là kỳ họp hoàn toàn thống nhất Đất nước về mặt Nhà nước, chính thức hóa việc thống nhất này Nghị quyết ngày 2/7/1976 của Quốc hội quyết định đổi tên nước ta là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong khi chưa có Hiến pháp mới, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nghị quyết này giao cho hội đồng Chính phủ xúc tiến dự thảo các Luật, Pháp lệnh cần thiết và hướng dẫn thi hành các pháp luật hiện hành của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam cho sát thực tế

Thi hành Nghị quyết nói trên, trên cơ sở của việc hệ thống hóa pháp luật hiện hành của hai miền, Chính phủ đã công bố hơn hai danh mục gồm gần 700 văn bản pháp luật trong đó đã có nhiều văn bản pháp luật hình sự được thi hành thống nhất trong cả nước Như vậy, sau khi thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, vấn đề thống nhất pháp luật trong cả nước, trong đó có pháp Luật hình sự đã được giải quyết cơ bản

và phương hướng hoàn chỉnh sự thống nhất đó cũng được quy định

1.3.3 Từ năm 1985 đến năm 1999

Ngày 27/6/1985 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua BLHS năm 1985, đây là BLHS Việt Nam đầu tiên của chúng ta được ban hành Trong BLHS 1985 đã chính thức ghi nhận chế định phòng vệ chính đáng ở Điều 13

“1 Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của chính mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

2 Nếu hành vi chống trả rõ ràng là quá đáng, tức là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự”

Bắt đầu từ ngày 1-1-1986, Bộ luật hình sự được thi hành trong cả nước Phần chung của Bộ luật hình sự rất quan trọng vì đó là những chính sách, quan điểm cơ bản

về hình sự của Đảng và Nhà nước ta Vì vậy, căn cứ vào Điều 24 Luật tổ chức Tòa án

Trang 19

nhân dân, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao họp trong ba ngày 3, 4 và 5

tháng 01 năm 1986 với sự tham gia của đồng chí Trần Tê – Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Phùng Văn Tửu – Thứ trưởng Bộ Tư pháp,

hướng dẫn Tòa án các cấp quán triệt áp dụng thống nhất một số quy định trong phần

chung của Bộ luật hình sự nên đã ban hành ra Nghị quyết số 02/HĐTP –

TANDTC/QĐ ngày 05/01/1986 Trong đó có hướng dẫn hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng

“Hành vi xâm hại tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng

vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện sau:

a) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc

rõ ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội

b) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ

c) Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại

d) Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có

sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại

Khái niệm từ “tương xứng” trong BLHS năm 1985 có thể được hiểu là người

phòng vệ phải sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp tương tự như người đang thực hiện hiện các hành vi xâm phạm đến các lợi ích cần bảo vệ hoặc thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại mà người xâm hại gây ra cho họ Sự tương xứng ở đây cũng chỉ thể hiện sự đánh giá của người ngoài cuộc mà không xuất phát từ sự nhận định đánh giá của người trong cuộc Từ những quy định hạn chế đó làm cho quần chúng nhân dân ngại tham gia tấn công lại những hành vi nguy hiểm cho xã hội, họ né tránh, bỏ mặc vì sợ liên lụy không khéo sẽ

bị đánh giá là chống trả không tương xứng thì phải bị xử lý, tạo tâm lý tiêu cực làm giảm tác dụng của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành

vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Trang 20

Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng”

1.3.4 Từ năm 1999 đến nay

Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 5 lần vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 và 1999, với sự thay đổi đó đã ban hành ra BLHS năm 1999 So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có những thay đổi cơ bản Đặc biệt, các thay đổi trong các quy định thuộc Phần chung, trong đó chế định phòng vệ chính đáng được sửa đổi thành Điều 15 BLHS năm 1999 như sau:

Khoản 1 Điều 15 Bộ luật này quy định: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của

người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết (Bộ luật hình sự Việt Nam

1985 quy định “sự chống trả một cách tương ứng”) người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên, Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”

Chế định này được xây dựng nhằm khuyến khích mọi công dân đấu tranh chống những hành vi xâm hại các quan hệ xã hội, ngăn chặn hoặc hạn chế những thiệt hại do sự xâm hại đó đe dọa gây ra

Bộ luật hình sự năm 1999 đã không dùng thuật ngữ “tương xứng” mà thay vào

đó là thuật ngữ “cần thiết” tuy không làm thay đổi bản chất của chế định phòng vệ

chính đáng nhưng cũng làm cho việc vận dụng chế định này trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả hơn

Dù Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, nhưng chế định phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 15 trong Bộ luật hình sự không có gì thay đổi

Trang 21

CHƯƠNG 2 PHÕNG VỆ CHÍNH ĐÁNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Tại khoản 1 Điều 15 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Phòng vệ chính đáng

là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”

2.1 CÁC ĐIỀU KIỆN CỦA PHÕNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

Để khuyến khích cũng như để hướng dẫn công dân thực hiện quyền phòng vệ chính đáng và qua đó phát huy được tính tích cực của nó, Điều 15 BLHS Việt Nam không những chỉ khẳng định không phải là tội phạm mà còn quy định cụ thể cơ sở,

nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng như sau: “Phòng vệ chính đáng

là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm hại các lợi ích nói trên”

Hành vi đã thỏa mãn đầy đủ những dấu hiệu về cơ sở, nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng là hành vi hoàn toàn phù hợp với lợi ích xã hội, là hành vi thực sự nhằm ngăn chặn sự tấn công bất hợp pháp, hạn chế những thiệt hại do sự tấn công này đe dọa gây ra Đó là trường hợp phòng vệ chính đáng thực sự

2.1.1 Cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng

Theo quy định của Điều 15 BLHS hiện hành, cơ sở làm phát sinh quyền phòng

vệ chính đáng là phải có hành vi xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền hoặc lợi ích chính đáng của công dân một cách trái pháp luật, nguy hiểm đáng

kể cho xã hội:

– Có hành vi xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền hoặc lợi ích chính đáng của công dân một cách trái pháp luật, nguy hiểm đáng kể cho xã hội

Như vậy, chỉ có thể nói đến phòng vệ chính đáng khi có hành vi của con người đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội Hành vi này có thể xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người phòng vệ Quyền hoặc lợi ích chính đáng bị xâm phạm có thể là quyền nhân thân, quyền sở hữu Những quyền hoặc lợi ích này bị xâm phạm có thể qua những hành

Trang 22

động của người tấn công (như hành động cướp, hành động hiếp dâm ) những cá biệt cũng có thể được thực hiện thông qua không hành động (như hành động không cấp cứu những người bị tai nạn của người bác sĩ mà không có lí do chính đáng)

Hành vi tấn công có thể có đủ yếu tố cấu thành tội phạm Nhưng đó không phải

là điều kiện bắt buộc vì có hành vi tuy không cấu thành tội phạm nhưng vẫn đòi hỏi phải ngăn chặn kịp thời để tránh thiệt hại cho xã hội như hành vi đâm, chém của những người không có năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh tâm thần

Ví dụ: Hành vi đâm chém của người không có năng lực trách nhiệm hình sự

(bệnh tâm thần hoặc chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) Và hơn nữa, khi đứng trước sự tấn công, người công dân bình thường khó có thể luôn luôn khẳng định được ngay đó là tội phạm hay không phải là tội phạm

Hành vi tấn công của con người là cơ sở của quyền phòng vệ chính đáng nhưng nó chỉ là cơ sở chừng nào còn đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc Khi hành vi tấn công đã thực sự chấm dứt thì cũng có nghĩa không đòi hỏi phải có hành vi ngăn chặn Sự phòng vệ lúc này hoàn toàn không đạt mục đích của phòng vệ chính đáng Đó có thể chỉ là sự trả thù và trong thực tế nhiều khi lại là sự trả thù nhầm

– Hành vi xâm hại trái pháp luật

Tính trái pháp luật của hành vi xâm hại biểu hiện ở nó là một hành vi không

hợp pháp chứ không cần nó phải đến mức trái pháp luật hình sự Ví dụ: A là người

cướp giật tài sản của người khác, B là người đi đường phát hiện đuổi theo và có dùng

vũ lực để bắt A Trong trường hợp này, A không có quyền chống trả vì hành vi tấn công của B đối với A không trái pháp luật

– Hành vi xâm phạm phải có tính hiện tại

Tức là hành vi đó đang xảy ra hoặc xảy ra ngay tức khắc mà chưa kết thúc mới trở thành cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ Thực tế xảy ra nhiều trường hợp hành

vi chống trả đã diễn ra khi hành vi gây thiệt hại đã chấm dứt, thậm chí có khi chống trả sai đối tượng, như nghe tin người thân mình bị đả thương đã tìm người đả thương

để trả thù nhưng lầm người Trường hợp phòng vệ này, khoa học Luật hình sự gọi là

phòng vệ quá muộn

Ví dụ: Cường và Thái là hai người bạn học cùng lớp, cùng yêu một người tên

Lan, nhưng do Thái dẻo miệng hơn đã lấy lòng được Lan, Cường ôm hận trong lòng,

Trang 23

Cường đón Thái trên đường về nhà đã dùng gậy đánh Thái, làm Thái bị thương, sau khi bỏ chạy được Thái tức giận chạy về nhà lấy một con dao đi tìm Cường trả thù Hành vi của Thái là hành vi bị xem là phòng vệ quá muộn, vì hành vi chống trả của Thái chống lại hành vi gây thiệt hại đã chấm dứt Vấn đề đặt ra là phải xác định chính xác hành vi gây thiệt hại chấm dứt khi nào Tuy vậy, cũng có trường hợp hành vi chống trả diễn ra khi hành vi tấn công đã chấm dứt nhưng vẫn còn khả năng gây thiệt

hại và hành vi chống trả đó có ý nghĩa ngăn chặn thiệt hại xảy ra Ví dụ: hành vi đuổi

đánh kẻ cướp giật để lấy lại tài sản

Hành vi phòng vệ được tiến hành khi hành vi gây thiệt hại chưa thật sự xảy ra, không có cơ sở chứng tỏ hành vi gây thiệt hại sẽ xảy ra tức khắc Trường hợp này gọi

là phòng vệ quá sớm

Ví dụ: A và B cãi nhau, thấy A hùng hổ, B nghĩ rằng, mình phải ra tay trước vì

sách có câu “tiên hạ thủ vi cường, hậu hạ thủ tai ương” Nghĩ thế, B đã xông vào

đánh A gây thương tích cho A Trường hợp này, hành vi của B bị xem là phòng vệ quá sớm, khi chưa có hành vi xâm hại xảy ra Trách nhiệm hình sự trong phòng vệ quá sớm cũng giải quyết như phòng vệ quá muộn

– Hành vi xâm hại phải có tính hiện hữu

Hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến các lợi ích cần bảo vệ phải

là hành vi xảy ra trên thực tế, và hành vi chống trả là nhằm ngăn chặn hành vi tấn công, bảo vệ lợi ích bị xâm hại Hành vi phòng vệ xem là hợp pháp khi hành vi tấn công là có thật Nếu hành vi chống trả một hành vi tấn công không có thật, khoa học

Luật hình sự gọi là phòng vệ tưởng tượng Tuy nhiên, ngay cả khi sự tấn công là

không có thật, sự chống trả vẫn được thực tiễn xem là phòng vệ chính đáng nếu căn

cứ vào các tình tiết khách quan của vụ việc mà nhận thấy rằng trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể đó, người có hành vi phòng vệ không nhận thức được hoặc không thể nhận thức được rằng không có hành vi tấn công xảy ra

Ví dụ: Hoàng và Thanh đang yêu nhau, Hoàng dẫn Thanh vào công viên chơi,

Hoàng thấy một người đang nhìn mình, bỗng dưng Hoàng thấy người đó đi về phía mình, Hoàng đứng dậy đánh liên tiếp vào người đó, sau sự việc xảy ra Hoàng cho rằng là người đó có ý định đánh mình, hành vi của Hoàng trong trường hợp thực tế này không được coi là phòng vệ và không phải là phòng vệ tưởng tượng, nên Hoàng phải chịu trách nhiệm về tội cố ý gây thương tích của mình

Ví dụ: Phương và Tuấn là người yêu của nhau, cũng như thường lệ Phương đi

Trang 24

học về Tuấn sẽ rước Phương, nhưng hôm đó Phương đứng đợi mãi mà không thấy Tuấn đến, trời tối nên Phương rất sợ, bỗng dưng xuất hiện một người lạ đến dở trò xàm xở và cướp nữ trang của Phương, Phương vội hốt hoảng chạy về, trên đường về thì gặp Tuấn, Phương kể Tuấn nghe nên Tuấn nói “lần sau không đến trễ nữa” Tối hôm sau, Tuấn đưa Phương đi học, đến lúc rước Phương về, hai người đang đi trên đường thì có một thanh niên đi vội về phía Phương, Phương rất sợ, Phương nói “là hắn hôm qua”, nghe Phương nói vậy Tuấn nổi nóng lên vì nó đã xàm xở người yêu mình, khi thanh niên đó vừa bước tới Tuấn đã dùng tay đánh liên tiếp vào mặt thanh niên đó, làm thanh niên đó bị thương gãy hết vài chiếc răng và những vết thương ngoài da Sau sự việc xảy ra, thì thanh niên đó bảo mình là bạn từng học chung với Phương định tới chào hỏi Phương, mà Phương không nhận ra Trong trường hợp này, hành động đi về phía Phương của thanh niên kia, trong hoàn cảnh trời rất tối Phương không nhìn rõ và thêm lý do hôm trước cũng trên đường đó cũng có một thanh niên tới đã dở trò xàm xở và cướp nữ trang của Phương, chính vì vậy làm cho Phương và Tuấn tin rằng anh thanh niên (từng học chung với Phương mà Phương không nhận ra)

là tên cướp hôm qua Bất cứ ai trong hoàn cảnh cụ thể như vậy cũng đều tin như vậy,

do đó hành vi gây thương tích của Tuấn được xem là phòng vệ tưởng tượng và có cơ

sở nên không bị truy cứu trách nhiệm

Nếu sự tưởng tượng rõ ràng là không có cơ sở thì người phòng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự Cũng bị xem là phòng vệ tưởng tượng nếu người phòng vệ không chống trả người gây thiệt hại mà chống trả người không gây thiệt hại (nhầm lẫn

kẻ tấn công) Phòng vệ tưởng tượng phải chịu trách nhiệm hình sự

Tóm lại, cả phòng vệ quá sớm, phòng vệ quá muộn và phòng vệ tưởng tượng đều không thỏa mãn dấu hiệu làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng Do đó, cả ba trường hợp này không có yếu tố gì để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo cách viện dẫn của tình tiết vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Sở dĩ các nhà lý luận dùng cụm từ “phòng vệ” kèm theo “sớm”, “muộn”, “tưởng tượng” ở đây là vì các trường hợp này được tìm ra khi phân tích chế định phòng vệ chính đáng Và cả ba trường hợp này đều phải chịu trách nhiệm hình sự

Về nguyên tắc, khi có đầy đủ các dấu hiệu làm phát sinh quyền phòng vệ, người phòng vệ có thể dùng vũ lực để chống trả ngay mà không cần phải chờ đợi đến khi không còn cách nào khác Tuy nhiên, khi sự xâm hại đến từ một người không có năng lực trách nhiệm hình sự (mắc bệnh tâm thần dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành vi, người chưa đủ 14 tuổi) thì người có quyền

Trang 25

phòng vệ phải tháo chạy trước hết Nếu điều đó không còn hiệu quả thì sự chống trả mới được xem xét

Ví dụ: Tiên là người mắc bệnh tâm thần, mất khả năng nhận thức, thường đi

lang thang trên đường và đuổi đánh người khác Một hôm, Tiên thấy Vinh liền cầm cây xông đến tấn công Vinh biết Tiên mắc bệnh tâm thần nên bỏ chạy Không may, đang chạy thì Vinh vấp phải đá té sấp Khi quay lại thì Tiên đã tiến sát, giơ cây định đánh Vinh Khi đó, Vinh đưa chân đạp một cái, gây thương tích cho Tiên Trường hợp này, hành vi của Vinh được viện dẫn quy định của phòng vệ chính đáng

Theo Điều 15 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, đối tượng để bảo vệ trong phòng vệ chính đáng là lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của người phòng vệ hoặc của người khác Như vậy,

người phòng vệ có quyền bảo vệ bất kỳ các quyền hoặc lợi ích nào nếu được xem là hợp pháp và đang bị xâm hại mà không cần phải giới hạn đó là quyền hoặc lợi ích của mình

Ví dụ: Trên đường đi làm về, Minh phát hiện có hai thanh niên đang hiếp dâm

một phụ nữ Minh xông vào đánh một tên té xỉu, tên còn lại chạy mất Hành vi của Minh được xem là phòng vệ chính đáng

Về điểm này, Điều 37 Bộ luật hình sự Canada năm 1990 quy định: “Mọi người

đều có quyền dùng vũ lực để bảo vệ mình hoặc bất cứ người nào mà mình có trách nhiệm chăm sóc khỏi sự tấn công nếu vũ lực được dùng không vượt quá mức cần thiết nhằm ngăn chặn hoặc đẩy lùi sự tấn công” Nội dung điều luật là quá rõ, chỉ khi

quyền hoặc lợi ích của những người dưới sự chăm sóc của mình bị xâm hại, một người mới có thể viện dẫn quy định về phòng vệ chính đáng để chống trả lại người đang có hành vi xâm hại Tuy nhiên, điều luật lại không nói rõ trong trường hợp đó, người muốn phòng vệ có đợi đến khi người bị xâm hại chống đỡ không được không rồi mới ra tay phòng vệ (giúp) Theo Ted Truscott, một số quốc gia chỉ cho phép một người phòng vệ giúp người khác sau khi người bị xâm hại đã có hành vi chống đỡ không lại.5

2.1.2 Nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng

Khi đã có đủ cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ, người phòng vệ có quyền chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi tấn công ngay cả trong những trường hợp có biện pháp khác tránh được sự tấn công Đó là đối tượng, nội dung và

Trang 26

phạm vi của quyền phòng vệ mà Điều 15 BLHS năm 1999 đã xác định

– Đối tượng của sự chống trả là người đang có hành vi xâm hại

Hành vi chống trả của người phòng vệ phải nhằm vào chính kẻ tấn công, vào chính người đang gây ra sự nguy hiểm cho xã hội, chứ không cho phép nhằm vào người thứ ba, không liên quan gì đến hành vi xâm hại

Ví dụ: Lê Tám và Tường Vy trên đường đi chơi, Tám cãi vã với Trường Ca

Vốn tính côn đồ, lại muốn chứng tỏ “dòng máu anh hùng” trước mặt người yêu, Tám

đã tấn công Ca Ca có chống trả nhưng không lại Chịu được mấy đòn, nhảy qua nhảy lại đến gần chổ Vy, người đang đứng lo lắng và khuyên Tám đừng tiếp tục đánh nhau Lúc đó, Ca nghĩ nếu mình đánh Vy thì sẽ có thể khiến Tám dừng tay Vì vậy, Ca vung tay đấm một cái làm gãy hai cái răng cửa của Vy Quả thật, Tám dừng, không tấn công Ca nữa và đưa Vy đi bệnh viện Trong trường hợp này, suy nghĩ và hành động của Ca có vẻ hợp với logic tâm lý Tuy nhiên, pháp luật về phòng vệ chính đáng không cho phép như vậy Hành vi của Ca không được viện dẫn quy định của phòng vệ chính đáng

– Nội dung của quyền phòng vệ phải là cho tính mạng, sức khỏe, quyền tự do của người đang có hành vi tấn công nhưng cũng có thể chỉ nhằm vào phương tiện, công cụ mà người tấn công đang sử dụng để thực hiện hành vi tấn công Nhưng dù

với hình thức nào thì hành vi chống trả vẫn gây ra thiệt hại cho kẻ có hành vi tấn công Nếu sự chống trả gây ra các thiệt hại khác thì không thuộc nội dung được viện dẫn quy định của phòng vệ chính đáng mặc dù hành vi xâm hại có thể xâm hại đến bất

kỳ quan hệ xã hội nào

Ví dụ: Sơn ghét Khôi và thường xuyên gây sự với Khôi, đặc biệt là khi Sơn có

uống rượu Một hôm, sau khi đi uống rượu với bạn bè về, Sơn đến nhà Khôi gây sự và xông vào dùng một thanh gỗ đập cửa kính, đồ đạc trong nhà Khôi Khi đó, Khôi kinh hoảng, lẻn ra cửa sau, sang nhà và đốt nhà Sơn Khi nhà Sơn cháy, Khôi trở về nhà mình và nói với Sơn rằng nhà của Sơn đã bị mình đốt Sơn chạy về nhà thấy nhà mình

bị cháy, tức giận liền qua đập phá nhà Khôi nhiều hơn, đến khi công an đến ngăn chặn Sơn mới dừng Trường hợp này, hành vi của Khôi không thể được xem là phòng vệ chính đáng Chỉ có thể viện dẫn tình tiết phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Khôi

– Phạm vi của quyền phòng vệ giới hạn ở mục đích cần thiết để ngăn chặn và đẩy lùi hành vi xâm hại

Trang 27

Phạm vi của phòng vệ chính đáng là mức độ của hành vi phòng vệ Điều 15

BLHS hiện hành quy định, hành vi chống trả phải là biện pháp “cần thiết” để ngăn

chặn và đẩy lùi hành vi tấn công Điều này có nghĩa, trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, người phòng vệ trên cơ sở tự đánh giá tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi tấn công và những yếu tố khác để

quyết định biện pháp chống trả mà người đó cho là “cần thiết” nhằm ngăn chặn và

đẩy lùi hành vi xâm hại đến các khách thể được pháp Luật hình sự bảo vệ Việc dùng

cụm từ “cần thiết” thay cho “tương xứng” (Bộ luật hình sự năm 1985) là phù hợp Cụm từ “tương xứng” dẫn đến cách hiểu không đúng, máy móc rằng kẻ phạm tội sử

dụng công cụ, phương tiện gì, cách tấn công như thế nào, gây hậu quả thế nào thì người chống trả phải sử dụng tương tự như vậy hoặc thiệt hại mà người phòng vệ gây

ra phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại mà người tấn công gây ra hay đe dọa gây

ra Mặt khác, việc sử dụng cụm từ này chỉ thể hiện sự đánh giá hình thức của người thứ ba chứ không phải là của người trong cuộc

Thực tế ở nước ta cũng như các khảo sát của những nhà nghiên cứu trên thế giới cho thấy, tâm lý phổ biến của người dân là bàng quan, thờ ơ trước những hành vi

phạm tội, ngại phiền toái, liên lụy mà không khéo lại có thể bị đánh giá là “không

tương xướng” (phạm tội) khi chống trả lại một hành vi xâm hại Việc đánh giá tính

tương xứng trong thực tế rõ ràng rất khó khăn, nhất là trong trường hợp người bị tấn công bất ngờ, không thể có điều kiện bình tĩnh lựa chọn một xử sự hợp lý Cụm từ cần thiết cho phép hành vi chống trả có thể không tương xứng với hành vi tấn công, gây thiệt hại với điều kiện hành vi chống trả phải là cần thiết nhằm loại trừ nguồn gốc sinh

ra nguy hiểm cho xã hội Đánh giá như thế nào là cần thiết hay không cần thiết cần dựa vào những tình tiết, yếu tố cụ thể của những trường hợp cụ thể.6

Vấn đề trước tiên trong một trường hợp phòng vệ chính đáng là việc xem xét hành vi chống trả của bị cáo có cần thiết không Đây là vấn đề không phải dễ, ngay

cả đối với các thẩm phán vì đây là vấn đề thuộc đánh giá chủ quan

* Có thể xem xét vụ án sau:

Bà Liễu đã ly hôn với chồng cách đây 20 năm, có con tên Tuấn (30 tuổi) đang

ở chung với bà Ông Bắc có hai con tên là Minh (31 tuổi) và Quang (29 tuổi), vợ ông

đã chết Ban ngày, các con của ông Bắc và bà Liễu đều đi làm, hai ông bà thường xuyên qua nhà lẫn nhau và trở nên thân thích Ông Bắc cảm thấy ăn cơm ở nhà một

6 Phạm Văn Beo: Luật hình sự Việt Nam quyển 1 – Phần chung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, trang

Trang 28

mình buồn nên mang gạo sang nhà bà Liễu để nấu cơm ăn chung Minh và Quang phát hiện khuyên can cha nhưng ông Bắc vẫn không nghe Minh và Quang cho rằng,

bà Liễu dụ cha mình mang tài sản sang cho bà nên bàn nhau giải quyết vụ việc

Vào 03 giờ sáng ngày mồng Một tết, Minh cầm dao rựa lớn, Quang cầm đuốc sang nhà bà Liễu Quang châm lửa đốt nhà bà Liễu, Minh thì cầm rựa đứng cản trước cửa với tư thế chuẩn bị tấn công Thấy nhà cháy, bà Liễu và Tuấn chạy ra cửa thì gặp Minh đang cầm dao Tuấn lao vào giằng co và giật được dao của Minh, chém đứt tay Minh, sau đó chém tiếp vào đầu Minh làm Minh chết ngay tại chỗ Thấy thế, Quang cầm đuốc xông vào đánh Tuấn Trong lúc giằng co, Tuấn và Quang được mọi người can ra

Trong trường hợp trên, có hai quan điểm trái ngược nhau Quan điểm thứ nhất

cho rằng, Tuấn phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng vì sự chống trả như vậy là quá mức cần thiết Tuy nhiên, quan điểm thứ hai cho rằng Tuấn không phạm tội mà thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng

Để đánh giá tính cần thiết của hành vi chống trả, chúng ta cần dựa trên các yếu

tố sau:

+ Quan hệ xã hội bị xâm hại hoặc đe dọa bị xâm hại Quan hệ xã hội bị xâm

hại càng quan trọng bao nhiêu thì sự chống trả càng cần thiết bấy nhiêu Ví dụ: kẻ tấn

công muốn xâm hại đến tính mạng thì sự chống trả gây ra thiệt hại cho tính mạng có thể được xem là cần thiết Tuy nhiên, nếu kẻ xâm hại muốn cướp tài sản thì hành vi chống trả gây thiệt hại cho tính mạng có thể bị xem là vượt quá mức cần thiết

+ Tính chất, mức độ của hành vi xâm hại Tính chất, mức độ của hành vi xâm

hại càng nguy hiểm, nghiêm trọng thì sự chống trả càng cần thiết Ví dụ: ba tên cướp

dùng súng uy hiếp chủ tiệm vàng để cướp vàng Con của chủ nhà thoát ra được đã dùng dao chém chết tên cướp đang cầm súng uy hiếp Hành vi này được xem là phòng

vệ chính đáng

+ Tương quan lực lượng giữa bên xâm hại và bên chống trả

Ví dụ: Một phụ nữ bình thường tấn công hai người đàn ông Hai người đàn

ông chống trả và làm gãy tay người phụ nữ xem ra là không cần thiết

+ Công cụ, phương tiện sử dụng để xâm hại và chống trả

+ Thời gian, địa điểm xảy ra sự việc,v.v

Như vậy, khi xác định phòng vệ chính đáng, chúng ta không được phép so sánh

Trang 29

đơn thuần giữa thiệt hại đã gây ra cho người tấn công và thiệt hại người tấn công đe dọa gây ra Phòng vệ chính đáng không phải là biện pháp trả thù mà là biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi nguy hiểm cho xã hội Mục đích đó trong nhiều trường hợp chỉ

có thể đạt được bằng cách phải gây ra cho kẻ tấn công thiệt hại lớn hơn Việc đặt vấn

đề so sánh hai thiệt hại trong nhiều trường hợp cũng không thực tế, vì có thể tính chất của hai loại thiệt hại – thiệt hại kẻ tấn công đe dọa gây ra và thiệt hại người phòng vệ gây ra cho kẻ tấn công hoàn toàn khác nhau Nhưng tất cả những điều đó không có nghĩa là cho phép người phòng vệ muốn gây thiệt hại đến mức độ nào cũng được Thiệt hại gây ra cho kẻ tấn công là yếu tố thể hiện tính chất và mức độ của sự chống trả cho nên cũng đòi hỏi chỉ được phép ở mức độ nhất định để có thể đảm bảo cho sự chống trả là cần thiết

Phòng vệ chính đáng cũng không đòi hỏi phương pháp, phương tiện người phòng vệ được phép sử dụng phải như phương pháp, phương tiện người tấn công sử dụng Đòi hỏi như vậy cũng không thực tế và cũng không phù hợp với mục đích của phòng vệ chính đáng

Việc đánh giá này trong thực tế là hết sức phức tạp Và điều đó đối với người

phòng vệ lại càng không phải là đơn giản “ người phải phòng vệ có khi không thể

có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống

Do vậy, sự cần thiết nói trong phòng vệ chính đáng chỉ đòi hỏi là sự cần thiết tương đối Những trường hợp không cần thiết nhưng sự không cần thiết đó không rõ ràng cũng đều được coi là trường hợp cần thiết.8

Tóm lại, phòng vệ chính đáng đòi hỏi biện pháp chống trả nói chung (trong đó bao gồm có phương tiện, phương pháp và thiệt hại) là biện pháp cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công đặt trong hoàn cảnh cụ thể

Theo Chỉ thị số 07/TATC ngày 22/12/1983 của Toà án nhân dân tối cao Hành

vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm, khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

1 Hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc lợi ích chính đáng của công dân phải có tính nguy hiểm cho xã hội với mức độ đáng kể, mặc dù không nhất thiết phải là một hành vi phạm tội

7 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trang 30

Ví dụ: Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trong điều kiện bình

thường, dùng dao chém người khác; người không có năng lực chịu trách nhiệm hình

sự (người mắc bệnh tâm thần, trẻ em dưới 14 tuổi) có hành vi nguy hiểm đáng kể cho

xã hội hay cho người khác như đốt nhà hoặc dùng dao chém người khác

Nếu hành vi xâm hại chỉ có tính chất nhỏ nhặt, tức là tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, không phải là phạm tội (như trộm cắp vặt, xô đẩy, đấm đá nhẹ…) thì việc phòng vệ bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người xâm hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà là hành vi phạm tội theo các tội danh khác nhau, tùy từng trường hợp cụ thể (gọi tắt là theo quy định chung của pháp luật)

Việc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội khi bị người khác bắt, giữ (tức là thực hiện hành vi có ích cho xã hội) đã chống trả lại, gây thiệt hại cho người bắt giữ không được coi là phòng vệ chính đáng, mà phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định chung của pháp luật

Ví dụ: Hành vi của kẻ gây rối trật tự đánh lại nhân viên công an hoặc đội viên

thanh niên cờ đỏ đang dùng vũ lực để bắt giữ thì bị coi là tội chống người thi hành công vụ

2 Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là đã bắt đầu, nếu nó đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người xâm hại không được coi là phòng vệ chính đáng

Ví dụ: Thái gặp Hậu đang đi ngoài phố, Thái bảo Hậu: “Nếu đến giờ X, ngày

Y… mà Hậu không đem tiền hoặc đồ vật đến nộp ở địa điểm Z…, thì sẽ bị giết”, Hậu bực mình rút ngay súng bắn chết Thái Hay trong một trường hợp khác Tùng cãi nhau với Phong và bị Phong đánh; khi Phong bỏ đi, Tùng lấy súng bắn đuổi theo làm cho Phong chết Hành vi phòng vệ “quá sớm” của Thái và hành vi phòng vệ “quá muộn” của Tùng không được coi là phòng vệ chính đáng, mà cấu thành tội giết người thông thường với tình tiết giảm nhẹ do nạn nhân có lỗi

3 Hành vi phòng vệ chính đáng được thực hiện không chỉ nhằm gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà có thể bằng cách tích cực, chống lại sự xâm hại, gây thiệt

hại cho chính người xâm hại và do đó chỉ có thể là cố ý Ví dụ: An cầm gậy đánh

Bình, Bình tránh được rồi đâm An ngã gục

Vì vậy, nếu một người dù có khả năng bỏ chạy hoặc kêu cứu mà vẫn gây thiệt hại cho người xâm hại để phòng vệ, thì hành động của họ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng Nếu trong khi phòng vệ mà gây thiệt hại, không phải là cho người xâm

Trang 31

hại, mà cho người thứ ba, thì hành vi gây thiệt hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà tùy theo tình tiết của sự việc cấu thành tội giết người, tội cố ý gây thương tích nặng, gây tổn hại cho sức khỏe người khác…, theo quy định chung của pháp luật

và có thể có tình tiết giảm nhẹ nhất định

Ví dụ: Vì bị Minh đánh, Hải vừa tránh vừa chém lại Minh, nhưng không may

lại chém nhầm phải Thắng là người vừa vào để can ngăn

Hành vi vô ý gây thiệt hại cho người xâm hại không phải là phòng vệ chính

đáng, mà có thể là hành vi phạm tội thông thường vô ý Ví dụ: Khi giằng co để không

cho người say rượu đánh mình, người cầm súng đã vô ý để súng nổ làm chết người say rượu Hành vi phòng vệ bằng cách cố ý gây thương tích, nhưng dẫn đến hậu quả chết người (ngoài sự mong muốn của người gây thương tích), cũng được coi là có tính chất phòng vệ

4 Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại

Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc

đã gây ra cho người phòng vệ Giữa hai thiệt hại đó có thể không có sự phù hợp về lượng hoặc về chất, chỉ miễn là không có sự chênh lệch quá đáng sau khi cân nhắc tính chất quan trọng của lợi ích được bảo vệ bằng phòng vệ chính đáng, sức mạnh của

sự xâm hại, khả năng và hoàn cảnh thực tế của người phòng vệ

Ví dụ: Một nhóm người xông vào đánh Thông, Thông bất ngờ bị đánh đau và

bỏ chạy; chạy được mấy chục mét vẫn thấy có một số người đuổi theo, Thông đứng lại, mở dao nhíp có sẵn trong người để đe “đứa nào vào đây, tao đâm”; một trong số những người đuổi theo xông vào để tiếp tục đánh, Thông dùng dao nhíp dâm bừa một nhát vào ngực người đó làm người đó chết

Trong ví dụ này, Thông ở vào tình thế bị một nhóm người tấn công trước, bất ngờ nên phải bỏ chạy Sự tấn công tuy là bằng chân tay không, nhưng là do đông người gây ra, lại gây ra trong đêm tối, Thông phòng vệ bằng dao có sẵn trong người,

đã răn đe trước, nhưng vẫn bị đối phương ỷ thế đông người tiếp tục tấn công Hành vi phòng vệ của Thông bằng cách dùng dao đâm một trong số những người tấn công, dẫn đến chết người, được coi là tương xứng, là chính đáng, là hợp pháp

Nếu hành vi phòng vệ không tương xứng, không phù hợp, có chênh lệch quá

Trang 32

đáng so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, nghĩa là người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây thiệt hại quá đáng cho người xâm hại, mà tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó, thì người phòng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Ví dụ: Việt tổ viên bảo vệ nhà trường, nghe tin có bọn càn quấy đến trường

gây sự đánh mình; đáng lẽ trong hoàn cảnh nhà trường có đông người, Việt có thể cùng mấy người ra đối phó, nhưng Việt đã một mình vác súng ra cổng trường; hoặc đáng lẽ trong trường hợp có súng để đối phó, Việt phải răn đe khi bị tấn công, nhưng Việt đã sử dụng bắn chết ngay một người xông vào tấn công mình

Nghị quyết số 02/HĐTP-TANDTC/QĐ ngày 5/1/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự cũng quy định việc phòng vệ chính đáng phải có đủ các điều kiện sau đây:

1 Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội

2 Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ

3 Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại

4 Hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ Tương xứng không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ Để xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (thí dụ: bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân

Trang 33

của người xâm hại (nam, nữ; tuổi; người xâm hại là côn đồ, lưu manh…); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya) v.v… Đồng thời cũng cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ

bị tấn công bất ngờ Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức (như: gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng

Theo những quy định trên, trong trường hợp bạn bị người khác có hành vi cướp của, cố ý gây thương tích…, nếu hành vi này đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trực tiếp cho bạn thì bạn có thể sử dụng quyền phòng vệ để chống lại sự xâm hại của người đó

2.2 VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÕNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

Khi một người có quyền phòng vệ chính đáng nhưng sự chống trả quá mức cần thiết, tức là sử dụng quyền phòng vệ một cách vượt mức thì phải chịu trách nhiệm hình sự về sự vượt quá đó Khoản 2 Điều 15 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung

năm 2009 quy định: “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ

ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại”

Đây là trường hợp “ Người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương

pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người xâm hại mà tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương

Trang 34

thiệt hại trong trường hợp này phải chịu trách nhiệm hình sự

Ví dụ: Ông Đ N L, 39 tuổi, sinh sống tại tỉnh H T, là tổ trưởng quản lý điện ở

địa phương với chức năng trông giữ, đóng và cắt cầu dao, thu tiền điện Ông L Đ C (năm 1990 bị Tòa án nhân dân huyện H Đ kết án 24 tháng tù cho hưởng án treo; năm

1995 có hành vi gây rối trật tự công cộng bị xử phạt hành chính) là một chủ hộ sử dụng điện Tuy nhiên, gần đây, ông C thường xuyên cố tình không nộp tiền điện Sau nhiều lần ông L đến thu tiền nhưng ông C không nộp, ngày 9-5-2001, ông L dọa sẽ cắt điện nhà ông C

Ngày 10-5-2001, ông L đi kiểm tra đường dây điện và tiếp tục đến nhà ông C thu tiền Ông C vẫn cố tình không nộp nên ông L đã cắt điện nhà ông C Thấy mất điện, ông C cầm một thanh sắt và cùng L Đ M (em trai ông C) cầm một thanh gỗ chạy ra (chỗ ông L đang cúp cầu dao) để đánh ông L Khi đó, ông L đã dùng dao (mang theo

để phát cành cây bảo vệ đường dây điện) chống cự và tấn công lại C, chém ông C Thấy vậy, M bỏ chạy Ông L đuổi theo M và chém M một nhát Biên bản giám định pháp y đã kết luận tỷ lệ thương tật của ông C là 51%, tỷ lệ thương tật của M là 3%, thương tật của ông L là 12% Trong trường hợp này, hành vi của ông L bị xem là vượt quá mức cần thiết trong phòng vệ chính đáng vì sự chống trả sau khi hành vi tấn công

đã bị đẩy lùi là không cần thiết

Tuy nhiên, gây thiệt hại trong vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng xuất phát

từ mục đích bảo vệ kịp thời lợi ích của xã hội, quyền, lợi ích chính đáng của công dân khỏi sự xâm hại, cho nên tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng giảm đi đáng

kể Do đó, chính sách hình sự của Nhà nước ta có xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự cho người phạm tội do vượt quá này Ví dụ: vượt quá giới hạn phòng vệ

chính đáng là tình tiết định tội của tội phạm tại Điều 96 (tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng), Điều 106 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng) Khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng không phải là tình tiết định tội thì có thể sử dụng như một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 46 Bộ luật hình sự hiện hành

2.2.1 Hai trường hợp của vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong phần các tội phạm hình sự

Chỉ xem là phòng vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện của phòng vệ chính đáng thì mới không xem là có tội và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, ngược lại

tùy trường hợp cụ thể có thể rơi vào khoản 2 Điều 15 BLHS hiện hành “Vượt quá giới

Trang 35

hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại” Tùy theo

hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có thể rơi vào một trong hai trường hợp sau đây:

2.2.1.1 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Và được quy định tại Điều 96 BLHS hiện hành:

“1 Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm

2 Giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm” Trường hợp này, nhiều người bị giết

phải đều có hành vi trái pháp luật làm phát sinh quyền phòng vệ từ phía người phạm tội Nếu trong số những người bị giết, chỉ có một người có hành vi trái pháp luật làm phát sinh quyền phòng vệ, những người còn lại không có hành vi trái pháp luật hoặc

có nhưng không thỏa mãn điều kiện của phòng vệ chính đáng thì người phạm tội phải

bị truy cứu thêm tội giết người (Điều 93)

Về thực chất đây cũng là trường hợp giết người Do đó, các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này cũng tương tự như giết người, nhưng ở tội này có thêm dấu hiệu vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nên có thêm các tình tiết sau:

– Nạn nhân phải là người đang có hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người phạm tội hoặc của người khác Hành vi đó là trái pháp luật và có mức độ nguy hiểm đáng kể

– Hành vi của nạn nhân là trái pháp luật và nguy hiểm đáng kể cho xã hội – Người phạm tội đã có hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân trong khi hành vi xâm phạm nói trên của nạn nhân đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc

– Người phạm tội đã có hành vi tước đoạt sinh mạng của nạn nhân khi có đủ

cơ sở để thực hiện quyền phòng vệ Việc người phạm tội có hành vi phòng vệ là cần thiết Nhưng người phạm tội đã thực hiện quyền phòng vệ của mình rõ ràng là quá đáng, quá mức cần thiết nhằm ngăn chặn và đẩy lùi hành vi xâm hại Việc gây ra cái

Ngày đăng: 18/11/2015, 18:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Beo: Luật hình sự Việt Nam quyển 1 – Phần chung, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam quyển 1 "– "Phần chung
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
2. Phạm Văn Beo: Luật hình sự Việt Nam quyển 2 – Phần các tội phạm, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam quyển 2 "– "Phần các tội phạm
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. Lê Cảm: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự tập 4, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự tập 4
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
4. Lê Cảm: Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12, tháng 6/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự", Tạp chí "Tòa án nhân dân
6. Nguyễn Ngọc Hòa: Luật hình sự Việt Nam – Sự phát triển trong 20 năm đổi mới và các định hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 01, 2007, trang 01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam "– "Sự phát triển trong 20 năm đổi mới và các định hướng hoàn thiện", Tạp chí "Luật học
7. Phạm Mạnh Hùng: Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, Tạp chí Kiểm sát, số 23, tháng 12-2005, trang 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng", Tạp chí "Kiểm sát
8. Minh Lương: Tình tiết giảm nhẹ định tội trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20, tháng 10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình tiết giảm nhẹ định tội trong luật hình sự Việt Nam", Tạp chí "Tòa án nhân dân
10.Đinh Văn Quế: Những vấn đề phòng vệ chính đáng, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và những vướng mắc trong thực tiễn xét xử, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17, kỳ 1 tháng 9 năm 2009. Danh mục các trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề phòng vệ chính đáng, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và những vướng mắc trong thực tiễn xét xử", Tạp chí "Tòa án nhân dân
1. Hồng Tú, Giết người hay giết người do vượt giới hạn phòng vệ, xem trên http://phapluattp.vn/20100318103022611p1063c1016/giet-nguoi-hay-giet-nguoi-do-vuot-gioi-han-phong-ve.htm, [Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giết người hay giết người do vượt giới hạn phòng vệ
3. Nguyễn Thủy, Vượt quá phòng vệ chính đáng, xem trên http://www.anninhthudo.vn/An-ninh-doi-song/Vuot-qua-gioi-han- phong - ve - chinh- dang/350107.antd, [Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vượt quá phòng vệ chính đáng
1. Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
2. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Khác
3. Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Khác
4. Chỉ thị 07/ TANDTC/TC ngày 22/12/1983 hướng dẫn xét xử các hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe của con người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc thi hành công vụ Khác
5. Nghị quyết số 02/ HĐTP – TANDTC/QĐ ngày 05/01/1986, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng. Danh mục sách, báo, tạp chí Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w